Tải bản đầy đủ

Luận văn Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam theo các khuyến nghị của Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005

1

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU

1

Chương 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM

8

1.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành

8

1.1.1 Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản

9

1.1.2 Dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản


9

1.1.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản

9

1.1.4 Tài sản phá sản

13

1.1.5 Thủ tục phá sản

18

1.1.6 Trách nhiệm tài sản của người mắc nợ sau khi bị tuyên bố phá sản

21

1.1.7 Chế tài trong lĩnh vực phá sản

21

1.2 Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004

22

1.2.1 Tình hình ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Phá sản

22

1.2.2 Kết quả thực hiện Luật Phá sản năm 2004

23

1.2.3 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện Luật Phá sản năm
2004

24

1.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện


Luật Phá sản năm 2004

27

Chương 2 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM TRÊN CƠ
SỞ THAM KHẢO CÁC KHUYẾN NGHỊ TRONG HƯỚNG DẪN XÂY
DỰNG LUẬT PHÁ SẢN CỦA UNCITRAL NĂM 2005

2.1 Những nội dung cơ bản của các khuyến nghị trong hướng dẫn xây
dựng luật phá sản của Uncitral năm 2005

35

35


2

2.1.1 Mục tiêu và các nội dung chủ yếu của luật phá sản

36

2.1.2 Phạm vi áp dụng của luật phá sản

37

2.1.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản

37

2.1.4 Tài sản phá sản

41

2.1.5 Thủ tục phá sản

47

2.1.6 Trách nhiệm tài sản của người mắc nợ bị tuyên bố phá sản

54

2.2 Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam trên cơ sở tham khảo các
khuyến nghị của Uncitral

54

2.2.1 Về đối tượng áp dụng của luật phá sản

55

2.2.2 Về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản

56

2.2.3 Về tài sản phá sản

59

2.2.4 Về thủ tục phá sản

64

2.2.5 Về nghĩa vụ tài sản của người mắc nợ sau khi bị tuyên bố phá sản

67

KẾT LUẬN

69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

70


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Là những thực thể pháp lý, các doanh nghiệp được thành lập (sinh ra),
hoạt động (thực hiện các nghiệp vụ sản xuất, kinh doanh của mình) và mất đi
(giải thể, phá sản). Pháp luật của bất cứ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam,
cũng đều phải tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một cách đồng bộ các
công việc thuộc ba giai đoạn đó của doanh nghiệp. Sự yếu kém của pháp luật
trong bất cứ giai đoạn nào trong số ba giai đoạn này đều ảnh hưởng xấu đến
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện
các quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp (mà chủ yếu là Luật Doanh
nghiệp), việc hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh (mà chủ yếu là
các luật kinh doanh chuyên ngành), thì Nhà nước ta cũng đã rất quan tâm đến
các văn bản pháp luật điều chỉnh quá trình chấm dứt hoạt động của doanh
nghiệp, trong đó có pháp luật về phá sản.
Luật Phá sản năm 2004 ra đời là bước phát triển mới của pháp luật Việt
Nam nhằm đáp ứng nhu cầu nêu trên của các doanh nghiệp. Về cơ bản, Luật
này đã giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn giải quyết phá sản đã đặt
ra. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết phá sản cũng đã chứng tỏ rằng, luật này
không phải không có những hạn chế cần phải được khắc phục. Vì vậy, hiện
nay, Nhà nước ta đang rất quan tâm đến việc hoàn thiện pháp luật về phá sản
mà nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất là việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ
sung Luật Phá sản năm 2004 với tư cách là văn bản xương sống, nền tảng và
đầy đủ nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật về phá sản ở nước ta.
Để việc sửa đổi, bổ sung luật này có hiệu quả thì chỉ riêng việc nghiên
cứu thực tiễn pháp luật Việt Nam, kinh nghiệm của các nước có điều kiện
kinh tế - xã hội tương tự như Việt Nam là cần thiết nhưng chưa đủ. Một vấn
đề rất quan trọng đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu, tham khảo các khuyến


