Tải bản đầy đủ

TUYỂN TẬP CÁC BÀI ĐỌC SONG NGỮ CAMBRIDGE IELTS 11

 

Tuyển tập các bài đọc song ngữ

 

CAMBRIDGE IELTS 11 
 

ECCYL Group 
12th June, 2017 
 
 

 

 


 
 


Danh sách các bài dịch song ngữ  
Falkirk Wheel - Thang máy xoáy đầu tiên và duy nhất trên thế giới 
Lịch sử về lụa tơ tằm 
Trồng trọt trên những toà nhà chọc trời 
Giảm thiểu những tác động của biến đối khí hậu 
Trục vớt chiến hạm MARY ROSE 
Điều gì đã phá hủy nền văn minh của đảo Phục Sinh? 
Thần kinh học 
Cuộc di cư vĩ đại 
Nghiên cứu dựa trên những cặp song sinh 
Chuyến du hành vào luận điểm toán học 
Giới thiệu về âm thanh trong phim ảnh 
Một phát minh kỳ diệu 
Công cụ dò đáp án 
#Khó_khăn_khi_học_tiếng_Anh 
Lộ trình ôn lên 6.0 trong 1 tháng 
Bí quyết thi IELTS Overal 8.0 
A WEBSITE TEST IELTS ONLINE 
CÁCH LUYỆN TẬP IELTS LISTENING PART 4 
Cách học danh sách các từ "Academic words" hiệu quả 
Link báo The Economist và New Scientist 

 
 

 




 
 

Giới thiệu 
Cuốn Cambridge IELTS 11 nằm trong bộ Cambridge IELTS sách từ 1 đến 11 và bộ “The official
Cambridge guide to IELTS” của nhà xuất bản Cambridge và là bộ sách không thể thiếu cho tất
cả các bạn đang học IELTS.
Mặc dù cuốn sách này đã ra từ năm 2016 nhưng nội dung các bài reading trong cuốn này vẫn
còn khá hay và vẫn tồn tại vĩnh cửu theo thời gian!


Chỉ riêng đọc tiếng việt thôi các bạn đã học được khá nhiều kiến thức phổ thông rồi, chưa kể
nếu đọc nhiều các bạn sẽ học thêm nhiều từ vựng mới hay các cụm từ academic được dùng đi
dùng lại trong văn viết IELTS!
Cám ơn các TNV sau đã góp sức việt hoá cuốn CAM11 trên:
1. Toàn Davi
2. Đào Hoàng Linh
3. Tuấn Nguyễn
4. Lê Văn Anh
5. Nguyễn Duy Linh
6. Ms T
​ huỳ Trang - Giáo viên dạy IELTS

(FB Page: ​https://www.facebook.com/MrsTrangIELTS/?pnref=lhc​)

Link to test online this book:
http://ieltsonlinetests.com/11/catalogue/cambridge-ielts-11-with-answers

 
 

 




 
 

Cách sử dụng tài liệu này 
1. Tích cực tra cứu và ghi chép từ mới
Các từ vựng được xuất hiện thường xuyên và có ý nghĩa nhất định với từng chủ đề trong cuốn
sách này đều rất có khả năng nằm trong đề thi thật trong khoảng thời gian sắp tới vì chúng
thuộc top chủ đề phổ biến theo xu hướng. Do vậy các bạn nên chịu khó tra từ cách dùng của
chúng, thống kê các từ này vào một quyển sổ nhỏ, thỉnh thoảng giở ra ôn tập, đọc đi đọc lại
hằng ngày thì càng tốt.
Mỗi một passage Reading nên ghi chú được ít nhất từ 7 đến 10 từ, nằm lòng chúng rồi tầm
khoảng 1, 2 tuần sau dở sách ra đọc lại, mục đích để xem mình có nhớ từ không, có hiểu bài
đọc hơn và nắm thông tin nhiều hơn không, check luôn tốc độ đọc hiểu so với trước thì ra
sao,… Cách học này tương đối mất thời gian nhưng lại khá hiệu quả. Các bạn có thể thử xem.
2. Làm lại ít nhất 2 lần
Hãy làm lại bài đọc bạn đã làm sau khoảng 2 tháng để đảm bảo nội dung sơ lược và các từ
vựng cần nhớ cho chủ đề đó có thật sự nằm trong đầu của bạn chưa. Nếu bạn bị miss chỗ nào
hay làm sai thì hãy coi đó là một lần ôn tập lại bài học nhé. Cách học này để định ra sự chắc
chắn về độ thẩm thấu kiến thức của bạn.
3. Tạo môi trường học tập
Chọn thời điểm bạn thoải mái nhất để học kĩ năng IELTS Reading nha. Đặc biệt chú ý là phải
trong bầu không khí tĩnh lặng, không ồn ào để hiệu suất làm việc của bạn cao nhất mà đồng
thời lại không gây ra sự nhàm chán vì đây là kĩ năng rất “dễ mộng du”.

