Tải bản đầy đủ

tiểu luận về phát triển kinh tế trang trại

Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

LỜI MỞ ĐẦU
Nền văn minh nông nghiệp ra đời sớm nhất và đã tồn tại hàng vạn năm trên
Trái Đất, là một ngành không thể thay thế được, cho dù trong thế kỷ XXI và sau
này nữa khi các trình độ kỹ thuật điện tử, hoá sinh phát triển cao độ. Nông nghiệp
– nông dân – nông thôn đã trải qua nhiều thăng trầm của các phương thức sản xuất.
Nhiều nước đi tìm con đường khác nhau để rút ngắn quá trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Họ đã thử nghiệm phương pháp bần cùng hoá nông dân, để trên
cơ sở đó thiết lập các xí nghiệp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa với lao động nông
nghiệp làm thuê. Mãi cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX người ta vẫn lầm
tưởng con đường phát triển nông nghiệp theo kiểu công nghiệp như vậy. Nhưng từ
thực tế nông nghiệp diễn ra hoàn toàn trái ngược. ở các nước tư bản phát triển, các
nước đang phát triển cũng như ở các nước xây dựng xã hội theo mô hình xã hội
chủ nghĩa, thì cuối cùng nền nông nghiệp cũng hình thành các trang trại với những
quy mô khác nhau, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu.
Trên cơ sở nhu cầu phát triển các nông hộ (trang trại gia đình) hợp tác với
nhau sản xuất hàng hoá, dịch vụ với quy mô đa dạng và thuộc nhiều lĩnh vực sản
xuất, dịch vụ, cung cầu… Thực tiễn đó đã thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu khoa
học, kinh tế, xã hội học… nghiên cứu nghiêm túc về kinh tế hộ, trang trại trong
nền kinh tế nông thôn.

Từ một nước lạc hậu, sản xuất tự cấp tự túc, nay bước đầu chuyển sang sản
xuất hàng hoá, đối với nước ta đây là một sự nghiệp mới mẻ. Bởi vậy, việc nghiên
cứu cơ sở lý luận về sự tồn tại và phát triển khách quan của hình thức kinh tế trang
trại trong sản xuất nông nghiệp; nghiên cứu xu hướng vận động và phát triển của
nó trong cơ chế mới, để từ đó có những giải pháp phù hợp tạo điều kiện thúc đẩy
qua trình phát triển kinh tế hộ nông dân nói riêng, nền nông nghiệp và nông thôn
nói chung theo hướng phát triển hàng hoá, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hoá đất nước là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Từ đó là những điều kiện cơ bản, làm biến đổi toàn diện sắc thái hình ảnh của
bức tranh kinh tế nông nghiệp ở nước ta trong thời gian qua, sức sản xuất được giải
phóng, tiềm năng được khơi dậy, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới và mô hình sản
xuất mới trong nông nghiệp mà trong đó hình thái phát triển kinh tế trang trại là
vấn đề được mọi người đặc biệt quan tâm và chú trọng.
Xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề, từ yêu cầu thực tiễn như đã nêu ở trên.
Đồng thời với mục đích khẳng định vai trò, vị trí của kinh tế trang trại trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới nền kinh tế hiện
nay của nước ta. Qua việc sưu tầm tài liệu, xử lý những thông tin gắn với thực tiễn,
tiểu luận đã có những nghiên cứu sơ bộ về kinh tế góp phần làm rõ hơn về cơ sở lý
luận, về đặc trưng, xu hướng vận động và phát triển của kinh tế trang trại ở xã
Cao Sơn, Đà Bắc, Hoà Bình. Dựa vào điều kiện thực trạng phát triển kinh tế của
xã Cao Sơn, từ đó tìm ra hướng phát triển phù hợp và khuyến khích loại hình kinh
tế hộ, trang trại phát triển sản xuất đạt hiệu quả cao hơn. Vì vậy tôi nghiên cứu đề
1


Tiu lun tt nghip Lp Trung cp Lý lun CT HC, Bc

ti Mt s gii phỏp, phỏt trin kinh t h (trang tri) theo hng bn vng
ti xó Cao Sn, Bc ni dung bi vit ny tp chung vo vn phỏt trin
kinh t h theo hng phỏt trin trang tri, nhm ỏp ng yờu cu chuyn bin c
cu kinh t tớch cc theo hng cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ ca a phng v
tin trỡnh cụng nghiờph hoỏ, hin i hoỏ t nc cng nh ỏp ng c yờu cu
hi nhp kinh t quc t.
Trong quỏ trỡnh lm tiu lun chc chn khụng trỏnh khi sai sút, rt mong
thy, cụ nhn xột, úng gúp ý kin tiu lun hon chnh hn, gúp phn lam thay
i din mo kinh t ca xó Cao Sn t phỏt truyn cỏc trang tri.
Chơng I
cơ sở lý luận về kinh tế trang trại và vai trò của chính
quyền địa phơng đối với phát triển kinh tế trang trại
I- KINH Tế TRANG TRạI :


1. khái niệm và đặc trng của kinh tế trang trại :
1.1.khái niệm về kinh tế trang trại :
Bn v khỏi nim trang tri, bỏo cỏo d tho ca B nụng nghip v phỏt
trin nụng thụn ( 5 / 1990 ) bc u thng nht v khỏi nim trang tri vi 04 ni
dung c bn sau :
- Trang tri l mt hỡnh thc t chc kinh t trong nụng - lõm - ng nghip
ph bin c hỡnh thnh trờn c s kinh t nhng mang tớnh sn xut hng hoỏ rừ
rt. Sn xut hng hoỏ l tiờu chớ quan trng nht phõn bit kinh t trang tri v
kinh t h .
- Kinh t trang tri cú s tp trung cao hn so vi bỡnh quõn chung ca kinh
t h gia ỡnh nụng dõn tng vựng v cỏc iu kin sn xut ( t ai, vn, lao
ng ) t khi lng v t l sn phm hng hoỏ ln hn v li nhun thu c
nhiu hn.
- Kinh t trang tri cú nhiu loi hỡnh t chc, trong ú ch yu l trang tri
gia ỡnh. Hu ht ch trang tri l nhng ngi cú ý chớ lm giu, cú vn, trỡnh
k thut v kh nng qun lý, cú hiu bit nht nh v th trng , bn thõn v gia
ỡnh trc tip lao ng v qun lý sn xut ca trang tri, ng thi cú thuờ mn
thờm lao ng sn xut kinh t .
- Kinh t trang tri mang tớnh cht sn xut hng hoỏ, gn lin vi th trng
nờn cú nhu cu cao hn hn kinh t h v s tỏc ng ca khoa hc cụng ngh vo
sn xut nụng- lõm- ng nghip, v cụng ngh ch bin v bo qun, v cụng c
ci tin v c gii hoỏ nhm tng nng xut, h giỏ thnh sn xut tng bc nõng
cao cht lng sn phm ỏp ng yờu cu ca th trng .

2


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Nhóm nghiên cứu kinh tế trang trại của Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí
Minh đã khẳng định “ Cần phải làm rõ những đặc trưng cơ bản của loại hình kinh
tế trang trại, về nguồn hình thành, lĩnh vực hoạt động, đặc điểm về quan hệ sản
xuất, nhất là sở hữu, trình độ kinh doanh...so với các loại hình kinh tế khác đang
tồn tại trong sản xuất nông nghiệp nông thôn”. Từ đó đưa ra những khái niệm sau:
“Trang trại nông nghiệp, nông thôn là loại hình tổ chức kinh tế được hình thành
chủ yếu từ kinh tế hộ trên cơ sở tích tụ quyền sử dụng đất đai, vốn lao động vào
chủ thể kinh doanh đích thực, hoạt động theo cơ chế thị trường với mục đích lợi
nhuận cao”.
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế trang trại. Qua phân
tích chúng ta thấy mỗi khái niệm đều có tính hợp lý và có ít nhiều điểm tương
đồng. Tuy nhiên mỗi khái niệm đều có những điểm chưa thật phù hợp với thực
trạng. Từ những quan điểm nói trên có thể rút ra một khái niệm chung như sau :
Kinh tế trang trại là một loại hình sản xuất trong nông nghiệp ( Bao gồm
nông - lâm - ngư nghiệp ), ra đời phổ biến từ kinh tế hộ , phát triển dựa trên cơ sở
nền sản xuất hàng hoá, có sự tập trung đủ lớn về vốn, đất đai và lao động phù hợp
với cây trồng vật nuôi, với phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình
độ khoa học - công nghệ cao. Tự chủ quản lý kinh doanh theo cơ chế thị trường vì
mục tiêu lợi nhuận.
1.2-Đặc trưng của kinh tế trang trại :
Các đặc trưng của kinh tế trang trại được thể hiện ở những nội dung sau:
-Sở hữu tư liệu sản xuất: chủ yếu là sở hữu tư nhân.
-Về lĩnh vực và địa bàn hoạt động của kinh tế trang trại bao gồm nông - lâm
- ngư nghiệp. Nguồn gốc hình thành từ kinh tế hộ cho nên loại hình phổ biến là
trang trại gia đình. Về quan hệ sản xuất, trang trại gia đình thuộc thành phần kinh
tế cá thể song trình độ cao hơn, thực chất là kinh tế tiểu thủ.
-Về trình độ kinh tế đạt tới sự tập trung đủ lớn về đất đai, vốn, lao động,
trong đó quy mô tích tụ vốn là quan trọng nhất, tuy nhiên không thể xem nhẹ đất
đai và lao động. Quy mô vốn, đất đai, lao động phải phù hợp với từng loại hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh và từng loại cây trồng vật nuôi .
-Về tổ chức quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ trên cơ sở chuyên
môn hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Hoạt
động gắn liền với cơ chế thị trường, với mục tiêu thu lợi nhuận cao.
-Về chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến
thức và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, với phương thức sử dụng lao động gia
đình là chủ yếu, song có thuê mướn lao động, nhất là lao động nông nhàn, lao động
thời vụ.
2- Vai trò của kinh tế trang trại :

