Tải bản đầy đủ

VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGUYỄN PHƯỚC HIẾU
MSHV: 17C81003

VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
Tiểu luận Triết học
Chương trình cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học

TP. HỒ CHÍ MINH – 2018

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN


VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

Tiểu luận Triết học
Chương trình cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học

NGUYỄN PHƯỚC HIẾU
MSHV: 17C81003
Khoa học Môi Trường
Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên

TP. HỒ CHÍ MINH – 2018

2


MỤC LỤC

3


4

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay không một ai có thể nghi ngờ về vai trò của
khoa học tự nhiên trong đời sống xã hội cũng như sự phát triển của kinh tế,
khoa học – kỹ thuật, …. Sự phát triển của khoa học tự nhiên ở hầu hết các
lĩnh vực của khoa học hiện đại như y học, kỹ thuật hạt nhân, hóa học, công
nghệ sinh học, công nghệ thông tin, ….
Với sự phát triển đó, thế giới chúng ta đã có những thành tựu vĩ đại về
khoa học và công nghệ mà nhờ đó, loài người đạt được sự tăng trưởng kinh tế
không ngừng. Song, thế giới cũng đang phải đối mặt với những vấn đề hết sức
nghiêm trọng có tính toàn cầu. Một trong số đó là vấn đề ô nhiễm môi trường
và sự cạn kiệt tài nguyên. Tình trạng này đang đặt loài người trước sự thách
thức của giới tự nhiên như từ lâu Ph.Ăngghen đã từng cảnh báo và đang đe
dọa chính sự tồn tại của bản thân Trái đất.
Vì vậy, tiểu luận này tiến hành xem xét, phân tích một số vai trò của
Khoa học môi trường đến sự phát triển của thế giới quan khoa học, và vai trò


trong sự phát triển của xã hội loài người. Từ đó nhận thấy và tái khằng định
tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong Khoa học môi trường
nói riêng và khoa học nói chung.

4


5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
1.1 Thế giới quan
1.1.1 Khái niệm

Thế giới quan là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về
thế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về vị trí con
người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong
thực tiễn xã hội. Thế giới quan chính là biểu hiện của cái nhìn bao quát đối
với thế giới, bao gồm cả thế giới bên ngoài lẫn con người và mối quan hệ giữa
con người và thế giới.
1.1.2 Cấu trúc của thế giới quan

Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều yếu tố nhưng 2 yếu tố
quan trọng nhất là tri thức và niềm tin, trong đó tri thức chính là hạt nhân,
được thể hiện qua các quan điểm, quan niệm, tâm tư, tình cảm, tín ngưỡng,
v.v.
Trong thế giới quan, những quan điểm triết học, khoa học, chính trị,
đạo đức, thẩm mĩ và đôi khi cả quan điểm tôn giáo đóng vai trò quan trọng
nhất.
Một thế giới quan bền vững là thế giới quan có tri thức và niềm tin
thống nhất với nhau.
1.1.3 Vai trò và tính chất của thế giới quan

Thế giới quan định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, đặc
biệt là định hướng về về hệ giá trị nói riêng, nhân sinh quan nói chung.
Tính chất và nội dung của thế giới quan được quyết định chủ yếu bởi
những quan điểm triết học. Vấn đề chủ yếu trong một thế giới quan cũng đồng
nhất với vấn đề cơ bản của triết học (chủ yếu là quan hệ giữa ý thức và vật

5


6

chất). Tuỳ theo cách giải quyết vấn đề này mà người ta phân chia ra hai loại
thế giới quan cơ bản: duy vật và duy tâm.
Thế giới quan có tính chất lịch sử vì thế giới quan phản ánh sự tồn tại
vật chất và tồn tại xã hội, phụ thuộc vào chế độ xã hội và trình độ hiểu biết,
đặc biệt là khoa học của từng thời kì lịch sử. Trong xã hội có giai cấp, thế giới
quan mang tính giai cấp; về nguyên tắc, thế giới quan của giai cấp thống trị là
thế giới quan thống trị; nó chi phối xã hội và lấn át thế giới quan của các giai
cấp khác.
Thế giới quan không những là sự tổng hợp lí luận và ý nghĩa nhận thức,
mà còn rất quan trọng về mặt thực tiễn; nó làm kim chỉ nam cho hành động
của con người.
Từ việc hiểu biết về thế giới, chúng ta có được bức tranh về thế giới
trong ý thức tức thế giới quan và từ đó quyết định lại thái độ và hành vi đối
với thế giới. Có một cái nhìn đúng đắn sẽ định hướng con người hoạt động
theo sự phát triển lôgic của xã hội và góp phần vào sự tiến bộ xã hội. Vì thế,
thế giới quan là trụ cột về mặt hệ tư tưởng của nhân cách, là cơ sở cho đạo
đức, chính trị và hành vi.
1.1.4 Những hình thức cơ bản của thế giới quan

