Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp giúp học sinh học lớp 3 học tốt bài toán tính giá trị biểu thức

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho các bậc học khác. Ở Tiểu
học, môn Toán có vị trí rất quan trọng nó cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản ban
đầu, đồng thời chuẩn bị cơ sở để tiếp tục học ở các lớp trên. Môn Toán giúp học
sinh phát triển tư duy lô gíc trí thông minh, óc sáng tạo. Là công cụ cần thiết và liên
quan đến các môn học khác, giúp con người nhận thức thế giới xung quanh để hoạt
động hiệu quả trong thực tế. Ngoài ra, nó còn giúp con người có lí trí, đức tính cần
cù vượt khó khăn, biết cách làm việc có kế hoạch, nề nếp và tác phong khoa học.
Góp phần trong việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt như: tính cẩn
thận, chính xác và trung thực.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn toán lớp 3, tôi thấy mình phải
trau rồi kiến thức, học tập nâng cao trình độ, tìm tòi vận dụng phương pháp dạy học mới giúp học sinh nắm bắt kiến thức mới một cách nhanh nhất, hiệu quả và
toàn diện nhất. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy dạy Toán nói chung và dạy giải
toán nói riêng gặp không ít những khó khăn với đa số học sinh vì ở lứa tuổi này tư
duy còn hạn chế mà dạng toán “ Tính giá trị biểu thức” là một dạng toán khó đối
với học sinh lớp 3. Hướng dẫn cho học sinh nhận biết các dạng của bài toán tính giá
trị của biểu thức sẽ giúp học sinh hiểu nhanh và giải chính xác hơn, hiệu quả hơn là
tiền đề để các em học tốt các dạng bài tính giá trị của biểu thức ở lớp 4, 5.
Năm học 2017 -2018 bản thân tôi được phân công trực tiếp giảng dạy lớp 3A,
tôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp thực hiện vào dạy học sinh “Tính giá trị

biểu thức”. Hết học kì I tôi đã khảo sát chất lượng về thực hiện giải dạng toán này
gần 90 % học sinh đã làm tốt dạng toán tính giá trị biểu thức mà không bị nhầm lẫn
cách tính. Tôi rất phấn khởi,...Từ đó tôi đã nghiên cứu và sử dụng sáng kiến " Một
số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các bài toán tính giá trị của biểu thức.”
vào dạy học có hiệu quả trong những năm học vừa qua. Tôi đã mạnh dạn viết thành
sáng kiến này.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm ra những biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các học toán tính giá trị
biểu thức ở trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh nói riêng và lớp 3 nói chung.
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán 3 giúp các em tiếp tục học tốt môn
này ở các lớp trên.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các bài toán tính giá trị của biểu
thức.
- Học sinh lớp 3A trường tiểu học Thị Trấn Lang Chánh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu: Sách giáo viên, tài liệu hưỡng dẫn học
toán 3, vở bài tập toán 3.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thực trạng tổ chức dạy – học toán 3 ở
trường TH Thị Trấn Lang Chánh. Trong quá trình thực hiện tôi đã đề ra các phương
án, phù hợp với điều kiện của lớp mình và chỉ đạo tổ chức thực hiện.
- Phương pháp điều tra: Điều tra hoàn cảnh gia đình học sinh, đặc điểm tâm lí
của học sinh.
1


- Phương pháp hỏi – đáp: Hỏi học sinh thích học toán, ngại học toán, nguyên
nhân ngại học toán.
- Phương pháp thống kê toán học: Kết quả khảo sát học sinh.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu các số liệu thống kê trước và sau
khi thực hiện.
- Phương pháp luyện tập thực hành: Luyện tập và thực hành làm các bài toán
tính giá trị biểu thức.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng dạy – học Toán 3 ở trường Tiểu học.

2


2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT


CÁC BÀI TOÁN TÍNH GIÁ TRỊ BIỂU THỨC
2.1. Cơ sở lý luận.
Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, rèn luyện các kỹ năng, trau dồi
phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó. Đó là phẩm chất quý báu của
con người Việt Nam. Thông qua học toán để đức tính đó được thường xuyên phát
huy và ngày càng hoàn thiện.
Trong quá trình dạy học ở Tiểu học, toán là một trong những môn học giúp
học sinh phát triển toàn diện. Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp
những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những
kiến thức kĩ năng toán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng
dụng trong thực tế đời sống. Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh
nhiều mặt như: phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ ( trừu
tượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, . . . ). Giúp học
sinh biết tư duy, suy nghĩ làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt
đẹp của người lao động.
Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học. Do đó, môn Toán có
nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học. Đó là: trang bị
cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tập
tiếp hoặc đi vào cuộc sống. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt động
thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen phương pháp
và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứa
tuổi. Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học khác.
2.2. Thực trạng.
2.2.1. Về phía giáo viên.
Đa số giáo viên đều có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, yêu nghề.
Bên cạnh đó vẫn có giáo viên không nắm được hoàn cảnh cũng như tâm lí học sinh,
không nắm được lí do vì sao học sinh ngại học tính giá trị biểu thức, chưa nắm bắt
được mối quan hệ của nội dung dạng toán này ở các lớp, chưa phân loại được đối
tượng học sinh trong lớp để có kế hoạch phụ đạo cho học sinh chưa hoàn thành và
bồi dưỡng được học sinh có khả năng hoàn thành tốt môn toán. Việc đánh giá, nhận
xét học sinh chưa thường xuyên, liên tục. Chưa có hình thức thi đua, khen thưởng
trong dạy học hoặc có nhưng chưa kịp thời. Việc sử dụng phương pháp dạy học còn
đơn điệu, không linh hoạt. Các hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú.
2.2.2. Về phía học sinh.
Năm học 2017 – 2018, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3A. Với
tổng số là 29 học sinh. Tất cả các em đều cùng độ tuổi và đã hoàn thành chương
trình lớp 2.
Trong quá trình giảng dạy và dự giờ tôi thấy HS làm dạng bài tính giá trị biểu
thức còn chưa tốt hay nhầm lẫn về cách thực hiện. Là lớp có nhiều đối tượng HS
khác nhau nên phần nhiều các em đã làm bài đúng kết quả nhưng có em chưa nắm
được cách làm phù hợp với từng dạng bài. Nhiều bài làm tính giá trị biểu thức cách
3