3


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Kinh tế trang trại trên thế giới đã tồn tại và phát triển hàng thế kỷ nay, ở
nước ta mặc dù mới được khôi phục và phát triển trong những năm đổi mới, nhưng
đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá,
đưa nông nghiệp từng bước tiến lên CNH, HĐH. Thực tiễn đã khẳng định vai trò
của kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại gia đình, không những đứng vững và
phát triển, mà còn trở thành lực lượng sản xuất chủ lực trong nông nghiệp sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn hẳn so với các mô hình kinh tế
khác. Vai trò tích cực của kinh tế trang trại được thể hiện như sau :
2.1- Kinh tế trang trại phát triển thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất nông
sản hàng hoá, đổi mới công nghệ kỹ thuật, trực tiếp nâng cao năng xuất lao
động trong nông nghiệp.
Kinh tế trang trại không còn là hiện tượng cá biệt trong quá trình phát triển
nông nghiệp những năm đổi mới, mà đã trở thành phổ biến ở các vùng, các địa
phương. Với các loại hình sản xuất và quy mô sản xuất khác nhau, kinh tế trang
trai là một bước phát triển cao của kinh tế gắn với mục tiêu sản xuất hàng hoá.
Trên thế giới hiện nay kinh tế trang trại là lực lượng sản xuất ra khối lượng
hàng hoá nông sản đáp ứng mọi nhu cầu của con người. Hiện nay ở Mỹ với 2,2
triệu trang trại đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế
giới, hàng năm xuất khẩu khoảng 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô. ở
Malaysia năm 2002 trang trại sản xuất ra 6,4 triệu tấn dầu cọ, chiếm 53% tổng sản
lượng dầu cọ thế giới và xuất khẩu ra 40 nước với khối lượng trên 6 triệu tấn.
ở nước ta kinh tế trang trại trong thời gian qua đã sản xuất ra một khối lượng
hàng nông sản cao, chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường trong nước và quốc tế. Các
trang trại chuyên canh trồng cây cà phê, hồ tiêu, cao su, điều, chè... cung cấp khối
lương lớn hàng hoá cho xuất khẩu. Riêng vùng trung du bắc bộ nước ta với các loi
hình trang trại cây trồng ăn quả như : vải, nhãn... ở Bắc Giang; Cam, Mía... ở Cao
Phong, Hoà Bình đã cung cấp khối lượng lớn hoa quả cho thị trường trong nước.
Chính vì vậy hàng năm mức thu nhập bình quân đầu người một trang trại khi đã trừ
chi phí là trên 3 triệu đồng. Nếu chỉ tính riêng cây vải thiều, kinh tế trang trại ở Lục
Ngạn năm 1998 đã thu 54 tỷ đồng, có những trang trại Cam ở Cao Phong, Hoà
Bình hàng năm thu nhập 2 đến 3 tỷ đồng. Ngoài ra nhiều mô hình trang trại kinh
doanh theo phương thức nông lâm kết hợp cũng tạo ra một khối lượng sản phẩm
lớn, vừa cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp vừa cung cấp hàng cho nông sản
đáp ứng yêu cầu của thị trường. Những trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, chăn
nuôi bò sữa, ong, thả cá ... bước đầu đã thu được hiệu quả kinh tế cao, tạo ra khối
lượng hàng hoá lớn phong phú đa dạng cung cấp cho thị trường.
2.2- Kinh tế trang trại khai thác được nguồn lực, tiềm năng của đất đai,
lao động, vốn trong dân cư ... góp phần trực tiếp thúc đẩy kinh tế nông nghiệp,
nông thôn có bước phát triển mới.
Khai thác nguồn tài nguyên đất đai để mở rộng quy mô sản xuất là yêu cầu
đầu tiên của các chủ trang trại. Việc khai thác tiềm năng đất đai, đã sử dụng có hiệu
4


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

quả vùng đất trống đồi núi trọc, vùng khô cằn sỏi đá, mặt nước, vùng đầm lầy,
vùng nội đê ven sông, ven biển... Mặt khác những vùng đất chua mặn để hoang
hoá, vùng gieo trồng những cây có giá trị kinh tế thấp nay được khai phá thay bằng
những cây, con có giá trị kinh tế cao. Qua khảo sát ở nước ta hầu hết các trang trại
đã tận dụng tối đa tài nguyên đất đai, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nên việc phát
triển kinh tế trang trại không những thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển còn có
ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Nhờ sự phát triển kinh tế trang trại mà các nguồn vốn trong dân cư được huy
động, để xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư vào sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ
thuật để đưa giống cây, con có năng xuất chất lượng cao vào sản xuất.ở Bắc Giang
theo số liệu tổng hợp chưa đầy đủ của tỉnh thì các trang trại đã đầu tư hơn 400 tỷ
đồng, chủ yếu là đầu tư cho cây ăn quả, bình quân mỗi trang trại đầu tư gần 7 triệu
đồng, một số trang trại đã đầu tư hàng trăm triệu đồng. Vốn đầu tư cho sản xuất
chủ yếu là vốn tự có của trang trại, vốn đi vay chỉ chiếm khoảng 10-15% và chủ
yếu là vay của ngân hàng. Như vậy kinh tế trang trại đã khai thác có hiệu quả
nguồn lực về vốn trong nhân dân, phục vụ đắc lực cho sản xuất kinh doanh.
Về nguồn lực lao động, sự phát triển của kinh tế trang trại đã tận dụng được
mọi nguồn lao động chính, phụ trong từng gia đình, ngoài ra với quy mô sản xuất
tương đối lớn, nên các trang trại đều có nhu cầu thuê mướn lao động, tạo việc làm
cho số lao động dư thừa trong nông thôn. “Với 113000 trang trại trong cả nước ,
giải quyết việc làm cho 30 vạn lao động của gia đình, thuê mướn 10 vạn lao động
thường xuyên và 30 triệu ngày công lao động mỗi năm”. Riêng các tỉnh phía Bắc,
các trang trại đã tạo việc làm cho khoảng trên 200 nghìn lao động dư thừa trong
nông thôn. Nhờ đó góp phần tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư, thúc đẩy việc
nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn, đặc biệt là khu vực
trung du miền núi, vùng đồng bào dân tộc. Khai thác tiềm năng lao động, tạo việc
làm, tăng thu nhập cho dân cư, kinh tế trang trang trại thực sự là động lực quan
trọng cho việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, góp phần
làm giàu cho gia đình và đất nước.
2.3- Kinh tế trang trại góp phần tích cực thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiệu quả hơn.
Trước hết trong lĩnh vực trồng trọt, việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa
học công nghệ của các chủ trang trại như : chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống
cây trồng, cơ cấu sản xuất. Đã tạo ra giống mới có năng xuất cao thích hợp với
điều kiện sinh thái từng vùng, chống được sâu bệnh....Do vậy đã góp phần quan
trọng trong việc nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm cây trồng, tạo được
khả năng cạnh tranh cho hàng hoá nông sản trên thị trường trong nước và thế giới.
Những kết quả này đã góp phần biến một nền nông nghiệp độc canh cây lúa thành
một nền nông nghiệp đa canh, với tập đoàn cây trồng mới đem lại hiệu quả kinh tế
cao như cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp, rau, hoa...tạo thành những
vùng nông sản chuyên canh sản xuất hàng hoá.
5