Tùy theo cách tiếp cận, có nhiều cách phân loại hình thức thế giới quan;
song, xét theo trình độ phát triển tƣ duy của con ngƣời, thế giới quan thể hiện
dưới 3 hình thức cơ bản:
- Thế giới quan huyền thoại:
Thể hiện chủ yếu qua các chuyện thần thoại. Đan xen giữa tri thức và
niềm tin. Đan xen giữa thực và ảo, giữa thần và người. Trật tự không gian,
thời gian bị đảo lộn.
- Thế giới quan tôn giáo:
Thể hiện chủ yếu qua giáo lý của các tôn giáo. Tuyệt đối hóa vai trò
6


7

của niềm tin. Tuyệt đối hóa vai trò của giới siêu nhiên. Nặng tính chất ảo.
- Thế giới quan triết học:
Thể hiện chủ yếu qua các học thuyết triết học. Đề cao vai trò trí tuệ.
Không chỉ thể hiện quan điểm, quan niệm về thế giới mà còn chứng minh
chúng băng lý luận.
Triết học là hạt nhân của thế giới quan, quyết định tính chất của thế giới
quan (Thế giới quan duy vật: Thế giới quan duy vật chất phác, thế giới quan
duy vật siêu hình, thế giới quan duy vật biện chứng; Thế giới quan duy tâm:
Thế giới quan duy tâm khách quan, thế giới quan duy tâm chủ quan).
Trong những hình thức đa dạng của mình, thế giới quan nào hình thành
và phát triển dựa trên những thành tựu khoa học là thế giới quan khoa học, sẽ
được trình bày rõ hơn trong phần sau.
1.2 Thế giới quan khoa học

Thế giới quan khoa học là thế giới quan phản ánh một cách đúng đắn ,
chân thực , khách quan hiện thực và khách quan bên ngoài . Người có thế giới
quan khoa học là người có tình cảm cao đẹp , sâu sắc , đúng đắn , lành mạnh ;
có lý trí , không để tình cảm lấn át; có ý thức đúng đắn; có niềm tin sâu sắc
vào tường lai tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa; có lý tưởng cao đẹp, trong
sáng.
Thế giới quan khoa học hiện đại thực chất là thế giới quan duy vật biện
chứng, bao gồm các vấn đề về sự tồn tại của vật chất, mối quan hệ giữa vật
chất, ý thức và các quy luật tổng quát của sự vận động vật chất . Trong thế
giới quan duy vật biện chứng , triết học cùng với cá khoa học khác đã khẳng
định sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên với
những quy luật khách quan.