 

 
 

 




 
 

Falkirk Wheel - Thang máy xoáy đầu tiên và duy nhất trên 
thế giới  

 
Falkirk Wheel, gọi tên theo vùng phụ cận của Falkirk miền Trung của Scotland, là hệ thống nâng 
tàu bằng phương pháp quay duy nhất trên thế giới. Nó giúp nối liền vùng Forth và kênh Clyde 
Canal với kênh chung Union Canal. Sự chênh lệch độ cao giữa 2 dòng kênh là 24m (79ft) gần 
bằng độ cao của một nhà cao 8 tầng. Vì thế họ không thể đào kênhnhánh để liên thông 2 dòng 
kênh này lại với nhau. Kiến trúc này nằm gần pháo đài Lâu đài Rough (Rough Castle Fort) và làng 
Tamfourhill. Ngày 24 thàng 5 năm 2002, nữ hoàng Elizabeth II khánh thành Falkirk Wheel như 
một phần trong chương trình kỷ niệm đám cướI vàng của bà. Lễ khánh thành kéo dài trễ hơn dự 
kiến khoảng 1 tháng vì lũ về. Ngoài giá trị về giao thông, Falkirk Wheel còn là một công trình kiến 
trúc ngoạn mục, và là điểm tham quan du lịch đáng lưu ý. Giá vé thăm quan cho người lớn lên 
đến 7,95 bảng và 4,95 bảng cho trẻ em. Theo thống kê thì kinh phí để người ta xây dựng chiếc 
thang máy đường thủy này lên tới 84,5 triệu bảng. Falkirk Wheel được đưa vào hoạt động từ năm 
2002 cho đến nay, nó là điểm thu hút khách du lịch hàng đầu của Scotland. Vòng răng có đường 
kính 35m, bao gồm hai cánh tay đối nhau có tầm mở rộng 15 mét vượt ra ngoài trục trung tâm Kể 
từ khi thang máy đường thủy mở cửa đã có khoảng 4.4 triệu người đã trải nghiệm, với khoảng 
400.000 người trải nghiệm mỗi năm. 
 
Hiện có hẳn một tour tham quan cây cầu thang máy độc đáo này trong vòng 1 tiếng. Năm 2010, 
giá vé cho 1 tour tham quan cây cầu có giá 7,95 bảng cho người lớn và 4,95 bảng cho trẻ em từ 
3 – 15 tuổi (miễn phí cho trẻ em dưới 3 tuổi). 



 
 

 
Thật sự xứng đáng là một trong những điểm tham quan nếu như bạn có điều kiện đi du lịch sang 
nước Scotland. 
 
Một thành tựu kỹ thuật độc đáo. 
A unique engineering achievement.

Falkirk Wheel ở Scotland là thang máy nâng thuyền đầu tiên và duy nhất của thế giới.
The Falkirk Wheel in Scotland is the world's first and only rotating boat lift.

Khai trương vào năm 2002, nó là trung tâm của dự án liên kết Thiên niên kỷ 84,5 triệu bảng đầy
tham vọng nhằm khôi phục việc đi lại khắp Scotland bằng cách kết nối lại các tuyến đường thủy
lịch sử của kênh Forth & Clyde và kênh Union.
Opened in 2002, it is central to the ambitious £84,5m Millennium Link project to restore
navigability across Scotland by reconnecting the historic waterways of the Forth & Clyde and
Union Canals.

Thách thức chính của dự án nằm trong thực tế là kênh đào Forth & Clyde nằm ở mức 35 mét
dưới mức của kênh đào Union.
The major challenge of the project lay in the fact that the Forth & Clyde Canal is situated 35
metres below the level of the Union Canal.

Trong lịch sử, hai kênh này đã được nối kết với nhau gần thị trấn Falkirk bằng một chuỗi 11
khóa - nằm ở phần đóng của kênh mà trong đó mực nước có thể được nâng lên hoặc hạ xuống
- để có thể hạ xuống trên một khoảng cách 1,5 km.
Historically, the two canals had been joined near the town of Falkirk by a sequence of 11 locks enclosed sections of canal in which the water level could be raised or lowered - that stepped
down across a distance of 1,5 km.




 
 

Các khoá này đã được tháo dỡ vào năm 1933, qua đó phá vỡ các liên kết.
This had been dismantled in 1933, thereby breaking the link.

Khi dự án đã được triển khai vào năm 1994, chính quyền đường thủy Anh đã tạo được sự quan
tâm chú ý khi tạo ra một bước ngoặt đáng kể ở thế kỹ hai mươi mốt này và đây sẽ không chỉ là
một công trình kỷ niệm phù hợp của Thiên niên kỷ, mà còn là một biểu tượng lâu bền của việc
phục hồi kinh tế của khu vực này.
When the project was launched in 1994, the British Waterways authority were keen to create a
dramatic twenty-first-century landmark which would not only be a fitting commemoration of the
Millennium, but also a lasting symbol of the economic regeneration of the region.