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Trong lĩnh vực chăn nuôi, các tiến bộ về con giống như lợn lai, lợn nạc, bò
lai sin, bò sữa, gia cầm siêu thịt, siêu trứng, với những công nghệ sinh sản nhân tạo
một số giống tôm, cá, các biện pháp nuôi dưỡng tiên tiến... được các chủ trang trại
ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, đã thúc đẩy quy mô và hiệu quả chăn nuôi của
các trang trại tăng nhanh, góp phần trực tiếp nâng cao giá trị và tỷ trọng chăn nuôi
phát triển trong nông nghiệp.
Như vậy, sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn, bước đầu đã tạo ra các vùng sản xuất nông-lâmngư nghiệp hàng hoá tập trung, tạo tiền đề cho công nghiệp chế biến phục vụ nông
nghiệp phát triển, mở mang các ngành dịch vụ ở nông thôn. Mặt khác quá trình
phát triển của kinh tế trang trại đã xuất hiện các hình thức liên kết mới giữa các
trang trại với nhau hình thành các hợp tác xã. Liên kết mới giữa các trang trại với
các doanh nghiệp nhà nước để giúp nhau khai hoang, làm đường giao thông, công
trình thuỷ lợi nhỏ, cung cấp dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm.
Như vậy, tuy mới hình thành và phát triển nhưng kinh tế trang trại đã khẳng
định được vị trí vai trò quan trọng của mình, góp phần thúc đẩy quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn. Kinh tế trang trại thực sự là con đường làm giàu cho
nông dân. Kinh nghiệm thế giới cho thấy : Quá trình phát triển công nghiệp phải
gắn liền với phát triển nông nghiệp, phát triển đô thị phải gắn liền với phát triển
nông thôn. Vì vậy, khi nghiên cứu công nghiệp hoá ở nước Anh C.Mác đã dự báo
quá trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp không phải : “ Xí nghiệp công nghiệp
lớn mà là trang trại gia đình không sử dụng lao động làm thuê “ ngày nay các nước
công nghiệp phát triển vẫn chủ yếu dựa vào trang trại gia đình là chủ yếu .Mặt khác
kinh tế trang trại là tổ chức kinh tế cơ sở kinh doanh trong nông nghiệp, là một hệ
thông quan trọng, là bộ phận cấu thành của kinh tế nông nghiệp nông thôn. Chính
vì vậy sự phát triển của kinh tế trang trại là điều kiện cơ bản để tổ chức và định
hướng sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta theo hướng phát triển sản xuất
hàng hoá.
Tóm lại : kinh tế trang trại tuy mới phát triển trong thời kỳ đổi mới nhưng
bước đầu thể hiện tính hơn hẳn so với kinh tế hộ nông thôn thuần tuý như huy
động vốn, tạo việc làm, trình độ sản xuất hàng hoá và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Ngoài ra kinh tế trang trại còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái, xây dựng và phát triển nông thôn mới, nền kinh tế mới XHCN.
3- Các loại hình kinh tế trang trại:
3.1- Trang trại trồng trọt
3.2- Trang trại lâm nghiệp
3.3- Trang trại chăn nuôi
3.4- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
3.5- Trang trại tổng hợp

6


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

II- VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
1- Vai trò của nhà nước:
Thực hiện quản lý nhà nước về công tác quy hoạch, thiết kế vùng kinh tế
phát triển trang trại nhằm định hướng phát triển sản xuất sản phẩm hàng hoá tập
trung, khắc phục tình trạng phát triển kinh tế trang trại mang tính tự phát, tích tụ
ruộng đất tràn lan;
Xác định các loại hình trang trại phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên tại
mỗi địa phương nhằm khuyến cáo tuyên truyền thúc đẩy phát triển.Hỗ trợ, khuyến
khích các trang trại trong việc tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
bảo quản sản phẩm;
Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo về công tác quản lý, quy
hoạch thiết kế trang trại, các buổi hội thảo, hội nghị về kinh tế trang trại để qua các
chủ trang trại được trao đổi thông tin, học tập kinh nghiệm, học tập mô hình.
2- Hình thức tổ chức:
Phát huy sức mạnh tổng hợp, lồng ghép nhiều nguồn lực để thực hiện cần có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại, các huyện, thành phố
phải xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề
ra đồng thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để kịp
thời nghiên cứu tháo gỡ;
Hàng năm tổ chức sơ kết, hội thảo đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh
các chính sách phù hợp nhằm thực hiện có hiệu quả việc phát triển kinh tế trang
trại, có chế độ khen thưởng phù hợp kịp thời cho các điển hình kinh tế trang trại để
động viên phong trào;
Phát triển kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác có
hiệu quả tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đảng đề ra, vì vậy cần có sự quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể từ
Tỉnh đến các địa phương một cách đồng bộ, tạo sự đột phá trong công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và hội nhËp.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở
XÃ CAO SƠN, ĐÀ BẮC
I. Đặc điểm tự nhiên, xã hội tác động đến kinh tế trang trại của xã Cao
sơn

7


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội của xã Cao Sơn - Huyện Đà
Bắc - Tỉnh Hoà Bình
1.1. Vị trí địa lý
Cao Sơn nằm ở phía Tây của Huyện Đà Bắc, dọc theo quốc lộ 433. Xã Cao
Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 4.849,28.
- Phía Bắc giáp xã Xã Tân Minh
- Phía Nam giáp với Xã Tiền Phong, Xã Vầy Nưa
- Phía đông giáp Xã Tu Lý
- Phía Tây giáp xã Trung Thành
Xã Cao Sơn có địa hình đồi núi cao (chiếm 80% diện tích đất tự nhiên),
địa thế nghiêng dần theo hướng từ Tây sang Đông. Xã có độ cao phổ biến từ 5001200 m so với mực nước biển Nằm xen giữa đồi núi cao là các thung lũng nhỏ
bằng phẳng do phù sa tích tụ. Đây là loại đât thích hợp cho việc trồng lúa và các
cây lương thực khác. Toàn xã có 30,25 ha diện tích đất sông suối chiếm 0,27 %
tổng diện tích đất tự nhiên, có ngòi Hồ Sông Đà chạy dọc theo ranh giới của xã. Hệ
thống sông suối của xã không nhiều nhưng cũng đủ đáp nước sinh hoạt cho nhân
dân địa phương và một phần nhỏ nước tưới cho cây trồng. Tuy nhiên, vào mùa
mưa thường có lũ từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm, điều này đã gây thiệt hại
không nhỏ cho việc sản xuất ngành trồng trọt của nông dân.
Xã có diện tích ao hồ là 40,14 ha chiếm 0,36% tổng diện tích đất tự nhiên,
chủ yếu là ao hồ nằm xen kẽ ở các khu dân cư với diện tích nhỏ hẹp và phân tán.
Với địa hình đồi núi cao, hệ thống đường giao thông kém (không có đường
quốc lộ, tỉnh lộ). Đây là yếu tố hạn chế giao lưu phát triển nền sản xuất hàng hóa
và kinh tế của địa phương.
*Hiện trạng sử dụng đất của xã Cao Sơn năm 2007 - 2010
Đất đai là quan trọng để mở rộng quy mô trang trại là môi trường sống của
cây trồng, là điều kiện tạo ra năng suất, một phần quyết định hiệu quả của trang
trại. Hiện nay đất sản xuất nói chung và đất dùng cho sản xuất nông nghiệp nói
riêng ngày càng bị thu hẹp. Do vậy, vấn đề đặt ra ở đây là xã cần những giải pháp
cụ thể nhằm khai thác để sử dụng đất đai một cách tiết kiệm, hợp lý nhằm tăng quỹ
đấtẩin xuất, tăng sản phẩm nông nghiệp .Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở xã Cao
Sơn , chúng tôi trình bày ở bảng sau:
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất xã Cao Sơn - Huyện Đà Bắc
Tỉnh Hoà Bình từ năm 2007-2010
Tỷ lệ %

8

-


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

STT

So với
Diện tích So với đất
đất nông
(ha)
tự nhiên
nghiệp

Loại đất

*

Tổng diện tích đất tự nhiên

4.849,28

100

1

Đất sản xuất nông nghiệp

408,4

8,42

100

1.1

Đất trồng cây hàng năm

348,4

7,18

85,31

1.2

Đất trồng cây lâu năm

60,0

1,24

14,69

2

Đất lâm nghiệp

3.562,7

73,47

872,36

2.1

Đất rừng sản xuất

2.986,7

61,59

731,32

2.2

Đất rừng phòng hộ

576,0

11,88

141,04

3

Đất phi nông nghiệp

266,63

5,50

65,29

3.1

Đất ở

132,7

2,74

32,49

3.2

Đất chuyên dùng

45,33

0,93

11,10

0,5

0,01

0,12

3.2.2 Đất sử dụng cho mục đích công cộng

32,83

0,68

8,04

3.2.3 Đất mặt nước, đất nuôi trồng thuỷ sản

75,1

1,55

18,39

3.2.1 Đất công sở cơ quan, công trình

4

Đất chưa sử dụng

611,55

12,61

149,74

4.1

Đất đồi núi chưa sử dụng

611,55

12,61

149,74

4.2

Đất bằng chưa sử dụng

0

0,00

0,00

(nguồn: UBND xã Cao Sơn)
Qua bảng 5 cho thấy: Xã Cao Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên 4.849,28 ha
trong đó đất nông nghiệp 408,4 ha chiếm 8,4 % diện tích đất tự nhiên, đất lâm
nghiệp 3.562,7 ha chiếm 73,47% đất tự nhiên, trong đó diện tích rừng sản xuất
2.986,7 ha chiếm 61,59% diện tích đất tự nhiên (tương đương 83,83% diện tích
rừng), trong đó rừng phòng hộ có 576 ha chiếm 16,17% diện tích rừng . Cao Sơn
là xã chủ yếu là rừng, đất sản xuất nông nghiệp không đáng kể, ở độ cao từ 500m –
1.000 m, lại chia cắt bởi 4 con suối lớn, và nhiều suối nhỏ. Mưa tập trung vào các
tháng mùa mưa, lũ lụt thường xảy ra vào tháng 5 tháng 6 nên đất nông nghiệp bị