nghị mang tính chất tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về phá sản và giải quyết
phá sản của các thiết chế, định chế kinh tế quốc tế, trong đó có các khuyến
nghị của Uỷ ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral).
Thực hiện nhiệm vụ của mình, năm 2005, Uỷ ban này đã ban hành
Hướng dẫn xây dựng luật phá sản nhằm đưa ra các khuyến nghị giúp các
quốc gia thành viên của Liên hợp quốc có thể xây dựng được một đạo luật
phá sản của mình có hiệu quả. Sau khi nghiên cứu, bản thân tôi cho rằng, các
khuyến nghị này là những ý tưởng rất tốt giúp chúng ta có thể tham khảo để
tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của đất nước mình mà
có thể chọn lọc để tiếp thu.
Như phần trên đã nói, tại Việt Nam, Luật Phá sản năm 2004 mặc dù đã
có nhiều điểm tiến bộ, góp phần đáp ứng được điều kiện về mặt thể chế pháp
lý để Việt Nam có thể gia nhập WTO. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, luật
đã bộc lộ rất nhiều thiếu sót, dẫn đến việc giải quyết phá sản không đáp ứng
được yêu cầu khách quan của nền kinh tế, gây cản trở cho sự phát triển lành
mạnh của môi trường kinh doanh.
Với mong muốn nghiên cứu pháp luật phá sản một cách toàn diện, có
hệ thống, phù hợp với cách tiếp cận của quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt
Nam, tôi đã lựa chọn vấn đề “Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam theo các
khuyến nghị của Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của UNCITRAL năm
2005” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã có hai luật phá sản là Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 và Luật Phá sản năm 2004. Hơn 15 năm qua, kể từ ngày có luật mới, đã
có hàng chục công trình ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu về các khía cạnh
khác nhau của Luật Phá sản cũng như phương hướng hoàn thiện lĩnh vực
pháp luật này. Trong số các công trình đó, có thể kể đến là:


- Pháp luật phá sản của Việt Nam, của PGS.TS Dương Đăng Huệ (xuất
bản năm 2005). Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách
toàn diện về pháp luật phá sản Việt Nam từ năm 1993 đến nay đồng thời nêu
ra những định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
- Thực trạng phá sản doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ năm 2004 của
Bộ Kế hoạch và đầu tư, do thạc sỹ Nguyễn Kim Anh làm chủ nhiệm đề tài.
- Luật phá sản Việt Nam dưới góc độ luật so sánh và phương hướng
hoàn thiện, Luận án tiến sỹ của tác giả Trương Hồng Hải, bảo vệ năm 2005.
- Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản
Việt Nam, Luận án tiến sỹ của tác giả Vũ Thị Hồng Vân, bảo vệ năm 2009 tại
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Các giải pháp pháp lý nhằm giải quyết tốt hơn việc phá sản doanh
nghiệp ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp năm 2009 của Bộ Tư pháp do
PGS.TS Dương Đăng Huệ làm chủ biên.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu ở tầm tiến sỹ và tầm đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ như đã nêu trên, đã có nhiều công trình nghiên
cứu ở cấp độ thấp hơn, được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và một số
luận văn thạc sỹ của các học viên cao học tại các trung tâm đào tạo luật trên
cả nước.
Như vậy, vấn đề phá sản và hoàn thiện pháp luật về phá sản không còn
là vấn đề mới trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, cái mới
của đề tài nghiên cứu ở tầm thạc sỹ này là ở chỗ, chưa bao giờ có công trình
nào ở nước ta trước đây nghiên cứu về phương hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật phá sản Việt Nam dưới góc độ tham khảo các khuyến nghị của một
tổ chức thương mại quốc tế là Uncitral. Nói cách khác, đây là đề tài lần đầu
tiên nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam dưới một góc


độ mới - góc độ nghiên cứu, đối chiếu và có tính đến những kinh nghiệm
quốc tế đã được tổng kết bởi một tổ chức nghiên cứu khoa học pháp lý về
thương mại có danh tiếng của Liên hợp quốc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích đặt ra, luận văn tập trung nghiên cứu
những vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, các nội dung chủ yếu của pháp luật phá sản Việt Nam hiện
hành. Việc nghiên cứu vấn đề này nhằm giúp người đọc nhận thức được một
cách cơ bản diện mạo của pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay, tìm ra các
mặt ưu điểm cũng như các mặt nhược điểm của nó để trên cơ sở đó mà tìm
hướng hoàn thiện cho phù hợp.
Thứ hai, thực tiễn thi hành Luật Phá sản trong thời gian qua, từ năm
2004 đến nay. Việc nghiên cứu thành công vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy
được đâu là những vướng mắc mà quá trình vận hành của pháp luật phá sản
trên thực tế đang gặp phải để trên cơ sở đó mà định hướng các giải pháp nhằm
tháo gỡ.
Thứ ba, nội dung cơ bản của Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của
Uncitral năm 2005. Đây được xem là một đối tượng nghiên cứu rất quan trọng
của luận văn này vì nếu không nắm được rõ các nội dung cơ bản của các
khuyến nghị của Uncitral thì chúng ta sẽ không thể đánh giá được là chúng có
phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam hay không, và vì vậy có thể được vận
dụng để hoàn thiện luật phá sản Việt Nam hay không.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của Uncitral có nội dung rất phong
phú, bao gồm nhiều nhóm khuyến nghị, liên quan đến toàn bộ chế độ pháp lý
về phá sản, từ đối tượng áp dụng của luật phá sản, địa vị pháp lý của các chủ