Nhiều ý tưởng đã được trình bày cho dự án này, bao gồm các khái niệm khác nhau, từ các
dạng trứng lăn cho đến các thùng nghiêng, từ các ván bập bênh khổng lồ cho đến các đường
ray trên cao.
Numerous ideas were submitted for the project, including concepts ranging from rolling eggs to
tilting tanks, from giant seesaws to overhead monorails.

Người chiến thắng cuối cùng sẽ là bản kế hoạch cho thang máy nâng thuyền rất lớn mà sau
này trở thành Falkirk Wheel.
The eventual winner was a plan for the huge rotating steel boat lift which was to become The
Falkirk Wheel.

Hình dạng độc đáo của cấu trúc này được tuyên bố được lấy cảm hứng từ các nguồn khác
nhau, cả nhân tạo lẫn tự nhiên, đáng chú ý nhất là hình dạng một đôi rìu hai đầu thời Celtic,
nhưng cũng có những cánh quạt quay tàu rất lớn, lồng ngực của một con cá voi hay xương
sống của một con cá.




 
 

The unique shape of the structure is claimed to have been inspired by various sources, both
manmade and natural, most notably a Celtic double headed axe, but also the vast turning
propeller of a ship, the ribcage of a whale or the spine of a fish.

Tất cả các bộ phận khác nhau của Falkirk Wheel được chế tạo và lắp ráp lại với nhau, giống
như một bộ đồ chơi khổng lồ, tại khu liên hiệp thép Butterley Engineering ở Derbyshire, cách thị
trấn Falkirk khoảng 400 km.
The various parts of The Falkirk Wheel were all constructed and assembled, like one giant toy
building set, at Butterley Engineering's Steelworks in Derbyshire, some 400 km from Falkirk.

Một nhóm cẩn thận lắp ráp 1,200 tấn thép lại với nhau và cẩn thận lắp các mảnh này với nhau
với độ chính xác chỉ 10 mm để đảm bảo trùng khớp ở mức hoàn hảo.
A team there carefully assembled the 1,200 tonnes of steel, painstakingly fitting the pieces
together to an accuracy of just 10 mm to ensure a perfect final fit.

Vào mùa hè năm 2001, cấu trúc này sau đó đã được tháo dỡ và được vận chuyển trên 35 xe
tải về thị trấn Falkirk, trước khi tất cả miếng ghép được bắt vít trở lại với nhau một lần nữa trên
mặt đất, và cuối cùng là nâng lên vị trí ở năm phần lớn bằng cần trục.
In the summer of 2001, the structure was then dismantled and transported on 35 lorries to
Falkirk, before all being bolted back together again on the ground, and finally lifted into position
in five large sections by crane.

Bánh xe này sẽ cần phải chịu được áp lực to lớn và thay đổi liên tục khi nó xoay, do đó để làm
cho cấu trúc mạnh mẽ hơn, các phần thép được bắt vít chứ không phải hàn lại với nhau.
The Wheel would need to withstand immense and constantly changing stresses as it rotated, so
to make the structure more robust, the steel sections were bolted rather than welded together.

Hơn 45,000 lỗ bulông được vặn khớp lại với nhau và được tay siết chặt bằng tay.
Over 45,000 bolt holes were matched with their bolts, and each bolt was hand-tightened.



 
 

Bánh xe này bao gồm hai bộ chống tay hình chiếc rìu, được gắn chặt với một cột sống trung
tâm cố định khoảng 25 mét .
The Wheel consists of two sets of opposing axe-shaped arms, attached about 25 metres apart
to a fixed central spine.

Hai chiếc thuyền 'gondolas' chứa đầy nước nằm đối nghịch nhau, mỗi các có thể chứa được
360,000 lít, được gắn giữa hai đầu của cánh tay.
Two diametrically opposed water-filled 'gondolas', each with a capacity of 360,000 litres, are
fitted between the ends of the arms.

Những chiếc gondola này luôn nặng như nhau, cho dù có mang theo thuyền hay không.
These gondolas always weigh the same, whether or not they are carrying boats.

Điều này là bởi vì, theo nguyên tắc chuyển dịch Archimedes, các vật nổi sẽ chiếm chỗ khối
lượng của mình trong nước.
This is because, according to Archimedes' principle of displacement, floating objects displace
their own weight in water.

Vì vậy, khi một chiếc thuyền đi vào một gondola, thì lượng nước thoát khỏi gondola nặng chính
xác bằng chính chiếc thuyền này.
So when a boat enters a gondola, the amount of water leaving the gondola weighs exactly the
same as the boat.

Điều này sẽ giữ cho bánh xe cân bằng và vì vậy, mặc dù bánh xe có khối lượng vô cùng lớn, nó
có thể quay 180° trong 5,5 phút nhưng vẫn sử dụng rất ít điện năng.
This keeps the Wheel balanced and so, despite its enormous mass, it rotates through 180° in
five and a half minutes while using very little power.