9


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

bào mòn rửa trôi nhiều. Xu hướng đất xấu, đất cho năng suất thấp ngày càng gia
tăng.
1.2. Diễn biến khí hậu.
Bảng 2: Điều kiện khí hậu huyện Đà Bắc từ năm 2007– 2010
Nhiệt độ (C)

Số giờ
nắng

Tháng

Tối thấp

TB

Tối cao

Lượng
mưa
(mm)

1

7,1

15,05

23,0

33,7

82

61

2

9,7

16,95

24,2

51,0

89

76

3

11,6

19,25

26,9

67,0

86

38

4

17,3

22,9

28,5

89,4

90

78

5

19,6

25,9

32,2

308,2

87

123

6

22,5

27,85

33,2

398,6

89

115

7

23,6

28,95

34,3

602,0

87

151

8

24,0

28,6

33,2

494,8

87

152

9

23,9

28,45

33,0

195,8

84

158

10

18,5

24,85

31,2

27,4

82

157

11

11,4

20,5

29,6

67,6

79

137

12

5,2

15,8

26,4

23,4

81

90

TB

16,2

22,45

28,7

196,5

85,2

111,4

Độ ẩm
(%)

(%)

( Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn khu vực huyện Đà Bắc)
Điều kiện khí hậu và diễn biến thời tiết là yếu tố khách quan có tác động
trực tiếp đến hệ sinh thái đồng ruộng và quá trình sản xuât nông nghiệp. Các yếu tố
khí hậu gắn liền và chi phối liên quan mật thiết với quá trình sinh trưởng và phát
triển của cây trồng và vật nuôi, ảnh hưởng đến năng suất phẩm chất của nông sản.
Do vậy, muốn sản xuất nông, lâm nghiệp đạt kết quả cao cần phải nắm vững những
quy luật biến động của khí hậu để từ đó có những biện pháp khai thác và tận dụng
những ưu điểm, né tránh khắc phục các rủi ro của yếu tố khí hậu.

10


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

2. Hiện trạng về điều kiện kinh tế xã hội của xã Cao Sơn
2.1. Tình hình dân số và lao động xã Cao Sơn từ năm 2008- 2010
Với 4 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn, với các phong tục tập quán khác
nhau, trình độ canh tác khác nhau, quy mô từng tộc người rất khác nhau. Nên kết
quả sản xuất nông nghiệp cũng không giống nhau. Kết quả điều tra về dân số và
thành phần dân tộc chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2:
Bảng 3. Hiện trạng thành phần dân tộc địa bàn xã Cao Sơn từ năm 20082010.
Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Số lượng
người

Tỷ lệ %

Số lượng
người

Tỷ lệ %

Số lượng
người

Tỷ lệ
%

*Tổng dân số

3.926

100

3.970

100

4.014

100

Khẩu nông nghiệp

3.156

80

3.114

78

3.056

76

770

20

856

22

958

24

Dân tộc Dao

1.129

29

1.141

28,7

1.154

29

Dân tộc Mường

1.500

38

1.517

38,2

1.534

38

Dân tộc Tày

835

21

845

21,3

854

21

Dân tộc Kinh

483

12

489

12,3

494

12

Khẩu phi nông nghiệp

(nguồn: UBND xã Cao Sơn)
Bảng 4. Tình hình dân số và lao động của xã Cao Sơn từ năm 2008-2010
Năm 2008
Đơn vị

Năm 2009

Tỷ lệ
Số
Số
lượng (%) lượng

Tỷ lệ
(%)

Năm 2010
Tỷ lệ
Số
lượng (%)

1, Tổng hộ

Hộ

933

100

945

100

954

100

- Hộ Nông nghiệp

Hộ

751

80

740

78

800

76

- Hộ phi nông
nghiệp

Hộ

182

20

205

22

154

24

Lao
động

1.578

40

1.557

39

2, Tổng số lao động

11

1.528 38


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

- Lao động nông
nghiệp

Lao
động

1.193

30

1.129

28

- Lao động phi nông
nghiệp

Lao
động

385

10

428

11

- Bình quân khẩu /
hộ

Khẩu

4

4

4

- Bình quan lao
động/ hộ nông
nghiệp

lao động
/ hộ

2

2

2

1.049 26
479

12

(Nguồn: UBND xã Cao Sơn)
3. Về phát triển kinh tế
3.1. Sản xuất nông lâm – nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập chung vào một số cây chủ lực như: Ngô,
Lúa, dong diềng, Sắn, Mía đường.
- Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 1.134 ha, trong đó:
- Ngô 660 ha năng suất bình quân đạt 55 tạ/ha, vụ mùa 200 ha năng suất 25
tạ/ha sản lượng ngô cả năm 4.130 tấn
- Lúa nước vụ chiêm xuân 76 ha năng suất 50 tạ/ha, vụ mùa 72 ha năng suất
15 tạ/ha, sản lượng cả năm 488 tấn
Tổng sản lượng cây có hạt 6 cả năm 4.618 tấn, trong đó riêng thóc 488 Tấn đạt
100% KH so với chỉ tiêu HĐND xã đề ra.
*Các loại cây trồng khác
- Dong diềng 170 ha năng suất 30 tấn / ha, sản lượng 5.100 tấn
- Mía đường 53 ha năng suất 55 tấn/ ha sản lượng 2.900 tấn
- Sắn 100 ha năng suất 10 tấn/ha sản lượng 1000 tấn
- Đậu, lạc, các loại hoa màu khác 30 ha
* Chăn nuôi :
Hiện trạng vật nuôi ở xã Cao Sơn .
Là một xã đất đồi núi là chủ yếu với độ cao từ 500 – 1.200 m so với mặt nước
biển. Phát triển đàn gia súc chăn thả tự nhiên dường như là thế mạnh ở nơi đây,
không có nhiều đồng cỏ nhưng đàn trâu bò tăng lên hàng năm từ năm 2007- 2009.
Kết quả điều tra của chúng tôi ở bảng 5 như sau:
12


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Đơn vị tính (con)
* Đối tương điều tra

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

- Đàn trâu, Bò

1.182

1.150

1.209

- Đàn lợn

5.000

6.200

7.123

- Gia cầm

20.000

27.000

30.125

(nguồn: UBND xã Cao Sơn)
* Sản xuất lâm nghiệp:
Chăm sóc trên 500 ha diện tích rừng trồng, rừng tái sinh, trong năm đã khai
thác trên 100 ha rừng trồng đến tuổi khai thác. Thực hiện hoàn thành kế hoạch
trồng rừng mới theo dự án 661 100 ha, ngoài ra dân tự bỏ vốn trồng 150 ha ( Keo
lai, soan lai, bồ đề ). Thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp trên 2,5 tỷ đồng
3.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ có chiều hướng phát triển, chủ
yếu các lĩnh vực xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ mộc dân dụng, may
mặc, xen hoa cửa sắt, chế biến chè búp khô, Công tác quản lý thị trường được các
ngành chức năng phối hợp kiểm tra, kiểm soát, thị trường hàng hoá đảm bảo chất
lượng, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng . Thu nhập từ công nghiệp, dịch vụ đạt
trên 6 tỷ đồng.
4. VĂN HOÁ – XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG – AN NINH

4.1.Giáo dục đào tạo
Xã có 04 trường năm học 2010- 2011 : tổng số 838 học sinh, trong đó:
Mầm non có 277 cháu, trong đó nhà trẻ 70 cháu, Mẫu giáo 207 cháu; Tiểu học A
13 lớp với 182 học sinh; Tiểu học B 17 lớp với 164 học sinh; THCS 8 lớp với 215
học sinh.
Tiếp tục đổi mới phương pháp quản lý tổ chức tốt chương trình năm học,
đảm bảo chất lượng dạy và học, tỷ lệ học sinh được xét tốt nghiệp, xét lên lớp đạt
cao, 98% trẻ em trong độ tuổi được tới trường.
Cơ sở vật chất trường học được quan tâm, tiép tục xây dựng, nâng cấp
trường THCS với số vốn 400 triệu đồng, xây dựng nhà đa năng số vốn 1 tỷ đồng,
đến năm 2010 đã có 2 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.
Duy trì công tác phổ cập giáo dục THCS và chống mù chữ. Phát huy chức
năng của TTHTCĐ, tạo môi trường học tập cho mọi người ở mọi lứa tuổi, tiếp
nhận và tổ chức tốt các lớp học phát triển cộng đồng do dự án AAV đầu tư hỗ trợ,
tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận với khoa học, kỹ thuật, phát triển kinh tế gia
đình xoá đói giảm nghèo bền vững.