thể tham gia giải quyết phá sản, thủ tục giải quyết phá sản, cơ chế bảo vệ tài
sản phá sản, thứ tự thanh toán tài sản phá sản, và nhiều vấn đề quan trọng
khác. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu và phạm vi hạn hẹp của một luận văn
thạc sỹ luật học, tác giả không có tham vọng nghiên cứu một cách toàn diện
các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam cũng như của Hướng dẫn xây
dựng luật phá sản của Uncitral. Luận văn chỉ dừng lại ở một mức độ nghiên
cứu nhất định, cụ thể là: Chỉ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất trong số
các khuyến nghị của Uncitral và trên cơ sở đối chiếu với tình hình kinh tế - xã
hội của đất nước ta mà khuyến nghị có nên áp dụng hay không mà thôi.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn này, tác giả đã sử dụng một cách
đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học. Trước hết đó là
phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Phương pháp này giúp
tác giả luôn luôn nhận thức được rằng pháp luật là tấm gương phản ánh của
thực trạng kinh tế - xã hội, pháp luật không bao giờ có thể cao hơn trình độ
phát triển kinh tế của quốc gia mà ở đó pháp luật được xây dựng nên. Phương
pháp này có ý nghĩa rất lớn vì khi nghiên cứu và áp dụng các khuyến nghị của
Uncitral thì chúng ta không thể tiếp thu, vận dụng một cách máy móc mà cần
phải xem xét, cân nhắc xem những kiến nghị đó có thực sự phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh của Việt Nam hay không. Ngoài phương pháp nghiên cứu có
tính chất lý luận cơ bản này, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu truyền thống khác, nhất là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
Những phương pháp này giúp tác giả tiếp cận các đối tượng nghiên cứu một
cách có cơ sở khoa học, đảm bảo tính hiệu quả của quá trình nghiên cứu.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sao để việc hoàn thiện pháp luật


phá sản Việt Nam được thực hiện không chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam mà còn phù hợp với các quy định chung, phổ biến của
pháp luật quốc tế đã được Uỷ ban về pháp luật thương mại quốc tế của Liên
hợp quốc tổng kết và khuyến nghị.
5.2 Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau
đây:
Thứ nhất, nhận diện được một cách chính xác mô hình và đặc điểm của
pháp luật phá sản Việt Nam.
Thứ hai, phân tích được các ưu điểm cũng như nhược điểm của pháp
luật phá sản hiện hành.
Thứ ba, đánh giá, tổng kết được thực tiễn thi hành Luật 2004 qua các số
liệu mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, nhất là của các toà
kinh tế cấp tỉnh và của Toà án nhân dân tối cao.
Thứ tư, nghiên cứu để nắm được nội dung cơ bản của các khuyến nghị
trong Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005.
Thứ năm, đưa ra các khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật
phá sản Việt Nam trên cơ sở vận dụng một cách có chọn lọc các khuyến nghị
của Uncitral.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, tìm ra được những điểm khác biệt cơ bản của pháp luật Việt
Nam với những quy định có tính chất thông lệ của pháp luật phá sản của các
nước trên thế giới.
Thứ hai, trình bày được những nội dung cơ bản của Hướng dẫn xây
dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005.
Thứ ba, đưa ra được một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật


phá sản Việt Nam theo hướng phù hợp với các quy định mới nhất của
UNCITRAL.
7. Cơ cấu của luận văn
Lời nói đầu
Nội dung
Chương 1: Thực trạng pháp luật phá sản Việt Nam
Chương 2: Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam trên cơ sở tham
khảo các khuyến nghị trong Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của
UNCITRAL năm 2005
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo


Chương I
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM
1.1.