 
 

Nó chỉ tốn 1,5 kilowatt-giờ (5,4 MJ) năng lượng để xoay bánh xe- gần giống như việc đun sôi
tám ấm nước nhỏ.
It takes just 1,5 kilowatt-hours (5,4 MJ) of energy to rotate the Wheel -roughly the same as
boiling eight small domestic kettles of water.

Các thuyền cần phải được nâng lên để đi vào lưu vực của kênh ở mực nước của kênh Forth &
Clyde và sau đó đi vào gondola thấp hơn của bánh xe.
Boats needing to be lifted up enter the canal basin at the level of the Forth & Clyde Canal and
then enter the lower gondola of the Wheel.

Hai cổng thép thủy lực được nâng lên để bị kín gondola ra khỏi nước trong lưu vực kênh.
Two hydraulic steel gates are raised, so as to seal the gondola off from the water in the canal
basin.

Sau đó nước giữa các cửa này được bơm ra ngoài.
The water between the gates is then pumped out.

Một kẹp thủy lực dùng để ngăn các cánh tay khỏi di chuyển trong khi gondola cập bến được lấy
ra để cho phép bánh xe quay.
A hydraulic clamp, which prevents the arms of the Wheel moving while the gondola is docked, is
removed, allowing the Wheel to turn.

Sau đó trong phòng máy trung tâm, một loạt 10 động cơ thủy lực bắt đầu xoay quanh trục trung
tâm.
In the central machine room an array of ten hydraulic motors then begins to rotate the central
axle.




 
 

Trục này được nối với cánh tay bên ngoài của bánh xe, mà khi bắt đầu xoay với tốc độ bằng 1/8
vòng/phút.
The axle connects to the outer arms of the Wheel, which begin to rotate at a speed of 1/8 of a
revolution per minute.

Khi bánh xe quay, các gondolas được giữ ở vị trí thẳng đứng bởi một hệ thống bánh răng đơn
giản.
As the wheel rotates, the gondolas are kept in the upright position by a simple gearing system.

Hai bánh răng cưa rộng tám mét quay quanh một răng cưa bên trong cố định với chiều rộng
như nhau, được nối bởi hai bánh răng nhỏ hơn quay theo hướng ngược lại với các bánh răng
bên ngoài - để đảm bảo rằng các gondolas luôn luôn cùng mực nước với nhau.
Two eight-metre-wide cogs orbit a fixed inner cog of the same width, connected by two smaller
cogs travelling in the opposite direction to the outer cogs - so ensuring that the gondolas always
remain level.

Khi gondola đạt tới đỉnh, thuyền sẽ đi thẳng lên cầu máng nằm cách 24 mét trên lưu vực kênh.
When the gondola reaches the top, the boat passes straight onto the aqueduct situated 24
metres above the canal basin.

Thang quay cần phải xoay thêm 11 mét nữa để đạt được mực nước của kênh Union bằng cách
dùng các cặp ổ khóa.
The remaining 11 metres of lift needed to reach the Union Canal is achieved by means of a pair
of locks.

10 


 
 

Bánh xe không thể được xây dựng để nâng thuyền quá mức 35 mét giữa hai kênh vì sự hiện
diện của bức tường Antonine lịch sử được xây dựng bởi những người La Mã vào thế kỷ thứ
hai.
The Wheel could not be constructed to elevate boats over the full 35-metre difference between
the two canals, owing to the presence of the historically important Antonine Wall, which was
built by the Romans in the second century AD.

Thuyền đi dưới những bức tường này thông qua một đường hầm, sau đó bằng các khóa, và
cuối cùng là tới kênh đào Union.
Boats travel under this wall via a tunnel, then through the locks, and finally on to the Union
Canal.
Link slide: ​https://drive.google.com/file/d/0BwEj81u2z_ljeFlhbXgyTWgyVFU/view?usp=sharing 
Link to test online: ​http://mini-ielts.com/387/reading/the-falkirk-wheel 
 

 

11 


 
 

Lịch sử về lụa tơ tằm  

The history of the world’s most luxurious fabric, from ancient China to the present day.
Lịch sử của loại vải xa xỉ bâc̣ nhất thế giới, từ thời Trung Quốc cổ đại cho tới ngày nay.

Silk is a fine, smooth material produced from the cocoons - soft protective shells - that are made
by ​mulberry silkworms (insect larvae).
Lụa là loại vâṭ liêụ mịn, trơn mượt tạo ra từ kén-lớp vỏ bảo vê ̣ mềm-của con tằm (ấu trùng).

Legend has it that it was Lei Tzu, wife of the Yellow Emperor, ruler of China in about 3000 BC,
who discovered silkworms.
Truyền thuyết kể lại rằng Lei Tzu, vợ của Hoàng Đế, người thống trị Trung Quốc vào khoảng
3000 năm trước công nguyên, đã khám phá ra con sâu tằm.