giải chưa hợp lí. Mặt khác, các bài tính giá trị biểu thức có nhiều dạng bài. Do đó
học sinh thường lúng túng khi gặp các dạng bài khác nhau, đặc biệt đối với dạng
bài là biểu thức có phép tính cộng trừ nhân chia trong cùng một biểu thức, biểu
thức có dấu ngoặc đơn ( ) dạng bài mới mà ở lớp 2 các em chưa được làm quen,...
Học sinh còn ngại tính toán, không thích học toán tính giá trị biểu thức.
Toán 3 đã có nhiều mạch kiến thức đòi hỏi các em phải tư duy, thực hành
nhiều, phải biết nhận diện đúng dạng toán thì các em mới có thể làm đúng và yêu
thích môn học. Nhưng nhiều em vẫn ngại học toán vì các em cho rằng Toán khó bởi
các em không hiểu. Hơn nữa chủ yếu các bài toán tính giá trị biểu thức đều phải
xác định thứ tự và thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia tuy không khó như
các bài toán có lời văn song dễ nhầm lẫn, hay sai.
2.2.3. Về phía phụ huynh:
Là trường Tiểu học Thị Trấn vùng miền núi thuộc huyện nghèo, đa số phụ
huynh là cán bộ, công chức đều rắt con quan tâm việc học tập, giáo dục và giúp đỡ
các em hoàn thành hoạt động ứng dụng (Hoạt động cần người thân giúp đỡ ở gia
đình); còn số phụ huynh làm nghề nông hay đi làm ăn xa (Bản Lưỡi, Bản Trải,….)
chưa quan tâm được các em do sống xa nhà hoặc không biết cách dạy bảo các em.
2.2.4. Kết quả khảo sát thực trạng.
Đề khảo sát chất lượng học sinh như sau:
Đề bài: (Thời gian 30 phút)
Bài 1: (2 điểm) Tính:
568 + 156 =
83 �2 =
849 – 86 =
48 : 6 =
Bài 2: (4 điểm) Tính giá trị của các biểu thức sau:
a) 20 + 17 - 28
c) 7 �(17 – 9)
b) 35 – 4 �7
d) 20 : 5 �2
Bài 3: (4 điểm) Tính giá trị biểu thức sau bằng cách thuận tiện nhất:
a) 25 �7 + 25 �3
b) 1 + 3 + 5 + 7 + 9
- Đa số các em đều có kết quả đúng song cách giải nhiều em còn chưa hợp lí,
các em đã làm như sau:
Bài 1: Tính:
568 + 156 = 742
83 �2 = 166
849 – 86 = 763
48 : 6 = 8
- (Đa số HS thực hiện đã đúng, nhưng vẫn có học sinh sai vì quên không nhớ).
Bài 2: Tính giá trị của các biểu thức sau:
a) 20 + 17 - 28
b) 35 – 4 �7
c) 7 �(17 – 9)
= 37 - 28
= 21 �7
= 119 – 8
= 9
= 147
= 111
- HS thực hiện đã - (Thứ tự thực hiện phép
- (Chưa nắm được cách thực
đúng.
tính chưa đúng dẫn đến hiện phép tính dẫn đến giá trị của
giá trị của biểu thức biểu thức cũng sai. Đối với biểu
cũng sai. Đối với biểu thức này nên thực hiện phép tính
thức này nên thực hiện trong dấu ngoặc đơn trước).
phép tính nhân trước).
4


Bài 2: Tính giá trị biểu thức sau bằng cách thuận tiện nhất:
a) 25 �7 + 25 �3
b) 1 + 3 + 5 + 7 + 9
= 175 + 75
= 4 + 12 + 9
= 250
= 16 + 9
= 25
- (Thứ tự thực hiện phép tính và kết quả là đúng nhưng tính bằng cách tính
này chưa thuận tiện nhất). Nên cần phân biệt cách tính thuận tiện khác với cách tính
thông thường, giúp ta tìm ra kết quả nhanh mà chính xác.
Kết quả đạt được:
Điểm 9 – 10
Điểm 7 – 8
Điểm 5 – 6
Điểm dưới 5
Lớp Sĩ số
(T)
(H)
(H)
(CHT)
5 em �
3A
29 5 em �17,2%
6 em �20,7% 13 em �44,8%
17,2%
- Từ kết quả khảo sát và qua thực tế giảng dạy, học hỏi kinh nghiệm của đồng
nghiệp, nghiên cứu tài liệu. Tôi đã rút ra được một số biện pháp giúp HS lớp 3 học
tốt cách tính giá trị biểu thức tôi đã vận dụng vào thực tế giảng dạy và đạt hiệu quả.
3. Các biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt các bài toán tính giá trị của
biểu thức
3.1. Tiến hành hỏi đáp sự hứng thú học Toán và không hứng thú học Toán.
Tìm hiểu lí do.
- Qua hỏi đáp trực tiếp tỉ lệ HS thích học Toán: 17em �58,6%
- Số lượng học sinh còn ngại học Toán: 12em �41,4%
- Đa số HS ngại học Toán trong lớp là học sinh nữ. Qua tìm hiểu nguyên nhân
tôi được biết hầu hết các em nữ có khả năng sáng tạo hạn chế so với HS nam. Các
em ngại học toán vì nhiều dạng bài khó nhớ và chán nản khi suốt ngày phải nhân
chia tính toán, một mặt do không làm được bài nên dẫn đến ngại học. Nắm bắt
được tâm lí của các em tôi quyết định phân dạng bài và đưa ra cách giải cho từng
dạng bài tính giá trị biểu thức cũng như các dạng toán khác giúp HS hiểu bài làm
được bài để HS tìm thấy hứng thú khi học Toán.
3.2. Nghiên cứu mối quan hệ và chuẩn bị hướng dẫn cho HS làm bài.
- Trước hết ta nhận thấy các dạng bài tính giá trị biểu thức là một mạch kiến
thức đồng tâm. Nếu ở lớp 2 biểu thức chỉ có một phép tính, thì mạch kiến thức lớp
3 tiếp thu từ dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 2. Tuy nhiên ở lớp 3, việc tính giá
trị biểu thức của học sinh được nâng cao thành các biểu thức có chứa các số có 2
chữ số, 3 chữ số, trong một biểu thức có các phép tính cộng, trừ, nhân chia, biểu
thức có dấu ngoặc đơn và được mở rộng thêm phần tính giá trị biểu thức với các
dạng bài tính bằng cách thuận tiện nhất, hợp lí, tính nhanh. Không chỉ đơn thuần
tính các biểu thức mà kiến thức này còn được vận dụng phù hợp cho các bài toán
giải kép làm tiền đề cho học sinh vận dụng giải các bài toán giải của các lớp 4, 5.
Xác định được mối liên hệ của các mạch kiến thức tôi đã phân loại bài toán tính
giá trị biểu thức thành các dạng bài, dạng bài sau vận dụng và phát triển từ dạng bài
trước và phù hợp với sự phát triển các mạch kiến thức trong chương trình Toán 3,
phù hợp với từng đối tượng học sinh trong cùng một lớp học.
3.3. Phân loại đối tượng học sinh.
5


Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành phân loại đối tượng học sinh theo Thông
tư 22 và văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGD ĐT: Hoàn thành tốt (T); Hoàn thành
(H); Chưa hoàn thành (C).
Thông qua việc họp phụ huynh đầu năm, tôi đã trao đổi với bố mẹ các em để
nắm được hoàn cảnh gia đình, đắc điểm tâm lí của từng em. Từ đó nhận biết những
yếu tố khách quan ảnh hưởng đến lực học của các em.
Như vậy, thông qua việc phân loại đối tượng học sinh, tôi đã biết được tỉ lệ
học sinh có lực học khác nhau trong lớp. Đó là cơ sở để tôi thực hiện công tác chủ
nhiệm lớp như: Tôi chia lớp thành các tổ, các nhóm học tập có học sinh hoàn thành
tốt, học sinh hoàn thành và chưa hoàn thành, phân cho học sinh hoàn thành tốt ngồi
gàn, kèm cặp và giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành, học sinh chưa hoàn thành ngồi
ở vị trí những bàn học phía trên của lớp để dễ tiếp thu bài và được giáo viên giúp
đỡ kịp thời trong từng tiết học cúng như đánh gí sự tiến bộ của các em chính xác
hơn.
Họp phụ huynh học sinh lớp 3A
Với việc thực hiện giải pháp trên, tôi đã xây dựng được công tác chủ nhiệm
lớp ổn định, đánh giá học sinh theo tuần, theo tháng dễ dàng. Đắc biệt là xây dựng
được đội ngũ Hội đồng tự quản của lớp có năng lực giúp đỡ các bạn cùng tiến bộ,
nâng cao chất lượng đại trà và giúp các em có hứng thú, tự tin trong học tập.
3.4. Rèn cho học sinh những thói quen cần thiết trong quá trình học tập
môn Toán và tính giá trị biểu thức.
- Hình thành nề nếp học tập: Mọi học sinh phải độc lập suy nghĩ, làm việc tích
cực. Có thói quen tự giác, chủ động khi làm bài, không quay cóp bài của bạn,
không đưa thẻ cứu trợ khi chưa suy nghĩ và chưa đọc đề toán. Học sinh biết huy
động các kiến thức của mình tham gia tích cực vào việc giải quyết nội dung, yêu
cầu bài toán.
- Rèn cho học sinh tính cẩn thận trong học tập như : Trước khi làm bài phải
nháp. Không hiểu bài thì nên hỏi nhóm trưởng hoặc các bạn khác trong nhóm hoặc
cô giáo.
- Làm xong thử lại, khi thấy đúng kết quả mới chép vào vở.
- Yêu cầu học sinh ở từng nhóm phải viết chữ số trong phép tính rõ ràng. Trình
bày bài toán đúng, đẹp.
- Tạo cho học sinh tính mạnh dạn để trao đổi ý kiến trong nhóm hoặc trước
lớp vì sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm, lớp, góp phần làm các em mạnh dạn
hơn hiểu bài sâu hơn.
- Giúp học sinh tự tin hơn vào khả năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về
cách học của mình.
- Sau khi làm xong bài tập cho các em tự kiểm tra, đánh giá và sửa chữa bài
làm của mình trước khi nộp bài.
- Cần rèn ý chí vượt khó cho các em khi làm bài. Khi tính toán gặp các bài
toán khó, giáo viên cần giúp các em có sự tự tin, không nên nản lòng. Khuyến
6


khích các em tự lực làm bài, tìm tòi hướng giải quyết để đạt được kết quả cao trong
học tập.
3.5. Lựa chọn các phương pháp dạy học toán tính giá trị biểu thức.
a. Phương pháp dạy học trực quan: Do đặc điểm nhận thức của học sinh
Tiểu học là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng
đến thực tiễn ” và do tính chất đặc thù của các đối tượng Toán học tính trừu tượng
và khái quát cao mà phương pháp trực quan có vai trò quan trọng trong quá trình
dạy học Toán ở Tiểu học. Với những hình ảnh trực quan do các đồ dùng biểu diễn
mang lại và lời giảng của giáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và
lĩnh hội kiến thức Toán trừu tượng. Bản chất của phương pháp dạy học này là giáo
viên đã tác động vào tư duy học sinh Tiểu học theo đúng quy luật nhận thức
b. Phương pháp gợi mở – vấn đáp: Phù hợp với yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học, bởi nó không bày đặt sẵn kiến thức mà giáo viên kích thích người
học tự tìm kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi. Phương pháp này rất phù hợp nó
giúp người học tập dượt suy nghĩ và diễn đạt khi trả lời câu hỏi, kiến thức hình
được thành theo cách này giúp học sinh nhớ lâu hiểu kỹ và tự tin hơn. Trong quá
trinh gợi mở, với hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra, sau khi học sinh tìm được các
câu trả lời đã giúp học sinh tìm ra thứ tự thực hiện và cách tính giá trị biểu thức và
dễ dàng phát biểu thành quy tắc.
c. Sử dụng phương pháp luyện tập - thực hành: Đây là một phương pháp
thường dùng trong dạy học Toán ở Tiểu học. Bởi đặc điểm nhận thức của học sinh
Tiểu học mang nặng tính cụ thể. Vì thế các kiến thức và kỹ năng thường được hình
thành thông qua thực hành – luyện tập. Phạm vi sử dụng phương pháp thực hành
luyện tập là phổ biến ở trong tất cả các tiết học dạy tính giá trị biểu thức.

d. Phương pháp giảng giải - minh họa: Đây là phương pháp cần thiết trong
quá trình dạy tính giá trị biểu thức; vì có nhiều dạng và rất trừu tượng đối với học
sinh lớp 3, các em khó có thể tự tìm ra được cách tính giá trinh biểu thức. Vì thế
giáo viên cần sử dụng phương pháp này để giảng giải giúp học sinh hiểu được kiến
thức, hình thành được quy tắc tính giá trị biểu thức.
3.6. Lựa chọn các hình thức dạy học..
a. Chia nhóm học tập: Có rất nhiều cách chia nhóm như: chia nhóm ngẫu
nhiên, nhóm cùng trình độ, nhóm cùng sở thích, nhóm cùng đặc điểm, ... Dù chia
nhóm bằng cách nào thì cuối cùng mỗi nhóm phải có số học sinh gắn với nhiệm vụ
học tập. Chương trình học VNEN học sinh đã được ngồi học theo 1 nhóm từ 4em
đến 6 em. Vậy giáo viên chỉ căn cứ vào nội dung các hoạt động học tập để chia
nhóm đôi, nhóm 4 hay nhóm 6 cho phù hợp.
Ví dụ:
- Bài 3 : Cộng các số có ba chữ số (có nhớ) – Tài liệu hướng dẫn học Toán 3 –
Tập 1A - Trang 9.
Chia nhóm 2 em để thực hiện: Hoạt động 2. Đọc và giải thích cho bạn cách
thực hiện phép cộng 345 + 127
7


Bài 45 : Tính giá trị của biểu thức (Tiếp theo) – Tài liệu hướng dẫn học Toán 3
– Tập 1B - Trang 71. Chia nhóm 4 em hoặc 6 em để thực hiện: Hoạt động 2. b) và
c) Đọc và thảo luận :
- Nếu muốn tính 15 + 25 trước, rồi nhân 4, ta nghĩ ra kí hiệu quy định mới.
Học sinh tích cực hoạt động nhóm
b. Tổ chức hoạt động học tập cá nhân bằng phiếu giao việc
Học sinh Tiểu học khi học Toán cần thiết có những nội dung phải thực hiện
học cá nhân, chẳng hạn để hình thành kỹ năng và rèn luyện kĩ năng tính với 4 phép
tính. Nhờ những hoạt động học cá nhân mà học sinh đưa ra thông tin phản hồi
chính xác về mức độ tiếp thu kiến thức, về kỹ năng thực hành, về phương pháp suy
luận... Từ đó giúp cho giáo viên có kế hoạch dạy học hợp lí tiếp theo, giúp học sinh
hoàn thiện kiến thức đã học. Hoạt động học tập cá nhân là rất cần thiết bởi, mục
tiêu cuối cùng dạy học ở trên lớp là hình thành kiến thức kỹ năng tới từng học sinh.
Ví dụ 1: Sau khi đã hình thành quy tắc tính giá trị biểu thức Bài 44 : Tính giá
trị của biểu thức(tiếp theo) – Tài liệu hướng dẫn học Toán 3 – Tập 1B - Trang 69,
yêu cầu học sinh thực hiện cá nhân các hoạt động 1, 2, 3, 4.
c. Tổ chức các trò chơi học tập:
Trò chơi học Toán đưa học sinh vào những tình huống vui vẻ khiến trẻ không
thấy e sợ, thấy hứng thú và kích thích tính tò mò, vì vậy sẽ cuốn hút tâm lý của trẻ.
Khi trẻ chơi sẽ là lúc bộc lộ rõ những khả năng hiểu biết kiến thức và ứng dụng
kiến thức theo trình độ thực có của trẻ.
Để lựa chọn trò chơi phù hợp, giáo viên cần xác định được mục đích của trò
chơi là gì, hình thành, luyện tập, cũng cố kiến thức nào, giáo dục kĩ năng gì, phẩm
chất gì ?... thì cần dựa vào mục tiêu bài học.
Trò chơi đưa ra phải đa dạng, phong phú, hấp dẫn; luật chơi đơn giản dễ hiểu,
dễ chơi, phải phù hợp với chủ đề bài học với đặc điểm và trình độ học sinh, với
lượng thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, có tác dụng khích lệ
tinh thần học tập cho tất cả các đối tượng học sinh trong lớp, tránh bỏ rơi học sinh
yếu kém ngoài cuộc. Đặc biệt, trò chơi phải không gây nguy hiểm cho học sinh và
môi trường xung quanh.
Không nên chọn những trò chơi chỉ được mặt vui nhộn, nhưng lại thiếu tác
dụng giáo dục về kiến thức, phẩm chất cũng như kĩ năng học tập.
Trò chơi phải được luân phiên thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm
chán cho học sinh.
Chẳng hạn trò chơi “Ai nhanh – Ai đúng” trong hoạt động 2 – Trang 76.
Để trò chơi phát huy hiệu quả trong dạy học Toán, người giáo viên cần có sự
chuẩn bị tốt; mọi học sinh đều hiểu trò chơi và tham gia dễ dàng, học sinh phải nắm
được quy tắc chơi và phải tôn trọng, tuân thủ luật chơi.
Giáo viên cần quy định rõ thời gian, địa điểm chơi, không lạm dụng quá nhiều
kiến thức và thời lượng bài học.