Những nội dung cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam hiện

hành
Phá sản là một hiện tượng tất yếu chỉ xuất hiện một cách phổ biến trong
nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, phá sản và
pháp luật về phá sản không tồn tại. Để điều chỉnh những vấn đề liên quan đến
phá sản, nhà nước cần phải ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp
luật như điều kiện để một người mắc mắc nợ bị coi là đã lâm vào tình trạng
phá sản; người có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản; cơ quan có thẩm
quyền giải quyết phá sản; thủ tục giải quyết phá sản; phân chia tài sản phá
sản; trách nhiệm của người mắc nợ sau khi giải quyết phá sản; ... Tổng hợp
những văn bản pháp luật này tạo thành một lĩnh vực pháp luật được gọi là
pháp luật phá sản mà trung tâm của nó là Luật Phá sản.
Ở Việt Nam, pháp luật phá sản chính thức được hình thành từ năm
1993 khi Luật phá sản doanh nghiệp ra đời trong điều kiện xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự phát triển của kinh tế
đất nước, pháp luật phá sản cũng được tiếp tục hoàn thiện đánh dấu bằng sự ra
đời của Luật Phá sản năm 2004.
Cũng giống như cách tiếp cận chung của thế giới về thủ tục phá sản,
pháp luật Việt Nam cũng coi thủ tục phá sản là một loại thủ tục tư pháp đặc
biệt. Tính chất đặc biệt này thể hiện ở chỗ thủ tục phá sản là một thủ tục đòi
nợ tập thể; là thủ tục đòi nợ được tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt, như
một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ; là thủ tục mà hậu quả của nó
thường là sự chấm dứt hoạt động của một thương nhân; là một thủ tục có khả
năng giúp người mắc nợ phục hồi hoạt động kinh doanh; và là một thủ tục
pháp lý có tính chất tổng hợp [16]. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, pháp


luật phá sản gồm những nội dung cơ bản sau đây:
1.1.1 Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản
Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản là các chủ thể có thể bị áp dụng
thủ tục phá sản và có thể bị tuyên bố phá sản. Khoản 1 Điều 2 Luật Phá sản
năm 2004 quy định: “Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã)
được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”. Như vậy, đối
tượng áp dụng của Luật Phá sản chỉ là các doanh nghiệp. Việc quy định hợp
tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong Điều 2 của Luật Phá sản “có lẽ chỉ có tác
dụng làm rõ chủ thể là đối tượng áp dụng của Luật vì mặc dù có một số đặc
thù trong việc góp vốn, thành lập, điều hành, quản lý, phân chia lợi nhuận
nhưng xét về bản chất thì hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã vẫn là một loại hình
doanh nghiệp” [3]. Như vậy, các chủ thể kinh doanh khác không phải là đối
tượng áp dụng của Luật Phá sản.
1.1.2 Dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là căn cứ để Toà án
có thể thụ lý và mở thủ tục phá sản. Tình trạng phá sản có thể được quy định
theo phương pháp định tính hoặc định lượng.
Luật Phá sản năm 2004 đã quy định một cách đơn giản nhưng đầy đủ
những tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đó là
“doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ
đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”. Quy định này phù hợp với thông lệ chung
của thế giới, giúp cho có thể sớm mở thủ tục phá sản và làm tăng khả năng
phục hồi hoạt động kinh doanh của người mắc nợ.
1.1.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
1.1.3.1 Địa vị pháp lý của Toà án
Theo Luật Phá sản năm 2004, Toà án có vai trò, vị trí trung tâm trong


thủ tục phá sản, là cơ quan giải quyết phá sản. Vụ việc phá sản sẽ được giải
quyết bởi một thẩm phán của Toà án nhân dân cấp huyện hoặc bởi một thẩm
phán hoặc một tổ thẩm phán (gồm ba thẩm phán) của Toà án nhân dân cấp
tỉnh. Việc phân định thẩm quyền giải quyết phá sản theo cấp Tòa án như trên
là căn cứ vào nơi đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Để giải quyết một vụ phá sản thì có rất nhiều chủ thể tham gia. Mỗi
một chủ thể được phân công thực hiện một số công việc nhất định. Tuy nhiên,
Toà án có vai trò quyết định vì Toà án có quyền hạn khá lớn trong việc giải
quyết các vấn đề pháp lý cơ bản của vụ việc phá sản như: quyết định mở hoặc
không mở thủ tục phá sản (Điều 22, Điều 28); quyết định áp dụng thủ tục
phục hồi (Điều 68), thủ tục thanh lý (Điều 78, 79, 80) hoặc thủ tục tuyên bố
phá sản (Điều 86, 87); ... Bên cạnh đó, Toà án cũng có một số quyền hạn nhất
định trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất kinh tế của vụ việc phá sản
như: quyết định cử người thay thế người quản lý và điều hành hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 20); quyết định cho phép doanh
nghiệp, hợp tác xã thực hiện các giao dịch nhất định (Điều 31); quyết định
đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực pháp luật (Điều 45); quyết định
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã; và các quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.1.3.2 Địa vị pháp lý của người mắc nợ
Là đối tượng của một thủ tục đòi nợ tập thể, doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản sẽ bị hạn chế quyền và phải chịu những nghĩa vụ
nhất định. Luật Phá sản năm 2004 đã có cách tiếp cận tiến bộ, phù hợp với
thông lệ quốc tế, đó là tạo điều kiện tối đa để người mắc nợ có thể khắc phục
các khó khăn về tài chính, thoát khỏi tình trạng phá sản để trở lại hoạt động
bình thường.
Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có các quyền cơ