7


8

Phép biện chứng duy vật là hình thức mở, luôn luôn đổi mới, bổ sung
bởi những thành tựu mới của xã hội. Từ Mác , Ăngghen , Lenin không chỉ đổi
mới , bổ sung mà còn vận dụng nó vào trong nhận thức và thực tiển . Nó vận
dụng vào những thành tựu khoa học thực tiễn.
Với những đặc điểm trên đây đã làm cho phép biện chứng duy vật trở
thành phương pháp luận phổ biến. Nó đã loại bỏ những hạn chế các quan
điểm của các nhà triết học trước đó và phát triển theo hướng tich cực hơn, nên
trở thành hoàn thiện nhất , sâu sắc nhất.
Việc nắm vững những nguyên tắc, phương pháp luận được rút ra từ thế
giới quan khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng hiện thực khách quan của
thời đại của đất nước của địa phương với tất cả những mối quan hệ giai cấp và
dân tộc , những tương quan lực lượng cách mạng , nắm bắt được sự tiến bộ và
quy định của sự phát triển của lịch sử.
Thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn hiện thực khách
quan của xã hội hiện thực, bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động , là vũ khí lý luận sắc bén , là kim chỉ nam soi đường cho
giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân lao động và cá dân tộc bị áp bức trên
thế giới đấu tranh giải phóng khỏi bị bóc lột và nô dịch , tiến lên xây dựng
một xã hội văn minh và nhân đạo hơn đó là chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa Mác-Lenin nói chung và thế giới quan duy vật biện chứng
nói riêng đã kế thừa tất cả những giá trị tư tưởng văn hóa của nhân loại đã có
từ trước, nó luôn luôn gắn liền với thực tiễn của phong trào cách mạng , thực
tiễn vận động của lịch sử , của sự phát triển của khoa học kỷ thuật với cuộc
đấu tranh tư tưởng lý luận chống lại các học thuyết tư sản, các loại chủ nghĩa
cơ hội. Nó là học thuyết về sự phát triển nhằm định hướng cho con người
vươn tới cuộc sống tự do, thoát khỏi sự thống trị của tự nhiên và thống trị của

8


9

con người với con người. Đó là tính nhân văn cao cả của thế giới quan duy
vật biện chứng.

9


10

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
2.1 Khái niệm môi trường

Môi trường cần phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, tức là
môi trường bao bọc xung quanh con người - cả môi trường tự nhiên lẫn môi
trường xã hội chứ không phải chỉ là môi trường tự nhiên. Điều đó có nghĩa là
môi trường bao gồm các yếu tố, các điều kiện tự nhiên (lý học, sinh học, hóa
học) lẫn các yếu tố, các điều kiện nhân tạo (cả các yếu tố và điều kiện tự
nhiên đã được con người biến đổi) bao quanh con người. Con người không
thể tồn tại ở đâu khác ngoài tồn tại trong tự nhiên, dựa vào nguồn vật chất,
nguồn năng lượng trong tự nhiên để sống và cũng không thể phát triển ở đâu
khác ngoài việc có thể phát triển trong môi trường tự nhiên lẫn trong môi
trường xã hội.
2.2 Khái niệm Khoa học môi trường
2.2.1 Nguồn gốc Khoa học môi trường

Khoa học môi trường đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu khoa học
thực sự trong những năm 1960 và 1970 do một nhu cầu về cách tiếp cận đa
ngành để phân tích các vấn đề phức tạp về môi trường, sự xuất hiện của các
luật môi trường cơ bản đòi hỏi các giao thức môi trường cụ thể điều tra và
nhận thức của công chúng ngày càng tăng về hành động trong việc giải quyết
các vấn đề môi trường. Các sự kiện thúc đẩy sự phát triển này bao gồm việc
xuất bản cuốn sách Silent Spring về những ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến
Môi trường của Rachel Carson cùng với các vấn đề môi trường lớn diễn ra
như vấn đề ô nhiễm môi trường ở London, Anh năm 1952, hay ở Los Angeles
Mỹ 1960 sự cố tràn dầu ở Santa Barbara năm 1969…
2.2.2 Khái niệm Khoa học môi trường
10


11

Thông thường, "Khoa học môi trường" và "Sinh thái học" thường được
sử dụng thay thế cho nhau, nhưng về mặt kỹ thuật, sinh thái chỉ đề cập đến
việc nghiên cứu các sinh vật và tương tác của chúng với nhau và môi trường
của chúng. Sinh thái học có thể được coi là một bộ phận nhỏ của Khoa học
môi trường. Trung tâm Quốc gia về Thống kê Giáo dục Hoa Kỳ The National
Center for Education Statistics định nghĩa Khoa học môi trường: Là một lĩnh
vực tập trung vào việc áp dụng các nguyên tắc sinh học, hóa học và vật lý để
nghiên cứu môi trường và giải pháp cho các vấn đề môi trường, bao gồm các
chủ đề như giảm thiểu hoặc kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi
trường…; sự tương tác giữa xã hội loài người và môi trường tự nhiên; và quản
lý tài nguyên thiên nhiên. Khoa học môi trường bao gồm các nghiên cứu về
sinh học, hóa học, vật lý, địa chất học, khí hậu học, thống kê, và mô hình hóa
toán học (3).
2.3 Đặc trưng của Khoa học môi trường