8


Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho
học sinh tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu, từ chuẩn bị, tiến hành trò
chơi và đánh giá sau khi chơi.
Học sinh chơi trò chơi để làm bài tập 2
d. Vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học
Khi dạy về tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc, giáo viên có 2 cách dạy như
sau:
Cách 1: giáo viên đưa ra quy tắc tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc “khi tính
giá trị biểu thức có chứa dấu ngoặc ( ), ta thực hiện các phép tính trong ngặc trước”.
Giáo viên đưa ví dụ về biểu thức có dấu ngoặc (35 + 25)x3 và yêu cầu học sinh tính
giá trị của biểu thức này.
Cách 2: Giáo viên yêu cầu học sinh tính giá trị biểu thức 35 + 25 x 3, học sinh
nhận xét: phải tính phép nhân 25x3 trước rồi thực hiện phép cộng. 35 + 25 x 3 = 35
+ 75 = 110. Giáo viên đưa ra tình huống mới: “hãy tìm cách viết thêm kí hiệu để
thực hiện phép cộng 35 + 25 trước”. Học sinh buộc phải suy nghĩ, từng em nghĩ
cách kí hiệu riêng của mình (các kí hiệu có thể rất khác nhau tuỳ từng em), chẳng
hạn: 35 + 25 x 3; (35 + 25) x 3; 35 + (25 x 3)...................... Sau đó các bạn cùng
nhau trình bày và đi đến thống nhất cách kí hiệu: (35 + 25) x 3 Tới đây, giáo viên
cho học sinh nêu quy tắc tính giá trị của biểu thức có chứa dấu ngoặc.
3.7. Dạy cách thực hiện các dạng bài toán tính giá trị biểu thức lớp 3 trong
chương trình VNEN.
Nội dung các dạng bài toán tính giá trị biểu thức lớp 3 chương trình VNEN
gồm có những dạng sau :
- Biểu thức chỉ có phép tính cộng, trừ.
- Biểu thức chỉ có phép tính nhân, chia.
- Biểu thức có phép tính cộng, trừ, nhân, chia.
- Biểu thức có dầu ngoặc ( ).
- Các biểu thức dạng tính nhanh, tính bằng cách thuận tiện, tính hợp lí.
Trước hết tôi cho HS ôn tập củng cố lại các dạng bài tính giá trị biểu thức cơ
bản. Với mỗi dạng bài tôi đưa ra cách giải mẫu giúp HS nhận diện từng dạng, HS
chủ động biết cách giải về từng dạng. Mỗi dạng tôi đã phát triển thành nhiều bài tập
khác nhau cho HS thực hành giải.
DẠNG 1: CÁC BIỂU THỨC CHỈ CÓ DẤU CỘNG, TRỪ.
Kiểu bài tập 1: Tính giá trị của biểu thức sau:
VD: Bài 3 ( Trang 67- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B )
a) 34 + 100 - 17
b) 48 – 10 + 25
- GV hướng dẫn cách làm và trình bày:
a) 34 + 100 - 17
b) 48 – 10 + 25
= 134 - 17
= 38 + 25
= 117
= 63
VD: Bài 2 ( Trang 74- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B )
a) 37 – 25 + 20
50 + 100 - 30
- GV hướng dẫn cách làm và trình bày:
a) 37 – 25 + 20
50 + 100 - 30
9


= 12 + 20
= 150 - 30
= 32
= 1200
Kết luận: Trong biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ yêu cầu tính thông thường
ta thực hiện theo thứ tự từ trái qua phải. Dấu bằng viết trước biểu thức thẳng
hàng với nhau.
Kiểu bài tập 2: Tính giá trị các biểu thức sau bằng cách nhanh nhất
(hợp lí, thuận tiện):
a) 257 + 68 + 43
c) 268 + 43 - 268 + 257.
b) 218 + 822 + 28 + 232
d) 1881 + 1000 + 19
- GV hướng dẫn HS xác định các bước:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu là tính nhanh ( thuận tiện hoặc hợp lí ).
+ Bước 2: Tìm các cặp số trong biểu thức cộng hoặc trừ cho nhau có tận cùng
bằng 0.
Vận dụng cách đổi chỗ các số hạng trong phép cộng hoặc có trường hợp tách
số, nhóm số để làm bài.
+ Bước 3: Thực hiện tính trong ngoặc trước ngoài ngoặc sau.
Ví dụ: Vận dụng tách nhóm số có thể làm dạng bài tập trên theo nhiều cách
sáng tạo:
Cách 1:
218 + 822 + 28 + 232
= ( 218 + 232 ) + ( 822 + 28 )
= 450 + 850
= 1300
* Chú ý: Viết dấu bằng trước các phép tính thẳng hàng với nhau ở tất cả các
các biểu thức.
Cách 2:
218 + 822 + 28 + 232
= 200 + 18 + 800 + 22 + 28 + 200 + 32
= ( 200 + 32 ) + ( 200 + 18 ) +( 800 + 28 ) + 22
= 232 + 218 + 828 + 22
= 450 + 850
= 1300
Cách 3:
218 + 822 + 28 + 232
= 210 + 8 + 820 + 2 + 20 + 8 + 230 + 2
= 210 + ( 8 + 2 ) + 820 + ( 8 + 2 ) + ( 20 + 230 )
= ( 220 + 830 ) + 250
= 1050 + 250
= 1300
Kết luận: Đối với biểu thức chỉ có dấu cộng trừ yêu cầu tính nhanh ( thuận
tiện, hợp lí ). Ta thực hiện nhóm hoặc tách số để xuất hiện các số có tận cùng
bằng 0.
DẠNG 2: CÁC BIỂU THỨC CÓ DẤU NHÂN, CHIA.
Kiểu bài tập 1: Tính giá trị của biểu thức: ( Bài 3 - Trang 67; Bài 1b Trang 69; Bài 2b - Trang 74 - Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B)
10