bản như sau: quyền được tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh sau khi mở
thủ tục phá sản (Điều 30); quyền tham gia Hội nghị chủ nợ, xây dựng phương
án phục hồi kinh doanh để trình ra Hội nghị chủ nợ xem xét, thông qua (Điều
68); thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đã có hiệu lực (Điều
73); được nhận phần giá trị tài sản còn lại của mình sau khi đã thanh toán đủ
các nghĩa vụ tài sản (Điều 37); quyền khiếu nại đối với các quyết định của
Toà án, của Tổ quản lý, thanh lý tài sản (Điều 25, 32, 52, 53, 56, 83, 91).
Trường hợp thực hiện thành công phương án phục hồi hoặc nếu được quá nửa
số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba số nợ không có bảo
đảm trở lên nhất trí đình chỉ thủ tục phục hồi thì Toà án sẽ ra quyết định đình
chỉ thủ tục phục hồi và doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ được coi là không còn
lâm vào tình trạng phá sản.
Ngoài những quyền như trên, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản có những nghĩa vụ nhất định, đó là: nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản khi thấy mình lâm vào tình trạng phá sản (Điều 15); nghĩa
vụ xuất trình cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của Tòa (Điều 23);
trách nhiệm tự kiểm kê tài sản và nộp lại bảng kê cho Tòa án (Điều 50); nghĩa
vụ tham gia Hội nghị chủ nợ để giải quyết các vấn đề có liên quan (Điều 63);
nghĩa vụ thanh toán các nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản; trong trường
hợp doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh thì chủ doanh nghiệp tư
nhân và thành viên hợp danh có trách nhiệm tiếp tục trả nợ đối với phần nợ
chưa được thanh toán cho các chủ nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 90).
1.1.3.3 Địa vị pháp lý của chủ nợ
Theo Luật Phá sản năm 2004, có 2 nhóm chủ nợ có địa vị pháp lý khác
nhau:
Một là, nhóm chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần.


Pháp luật quy định cho nhóm này có quyền quyết định những vấn đề quan
trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ và số phận của doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản, như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản (Điều 13, 14); quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và biểu quyết những vấn
đề thuộc thẩm quyền của Hội nghị chủ nợ (Điều 68).
Hai là, nhóm chủ nợ có bảo đảm. Căn cứ vào lý do quyền lợi của nhóm
chủ nợ này sẽ luôn được đảm bảo dù có mở thủ tục phá sản hay không, nên
pháp luật quy định họ bị hạn chế một số quyền như quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, không có quyền biểu quyết thông qua Nghị quyết của Hội
nghị chủ nợ, ....
Các chủ nợ thực hiện quyền của mình thông qua Hội nghị chủ nợ. Đây
là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí của các chủ nợ, có quyền quyết định
những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến lợi ích của các chủ nợ như: quyết
định xem sẽ áp dụng thủ tục phục hồi hay áp dụng thủ tục thanh lý; trong
trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi, việc chấp nhận phương án phục hồi của
Hội nghị chủ nợ sẽ là căn cứ để mở thủ tục phục hồi. Nghị quyết của Hội nghị
chủ nợ được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại
hội nghị đại diện cho từ hai phần ba trở lên tổng số nợ không có bảo đảm biểu
quyết tán thành.
Bên cạnh các quyền như trên, các chủ nợ có nghĩa vụ gửi giấy đòi nợ
cho Tòa án trong thời hạn 60 ngày (trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng
hoặc có trở ngại khách quan) kể từ ngày cuối cùng đăng báo. Ngoài ra, các
chủ nợ còn có nghĩa vụ chấp hành nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, kể cả
trường hợp không đồng ý với nghị quyết đó.
1.1.3.4 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Theo Luật Phá sản năm 2004, việc quản lý và thanh lý tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được giao cho một thiết