13


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

4.2. Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Số cán bộ nhân viên y tế 7 người, trong đó 04 y sĩ, 01 y tá, 01 nữ hộ sinh, 01
dược sĩ, số y tế thôn bản có 9/ 9 xóm.
Trong những năm qua đã triển khai thực hiện tuyên truyền phổ biến, kiểm
tra trong nhân dân công tác phòng dịch: Phòng chống rối loạn I ốt, phòng chống
lao, chống sốt rét, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống bệnh phong, về sinh an
toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường. Hoạt động khám chữa bệnh , số người khám
bệnh tại trạm năm 2011 là 898 lượt, điều trị nội trú 398 người, điều trị ngoại trú
461 người, trong đó xuất hiện các bệnh : viêm đường hô hấp, viêm phế quản, viêm
phổi , tai nạn giao thông, tai nạn lao động.
Chương trình bảo vệ bà mẹ và trẻ em - Dân số KHHGĐ được duy trì, đã
khám định kỳ cho toàn bộ chị em phụ nữ có nhu cầu khám bệnh, phụ nữ mang thai
đều được tiêm phòng uốn ván 2 lần/người, không có trường hợp xảy ra tai biến sản
khoa. Công tác kế hoạch hoá gia đình được quan tâm chỉ đạo thường xuyên, số phụ
nữ từ 15 đến 49 tuổi là 823 người, số phụ nữ sử dụng dịch vụ KHHGĐ là 695
người đạt 84,5%.
4.3. Công tác chính sách xã hội.
Tổng số đối tượng quản lý 61 ĐT , trong đó thương binh, bệnh binh gia đình
liệt sĩ, chất độc da cam là 24 đối tượng, người cao tuổi 85 tuổi hưởng trợ cấp
thường xuyên 16 cụ, đối tượng tàn tật 25 đối tượng. Số cán bộ hưu trí và hưởng
tiền tuất thường xuyên 27 đối tượng, trong năm đã thực hiện chi trả kịp thời theo
đúng quy định của nhà nước cho các đối tượng trên. Làm tốt công tác chính sách
đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi tặng quà động viên các gia đình, đối tượng chính sách,
người có công với nước nhân ngày 27/7/ 2011.
Rà soát, điều tra, thống kê nhu cầu học nghề cho lao động trong độ tuổi báo
cáo nhu cầu học nghề lên cấp trên. Điều tra, hoàn thiện thủ tục đối tượng người
tàn tật.
Thực hiện chế độ đề nghị cấp thẻ cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng hộ
nghèo, hộ dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, bảo hiểm tự nguyện cho nhân dân
với yêu cầu độ chính xác cao, tuyệt đối không để sót chế độ bảo hiểm của người
dân theo quy định.
4.4. Văn hoá thông tin:
Các hoạt động văn hoá thông tin, truyền thanh, truyền hình được duy trì
phục vụ các nhiệm vụ chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa
phương, làm tốt công tác tuyên truyền phục vụ đại hội đại biểu đảng bộ xã lần thứ
IX, tổ chức tham gia giao lưu văn nghệ chào mừng đại hội Đảng bộ Huyện Đà bắc
lần thứ XXIII. Hoạt động thể dục thể thao, tổ chức giao lưu bóng chuyền, cầu
lông, tham dự các giải văn nghệ do huyện tổ chức.
4.5 Quốc phòng- an ninh.
14


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

- Công tác quốc phòng an ninh, thường xuyên được duy trì tổ chức huấn
luyện quân sự cho dân quân tự vệ, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho
cán bộ, nhân dân. Hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân năm 2010 đủ về chỉ tiêu, đảm
bảo về chất lượng và đúng luật định.
- An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định, không có
sự vụ điểm nóng xảy ra trên địa bàn. Ban công an xã đã tích cực chủ động bám sát
địa bàn, nắm chắc tình hình.
5. Nhận xét chung
Thuận lợi cơ bản.
Xã Cao Sơn có lực lượng lao động dồi dào, tài nguyên phong phú đa dạng
nhân dân trong xã có tinh thần đoàn kết, gắn bó. Luân có ý thức tiếp cận những cái
mới nhất là trong lĩnh vự phát triển kinh tế, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi, áo dụng khoa học kỹ thuật, mong muốn xoá nghèo và làm giàu.
Xã có chợ trung tâm cụm xã và trục đường quốc lộ 433 đi qua là điều kiện
rất quan trọng để phát triển các ngành kinh tế của xã trong đó có kinh tế trang trại.
Khó khăn chủ yếu.
Tuy nhiên Cao Sơn còn là một xã nghèo, thu nhập bình quân đầu người còn
thấp, trình độ dân trí không đồng đều, nhìn chung còn thấp, còn mang nặng tác
phong của người sản xuất nhỏ. Trình độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ,
khoa học và công nghệ còn thấp kém, văn hoá xã hội còn nhiều vấn đề phúc tạp.
Thị trường hàng hoá chưa phát triển và ổn định, khả năng tiêu thụ hàng hoá và sức
mua của dân cư còn thấp.
Từ điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Hoà bình nêu trên, cho thấy
tiềm năng phát triển kinh tế –xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nông thôn
(trong đó KTTT có ý nghĩa dặc biệt quan trọng) nói riêng là rất lớn và dồi dào.
Song đứng trước yêu cầu xu thế thời đại, đáp ứng phù hợp nền khinh tế thị trường
và mục tiêu nhiệm vụ của địa phương đang đặt ra cho lĩnh vực kinh tế trang trại
những cơ hội thuận lợi và không ít khó khăn. Đòi hỏi cần thiết nghiên cứu về kinh
tế trang trại ngoài tổng quan cần có chiều sâu hơ
II- THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở XÃ CAO
SƠN
1-Về số lượng và phân bố trang trại:
Theo kết quả điều tra hiện nay trên địa bàn xó Cao Son có 18 trang trại,
trong đó :
- Trang trại lâm nghiệp: 8 trang trại
- Trang trại chăn nuôi : 1 trang trại
- Trang trại tổng hợp : 9 trang trại

15


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Các trang trại ở xã Cao Sơn đa số là trang trại vừa và nhỏ do đó chưa có
trang trại nào được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
Về phân bố các trang trại tập trung chủ yếu tại các như sau :
Xóm Sơn Phú: 1 Trang trại
Xóm Sèo: 4 Trang trại
Xóm Nà Chiếu: 2 Trang trại
Xóm Rằng: 3 Trang trại
Xóm Tằm: 1 Trang trại
Xóm Lanh: 1 Trang trại
Xóm Sơn Lập: 2 Trang trại
Xóm Bai: 2 Trang trại
Xóm Sưng: 2 Trang traị
- Quy mô diện tích và tình hình sử dụng đất : Tổng diện tích đất các trang
trại hiện đang sử dụng là 72ha đất, bình quân một trang trại có 4 ha, trong đó số
trang trại sử dụng nhiều diện tích đất là trang trại tổng hợp sử dụng 36 ha chiếm 50
%, tiếp đến là Trang trại Lâm nghiệp sử dụng 32 ha chiếm tỷ lệ 44.4 % và sử dụng
ít nhất là trang trại chăn nuôi sử dụng 2 ha chiếm tỷ lệ 5.6%.
- Về vốn đầu tư và sử dụng vốn của các trang trại : Nhìn chung các chủ trang
trại hiện nay chủ yếu sử dụng bằng nguồn vốn tự có của mình để đầu tư phát triển
kinh tế trang trại, điều đó thể hiện phần nào về khả năng đầu tư của các trang trại,
nhu cầu về vốn để đầu tư phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn xã là rất cần thiết.
- Tình hình sử dụng lao động và nguồn nhân lực : Hầu hết các trang trại ở
xã Cao Sơn quy mô sản xuất nhỏ nên chủ yếu sử dụng số lao động thường xuyên
trong gia đình là chính với 72 lao động thuộc gia đình, số lao động làm việc theo
thời vụ cho các trang trại là 108 lao động chiếm tỷ lệ bình quân là 6 lao động/
Trang trại, các trang trại sử dụng lao động hiện nay chủ yếu là lao động phổ thông
và chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật chuyên môn nên hiệu quả sử dụng lao
động chưa cao dẫn đến thu nhập của người lao động trong các trang trại còn thấp.
- Đối với các chủ trang trại: số chủ trang trại có trình độ chuyên môn 2
người chiếm tỷ lệ 11.1 %, số còn lại các chủ trang trại chưa qua đào tạo, những chủ
trang trại này đều xuất phát từ nông dân chưa có kinh nghiệm tổ chức quản lý, quy
hoạch và cũng đại đa số các chủ trang trại này làm kinh tế trang trại theo hướng tự
phát và dựa trên kinh nghiệm phát triển sản xuất là chính, các thông tin về khoa
học kỹ thuật, thông tin thị trường còn nhiều hạn chế dẫn đến không có thiết kế quy
hoạch cho trang trại của mình một cách khoa học, việc trồng cây gì, nuôi con gì,
tiêu thụ ở đâu và tiêu thụ như thế nào? còn rất lúng túng.