Bài 3 - Trang 67- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B
c) 5 �4 : 2
d) 12 : 2 �6
- Giáo viên hướng dẫn HS:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu: Tính giá trị biểu thức
+ Bước 2: Cách thực hiện: Trong biểu thức có dấu nhân, chia ta thực hiện lần
lượt từ trái sáng phải.
c) 5 �4 : 2
d) 12 : 2 �6
= 20 : 2
= 6 �6
= 10
= 36
Kết luận: Đối với biểu thức chỉ có dấu nhân chia ta thực hiện như đối với
biểu thức chỉ có các phép tính cộng trừ ( thực hiện theo thứ tự từ trái sang
phải).
Lưu ý : Biểu thức dấu chia viết trước, dấu nhân viết sau cũng thực hiện
theo thứ tự từ trái sang phải.
DẠNG 3: CÁC BIỂU THỨC CÓ DẤU CỘNG, TRỪ, NHÂN, CHIA.
Kiểu bài tập1: Tính giá trị của biểu thức: ( Bài 2 - Trang 69; Bài 3 - Trang 74 Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B)
Bài 2 - Trang 69- Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B
a) 300 - 20 �4
b) 200 + 63 : 3
12 �4 - 20
56 : 8 + 12
- Giáo viên hướng dẫn HS:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu: Tính giá trị biểu thức
+ Bước 2: Cách thực hiện: Trong biểu thức có dấu cộng, trừ, nhân, chia ta
thực hiện nhân chia trước, cộng trừ sau.
Lưu ý HS :
- Biểu thức phải được thực hiện liên tiếp không tính giá trị của phép nhân chia
rồi mới ghép vào tính biểu thức.
- Dấu phép tính trong mỗi biểu thức phải viết đúng vị trí của biểu thức đã cho.
a) 300 - 20 �4
b) 200 + 63 : 3
= 300 - 80
= 200 - 21
= 220
= 179

12 4 - 20
56 : 8 + 12
= 48 - 20
= 7 + 12
= 28
= 19
Kết luận: Đối với biểu thức tính thông thường có dấu cộng trừ nhân chia
ta thực hiện nhân chia trước cộng trừ sau ( viết đúng vị trí các dấu trong biểu
thức).
Kiểu bài tập 2: Tính giá trị các biểu thức sau bằng cách nhanh nhất
(hợp lí; thuận tiện ).
a) 126 � 8 + 2 �126
c) 329 : 4 + 71 : 4


b) 3 235 + 235 7
d) 475 : 5 + 25 : 5
- GV giúp HS nhận biết:
+ Bước1: Tính giá trị của biểu thức ( nhanh nhất, hợp lí, thuận tiện ) khác với
yêu cầu tính giá trị biểu thức thông thường.
11


+ Bước 2: Chỉ để HS nhận thấy ở các biểu thức có các thừa số ở các tích
giống nhau, số chia giống nhau.
+ Bước 3: Ôn tập lại các kiến thức liên quan đến dạng bài:
+ Tính chất nhân một số với 1 tổng,
+ Tính chất phân phối của phép chia đối với phép cộng và phép trừ.
+ Bước 4: Vận dụng vàotính giá trị của biểu thức:
Ví dụ và cách trình bày:
a) 126 �8 + 2 �126
= 126 �8 + 126 �2
= 126 �( 8 + 2 )
= 126 �10
= 1260
- Dạng bài này ở 2 tích đều có một thừa số giống nhau là 126.
- Đặt thừa số chung 126 ra ngoài (vận dụng tính chất nhân 1 số với 1 tổng
hoặc 1 hiệu ).
- Thực hiện tính trong ngoặc trước ngoài ngoặc sau.
c) 329 : 4 + 71 : 4
= ( 329 + 71 ) : 4
=
400 : 4
=
100
Dạng bài này ở 2 phép chia có cùng số chia là 4, ở phép chia 329 : 4 và 71 :
4 là phép chia mà số bị chia không chia hết cho 4.
- Vận dụng cách chia 1 tổng cho 1 số ( Đặt số chia ra ngoài ).
- Thực hiện tính trong ngoặc trước ngoài ngoặc sau.
- Ngoài các bước trên GV nhấn mạnh để HS hiểu thêm khi vận dụng vào làm
dạng bài này: phép nhân được hình thành từ phép cộng tổng các số hạng bằng
nhau.
VD: 12 + 12 �2 + 7 �12 - 100
12 �1 = 12
12 �2 = 12 + 12
Tổng 1+ 2+ 7 = 10 lần số 12
12 �7 = 12 + 12 + 12 + 12+ 12 + 12 + 12
= 10 �12 = 120
Từ đó giúp HS hiểu sâu hơn nhóm thừa số chung ra ngoài.
12 + 12 �2 + 7 �12 - 100
= ( 1 + 2+ 7 ) �12 – 100
= 10 �12 – 100
= 120 – 100
= 20
Kết luận: Nếu biểu thức có dấu cộng trừ nhân chia yêu cầu tính
nhanh( hợp lí, thuận tiện) ta thực hiện nhóm các thừa số giống nhau ( số chia)
ra ngoài. Vận dụng các tính chất ở bước 3 vào làm bài.
DẠNG 4: CÁC BIỂU THỨC CỘNG TRỪ NHÂN CHIA VỚI BIỂU THỨC
CON TRONG DẤU NGOẶC ĐƠN.
Kiểu bài tập 1: Tính giá trị các biểu thức
( Bài 1,4 - Trang 72; Bài 4 - Trang 75 - Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B)
(29 + 11) �3;
72 : (3 �2);
(45 + 15) : 3;
20 � ( 12 - 10 )
12


- GV định hướng cho HS theo các bước sau:
+ Bước 1: Xác định các tính chất có liên quan và ôn tập lại:
+ Chia một tổng (một hiệu) cho 1 số.
+ Chia một số cho 1 tích. Chia một tích cho 1 số.
+ Nhân 1 số với 1 tổng ( 1 hiệu).
+ Nhân một tổng với một số.
+ Bước 2: Xác định cách làm cho từng dạng bài:
- Nếu bài có dạng chia một tổng (một hiệu) cho 1 số ta làm theo 2 cách:
Cách 1: Thực hiện trong ngoặc
ta có thể lấy từng số hạng ( số bị trừ;
trước ngoài ngoặc sau:
số trừ) chia cho số chia rồi lấy kết quả
( 90 + 9 ) : 9
cộng(trừ) cho nhau.
= 99 : 9
( 45 + 15 ) : 5
= 11
= 45 : 5 + 15 : 5
Cách 2: Nếu các số hạng( số bị
= 9 +3
trừ, số trừ) đều chia hết cho số chia thì
= 12
- Nếu bài có dạng chia một số cho 1 tích thì có hai cách làm:
Cách 1: 72 : ( 3 �2 )
Cách 2: 72 : ( 3 �2 )
= 72 : 6
= 72 : 3 : 2
= 12
= 24 : 2
+ Thực hiện trong ngoặc trước
=
12
ngoài ngoặc sau.
+ Khi chia một số cho 1 tích 2
thừa số ta có thể lấy số đó chia cho
một thừa số, rồi lấy kết quả tìm được
chia tiếp cho thừa số còn lại
.
- Nếu bài có dạng nhân 1 số với 1 tổng ( hiệu). Ta cũng thực hiện theo 2 cách:
Cách 1: Thực hiện trong ngoặc
Cách 2: Lấy từng số hạng ( số bị
trước ngoài ngoặc sau.
trừ - số trừ ) nhân với số đó, được bao
20 �( 12 – 10 )
nhiêu cộng ( trừ ) chúng với nhau.
= 20 �2
20 �( 12 – 10 )
= 40
= 20 �12 – 20 �10
= 240 – 200
= 40
- Nếu bài có dạng nhân một tổng với một số thì có hai cách làm:
Cách 1: (29 + 11) �3;
Cách 2: (29 + 11) �3;
= 40 �3
= 29 �3 + 11 �3
= 120
= 87 + 33
= 120
Kết luận: Đối với biểu thức có dấu ngoặc đơn ta thực hiện trong ngoặc
trước ngoài ngoặc sau.
Kiểu bài tập 2: Tính nhanh
Ví dụ: Tính nhanh.
a) ( 126 + 32 ) x ( 18 – 16 - 2 )
b) ( 36 x 25 ) : 9
13