One account of the story goes that as she was taking a walk in her husband’s gardens, she
discovered that silkworms were responsible for the destruction of several mulberry trees.
12 


 
 

Truyền thuyết kể rằng khi đang đi dạo cùng chồng trong vườn, bà phát hiêṇ thấy con sâu tằm
chính là nguyên nhân phá hoại môṭ số cây dâu tằm.
She collected a number of cocoons and sat down to have a rest.
Bà nhăṭ môṭ số kén tằm và ngồi xuống nghỉ trong chốc lát.
It just so happened that ​while​ she was sipping some tea, one of the cocoons that she had
collected landed in the hot tea and started to unravel into a fine thread.

Chuyêṇ xảy ra khi bà đang nhấp vài ngụm trà, môṭ cái kén tằm mà bà đã nhăṭ trước đó rơi vào
trong trà nóng và bắt đầu bung ra thành những sợ chỉ mịn.
Lei Tzu found that she could wind this thread around her fingers.
Lei Tzu nhâṇ thấy rằng bà có thể quấn những sợi chỉ này quanh tay mình.
Subsequently, she persuaded her husband to​ allow ​her to rear silkworms on a grove of
mulberry trees.

Sau đó, bà đã thuyết phục chồng cho phép bà nuôi những con sâu tằm trên những lùm cây
dâu.
She also devised a special reel to draw the fibres from the cocoon into a single thread so that
they would be strong enough to be woven into fabric.
Bà cũng nghĩ ra môṭ guồng quay đăc̣ biêṭ để kéo những thớ của kén tằm thành các sợi riêng lẻ
để chúng đủ bền có thể dêṭ thành vải.
While it is unknown just how much of this is true, it is certainly known that silk cultivation has
existed in China for several millennia.
Tuy không biết bao nhiêu phần của câu chuyêṇ trên là thâṭ , nhưng rõ ràng rằng viêc̣ sản xuất
lụa đã tồn tại ở Trung Quốc trong vài nghìn năm qua.
Originally, silkworm farming was solely restricted to women, and it was they who were
responsible for the growing, harvesting and weaving.
Ban đầu, viêc̣ trồng dâu nuôi tằm chỉ được giao cho phụ nữ, người thì phụ trách nuôi tằm,
người thì thu hoạch và người thì phụ trách dêṭ .

13 


 
 

Silk quickly grew into a symbol of status, and originally, only royalty were entitled to have
clothes made of silk.
Lụa tơ tằm nhanh chóng trở thành môṭ biểu tượng cho địa vị, và ban đầu, chỉ có hoàng tôc̣ mới
có quyền măc̣ quần áo làm từ lụa.
The rules were ​gradually​ relaxed over the years until finally during the Qing Dynasty
(1644—1911 AD),​ even ​peasants, the lowest caste, were also entitled to wear silk.

Luâṭ này dần dần được lới lỏng qua nhiều năm, cuối cùng cho tới triều đại Qing (1644-1911 sau
công nguyên), thâm
̣ chí nông dân, tầng lớp thấp nhất, cũng được quyền măc̣ lụa.
Sometime during the Han Dynasty (206 BC-220 AD), silk was so prized that it was also used as
a unit of currency.
Đôi khi vào triều đại nhà Hán (206 trước công nguyên-220 sau công nguyên), lụa cũng được
coi là đơn vị tiền tê.̣
Government officials were paid their salary in silk, and farmers paid their taxes in grain and silk.
Chính quyền đã trả lương bằng lụa và những người nông dân trả thuế bằng lúa và lụa.
Silk was also used as diplomatic gifts​ by ​the emperor.
Lụa còn được dùng làm quà ngoại giao cho hoàng đế.
Fishing lines, bowstrings, musical instruments and paper were all made using silk.
Dây câu cá, dây cung, nhạc cụ âm nhạc và giấy đều làm từ lụa.
The earliest indication of silk paper being used was discovered in the tomb of a noble who is
estimated to have died around 168 AD.
Dấu hiêụ sớm nhất cho viêc̣ sử dụng giấy lụa được phát hiêṇ trong ngôi mô ̣ của môṭ hoàng gia
người được ước tính đã chết vào khoảng năm 168 sau công nguyên.

Demand for this exotic fabric eventually created the lucrative trade route now known as the Silk
Road, taking silk westward and bringing gold, silver and wool lo the East.
Nhu cầu của loại vải cực đẹp này thâm
̣ trí đã tạo lên tuyến đường giao dịch thông thương nổi
tiếng với tên gọi Con Đường Tơ Lụa, mang lụa đến phương tây và đổi lại lấy vàng, bạc cùng
lông cừu cho phương đông.

14 


 
 

It was named the Silk Road after its most precious commodity, ​which​ was considered to be
worth more than gold.