chế là Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Tổ quản lý, thanh lý tài sản do Thẩm phán
hoặc Tổ Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản quyết định thành lập đồng thời
với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản. Cơ cấu của Tổ bao gồm: 01 chấp
hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; 01 cán bộ Toà án;
01 đại diện chủ nợ; 01 đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở
thủ tục phá sản. Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoạt động dưới sự điều hành của
Tổ trưởng. Sự tham gia của đại diện công đoàn, đại diện người lao động hoặc
đại diện các cơ quan chuyên môn sẽ do Thẩm phán quyết định nếu xét thấy
cần thiết.
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có các nhiệm vụ và quyền hạn như sau: lập
bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều
10, khoản 3 Điều 50); giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều 30); đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
trong trường hợp cần thiết (Điều 55); lập danh sách chủ nợ, danh sách người
mắc nợ (Điều 52, 53); tham gia và báo cáo Hội nghị chủ nợ về thực trạng của
doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 64); thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã; và thi hành các quyết định khác của Thẩm phán trong quá
trình tiến hành thủ tục phá sản.
Tổ quản lý, thanh lý tài sản được giải thể khi có quyết định của Thẩm
phán về việc mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều
73); có quyết định của Thẩm phán về việc đình chỉ việc phân chia tài sản do
doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản để thực hiện phương án phân chia
tài sản; hoặc có quyết định của Thẩm phán về việc tuyên bố phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thực hiện xong phương án phân chia tài
sản.
1.1.4 Tài sản phá sản


1.1.4.1 Xác định tài sản và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Việc xác định tài sản và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản là một vấn đề quan trọng, không chỉ tác động đến
quyền lợi của các chủ nợ mà còn ảnh hưởng đến việc quản lý và bảo toàn tài
sản phá sản. Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 đã quy định: “Tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời
điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước
khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác
xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có
bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải
thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định
theo quy định của pháp luật về đất đai.”
Ngoài ra các tài sản trên, tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp
danh lâm vào tình trạng phá sản còn bao gồm tài sản riêng của chủ doanh
nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh
doanh theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Về nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản, Điều 33 Luật Phá sản năm 2004 xác định bao gồm:
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài
sản được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà


nghĩa vụ này không có bảo đảm;
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài
sản có bảo đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ.
Trường hợp nghĩa vụ tài sản là các khoản nợ chưa đến hạn vào thời
điểm mở thủ tục thanh lý thì được xử lý như khoản nợ đến hạn nhưng không
được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn (Điều 34). Đối với nghĩa vụ tài
sản là các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được
xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì được ưu
tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không
đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình
thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp
hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản
còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 35). Đối với tài sản mà Nhà nước
sử dụng khi áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh
doanh nhưng vẫn không phục hồi được, phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải
hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước
trước khi phân chia tài sản (Điều 36). Đối với trường hợp nghĩa vụ tài sản
không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh
nghiệp, hợp tác xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra
quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã (Điều 38).
Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh sẽ
được xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự.
1.1.4.2 Bảo toàn tài sản phá sản
Bảo toàn tài sản là một mục tiêu quan trọng của Luật Phá sản nhằm bảo
vệ lợi ích cho các chủ nợ và cho chính người mắc nợ. Luật Phá sản năm 2004


quy định khá đầy đủ các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản. Theo đó, có bảy nhóm biện pháp cơ bản như
sau:
Một là, quy định các biện pháp nhằm ngăn chặn doanh nghiệp, hợp tác
xã mắc nợ làm thất thoát tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
(Điều 31).
Hai là, tuyên bố vô hiệu đối với các giao dịch được thực hiện với mục
đích cất giấu, tẩu tán tài sản, gây thiệt hại cho các chủ nợ (Điều 43, 44).
Ba là, quy định cách xử lý các hợp đồng đang có hiệu lực. Theo đó các
hợp đồng đang có hiệu lực sẽ được tiếp tục thực hiện nếu có lợi cho doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cũng như các chủ nợ. Nếu việc
tiếp tục thực hiện là không có lợi, các hợp đồng đó sẽ bị đình chỉ theo quyết
định của Toà án (Điều 45, 46, 47).
Bốn là, quy định bù trừ nghĩa vụ giữa các chủ nợ với doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 48).
Năm là, quy định Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm
đăng kí giao dịch bảo đảm cho các giao dịch bảo đảm nhưng chưa được đăng
kí của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 54).
Sáu là, quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng để bảo
toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Theo đó, Toà án có thể tiến hành
các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
để bảo toàn tài sản của người mắc nợ (Điều 55).
Bảy là, quy định trách nhiệm của ngân hàng, nhân viên và người lao
động trong doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 59).
1.1.4.3 Chi phí phá sản
Chi phí phá sản là các chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành thủ
tục phá sản và được ưu tiên thanh toán khi phân chia tài sản. Căn cứ vào các


văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chi phí phá sản bao gồm các khoản
sau:
- Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: theo Pháp lệnh án phí, lệ
phí Toà án năm 2009, lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là 1.000.000
đồng.
- Các chi phí bảo đảm hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
(khoản 2, mục II, Thông tư số 19/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 19/02/2008).
- Chi phí cho việc kiểm kê, bảo quản, thu hồi, định giá, bán đấu giá tài
sản.
- Các chi phí hợp lý khác.
1.1.4.4 Phân chia tài sản phá sản
Thực chất của việc giải quyết phá sản là việc xử lý mối quan hệ về lợi
ích tài sản giữa các chủ nợ với con nợ [16]. Mỗi con nợ sẽ có nhiều loại chủ
nợ và mỗi loại chủ nợ sẽ được thanh toán theo mức độ ưu tiên khác nhau.
Điều 37 Luật Phá sản năm 2004 quy định thứ tự phân chia tài sản như sau:
- Phí phá sản;
- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định
của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp
đồng lao động đã ký kết;
- Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh
sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ
thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản
không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một
phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã
thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần
còn lại này thuộc về: xã viên hợp tác xã; chủ doanh nghiệp tư nhân; các thành


viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần; hoặc chủ sở hữu doanh
nghiệp nhà nước.
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc thanh toán được thực
hiện theo thứ tự như trên, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
1.1.5 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Theo Luật Phá sản năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản gồm các bước cơ bản sau:
1.1.5.1 Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Về cơ bản, thủ tục nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản giống
như thủ tục nộp đơn khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự theo quy định chung
tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.
* Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Chủ thể có quyền nộp đơn bao gồm: chủ nợ không có bảo đảm hoặc có
bảo đảm một phần; người lao động; chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước, các
cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh. Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn
là bản thân doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong thời
hạn ba tháng kể từ khi nhận thấy mình lâm vào tình trạng phá sản.
Nội dung của đơn phải nêu rõ căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá
sản và người nộp đơn phải nộp tạm ứng lệ phí phá sản, trừ trường hợp người
nộp đơn là người lao động.
* Thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Điều kiện để Toà án thụ lý đơn là nội dung đơn đã đầy đủ theo quy
định; người nộp đơn đã nộp đủ các tài liệu kèm theo, đã nộp tạm ứng lệ phí
phá sản; và không thuộc các trường hợp trả lại đơn.
Thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp thuộc
về Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp có sự


tranh chấp về thẩm quyền thì được giải quyết theo quy định chung của Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
* Quyết định mở thủ tục phá sản
Căn cứ để Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản là doanh nghiệp,
hợp tác xã đã lâm vào tình trạng phá sản. Thời hạn ra quyết định là 30 ngày
kể từ ngày thụ lý yêu cầu tuyên bố phá sản.
Quyết định mở thủ tục phá sản phải được thông báo trong thời hạn bảy
ngày cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp; các chủ nợ và người mắc nợ; và phải được đăng báo địa
phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có địa chỉ chính, báo hàng ngày của
trung ương trong ba số liên tiếp. Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục
phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để
làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản.
1.1.5.2 Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là một bước quan trọng trong thủ tục phá sản. Kết quả
của Hội nghị chủ nợ sẽ quyết định thủ tục phá sản sẽ được tiếp tục theo một
trong ba hướng sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được áp dụng
thủ tục phục hồi.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được áp dụng
thủ tục thanh lý và bị tuyên bố phá sản.
- Thủ tục phá sản sẽ bị đình chỉ (khi người tham gia Hội nghị chủ nợ
vắng mặt theo Điều 67).
1.1.5.3 Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Điều kiện Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi là Hội
nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua thủ tục phục hồi và doanh nghiệp, hợp tác


xã lâm vào tình trạng phá sản phải xây dựng phương án phục hồi. Phương án
phục hồi phải có đầy đủ các nội dung như: các điều kiện để phục hồi, thời hạn
phục hồi (không quá ba năm), các biện pháp cần thiết, và kế hoạch thanh toán
các khoản nợ. Thẩm phán sẽ xem xét phương án phục hồi và đưa ra để Hội
nghị chủ nợ xem xét và thông qua. Nếu được thông qua, Thẩm phán sẽ ra
quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, sau đó, Tổ quản lý,
thanh lý tài sản sẽ giải thể và doanh nghiệp, hợp tác xã bắt đầu thực hiện
phương án phục hồi dưới sự giám sát của Toà án và các chủ nợ.
Nếu thực hiện xong phương án phục hồi, Thẩm phán sẽ ra quyết định
đình chỉ thủ tục phục hồi và doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ được coi là chưa lâm
vào tình trạng phá sản.
1.1.5.4 Thủ tục thanh lý tài sản
Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong các trường
hợp sau:
- Trường hợp đặc biệt: doanh nghiệp, hợp tác xã đã được Nhà nước áp
dụng các biện pháp đặc biệt để phục hồi mà vẫn lâm vào tình trạng phá sản thì
không cần mở Hội nghị chủ nợ (Điều 78);
- Hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79);
- Theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất;
- Thủ tục phục hồi bị thất bại (Điều 80).
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phải bao gồm phương án phân
chia tài sản. Thủ tục thanh lý tài sản bị đình chỉ khi phương án phân chia tài
sản đã được thực hiện xong hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản
để thực hiện phương án phân chia tài sản.
1.1.5.5 Thủ tục tuyên bố phá sản
Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
trong các trường hợp sau:


- Đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản.
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp tạm ứng phí phá
sản mà chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp,
hợp tác xã không còn tiền và tài sản khác để nộp tạm ứng phí phá sản.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn tài
sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản.
Toà án có trách nhiệm thông báo công khai quyết định tuyên bố phá sản
như đối với quyết định mở thủ tục phá sản và phải gửi quyết định tuyên bố
phá sản cho cơ quan đăng kí kinh doanh để xoá tên doanh nghiệp, hợp tác xã
trong sổ đăng kí kinh doanh.
1.1.5.6 Thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp đặc biệt
Khoản 2 Điều 2 Luật Phá sản quy định: Chính phủ quy định cụ thể
danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp
phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh
vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên,
trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu.
Thực hiện quy định trên, Chính phủ đã ban hành hai nghị định là Nghị
định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/07/2006 hướng dẫn áp dụng thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp đặc biệt và Nghị định số 114/2008/NĐ-CP ngày 03/11/
2008 hướng dẫn áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác.
1.1.6 Trách nhiệm tài sản của người mắc nợ sau khi bị tuyên bố
phá sản
Phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân
và thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Luật Phá sản năm 2004 đã quy
định hậu quả của việc tuyên bố phá sản là không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản
của hai đối tượng này đối với các chủ nợ chưa được thanh toán, trừ trường


hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
1.1.7 Chế tài trong lĩnh vực phá sản
Chế tài trong pháp luật phá sản bao gồm bốn hình thức: chế tài dân sự,
chế tài kỉ luật, chế tài hành chính, và chế tài hình sự. Theo đó, người nào có
hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Đối với người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản,
Luật Phá sản quy định các đối tượng này có thể bị hạn chế quyền thành lập và
quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ một đến ba năm kể từ ngày doanh
nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản. Trong trường hợp doanh nghiệp bị
tuyên bố phá sản là doanh nghiệp nhà nước, các đối tượng này có thể bị cấm
đảm đương các chức vụ tương tự ở bất kì doanh nghiệp nhà nước nào một
cách vô thời hạn.
1.2

Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004

1.2.1 Tình hình ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật
Phá sản
Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004, có hiệu lực
thi hành từ ngày 15/10/2004. Để thực hiện Luật, các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành sau:
- Nghị quyết số 03/2005/NQ-TANDTC ngày 28 tháng 4 năm 2005 của
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy
định của Luật Phá sản;
- Quyết định số 01/2005/QĐ-TANDTC ngày 27 tháng 4 năm 2005 của
Chánh án Toà án nhân dân tối cao về Quy chế làm việc của Thẩm phán phụ
trách tiến hành thủ tục phá sản;
- Nghị định số 94/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 7 năm


2005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và HTX bị
phá sản;
- Nghị định số 67/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11 tháng 7 năm
2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và
tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản.
- Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP của Bộ Tài chính và
Bộ Tư pháp ngày 19 tháng 02 năm 2008 hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng
và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và
Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản.
- Nghị định số 114/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 11 năm
2008 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài
chính khác
- Nghị định số 10/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06 tháng 02 năm
2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục
phá sản.
Tính đến nay, còn một văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phá sản năm
2004 đã được Chính phủ thông báo công khai để lấy ý kiến nhân dân nhưng
chưa đưa được ban hành, đó là Nghị định quy định việc áp dụng Luật Phá sản
đối với các tổ chức tín dụng.
1.2.2 Kết quả thực hiện Luật Phá sản năm 2004
Theo báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản
có hiệu lực tính đến hết năm 2008, đã có 331 vụ phá sản được thụ lý. Cụ thể
như sau:
- Năm 2005, toàn ngành Tòa án đã thụ lý mới 11 vụ. Năm 2004 chuyển
qua 3 vụ, tổng cộng 14 vụ. Toà án đã giải quyết được 01 vụ (đạt 7,14%); còn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×