- Đối với bài Tính giá trị biểu thức có dấu ngoặc yêu cầu tính nhanh ta thường
thực hiện cách làm: Thực hiện trong ngoặc trước, ngoài ngoặc sau: Vận dụng cách
thực hiện các dạng trên vào tính trong ngoặc trước...
- Nếu trong biểu thức có hai thừa số, ta nhẩm xem nếu có một thừa số có kết
quả bằng 0 ta chỉ cần lấy thừa số còn lại nhân với 0.
- Có thể bỏ dấu ngoặc để nhóm các số tròn trăm, tròn chục..
a) ( 126 + 32 ) �( 18 – 16 -2 )
( 126 + 32 ) �( 18 – 16 - 2 ) = 0
Trong biểu thức ta có:
b)
( 36 �25 ) : 9
18 - 16 - 2 = 0
= 36 : 9 �25
Biểu thức gồm hai thừa số, có
= 4 �25
một thừa số bằng 0 nên giá trị của
= 100
biểu thức bằng 0. Vậy:
Kết luận: Như vậy đối với biểu thức mà trong biểu thức có dấu ngoặc GV
hướng dẫn cho HS các cách đối với từng dạng bài song thông thường chúng ta
thực hiện cách tính trong ngoặc trước ngoài ngoặc sau bỏ dấu ngoặc để tách
hoặc nhóm số.
DẠNG 5: BIỂU THỨC CÓ GIÁ TRỊ BẰNG 0
- Trong các biểu thức này là tích các biểu thức con được chứa trong ngoặc đơn
nhân với nhau, hoặc các biểu thức con chia cho nhau trong đó có xuất hiện 1 biểu
thức con có giá trị bằng 0.
Ví dụ: Tính nhanh giá trị các biểu thức sau:
a) 1 �2 �3 �4 �5 �6 �7 �8 �( 4 �9 – 36 )
b) ( 6 �5 + 7 – 37 ) �( 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10 )
+ Bước 1: Để HS không mất thời gian tính toán những biểu thức con trong
từng ngoặc. GV định hướng để HS nhận dạng các biểu thức thường có giá trị bằng
0.
- Đối với các biểu thức có tích các biểu thức con ( gọi là thừa số ) nhân với
nhau, trước hết ta để ý đến biểu thức con trong ngoặc thường ngắn gọn hơn các
biểu thức con khác và trong biểu thức đó có chứa dấu trừ.
Ví dụ:
a) ( 4 �9 – 36 )
b) ( 6 �5 + 7 – 37 )
= 36 – 36
= 30 + 7 - 37
=0
= 37 – 37
= 0
- Trong trường hợp biểu thức là tích các biểu thức con mà trong các biểu thức
ấy đều có dấu trừ, ta cho HS tính giá trị biểu thức con ngắn nhất, nếu chưa bằng 0
ta tính tiếp với các biểu thức tiếp theo.
+ Bước 2: Hướng dẫn cách giải: Một tích bằng 0 khi một thừa số có giá trị
bằng 0.
- Thực hiện phép tính để 1 biểu thức con trong ngoặc có giá trị bằng 0. Đặt
biểu thức còn lại bằng A.
b) ( 6 �5 + 7 – 37 ) �(1 +2 + 3+ 4 + 5 + 6+ 7 + 8 + 9 + 10)
= ( 30 + 7 – 37 ) � A

A
14


= 0 �A
=0
Vậy biểu thức ( 6 �5 + 7 – 37 ) �( 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + 8 + 9 + 10) = 0
- Đối với biểu thức là phép chia giữa 2 biểu thức nhỏ trong ngoặc thì phép
chia chỉ có giá trị bằng 0 khi số bị chia bằng 0 ( không có phép chia cho 0 )
Kết luận: Đối với biểu thức xuất hiện các tích biểu thức con liên tiếp nhân
với nhau hoặc 2 biểu thức trong ngoặc chia cho nhau trong đó có một biểu thức
tính phức tạp và giá trị lớn kèm theo nó là biểu thức đơn giản, một trong số đó
có phép trừ thường là dạng các biểu thức bằng 0. Nếu là phép chia thì biểu thức
bằng 0 khi số bị chia bằng 0. Nếu là phép nhân thì chú ý thử kết quả của biểu
thức có dấu trừ.
DẠNG 6: CÁC BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG THỰC HIỆN TÍNH
GIÁ TRỊ BIỂU THỨC Ở LỚP 3.
1. Tính nhanh biểu thức:
1–2+3–4+5–6+7–8+9
Cách 1: Học sinh phải để ý ghép hết nhiều số đem cộng với nhau và trừ với
nhau:
1–2+3–4+5–6+7–8+9
= ( 1 + 9 ) + ( 3 + 7 ) - ( 2 + 8) - ( 4 + 6 ) + 5
=
10 + 10 - 10 - 10 + 5
=
20
20
+5
= 5
Cách 2: Học sinh có khả năng tìm kết quả bằng kiểu
1– 2 + 3 – 4 + 5– 6+ 7– 8+9
= (9- 8)+(7–6)+(5–4)+(3–2)+1
=
1 +
1 +
1
+
1 +1
= 5
2. Tính giá trị biểu thức:
18 �3 + 12 �3
Cách 1: Học sinh để ý tìm kết quả
Cách 2:
theo cách thông thường (nhân trước,
18 �3 + 12 �3
cộng sau)
= 3 �(18 + 12)
18 �3 + 12 �3
= 3 �30
= 54 + 36
= 90
= 90
Kết luận: Trong quá trình dạy về biểu thức ngoài việc có tác dụng giúp học
sinh sở hữu vững nhiều nguyên tắc tính giá trị biểu thức, còn có tác dụng giúp
học sinh củng cố lại kỹ năng tính nhẩm, chú ý tìm ra cách giải hợp lý để ý so
sánh, nhận xét mục đích kiểm tra lại kết quả nào đó ở tiết luyện tập về tính giá
trị biểu thức.
Ví dụ: Tính giá trị biểu thức
( 421 – 200) �2
- Sau khi học sinh đã tìm ra kết quả, giáo viên giúp học sinh nhận xét xem
phép tính trong ngoặc có gì khác biệt:
- Tìm nhanh kết quả bằng cách nhẩm : Lấy 400 – 200 = 200 còn hàng chục và
hàng đơn vị giữ nguyên. Vậy: 421 - 200 = 221
Ví dụ: Tính giá trị biểu thức: 90 + 9 : 9
15