16


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

- Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại:Tổng giá trị sản xuất hàng
hoá năm 2007 các loại hình kinh tế trang trại mang lại là 900 triệu đồng/năm
(Doanh thu bình quân đạt 50 triệu đồng/ năm/ trang trại).
- Loại hình trang trại : Có 2 loại hình trang trại đặc trưng chủ yếu : Trang trại
tổng hợp 50% và trang trại chuyên canh 50 %.
+ Trang trại tổng hợp gồm 3 loại hình chủ yếu :
Trang trại vườn - rừng ( VR ): 70%
Trang trại vườn - rừng - chuồng ( VRC ): 25%
Trang trại vườn -rừng - ao - chuồng kết hợp dịch vụ (VRAC) : 5%
+ Trang trại chuyên canh gồm 1 loại chủ yếu :
Trang trại rừng ( rừng trồng hoặc rừng phục hồi đang khoanh nuôi bảo vệ )
- Nguồn đất của các trang trại :
Gia đình : 60%
Khai hoang : 25 %
Dự án : 10 %
Chuyển nhượng : 5 %
3- Về vốn và sử dụng vốn.
Qua khảo sát một số trang trại, sử dụng các nguồn vốn như sau :
Vay ngân hàng : 60%
Tự có : 15%
Liên kết : 12%
Vay bạn bè : 8%
Vốn khác : 5%
4- Về lao động.
Với quy mô 3 ha trở lên, số lao động làm việc thường xuyên từ 2 -3 người /
trang trại, số lao động thuê thời vụ từ 4 - 6 người/ trang trại. Lao động gia đình có
2 lao động chính và 1 lao động phụ.
- Trình độ văn hoá của các lao động :
+ Cấp 2 : 90%
+ Cấp 3 : 9 %
+ Chuyên môn, kỹ thuật : 1 %
- Trả công cho lao động làm thuê trong trang trại :
+ Công việc khoán khối lượng sản phẩm : 50.000đ - 70.000đ/ ngày
17


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

+ Thuê theo tháng: 100.000đ- 1500.00đ/ tháng
+ Thuê ngày ( Bình quân ) : 50.000đ - 60.00đ/ ngày
5- Về hình thức tổ chức sản xuất và chủ trang trại.
- Về tổ chức sản xuất : Các trang trại có quy mô nhỏ, vừa trong đó các trang
trại quy mô vừa đã biết tận dụng mọi điều kiện thuận lợi tự nhiên, về không gian,
thời gian để quy hoạch, bố trí hợp lý các loại cây, con, mùa vụ nuôi trồng; do đó,
phát huy tối đa năng xuất cây trồng, vật nuôi và thu lợi nhuận từ 10 triệu đến 15
trệu đồng/ha.
Trong quá trình sản xuất các chủ trang trại khẳng định các loại cây trồng có
triển vọng phát triển mạnh là :
+ Cây ăn quả ngắn ngày : Chuối, đu đủ... tập trung ở vùng thấp.
+ Cây công nghiệp ngắn ngày : Mía ROC, mía trắng, lạc, đậu đỗ tập trung ở
xóm Sơn Lập, xóm Bai.
+ Cây công nghiệp dài ngày : Cây chè tập trung ở xóm Sưng.
+ Cây lâm nghiệp : Keo, Luồng, Bạch Đàn...tập chung ở các xóm Sơn Phú,
Nà chiếu, Sèo, Tằm, Lanh, Rằng.
- Về chăn nuôi: Hầu hết các trang trại đều chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá, sản
xuất hàng hoá, một số trang trại còn nuôi đặc sản như : Lợn Rừng, Nhím, Lơn bản
địa..
6- Về ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ.
Hầu hết các trang trại mới được hình thành, phát triển qua giai đoạn xây
dựng cơ bản, vì thế áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất : sản xuất giống cây
con, chiết ghép, nhân giống bằng nuôi cấy mô, ứng dụng bón phân cho cây trồng
bằng các loại phân hữu cơ, phân hoá học, phân vi sinh và bón phân qua lá, ứng
dụng xây dựng mô hình trình diễn sản xuất khoa học - kỹ thuật, ứng dụng phương
pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp.
7- Về thị trường tiêu thụ.
Hiện nay, các trang trại bước đầu đã có sản phẩm thu nhập từ trồng trọt,
chăn nuôi trên thị trường tiêu thụ bền vững cần phải có chính sách cụ thể cho từng
vùng, từng loại sản phẩm cho hợp lý tránh tình trạng thu hoạch rộ, sản phẩm bị ế
tắc không tiêu thụ kịp thời dẫn đến sản phẩm xuống cấp. Do vậy, để khắc phục tình
trạng trên, các cấp, các ngành cần nghiên cứu giải quyết xây dựng những cơ sở chế
biến nông sản cho phù hợp.
2. Những kết quả và nguyên nhân đạt được trong phát triển kinh tế
trang trại ở xã Cao Sơn
- Trong những năm qua kinh tế trang trại của xã đã khai thác những tiềm
năng và thế mạnh về đất đai, đất rừng, lao động, vốn, kỹ thuật vào kinh tế - xã hội ,
18


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp , nông thôn.
- Phát triển loại hình kinh tế trang trại là phù hợp với tiềm năng và thế mạnh
của xã, từ năm 2006 đến nay nhờ có chủ trương, các chính sách của Nhà nước, của
của huyện, về phát triển nông nghiệp, nông thôn, kinh tế trang trại ngày càng được
phát triển mạnh như xóm Sèo, Sơn Phú, Rằng... đã có nhiều vùng đất trống, đồi
trọc, mặt nước bỏ hoang hoặc trồng cây có giá trị thấp, không ổn định nay được cải
tạo sử dụng đúng mục đích và tiềm năng đem lại thu nhập ổn định.
- Kinh tế trang trại đã khẳng định được vị trí và một nhân tố quan trọng
trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần tích cực và chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, tăng độ che phủ rừng, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo
việc làm cho lao động nông thôn, tạo thu nhập góp phần quan trọng trong việc xoá
đói giảm nghèo tại một số địa phương trong tỉnh, đã có rất nhiều mô hình kinh tế
trang trại phát triển, nhiều chủ trang trại vượt khó vươn lên làm ăn có hiệu quả,
điển hình như : Trang trại ông Khương Đức Thụ, Nguyên Xuân Trào xóm Sèo;
Trang trại Đinh Văn Công, Đinh Văn Manh, Nguyễn Văn Hùng, Xa Văn Toàn xóm
Nà Chiếu; trang trại ông Đinh Văn Mẹo xóm Sơn Lập..v.v..
3. Những hạn chế yếu kém và nguyên nhân trong phát triển kinh tế
trang trại ở xã Cao Sơn
- Các trang trại phát triển chủ yếu hiện nay đều mang tính tự phát, thiếu định
hướng, không được thiết kế quy hoạch, phân tán, manh mún, chưa gắn với quy
hoạch các vùng sản xuất và công nghiệp chế biến nông, lâm. Hiện nay các sản
phẩm hàng hoá của các trang trại có quy mô ngày càng lớn song thị trường tiêu thụ
sản phẩm còn hạn chế. Đầu ra, gía trị nông sản vẫn là nỗi lo thường xuyên của các
chủ trang trại.
- Tình trạng thiếu vốn là khá phổ biến, nguồn vốn vay còn nhiều khó khăn
nên các trang trại chủ yếu đầu tư phát triển theo chiều rộng, chưa có đủ sức đầu tư
theo chiều sâu. Theo quy định hiện hành, giấy chứng nhận trang trại có thể làm căn
cứ để ngân hàng cho vay vốn, nhưng thực tế các trang trại không được vay vốn từ
giấy chứng nhận hoặc số vốn được vay lại quá ít không đáp ứng nhu cầu để đầu tư
phát triển.
- Thiếu sự gắn kết, liên kết giữa các trang trại với nhau và với tổ chức kinh
tế khác, như liên kết vùng sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm, học tập, hỗ trợ
kinh nghiệm về quản lý, ứng dụng công nghệ, vốn, ..v.v...
- Trình độ quản lý, chuyên môn của các trang trại còn nhiều hạn chế, phần
lớn các chủ trang trại quen với mô hình sản xuất nhỏ, kỹ thuật sản xuất thấp nên
việc tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế chủ yếu là theo kinh nghiệm,
thiếu hiểu biết về thị trường.