Khoa học môi trường là một ngành học liên ngành, kết hợp các ngành
khoa học vật lý, sinh học và thông tin (bao gồm sinh thái, sinh học, vật lý, hóa
học, động vật học, khoáng vật học, đại dương, khoa học thời tiết, khoa học đất
đai, địa chất, khoa học khí quyển và địa chất) để nghiên cứu môi trường, và
giải pháp của những vấn đề môi trường. Ngày nay, Khoa học môi trường tiếp
cận một cách tích hợp, định lượng và liên ngành để nghiên cứu các hệ thống
môi trường trên trái đất. Các lĩnh vực nghiên cứu liên quan bao gồm các
nghiên cứu môi trường và kỹ thuật môi trường. Nghiên cứu môi trường kết
hợp nhiều hơn các khoa học xã hội để hiểu các mối quan hệ của con người,
nhận thức và các tác động đối với môi trường. Kỹ thuật môi trường tập trung
vào thiết kế và công nghệ để nâng cao chất lượng môi trường ở mọi khía
cạnh. Các nhà khoa học môi trường nghiên cứu các chủ đề như sự hiểu biết về

11


12

các quá trình trên trái đất, đánh giá các hệ thống năng lượng thay thế, kiểm
soát và giảm thiểu ô nhiễm, quản lý tài nguyên thiên nhiên và những ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu. Các vấn đề về môi trường gần như bao
gồm sự tương tác giữa các quá trình vật lý, hóa học và sinh học. Các nhà khoa
học môi trường đưa ra cách tiếp cận hệ thống để phân tích các vấn đề môi
trường. Các yếu tố chính của một nhà khoa học môi trường hiệu quả bao gồm
khả năng liên hệ không gian, các mối quan hệ thời gian cũng như phân tích
định lượng. Một số ngành khoa học trong Khoa học môi trường như:
Khoa học khí quyển: Khoa học khí quyển tập trung vào bầu khí quyển
của Trái Đất. Khoa học khí quyển có thể bao gồm các nghiên cứu về khí
tượng học, hiện tượng khí nhà kính, mô hình phân tán khí quyển các tạp chất
gây ô nhiễm không khí, các hiện tượng lan truyền âm thanh liên quan đến ô
nhiễm tiếng ồn và thậm chí là ô nhiễm ánh sáng. Lấy ví dụ về hiện tượng
nóng lên toàn cầu, các nhà vật lí tạo ra các mô hình máy tính lưu thông khí
quyển và bức xạ hồng ngoại, các nhà nghiên cứu phân tích sự tồn lưu của các
hóa chất trong khí quyển và các phản ứng của chúng. Các nhà sinh học phân
tích sự đóng góp của thực vật và động vật đối với lượng khí carbon dioxide và
các chuyên gia như các nhà khí tượng học và hải dương học làm tăng thêm sự
hiểu biết động lực khí quyển.
Sinh thái học: Sinh thái học là nghiên cứu về tương tác giữa các sinh
vật với môi trường của chúng. Các nhà sinh thái học có thể điều tra mối quan
hệ giữa một quần thể sinh vật với một số đặc tính vật lý của môi trường, như
nồng độ hoá học; hoặc có thể điều tra sự tương tác giữa hai quần thể của các
sinh vật khác nhau thông qua một số mối quan hệ cộng sinh hoặc cạnh tranh.
Ví dụ, một phân tích liên ngành của một hệ sinh thái đang bị ảnh hưởng bởi
một hoặc nhiều tác động có thể bao gồm một số lĩnh vực khoa học môi trường
liên quan. Các nhà sinh vật học sẽ mô tả hệ thực vật và động vật, các nhà
12