Có bạn làm như sau: Lấy 90 + 9 = 99, rồi lấy 99 : 9 = 11. Làm như vậy
đúng hay sai ?Vì sao? Làm như vậy là sai vì biểu thức có cộng và chia phải làm
chia trước, cộng sau.
GV đưa tiếp 2 biểu thức : 48 �4 : 2 và 48 �(4 : 2)
Có nhận xét gì về 2 biểu thức trên.
- Tại sao 2 biểu thức trên về số và dấu phép tính như nhau mà kết quả lại khác
nhau. Vì thứ tự thực hiện những phép tính ở 2 biểu thức này khác nhau.
- Trong quá trình làm bài HS còn gặp những bài tính giá trị biểu thức được vận
dụng là sự kết hợp của 2 đến 3 dạng trên. Tùy theo từng bài và sự linh hoạt của HS
để vận dụng tự làm bài hoặc GV cần phải hướng dẫn để HS nhận biết được từng
bài được vận dụng trong các dạng bài nào đã học.
- Tính giá trị biểu thức đối với HS lớp 3 rèn cho HS kĩ năng vận dụng linh
hoạt 4 phép tính trong tính toán. Vì vậy, nó được vận dụng vào hầu hết các bài giải
trong chương trình 4; 5 tiếp theo. Tùy từng loại bài mà GV hướng dẫn cách làm cho
HS.
- Như vậy, sau khi vận dụng việc phân loại và hướng dẫn cách tính giá trị biểu
thức cho HS lớp 3 vào các bài học trong chương trình. HS học song các dạng bài
này tôi nhận thấy: hầu hết các em đã nắm nhanh cách giải mà không còn lúng túng
khi bắt gặp những dạng bài khác nhau. Để kiểm tra kết quả học tập và kĩ năng
của HS, tôi đã ra đề kiểm tra như sau:
DẠNG 7: VẬN DỤNG TÍNH GIÁ TRỊ BIỂU THỨC VÀO GIẢI BÀI TOÁN
CÓ LỜI VĂN
Khi giải các bài toán có lừi văn ở tiểu học tiểu học thì tất cả các phép tính đều
tồn tại dưới dạng biểu thức. Tùy thuộc vào từng bài và khả năng của học sinh mà
các em có thể trình bày hai biểu thức có một phép tính hay biểu thức có hai phép
tính trong một bài giải cho phù hợp.
Kiểu bài tập1: ( Bài 4 - Trang 67,70, 73; Bài toán phần hoạt động ứng
dụng - Trang 70, 73, 75 - Hướng dẫn học - Toán 3 - Tập 1B)
Ví dụ: Bài 4 – Trang 67
Mỗi hộp sữa cân nặng 80g, mỗi gói mì cân nặng 455g. Hỏi 2 hộp sữa và 1 gói
mì cân nặng tất cả bao nhiêu gam ?
Cách 1: Học sinh giải thông thường:
Cách 2: Học sinh vận dụng tính giá trị
Bài giải
biểu thức có phép cộng, phép nhân để
Hai hộp sữa cân nặng là:
làm bài như sau:

80 2 = 160 (g)
Bài giải
2 hộp sữa và 1 gói mì cân nặng là:
Hai hộp sữa và một gói mì cân
160 + 455 = 615 (g)
nặng là:

Đáp số: 615g.
80 2 + 455 = 615 (g)
Đáp số: 615g.
Bài 4 - Trang 70
Có 240 quyển sách xếp đều vào 2 tủ, mỗi tủ có 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn có bao
nhiêu quyển sách, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau ?

16


Cách 1: Học sinh giải thông thường
Bài giải
Hoặc:
Bài giải
Mỗi tủ có số quyển sách là:
Hai tủ có số ngăn là:
240 : 2 = 120 (quyển sách)
2 �4 = 8 (ngăn)
Mỗi ngăn có số quyển sách là:
Mỗi ngăn có số quyển sách là:
120 : 4 = 30 (quyển sách)
240 : 8 = 30 (quyển sách)
Đáp số: 30 quyển sách.
Đáp số: 30 quyển sách.

17


Cách 2: Học sinh vận dụng tính
Cách 3: Học sinh vận dụng tính
giá trị biểu thức có 2 phép tính chia để giá trị biểu thức có dấu ngoặc để làm bài
làm bài như sau:
như sau:
Bài giải
Bài giải
Mỗi ngăn có số quyển sách là:
Mỗi ngăn có số quyển sách là:
240 : 2 : 4 = 30 (quyển sách)
240 : (2 �4) = 30 (quyển sách)
Đáp số: 30 quyển sách.
Đáp số: 30 quyển sách.
Bài 4 - Trang 73
Mẹ hái được 50 quả táo, chị hái được 35 quả táo, số táo của cả mẹ và chị được
xếp đều vào 5 hộp. Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu quả táo ?
Cách 1: Học sinh giải thông
Cách 2: Học sinh vận dụng tính
thường:
giá trị biểu thức có dấu ngoặc để làm bài
Bài giải
như sau:
Cả mẹ và chị hái được số táo là:
Bài giải
50 + 35 = 85 (quả táo)
Mỗi hộpcó số táo là:
Mỗi hộpcó số táo là:
(50 + 35) : 5 = 27 (quả táo)
85 : 5 = 27 (quả táo)
Đáp số: 27 quả táo.
Đáp số: 27 quả táo.
3.8. Thi đua, khen thưởng
* Kinh phí khen thưởng:
Ngoài quỹ khen thưởng của các cấp, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với Hội
cha mẹ học sinh của lớp, Hội khuyến học ở các thôn, các dòng họ, tham mưu gây
quỹ khuyến học.
* Hình thức khen thưởng học sinh:
Công tác thi đua khen thưởng là động lực thúc đẩy phong trào học tập của
học sinh. Trong điều kiện thực tế ở các nhà trường tiểu học kinh phí cho hoạt động
chuyên môn còn hạn chế dẫn đến công tác thi đua khen thưởng cho giáo viên và
học sinh gặp nhiều khó khăn. Song quan trọng hơn cả là cách thức khen thưởng cần
phải được tổ chức một cách trang trọng đảm bảo sự trân trọng những thành tích mà
học sinh đã nỗ lực đạt được
Trong từng tiết học, sau mỗi hoạt động giáo viên dùng lời khen hoặc tuyên
dương, khen thưởng bằng những tràng vỗ tay, ...để động viên, khích lệ học sinh.
Sau mỗi đợt đánh giá định kì hay thường xuyên học sinh có sự tiến bộ hay thành
tích xuất sắc, giáo viên chủ nhiệm tuyên dương ngay trước tập thể lớp và khen
thưởng các em. Đồng thời phối hợp với tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh tuyên
dương trong các buổi sinh hoạt tập thể toàn trường. Đội thiếu niên ghi tên, viết bài
tuyên truyền và khen ngợi trong các buổi phát tin tuyên truyền măng non. Cuối
mỗi năm học giáo viên chủ nhiệm tham mưu hội phụ huynh học sinh của lớp, các
thôn, các dòng họ có phần thưởng cho các em. Phối hợp cùng với nhà trường, Hội
phụ huynh thưởng cho các em chuyến đi tham quan, dã ngoại. Qua những lần tham
quan đó các em được mở mang tầm hiểu biết đồng thời có thêm những kiến thức
thực tế và khích lệ các em cố gắng hơn trong học tập.
18