19


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

- Phát triển kinh tế trang trại còn gặp nhiều khó khăn do các yếu tố khách
quan, mức độ rủi ro cao, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu, địa hình, thổ
nhưỡng, giao thông không thuận tiện, dịch bệnh...
III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI XÃ CAO SƠN
1. Quan điểm và phương hướng cơ bản
1.1Quan điểm phát triển kinh tế trang trại
Nghị quyết của Đảng bộ xã Cao Sơn khoá IX đã nêu:
“Tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, đưa các cây trồng mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Chú trọng các cây
trồng công nghiệp, cây dược liệu có giá trị kinh tế, như cây mía, cây chè Shan
tuyết ở Sưng, Bai.... Khuyến khích phát triển các mô hình trang trại sản xuất tập
trung, tạo ra nguồn hàng hoá đảm bảo số lượng và chất lượng”.
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2015:
+ Nông - Lâm nghiệp 50 %
+ Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 25%.
+ Dịch vụ và du lịch 25%.
- Tổng thu nhập năm 2015 trên 60 tỉ đồng.
- Thu nhập bình quân 17 triệu đồng/ người/năm.
- Tổng sản lượng cây lương thực có hạt: 6.000 tấn .
- Trồng rừng mới: 300ha , độ che phủ rừng là 55%.
Từ đó xã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 toàn xã có từ 25 đến 30
trang trại, có mức thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên tạo việc làm ổn định cho
khoảng trên 200 lao động.
2. Phương hướng phát triển kinh tế trang trại
2.1-Định hướng phát triển kinh tế trang trại
- Cần coi trọng kinh tế trang trại là loại hình kinh tế chủ yếu để khai thác tốt
nhất những lợi thế trong nông nghiệp, nông thôn của xã trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Xác định mục tiêu phù hợp với từng loại hình trang trại, nâng cao chất
lượng, lấy trang trại chăn nuôi, trang trại tổng hợp, trang trại lâm nghiệp làm đột
phá về hiệu quả kinh tế, đề cao mục tiêu bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề
khó khăn, tồn tại trong nông nghiệp, nông thôn.

20


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

- Kiên trì phương châm chất lượng, hiệu quả và bền vững trong quá trình
phát triển kinh tế trang trại, phát triển kinh tế trang trại phải đảm bảo phát triển bền
vững trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Đối với các trang trại lâm nghiệp cần phải quy hoạch, quản lý, bảo vệ, phát
triển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn
nữa các chủ trương xã hội hoá nghề rừng, thu hút các nguồn lực đầu tư và phát
triển rừng.
2.2- Mục tiêu:
- Phát triển và mở rộng mô hình kinh tế trang trại tại các xóm nhằm khai
thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh về đất đai và nguồn lực, góp phần giải
quyết việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông lâm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng, lấy
trang trại chăn nuôi và trang trại tổng hợp làm đột phá về hiệu quả kinh tế, tìm hiểu
đưa ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao giá trị kinh tế trên
đơn vị diện tích, đồng vốn đầu tư.
- Xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển dài hạn và phải xác định kinh tế
trang trại là mục tiêu khai thác những lợi thế trong nông nghiệp, nông thôn, trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các loại hình kinh tế trang trại với phương châm : chất
lượng, hiệu quả và phát triển bền vững, coi trọng bảo vệ môi sinh, môi trường.
Để thực hiện tốt việc thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển trong thời gian tới
cần có sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp từ Huyện, đến cơ sở, sự hỗ trợ của các ban
ngành và các doanh nghiệp. Huyện có những chính sách, kế hoạch phát triển dài
hạn trên cơ sở đó xã phải xây dựng kế hoạch với mục tiêu phát triển cụ thể. Cấp uỷ
đảng trực tiếp lãnh đạo, chính quyền điều hành bằng các biện pháp, chính sách cụ
thể, các ban ngành tham mưu công tác chỉ đạo, các tổ chức đoàn thể có trách
nhiệm tuyên truyền, vận động các hội viên tham gia làm kinh tế trang trại có hiệu
quả.
Phát triển kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác có
hiệu quả tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
góp phần thực hiện thắng hiện thắng lợi Nghị quyết Đảng bộ xã đề ra, vì vậy cần
có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban ngành
đoàn thể từ xã đến các xóm một cách đồng bộ, tạo sự đột phá trong công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và hôi nhập
2.3- Thực hiện tốt quy hoạch đất đai và tiến hành giao đất, giao rừng cho
các chủ trang trại.
- Quy hoạch vùng phát triển trang trại, đây là việc làm quan trọng cho sự bố
trí sản xuất theo hướng khai thác các lợi thế của từng xóm, đồng thời là cơ sở để
tiến hành giao đất phát triển trang trại. Do đó, các xóm cần kiểm tra lại quỹ đất để
quy hoạch chi tiết, định hình quy mô cho các vùng chuyên canh cho các loại cây
21


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

trồng : Cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, cây ăn quả... và con vật nuôi đàn gia súc,
gia cầm. Công bố quỹ đất hiện có để giao hoặc cho thuê để phát triển trang trại, mà
tập trung vào những loại đất chưa đưa vào sử dụng vùng đất đồi núi trọc, đất hoang
hoá. Xác định phương hướng phát triển kinh tế hàng hoá có các loại cây, vật nuôi
phù hợp với loại đất, khí hậu.
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi, giao thông,
cung cấp điện, nước, cơ sở cung cấp cây, con giống, cơ sở chế biến sản phẩm nhằm
đáp ứng các yêu cầu phát triển sản xuất của trang trại.

2. Nh?ng gi?i phỏp ch? y?u d? phỏt tri?n kinh t? trang tr?i t?i xó Cao
Son.
1-Giải pháp về đất đai đối với phát triển kinh tế trang trại.
Vấn đề nổi cộm nhất hiện nay đối với phát triển kinh tế trang trại là đất đai.
Cần thực hiện các biện pháp sau đây :
Một là: Cần hoàn chỉnh quy hoạch đất đai theo các vùng cơ bản của cả xã để
làm cơ sở cho chính quyền giao đất cho các đơn vị kinh tế, trong đó có các trang
trại.
Hai là: Thực hiện việc tập trung, đồng thời phải phù hợp với từng xóm có
đất đai nhiều ít khác nhau, thuận lợi và khó khăn khác nhau. Đối với những đất đai
có nhiều khó khăn ít người muốn nhận làm, những cá nhân có nguyện vọng thiết
tha muốn làm kinh tế trang trại sản xuất nông lâm nghiệp, có khả năng về vốn,
kinh nghiệm sản xuất và quản lý thì cho họ nhận không thu tiền, với diện tích cao
hơn mức hạn điền. Còn vùng đất tương đối thuận lợi trong khai thác và sử dụng, có
khả năng cho hiệu quả cao và nhiều người muốn nhận, có quỹ đất thì tổ chức đấu
thầu. Trong các trường hợp trên, trong quá trình sử dụng đất nếu việc sử dụng có
hiệu quả thì cho tiếp tục sử dụng. Đối với trang trại hiện có, nếu được chính quyền
địa phương cho phép đầu tư khai phá và sử dụng đất đai hoặc cho thuê khoán, đề
nghị giao đất hoặc tiếp tục cho thuê khoán theo Luật định. Các chủ trang trại đã
được nông, lâm trường giao khoán đất để sử dụng theo quy hoạch thì Nhà nước
giao đất và cho thuê ổn định lâu dài theo Luật. Những trang trại đã và đang hình
thành và hoạt động trên cơ sở chuyển đổi và sang nhượng đất đai chính đáng với
sự kiểm soát chặt chẽ và cho phép của chính quyền thì Nhà nước giao đất và cho
thuê đất theo luật đất đai.
Về thời gian giao đất : Thực hiện theo luật đất đai đã được Quốc hôi sửa đổi
bổ sung . Thời gian giao đất để sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm,
nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm. Nếu người sử dụng
đất thực hiện đúng Luật đất đai và sản xuất có hiệu quả thì Nhà nước giao đất đó
để tiếp tục sử dụng khi hết thời hạn.