Con đường được đăṭ tên là Con Đường Tơ Lụa dựa theo hàng hóa giá trị nhất, thứ được coi là
còn giá trị hơn cả vàng.
The Silk Road stretched over 6,000 kilometres from Eastern China to the Mediterranean Sea,
following the Great Wall of China, climbing the Pamir mountain range, crossing modern-day
Afghanistan and going on to the Middle East, with a major trading market in Damascus.
Con Đường Tơ Lụa trải dài trên 6000 km từ phía Đông Trung Quốc tới biển Địa Trung Hải, dọc
theo Vạn Lý Trường Thành, vượt qua dãy núi Pamir, băng qua vùng lãnh thổ Afghanistan ngày
nay và đi tới vùng Trung Đông, với khu giao dịch chính ở Damascus.
From there, the merchandise was shipped across the Mediterranean Sea.
Từ đó, hàng hóa được vâṇ chuyển qua biển Địa Trung Hải.
Few merchants travelled the entire route; goods were handled mostly​ by ​a series of middlemen.
Rất ít thương gia tham gia toàn bô ̣ hành trình giao dịch, hàng hóa hầu như được truyền tay qua
môṭ vài người trung gian.
With the mulberry silkworm being native to China, the country was the world’s sole producer of
silk for many hundreds of years.
Với dâu tằm xuất xứ từ Trung Quốc, đất nước này trờ thành nhà sản xuất lụa duy nhất trên thế
giới trong hàng trăm năm.
The secret of silk-making eventually reached the rest of the world via the Byzantine Empire,
which​ ruled over the Mediterranean region of southern Europe, North Africa and the Middle East
during the period 330—1453 AD.
Bí mâṭ của viêc̣ tạo sản xuất lụa tơ tằm cuối cùng đã hé lô ̣ với phần còn lại của thế giới nhờ đế
chế Byzantine, đế chế thống trị vùng Địa Trung Hải gồm phía Nam Châu u, Bắc Phi và Trung
Đông trong suốt khoảng thời gian từ 330-1453 trước công nguyên.

According to another legend, monks working for the Byzantine emperor Justinian smuggle
silkworm eggs to Constantinople (Istanbul in modern-day Turkey) in 550 AD, concealed inside
hollow bamboo walking canes.

15 


 
 

Theo như môṭ truyền thuyết khác, các nhà sư làm viêc̣ cho hoàng đế Byzantine Justinian đã
buôn lâụ trứng của sâu tằm tới Constantinople (Istanbul ở Thổ Nhĩ Kì ngày nay) vào 550 trước
công nguyên, bằng cách giấu bên trong những chiếc gâỵ ba toong rỗng bằng tre.

The Byzantines were as secretive as the Chinese, ​however​, and for many centuries the
weaving and trading of silk fabric was a strict imperial monopoly.

Người Byzantines đã giấu bí mâṭ giống như người Trung Quốc, tuy nhiên sau nhiều thế kỉ viêc̣
dêṭ và mua bán lụa tơ tằm là viêc đôc̣ quyền của giới hoàng gia.
Then in the seventh century, the Arabs conquered Persia, capturing their magnificent silks in the
process.
Thì vào thế kỉ 7, người Ả Râp̣ đã thôn tính Persia và chiếm được loại lụa tuyêṭ đẹp này.
Silk production thus spread through Africa, Sicily and Spain as the Arabs swept, through these
lands.
Viêc̣ sản xuất lụa lan rôṇ g khắp Châu Phi, Sicily và Tây Ban Nha khi Ả Râp̣ thôn tính những
vùng đất này.
Andalusia in southern Spain was Europe’s main silk-producing centre in the tenth century.
Andalusia ở phía nam Tây Ban Nha là trung tâm chính sản xuất lụa tơ tằm của Châu u vào thể
kỉ thứ 10.
By the thirteenth century, ​however​, Italy had become Europe’s leader in silk production and
export.

Cho đến thế kỉ thứ 13, thì Italy trở thành nước đứng đầu châu u và sản xuất và xuất khẩu lụa tơ
tằm.
Venetian merchants traded extensively in silk and encouraged silk growers to settle in Italy.
Các thương gia tại thành phố Venice đã buôn bán lụa tơ tằm môṭ cách rôṇ g rãi và còn giúp sức
để các người trồng dâu định cư ở Italy.
Even now, silk processed in the province of Como in northern Italy enjoys an esteemed
reputation.
Thâm
̣ chí ngày nay, quá trình sản xuất lụa tơ tằm ở tỉnh Como phía nam Italy được coi là môṭ
thương hiêụ .
16 


 
 

The nineteenth century and industrialisation ​saw​ the downfall of the European silk industry.
Thế kỉ 19 cùng công nghiêp̣ hóa đã chứng kiến ngành công nghiêp̣ lụa tơ tằm của châu u đi
xuống.
Cheaper Japanese silk, trade in ​which​ was greatly facilitated​ by ​the opening of the Suez Canal,
was one of the many factors driving the trend.

Lụa tơ tằm rẻ hơn từ Nhâṭ Bản, thông thương trở nên thuâṇ tiêṇ hơn nhờ viêc̣ mở kênh đào
Suez, là môṭ trong những yếu tố chính dẫn đến xu hướng này.

Then in the twentieth century, new manmade fibres, ​such as ​nylon, started to be used in what
had traditionally been silk products, ​such as s​ tockings and parachutes.