4. Hiệu quả sáng kiến.
Sau khi dạy xong các dạng toán tính giá trị biểu thức lớp 3, tôi thấy lượng bài
tập trong hướng dẫn học Toán 3 về yêu cầu tính giá trị biểu thức rất ít và không
thành hệ thống nên tôi rất phân vân về dạng toán này. Sau đó tôi tìm và xây dựng
thêm các bài tập về tính giá trị biểu thức thành các dạng , tiếp tục ôn tập và bổ sung
vào buổi 2 đồng thời áp dụng cách tính như tôi đã viết trong sáng kiến. Sau đó tôi
tiến hành khảo sát lần 2. Kết quả khảo sát như sau:
4.1. Đề kiểm tra môn Toán: (Thời gian 60 phút)
Bài 1: Tính giá trị các biểu thức sau:
a) 75 + 28 – 15
c) 96 – 35 + 48
b) 28 �5 : 2
d) 136 : 4 �3
Bài 2: Tính giá trị các biểu thức sau:
a) 49 + 63 : 7
c) 54 : 6 + 91
b) 19 �5 + 21
d) 96 - 13 �7
Bài 3: Tính giá trị các biểu thức sau:
a) (17 + 28) : 9
c) 7 �(12 + 19)
b) 5 �(45 – 23)
d) 306 : (18 : 2)
Bài 4: Tính nhanh giá trị các biểu thức sau:
a) 1 + 2 + 3 + 4 + …+ 18 + 19 + 20
b) 64 �4 + 18 �4
4.2. Kết quả khảo sát so với ban đầu như sau:
Điểm
dưới 5
3A
29
18 em �62,1%
7 em �24,1%
2 em �6,7%
0
- Qua kết quả bài kiểm tra trên tôi thấy: Hầu hết các em đều phát hiện và làm
đúng các dạng bài. Kĩ năng giải toán của các em cũng nhanh hơn. Tỉ lệ học sinh
thích học toán được nâng lên đáng kể khi các em hiểu và làm được bài tập.
Lớp

Sĩ số

Điểm 9 - 10

Điểm 7 - 8

Điểm 5

19


III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Sau khi nắm thực trạng học sinh về môn toán. Tôi đã kịp thời áp dụng một số
biện pháp nêu trên mang lại kết quả khả quan. Qua đó tôi rút ra được một số
kết luận như:
- Cần khảo sát nắm chắc từng đối tượng và năng lực học của học sinh, có biện
pháp thiết thực, nâng chất lượng phù hợp đối với từng học sinh.
- Vận động phụ huynh học sinh kết hợp hỗ trợ giúp các em về điều kiện học
toán cũng như học lý thuyết và thực hành giải các bài tập ở nhà để kết quả dạy, học
toán càng khả quan hơn.
- Theo dõi, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến học sinh học chưa hoàn
thành và đề ra những biện pháp khắc phục.
- Giáo viên phải nhiệt tình, luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh, không
ngại khó.
- Tổ chức nhiều hình thức học tập, với nhiều phương pháp đảm bảo tính vừa
sức.
- Giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành và bồi dưỡng học sinh có khả năng phát
triển vượt trội.
- Trong giảng dạy cần phân loại học sinh thật hợp lí, để có phương pháp giảng
dạy phù hợp từng đối tượng.
- Đối với HS hổng kiến thức cơ bản, cần chú ý lấp dần các kiến thức cho các
em bằng cách phối hợp nhiều phương pháp như: Tổ chức phụ đạo, nhắc lại kiến
thức cơ bản, chú trọng thực hành giải bài tập, yêu cầu vừa sức và khuyến khích để
từng bước khôi phục lòng tin của em,...
- Tăng cường phát huy phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm theo
hướng phù hợp giữa nội dung bài dạy và đối tượng học sinh đang học. Chú ý khai
thác các khía cạnh gây hứng thú của bộ môn, tạo niềm sai mê học tập cho học sinh.
- Giáo viên tham khảo kĩ nội dung bài, xác định yêu cầu trọng tâm bài dạy
(soạn giáo án). Lựa chọn phối hợp tốt, hợp lí các phương pháp và phương tiện dạy
học, các biện pháp thực hiện trong từng khâu, từng đối tượng học sinh. Từ đó, giáo
viên truyền thụ đúng, chính xác nội dung bài, khắc sâu kiến thức. Học sinh nắm
vững nội dung bài, vận dụng luyện tập, thực hành đạt kết quả cao.
- Tuy nhiên tôi thiết nghĩ, đây cũng chưa phải là những kinh nghiệm hữu hiệu
nhất giúp HS khắc sâu kiến thức. Vì vậy tôi bao giờ cũng nghiên cứu tìm tòi và học
hỏi bằng nhiều kênh thông tin khác nhau, lựa chọn biện pháp tối ưu cho đối tượng
HS của lớp mình.
- Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu áp dụng những kinh nghiệm và bồi
dưỡng học sinh học tốt môn toán. Thực tiển cho thấy kết quả học toán của học sinh
có chuyển biến rõ rệt. Bước đầu đã cải thiện được phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học, chất lượng toán được nâng cao. Đồng thời đã hình thành khắc sâu
cho những kĩ năng, thói quen hứng thú, chăm chỉ học toán. Thật đáng mừng, vì sau
mấy tháng áp dụng biện pháp nghiên cứu trên mà chất lượng môn toán của lớp tôi
được nâng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng, thói quen căn bản trong quá trình học
toán, góp phần nâng cao chất lượng môn toán của lớp, của trường ngày một tốt
hơn.
20


2. Kiến nghị.
a. Đối với nhà trường.
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề về phần
toán tính giá trị biểu thức nói riêng và môn Toán nói chung để giáo viên được cùng
nhau trao đổi về nội dung dạy học, những phương pháp tích cực vận dụng trong
dạy học.
- Hằng năm, nhà trường mua bổ sung đồ dùng dạy học toán.
b. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo.
- Hằng năm, phòng Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức nhiều chuyên đề và hội
thảo về dạy học Toán.
- Tổ chức Hội thi giải toán cấp trường, cấp huyện để học sinh có dịp được
giao lưu học hỏi với bạn bè ở các trường bạn.
Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh lớp 3A trường Tiểu học Thị Trấn
học tốt hơn các bài Tính giá trị của biểu thức. Vì dạng bài tính giá trị biểu thức rất
đa dạng và phong phú nên những dạng bài tôi đưa ra mới là những dạng bài cơ bản.
Tuy nhiên, để đạt được kết quả như mong muốn, mỗi giáo viên chúng ta cần
thường xuyên học tập và học hỏi, trao đổi cùng đồng nghiệp để tìm ra những cách
dạy hay nhất để tạo nên một lớp học luôn sôi nổi, học sinh luôn hứng thú học tập.
Rất mong được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cám ơn!

XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 8 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết

Trịnh Thị Kim Thoa

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu hướng dẫn học Toán 3, tập 1A, 1B, 2A, 2B –Nguyễn Thị Bình
(chủ biên), Trần Tiểu Lam – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2014.
2. Toán 3 – Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng, Đỗ Tiến Đạt, Đào Thái
Lai, Đỗ Trung Hiệu, Trần Diên Hiển, Phạm Thanh Tâm, Vũ Dương Thụy – Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2012.
3. Sách giáo viên Toán 3 – Vũ Văn Dương – Nguyễn Thị Bình (chủ biên) –
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2004.
4. Vở bài tập Toán 3 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – Đỗ Đình Hoan (chủ
biên), 2016.

22


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trịnh Thị Kim Thoa
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường tiểu học Thị Trấn Lang Chánh

TT

1.
2.
3.
4.
5.
...

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá xếp
loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Chưa có

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×