22


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Ba là: Giải pháp khắc phục tình trạng đất manh mún. Không thể dựa vào
mệnh lệnh áp đặt từ trên, mà phải thuyết phục nông dân tự nguyện, đồng thời phải
có cách làm đúng đắn và thích hợp để việc dồn điền đổi thửa được tiến hành hiệu
quả. Cần khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi ruộng đất trước khi làm thủ tục
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai.
Bốn là: Tiếp tục giao đất và thực hiện 5 quyền của người sử dụng đất
Năm là: giải pháp cấp giấy chứng nhận sử dụng đất đai cho các trang trại.
Các trang trại được hình thành từ nguồn vốn khác nhau : nhận khoán, thuê mướn,
chuyển nhượng thực chất là mua bán, đấu thầu thêm, khai hoang... Việc hợp pháp
hoá quyền sử dụng đất đai của trang trại là vấn đề bức súc để các trang trại yên tâm
kinh doanh lâu dài. Đó cũng là tiền đề cần thiết để các trang trại bố trí quy hoạch
sản xuất.
2- Giải pháp về vốn để phát triển kinh tế trang trại.
Theo điều tra cho thấy số vốn mới đáp ứng được trên dưới 50% nhu cầu của
các chủ trang trại. Đề nghị :
- Việc xây dựng các công trình hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, điện, nước
sinh hoạt... ở các khu vực có trang trại đòi hỏi chi phí lớn. Nhà nước cần hỗ trợ
một phần, chủ yếu trợ giúp kỹ thuật, huy động nguồn lực của các trang trại với
phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm “.
- Nhà nước cần thực hiện cơ chế cho các chủ trang trại vay theo dự án đầu tư
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thời gian vay phải phù hợp chu kỳ kinh
doanh của từng loại sản phẩm. Nhà nước cần tăng thêm nguồn vốn đầu tư cho vay
trung hạn và dài hạn để đáp ứng nhu cầu của kinh tế trang trại. Về lãi suất vốn vay
đối với kinh tế trang trại cũng được đặc biệt ưu đãi.
3- Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực của kinh tế trang trại.
Về phương diện nguồn nhân lực, việc nâng cao hiệu quả của kinh tế trang
trại đòi hỏi phải thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây :
Một là, nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và trình độ khoa học
kỹ thuật của chủ trang trại. Đây là giải pháp rất quan trọng cho phát triển kinh tế
trang trại.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực lao động làm thuê trong các trang trại trên
cơ sở thực hiện chính sách bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ.
- Cần thừa nhận về pháp lý sức lao động làm thuê cho các trang trại. Có như
vậy, lao động trong nông nghiệp, nông thôn mới thực sự được phân công và sử
dụng một cách có hiệu quả hơn. Thừa nhận về pháp lý việc làm thuê mướn trong
nông, lâm, ngư nghiệp như đang áp dụng đối với các ngành kinh tế khác sẽ tạo
thêm môi trường cho các chủ trang trại hoạt động có hiệu quả và tạo ra nhiều việc
làm, góp phần phát triển kinh tế, xã hội.

23


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

- Số lao động hiện làm thuê cho các trang trại đã và sẽ có xu hướng ngày
càng tăng lên cùng với quá trình hình thành và phát triển của kinh tế trang trại. Vì
vậy, chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý số lao động tự do kiếm việc
làm kể cả làm thuê theo mùa vụ và thường xuyên, để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa
và giải quyết những hành vi không lành mạnh, vi phạm pháp luật trong việc sử
dụng lao động của các chủ trang trại.
4- Giải pháp về khoa học - công nghệ và môi trường đối với kinh tế
trang trại.
Để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trang trại lên một trình độ cao hơn
về chất lượng, nhiều vấn đề về khoa học - công nghệ cần phải được tiếp tục giải
quyết.
Tăng cường tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật đưa các cây giống, con
có giá trị, thích nghi với từng vùng cùng với quy trình canh tác, chăm sóc, thu
hoạch, chế biến bảo quản, cung cấp và hướng dẫn cho các nông dân thực hiện
thông qua các hợp đồng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
- Cần xây dựng và nâng cấp các cơ sơ chế biến có quy mô phù hợp với vùng
nguyên liệu, có công nghệ hiện đại, mặt khác chú ý đến kết hợp công nghệ truyền
thống với hiện đại, sơ chế với tinh chế quy mô vừa, nhỏ với quy mô lớn, và có sự
tham gia của các thành phần kinh tế.
- Phát triển kinh tế trang trại phải gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Cần phải thực hiện các biện pháp sau đây :
+ Đối với các trang trại hiện có: Chính quyền địa phương cần kiểm tra, động
viên và khuyến khích việc bảo vệ môi trường. Trường hợp trang trại gây ô nhiễm
môi trường cần có biện pháp xử lý kịp thời. Chính quyền địa phương căn cứ vào
quy hoạch và tiến hành cân đối bố trí diện tích gò đồi cho những trang trại chăn
nuôi đại gia súc để đầu tư xây dựng đồng cỏ, tránh tình trạng chăn thả tự nhiên
làm hỏng rừng, đặc biệt đối với diện tích rừng mới trồng.
+ Đối với những trang trại mới lập hoặc chuẩn bị những điều kiện để lập
trang trại thì phải có phương án cụ thể bảo vệ môi trường sinh thái.
5- Giải pháp về thị trường đối với kinh tế trang trại.
Chính sách thị trường - giá cả đối với kinh tế trang trại một mặt phải chấp
nhận giá cả thị trường, mặt khác Nhà nước phải tạo ra những điều kiện thuận lợi
giúp kinh tế trang trại cần thực hiện các biện pháp sau đây :
Một là, quy hoạch và phát triển các vùng chuyên môn hoá với khối lượng
hàng hóa nông sản lớn, ở các vùng này, Nhà nước cần đầu tư xây dựng các cơ sở
chế biến để thu hút sản phẩm của kinh tế trang trại, thúc đẩy kinh tế trang trại và
kinh tế hộ nông dân phát triển, góp phần tăng số lượng và chất lượng sản phẩm.
Nhà nước cần hướng dẫn, kinh tế trang trại và kinh tế hộ nông dân thực hiện các
công nghệ mới về bảo quản sản phẩm, sơ chế và chế biến.
24


Tiểu luận tốt nghiệp Lớp Trung cấp Lý luận CT – HC, Đà Bắc

Hai là, củng cố và mở rộng mạng lưới thương nghiệp. Nhà nước kinh doanh
các mặt hàng quan trọng và thiết yếu trên địa bàn nông thôn. Các doanh nghiệp
Nhà nước liên kết với các thành phần kinh tế khác bám sát thị trường, giải quyết
đầu ra cho kinh tế trang trại và nông dân, có lực lượng dự trữ để can thiệp vào thị
trường. Thực hiện các biện pháp kinh tế nhằm hạn chế sự biến động đột biến giá
cả, tạo nên sự ổn định giá cả thị trường.
Ba là, hình thành và phát triển kinh tế hợp tác. Việc vận dụng hình thức hợp
tác nào là tuỳ thuộc vào lợi ích và sự tự nguyện của nông dân mà không có sự áp
đặt từ phía nào. Thông qua kinh tế hợp tác, thực hiện tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ
cung ứng vật tư cho các trang trại.
Bốn là, khuyến khích những người có vốn, kinh nghiệm, khả năng kinh
doanh đầu tư hoặc hợp tác liên doanh dưới mọi hình thức để phát triển các dịch vụ
đầu vào, đầu ra ở các vùng nông thôn.
6- Giải pháp về cơ sở hạ tầng nông thôn để phát triển kinh tế trang trại.
- Nhà nước hỗ trợ một phần, chủ yếu là kỹ thuật, huy động nguồn lực của
các trang trại, thực hiện phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm “ đó xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: giao thông, điện.....
- Trong cơ cấu đầu tư những năm tới đối với nông nghiệp, nông thôn, thuỷ
lợi phải được ưu tiên đầu tư cao nhằm nâng cao trình độ và hiệu quả thâm canh,
mở rộng diện tích đất canh tác, phát triển nông nghiệp toàn diện. Hướng dẫn đầu tư
vào thuỷ lợi là khôi phục, nâng cấp các công trình thuỷ lợi xây dựng lâu năm đã
xuống cấp; xây dựng các công trình mới cần thiết; hoàn thành các công trình dở
dang... Nhà nước đầu tư các công trình đầu mối, còn hệ thống kênh dẫn thì nhà
nước hỗ trợ một phần, chủ yếu là kỹ thuật, còn nói chung là vốn đầu tư của các
trang trại.
8- Tăng cường quản lý đối với kinh tế trang trại.
Việc quản lý Nhà nước đối với kinh tế trang trại trong thời gian tới cần tập
trung vào những vấn đề sau đây :
- Chính phủ cần nhanh chóng ban hành Nghị định về phát triển kinh tế trang
trại.
- Hoàn thiện quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể phát triển kinh tế - xã
hội của các vùng trong xã. Cần chi tiết hoá và khẳng định các vùng sản xuất hàng
hoá trong nông, lâm, nghiệp và các vùng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại ở các vùng nông thôn để định hướng phát triển cho kinh tế hộ
và kinh tế trang trại theo khả năng và lợi thế của mình.
- Hướng dẫn và tạo động lực thúc đẩy hộ nông dân chuyển đổi ruộng đất để
tạo điều kiện cần thiết phát triển sản xuất hàng hoá.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×