13

nghiên cứu sẽ phân tích việc vận chuyển các chất gây ô nhiễm nước đến đầm
lầy, các nhà vật lí sẽ tính toán lượng khí thải ô nhiễm không khí và các nhà
địa chất học sẽ hỗ trợ cho việc phát triển công nghiệp. hiểu rõ đất đầm lầy và
bùn đáy.
Hóa môi trường: Hóa môi trường là nghiên cứu về các thay đổi hóa học
trong môi trường. Các lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu bao gồm ô nhiễm đất và ô
nhiễm nước. Các chủ đề phân tích bao gồm sự xuống cấp hóa học trong môi
trường, vận chuyển hóa chất nhiều pha (ví dụ như bốc hơi dung tạo ra chất
gây ô nhiễm không khí) và các ảnh hưởng hóa học đến sinh vật.
Địa chất học: bao gồm địa chất môi trường, hiện tượng núi lửa và sự
tiến hóa của vỏ trái đất. Trong một số hệ thống phân loại, cũng có thể bao
gồm thủy văn, bao gồm cả hải dương học.
2.4 Mối liên hệ của Khoa học môi trường đối với triết học và các ngành

Khoa học khác
Khoa học môi trường là lĩnh vực liên ngành bao gồm sự kết hợp giữa
các ngành khoa học nhiều lĩnh vực để có thể hiểu được về sự hình thành, phát
triển của môi trường xung quanh, bên cạnh những quy luật của giới tự nhiên,
khuynh hướng phát triển, sự tác động do con người và sự tác động trở lại của
môi trường đến xã hội loài người. Do đó, Khoa học môi trường yêu cầu sự
phát triển của các ngành khoa học khác, bao gồm cả khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Khi các ngành khoa học khác phát triển sẽ thúc đẩy việc
nghiên cứu môi trường. Vấn đề môi trường, vấn đề quan hệ giữa con người và
giới tự nhiên không đơn giản chỉ là vấn đề thuần túy khoa học hay kinh tế - kỹ
thuật, nó còn là vấn đề mang tính giai cấp, vấn đề tư tưởng, vấn đề chính trị...
Do vậy, các khoa học xã hội, đặc biệt là triết học, có nhiệm vụ làm cho mọi
13


14

người nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường, cần làm cho mọi người
thấy được rằng việc bảo vệ môi trường không chỉ liên quan đến thế hệ này mà
còn liên quan đến các thế hệ mai sau. Triết học có nhiệm vụ giải quyết vấn đề
phương pháp luận về sự tác động qua lại giữa các khoa học trong việc nghiên
cứu vấn đề con người và môi trường, góp phần xây dựng ý thức đúng đắn của
con người trong quan hệ với giới tự nhiên.

CHƯƠNG 3: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ THẾ GIỚI
QUAN KHOA HỌC
3.1 Thế giới quan khoa học tác động đến khoa học môi trường

Thế giới quan khoa học đóng vai trò định hướng cho nhận thức và các
hoạt động khác của nhà khoa học môi trường.Trong đó phương pháp luận triết
học luôn được sử dụng trong các hoạt động khoa học môi trường. Thế giới
quan và phương pháp luận triết học có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của khoa học môi trường. Để có thể đạt được kết quả tối ưu trong nhận
thức và các hoạt động khác, các nhà khoa học môi trường không thể thiếu thế
giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học của triết học.
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người
và xã hội thành một hệ thống rộng lớn "Tự nhiên - Con người - Xã hội", trong
đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Sự thống nhất của hệ thống
trên được thực hiện trong các chu trình sinh địa hoá của 5 thành phần cơ bản:


Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ
từ các chất vô cơ dưới tác động của quá trình quang hợp.

14


15



Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, tạo ra
các chất thải.



Sinh vật phân huỷ (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân huỷ các chất
thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản.



Con người và xã hội loài người.



Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con
người với số lượng ngày một tăng.
Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xã hội" đòi hỏi

việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường
phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó,
phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh
trong hệ thống đó. Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá
vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên - con người - xã hội. Sự
hình thành chuyên ngành khoa học môi trường là sự tìm kiếm của con người
nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống "Tự
nhiên - Con người - Xã hội".
Mối quan hệ giữa hoạt động của con người và bảo vệ môi trường đã
từng được các nhà tư tưởng và các nhà khoa học ở những giai đoạn phát triển
khác nhau của xã hội quan tâm nghiên cứu. Tùy theo điều kiện lịch sử mà
những nghiên cứu ấy được tiến hành từ các góc độ khác nhau. Nhìn chung,
các tư tưởng triết học trước Mác, cả ở phương Đông và phương Tây, về mối
quan hệ giữa con người với giới tự nhiên có nhiều yếu tố tích cực, nhưng cơ
bản còn mang tính duy tâm và siêu hình. Kế thừa những tư tưởng tích cực,
khắc phục những hạn chế, ngay từ giữa thế kỷ XIX, khi xem xét mối quan hệ

15


16

giữa con người và giới tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những tư
tưởng đúng đắn dựa trên các căn cứ khoa học và lịch sử vững chắc về mối
quan hệ đó. Một trong những tư tưởng đó đã được lịch sử xã hội loài người
khẳng định là xã hội không thể tồn tại và phát triển, nếu không có quá trình
thường xuyên sản xuất và tái sản xuất xã hội. Hoạt động sản xuất là đặc trưng
riêng của con người và xã hội loài người. Sản xuất vật chất chính là quá trình
hoạt động có mục đích của con người, là quá trình con người sử dụng công cụ
lao động tác động vào giới tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự
nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống của con người và cho xã
hội. Sản xuất vật chất được thực hiện trong quá trình lao động. Chính C.Mác
là người đầu tiên đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là
tìm ra cái sự thật giản đơn rằng “... con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ
ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ...”
(1, trang 500).
Con người phải sản xuất vật chất, đó là yêu cầu khách quan của sự sinh
tồn xã hội. Con người không thể thoả mãn nhu cầu của mình bằng những cái
đã có sẵn trong giới tự nhiên. Để duy trì và ngày càng nâng cao đời sống của
mình, con người phải tiến hành sản xuất của cải vật chất; nếu không có sản
xuất thì xã hội tiêu vong. Vì thế, sản xuất của cải vật chất là điều kiện cơ bản
của mọi xã hội, là một hành động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn
năm trước đây người ta vẫn phải tiến hành từng ngày, từng giờ cốt để duy trì
cuộc sống của con người. Và, chính trong quá trình này mối quan hệ giữa giới
tự nhiên, con người và xã hội hình thành. Tuy xuất hiện vào những thời điểm
khác nhau nhưng các yếu tố giới tự nhiên, con người, xã hội bao giờ cũng tồn
tại trong sự thống nhất biện chứng, bởi vì “chừng nào mà loài người còn tồn
tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”.

16


17

Con người và xã hội tồn tại trong lòng giới tự nhiên. Và, lao động của
con người là hạt nhân của sự thống nhất biện chứng giữa xã hội và giới tự
nhiên. Sự thống nhất đó được biểu hiện trong bản chất của con người. Như
vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, giữa xã hội và giới tự nhiên, giữa con người
và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ. Trước hết, con người chỉ có thể tồn
tại và phát triển ở trong xã hội; mặt khác, con người là “một bộ phận của giới
tự nhiên”, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, sống dựa vào giới tự nhiên,
nằm trong lòng của giới tự nhiên, gắn với giới tự nhiên bằng trăm nghìn mối
dây liên hệ. “Giới tự nhiên – cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản
thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con
người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên
là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá
trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần
của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa
là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ
phận của giới tự nhiên”. Đồng thời, xét theo nghĩa rộng của thuật ngữ “giới tự
nhiên” thì xã hội cũng là bộ phận của giới tự nhiên. Ở đây, mối quan hệ giữa
xã hội và giới tự nhiên giống như quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Song,
C.Mác và Ph.Ăngghen không dừng lại ở đó. Theo các ông, con người và xã
hội không phải là những bộ phận bình thường mà là những bộ phận đặc biệt
của cái toàn thể. Những bộ phận ấy, một mặt, tuân theo các quy luật của giới
tự nhiên; mặt khác, tuân theo những quy luật của bản thân chúng, có bản chất
riêng của chúng. Cùng với thời gian, trong những chừng mực nhất định,
những bộ phận ấy ngày càng phát triển, ngày càng hoàn thiện, do đó, càng có
nhiều khả năng quyết định tính chất, chiều hướng biến đổi của cái toàn thể
kia, tức là của giới tự nhiên. Ở đây, hoạt động có ý thức của con người đóng
vai trò đặc biệt quan trọng và vai trò đó ngày càng tăng lên, thậm chí quyết
17