Rồi vào thế kỉ 20, sợi nhân tạo mới, như nylon, bắt đầu được sử dụng trong những sản phẩm
mà theo truyền thống được làm từ lụa tơ tằm, ví như bít tất hay dù.

The two world wars, ​which​ interrupted the supply of raw material from Japan, also stifled the
European silk industry.

Thế chiến thứ 2, đã làm gián đoạn nguồn cung cấp nguyên liêụ từ Nhâṭ Bản, cũng đã bóp nghẹt
ngành công nghiêp̣ lụa của châu u.

After the Second World War, Japan’s silk production was restored, with improved production
and quality of raw silk.
Sau thế chiến thứ 2, viêc̣ sản xuất lụa của Nhâṭ Bản được khôi phục lại đi kèm với sản lượng
và chất lượng của lụa thô được cải thiêṇ .

Japan was to remain the world’s biggest producer of raw silk, and practically the only major
exporter of raw silk, until the 1970s.
Nhâṭ Bản đã giành lại vị trí nhà sản xuất lụa thô lớn nhất thế giới và đăc̣ biêṭ chỉ xuất khẩu duy
nhất lụa thô, cho tới tâṇ những năm 1970.

17 


 
 

However, in more recent decades, China has ​gradually​ recaptured its position as the world’s
biggest producer and exporter of raw silk and silk yarn.

Tuy nhiên, trong những thâp̣ kỉ gần đây, Trung Quốc dần dần giành lại của mình là nhà sản
xuất và xuất khẩu lớn nhất thế giới về lụa thô và chỉ lụa.
Today, around 125,000 metric tons of silk are produced in the world, and almost two thirds of
that production takes place in China.
Ngày này, có khoảng 125,000 tấn lụa được sản xuất trên thế giới và khoảng hai phần ba của
chúng được sản xuất tại Trung Quốc.
Dịch bởi: ToanDaVi
Nguồn: http://mini-ielts.com/400/view-solution/reading/the-story-of-silk 
 

 

18 


 
 

Trồng trọt trên những toà nhà chọc trời  

By the year 2050, nearly 80% of the Earth’s population will live in urban centres.
Đến năm 2050 sẽ có gần 80% dân số Trái Đất sinh sống tại các trung tâm đô thị.
Applying the most conservative estimates to current demographic trends, the human
population will increase by about three billion people by then.
Những ước tính thận trọng nhất theo xu hướng nhân khẩu học hiện nay cho thấy đến
2050 dân số thế giới sẽ tăng thêm khoảng ba tỷ người.
An estimated 109 hectares of new land (about 20% larger than Brazil) will be needed to
grow enough food to feed them, if traditional farming methods continue as they are
practised today.
Để đảm bảo nguồn cung lương thực cho 3 tỷ người này, chúng ta sẽ cần thêm khoảng 109
ha diện tích đất chưa canh tác (lớn hơn diện tích của Brazil khoảng 20%) trong trường
hợp chúng ta vẫn tiếp tục áp dụng những phương pháp canh tác truyền thống hiện nay.

19 


 
 

At present, throughout the world, over 80% of the land that is suitable for raising crops is
in use.
Hiện tại, trên toàn thế giới, hơn 80% diện tích đất thích hợp cho trồng trọt hiện đã và
đang được khai thác rồi.
Historically, some 15% of that has been laid waste by poor management practices.
Về mặt lịch sử, khoảng 15% trong lượng đất đó đã bị lãng phí bởi những tập quán quản
lý yếu kém của con người.
What can be done to ensure enough food for the world’s population to live on ? The
concept of indoor farming is not new, since hothouse production of tomatoes and other
produce has been in vogue for some time.
Vậy thì phải làm gì để đảm bảo nguồn lương thực cho toàn bộ dân số thế giới? Khái niệm
canh tác trong nhà không phải là mới, nhất là khi việc sản xuất cà chua và các sản phẩm
khác trong nhà kính đã trở nên phổ biến được một thời gian rồi.
What is new is the urgent need to scale up this technology to accommodate another three
billion people.
Điều mới ở đây là nhu cầu cấp thiết phải nhân rộng công nghệ này nhằm đáp ứng cho nhu
cầu của 3 tỷ người kia nữa.
Many believe an entirely new approach to indoor farming is required, employing
cutting-edge technologies.
Nhiều người tin rằng cần có một cách tiếp cận hoàn toàn mới đối với việc canh tác trong
nhà, áp dụng những công nghệ tiên tiến.

20 


 
 

One such proposal is for the ‘Vertical Farm’.
“Nông trại theo chiều dọc” là 1 ý tưởng như thế.
The concept is of multi-storey buildings in which food crops are grown in
environmentally controlled conditions.
Lý thuyết của nó là sử dụng các tòa nhà cao tầng, tại đó, các cây lương thực được trồng
trong môi trường được kiểm soát.
Situated in the heart of urban centres, they would drastically reduce the amount of
transportation required to bring food to consumers.
Nằm ở trung tâm của các trung tâm đô thị, chúng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí vận
chuyển thực phẩm đến với người tiêu dùng.
Vertical farms would need to be efficient, cheap to construct and safe to operate.