18

định sự tồn tại và chiều hướng phát triển của chính mình cũng như của giới tự
nhiên.
Quan trọng hơn nữa, C.Mác đã xét sự thống nhất giữa con người và
giới tự nhiên như một vấn đề xã hội, vì “bản chất con người của tự nhiên chỉ
tồn tại đối với con người xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con
người mới là một cái khâu liên hệ con người với con người”. Sự thống nhất
đó không phải là sự thống nhất trong trạng thái tĩnh lặng mà luôn sống động,
là một quá trình lịch sử luôn biến đổi và phát triển không ngừng. Nó được
thực hiện thông qua lao động của con người trong quá trình sản xuất vật chất,
thông qua thực tiễn.
Lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người là hai giai đoạn
trong quá trình phát triển của thế giới vật chất. Điều này đã được chứng minh
bằng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại. Vì vậy, mối quan
hệ giữa "Tự nhiên - Con người - Xã hội là một bộ phận không thể tách rời của
thế giới vật chất, nhưng là một bộ phận lớn nhất, bao trùm nhất đối với sự
sống con người. Cơ sở thống nhất của hệ thống này được quy định bởi cấu
trúc chặt chẽ, liên hoàn của sinh quyển và bởi cơ chế hoạt động theo nguyên
tắc tự tổ chức, tự bảo vệ, tự điều chỉnh, tự làm sạch của chu trình sinh học hay
chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin của sinh quyển". Do
đó, điều đầu tiên chúng ta rút ra là phải có quan điểm hệ thống, quan điểm
toàn diện và phát triển trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề nảy
sinh từ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Chế độ xã hội quy định tính chất, mục tiêu, phương hướng của con
người trong quá trình tác động vào giới tự nhiên. Do vậy, chúng ta cần rút ra
là, việc giải quyết những vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ giữa tăng trưởng

18


19

kinh tế và bảo vệ môi trường phải dựa vào bản chất của chế độ xã hội, cũng
như phải dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và
khoa học xã hội cùng với sự hợp tác chặt chẽ, tự giác vì lợi ích chung của tất
cả các quốc gia trên hành tinh, của toàn thể loài người.
3.2 Vai trò của Khoa học môi trường đối với sự phát triển của thế giới

quan khoa học
Khoa học môi trường là một ngành khoa học đa ngành bởi vì nó được
tạo thành bởi nhiều ngành học như Hóa học, Vật lý, Y học, Khoa học sự sống,
nông nghiệp, sức khỏe cộng đồng, kỹ thuật môi trường…Nó là ngành khoa
học của các hiện tượng vật lý trong môi trường. Nó nghiên cứu nguồn gốc,
các phản ứng, vận chuyển, ảnh hưởng và số phận của các loài sinh vật trong
không khí, nước, đất và ảnh hưởng từ các hoạt động của con người lên các
cấu thành của môi trường.
Khoa học môi trường cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ
môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và làm giảm các tác nhân gây ô
nhiễm môi trường. Ngành khoa học môi trường rất có ý nghĩa đối với sự phát
triển của thế giới quan khoa học vì các lý do sau:
(1) Các vấn đề môi trường vấn đề chung của nhân loại như sự ấm lên
của trái đất, thủng tầng ozone, mưa acid, ô nhiễm môi trường biển, đa dạng
sinh học. Những vấn đề trên không phải là vấn nạn của một quốc gia mà là
của toàn cầu, do đó phải có sự nỗ lực và hợp tác quốc tế.
(2) Các vấn đề được giải quyết trong sự yếu kém của phát triển. Để làm
trong sạch vùng này thì làm ô nhiễm vùng khác (di dời ô nhiễm)
(3) Sự gia tăng mức độ ô nhiễm.
(4) Cần có các giải pháp thay thế
(5) Cần bảo vệ con người khỏi tuyệt chủng
19