Các nông trại theo chiều dọc cần phải có tính hiệu quả, chi phí xây dựng thấp đồng thời
an toàn trong vận hành.
If successfully implemented, proponents claim, vertical farms offer the promise of urban
renewal, sustainable production of a safe and varied food supply (through year-round
production of all crops), and the eventual repair of ecosystems that have been sacrificed
for horizontal farming.
Những người đưa ra ý tưởng này khẳng định rằng nếu được áp dụng thành công, các
nông trại theo chiều dọc hứa hẹn sẽ thay đổi bộ mặt đô thị, cung cấp nguồn lương thực an
toàn, đa dạng lâu dài (thông qua việc trồng trọt quanh năm mọi giống cây lương thực), và

21 


 
 

thậm chí chúng ta còn tu sửa lại các hệ sinh thái trước kia đã phải hy sinh cho việc canh
tác theo chiều ngang.
It took humans 10,000 years to learn how to grow most of the crops we now take for
granted.

Con người đã phải mất đến 10,000 năm để học cách trồng trọt hầu hết những loại cây
trồng mà ngày nay chúng ta đang có.
Along the way, we despoiled most of the land we worked, often turning verdant, natural
ecozones into semi-arid deserts.
Trong quá trình đó, chúng ta đã làm cho những vùng đất trồng trọt bị thoái hóa, thường
biến những đồng cỏ xanh tươi hay những khu sinh thái tự nhiên thành những sa mạc khô
cằn.
Within that same time frame, we evolved into an urban species, in which 60% of the
human population now lives vertically in cities.
Cũng trong thời gian ấy, chúng ta tiến hóa thành một giống loài đô thị mà ngày nay đến
60% loài người sống trong các tòa nhà cao tầng trong các thành phố.
This means that, for the majority, we humans have shelter from the elements, yet we
subject our food-bearing plants to the rigours of the great outdoors and can do no more
than hope for a good weather year.
Điều này cho thấy rằng phần đông chúng ta ẩn nấp khỏi các điều kiện tự nhiên, nhưng rồi
lại bỏ mặc những loài cây cung cấp lương thực cho chúng ta tự đối mặt với những điều

22 


 
 

kiện khắc nghiệt của môi trường, còn chúng ta chẳng thể làm gì hơn ngoài việc cầu mong
thời tiết thuận lợi.
However, more often than not now, due to a rapidly changing climate, that is not what
happens.

Tuy vậy, bởi sự thay đổi khí hậu quá nhanh chóng mà điều đó càng ngày càng khó theo
mong muốn của chúng ta.
Massive floods, long droughts, hurricanes and severe monsoons take their toll each year,
destroying millions of tons of valuable crops.
Những trận lũ lụt lớn, những đợt hạn hán kéo dài, những cơn bão hay những đợt gió mùa
khắc nghiệt gây thiệt hại hàng năm, phá hủy hàng triệu tấn nông sản có giá trị.
The supporters of vertical farming claim many potential advantages for the system.

Những người ủng hộ việc canh tác theo chiều dọc đưa ra rất nhiều những lợi ích tiềm
tàng của hệ thống.
For instance, crops would be produced all year round, as they would be kept in artificially
controlled, optimum growing conditions.
Ví dụ nông sản sẽ được sản xuất quanh năm, bởi chúng được trồng trong những điều kiện
tối ưu nhất kiểm soát bởi con người.
There would be no weather-related crop failures due to droughts, floods or pests.

23 


 
 

Sẽ không có sự mất mùa bởi thời tiết vì hạn hán, lũ lụt hoặc sâu bệnh.
All the food could be grown organically, eliminating the need for herbicides, pesticides
and fertilisers.
Toàn bộ thực phẩm có thể được trồng một cách hữu cơ, không cần thuốc diệt cỏ, thuốc
trừ sâu hay phân bón.
The system would greatly reduce the incidence of many infectious diseases that are
acquired at the agricultural interface.
Hệ thống canh tác theo chiều dọc sẽ giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc nhiều căn bệnh truyền
nhiễm từ nông nghiệp.
Although the system would consume energy, it would return energy to the grid via
methane generation from composting nonedible parts of plants.
Mặc dù hệ thống tiêu thụ năng lượng nhưng cũng sẽ trả lại năng lượng vào mạng lưới
điện thông qua việc tạo thành khí mê-tan từ quá trình phân hủy những phần không ăn
được của cây trồng.
It would also dramatically reduce fossil fuel use, by cutting out the need for tractors,
ploughs and shipping.
Nó cũng giúp giảm đáng kể lượng nhiên liệu hóa thạch tiêu thụ nhờ giảm thiểu nhu cầu
sử dụng máy kéo, máy cày hay chuyển hàng.
A major drawback of vertical farming, however, is that the plants would require artificial
light.

24 


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×