20

(6) Cần có kế hoạch khôn ngoan cho phát triển
(7) Đòi hỏi phải có sự quản lý môi trường một cách hợp lý theo các yêu
cầu sau:
+ Đánh giá tác động của hoạt động con người đến môi trường
+ Hệ thống hóa các giá trị của môi trường
+ Lập kế hoạch và thiết kế cho phát triển bền vững
+ Giáo dục môi trường
Khoa học môi trường có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các ngành
Khoa học khác bao gổm cả khoa học tự nhiên và xã hội. Bởi vì môi trường
bao gồm giới tự nhiên, con người và xã hội loài người, để hiểu về mối quan
hệ này ngành khoa học về vật lý, toán học, hóa học, sinh vật học, và xã hội
nhân văn…được phát triển và liên kết với nhau. Ví dụ như hiện tượng hiệu
ứng nhà kính và nóng lên toàn cầu, các nhà vật lý học nghiên cứu về cân bằng
năng lượng trong hệ mặt trời và trái đất, các nhà toán học nghiên cứu về mô
hình các dòng khí trên trái đất, các nhà hóa học nghiên cứu về những đặc tính
của các chất khí nhà kính và các nhà triết học nghiên cứu về hoạt động của
con người, xu hướng phát triển và đề ra những phương pháp mang tính nhân
văn và môi trường...
Khi các ngành khoa học phát triển thì kết luận của các khoa học là
những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất. Những kết
luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư
cách định hướng để các khoa học và phát triển về Khoa học môi trường.

KẾT LUẬN

20


21

Khoa học môi trường là ngành khoa học liên ngành, thúc đẩy sự phát
triển của khoa học khác gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Khoa
học môi trường ứng dụng tất cả các ngành khoa học tự nhiên và xã hội để giải
quyết các vấn đề về khủng hoảng môi trường như: bùng nổ dân số, biến đổi
khí hậu, suy thoái đất và vấn đề lương thực, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, phá
rừng, nhiên liệu hóa thạch, ô nhiễm nước và không khí, nguồn năng lượng,
sức khỏe cộng đồng và vệ sinh môi trường.
Nhờ có thế giới quan khoa học ta có thể hiểu được các chức năng của
môi trường là: bảo vệ, điều hòa các quá trình sống, cung cấp thức ăn, nước
uống, xử lý chất thải, giải trí và du lịch.
Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là hoạt động sản xuất vật chất, con
người đã khai thác, sử dụng và làm biến đổi mạnh mẽ giới tự nhiên nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của con người và xã hội. Song, trong quá trình đó,
con người cũng đã để lại nhiều hậu quả tiêu cực, nặng nề cho môi trường tự
nhiên. Những vấn đề môi trường gay gắt và nguy cơ khủng hoảng sinh thái
mang tính chất toàn cầu đang đe dọa không chỉ sự sống của giới tự nhiên, mà
cả sự sống còn của xã hội. Có thể nói, vấn đề môi trường hiện nay là hết sức
cấp thiết, buộc con người phải suy nghĩ và hành động ngay khi chưa quá
muộn. Trong lịch sử xã hội từng có những nền văn minh một thời phát triển
rực rỡ, huy hoàng, nhưng đã phải tiêu vong do sự tác động quá mức của con
người đối với môi trường tự nhiên.
Do đó, để điều khiển được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên,
trước hết phải nhận thức được những quy luật tồn tại và phát triển của giới tự
nhiên và sau đó, phải biết vận dụng một cách đúng đắn, chính xác những quy
luật đó vào quá trình hoạt động thực tiễn của xã hội, mà quan trọng nhất là
vào lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất. Sự phát triển của xã hội loài người
21


22

ngày nay đang hướng đến các mục tiêu cơ bản: phồn thịnh về kinh tế, công
bằng, bình đẳng về xã hội và môi trường trong lành. Chỉ có hướng theo các
mục tiêu đó, xã hội mới có thể đạt đến sự phát triển bền vững.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, tập19. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội,1995, 500.
2. Lênin, Toàn tập, tập 29, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1981, trang 395.
3. National Center for Education Statistics. Classification of Instructional

Programs. United States Department of Education, Institute of
Education Sciences, 2000.

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×