Tải bản đầy đủ

BÁO cáo SÁNG KIẾN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hưng Mỹ, ngày 20 tháng 3 năm 2017

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến : Một số phương pháp dạy học từ vựng Tiếng Anh hiệu quả
- Người thực hiện : Vũ Thành Trung
- Đơn vị công tác: Trường THCS Quang Trung , Hưng Mỹ, Cái Nước, Cà Mau
- Thời gian : Từ ngày 01 tháng 10 năm 2015 đến nay.
I/. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tên sáng kiến
“ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ VỰNG TIẾNG ANH HIỆU QUẢ”
2. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
a. Cơ sở lý luận
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI thế kỷ của công nghệ thông tin. Đất nước ta
đang trong thời kỳ phát triển lấy nền kinh tế tri thức làm nền tảng cho sự phát triển và
coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, nền giáo dục nước ta đang trong giai đoạn
đổi mới SGK, đổi mới phương pháp dạy học và hình thức kiểm tra đánh giá để hoàn
thành tốt nhiệm vụ đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đưa Việt Nam trở thành một
nước phát triển với sự văn minh giàu mạnh.
Để thực hiện được mục tiêu này bộ môn Tiếng Anh cần được quan tâm và chú

trọng đến chất lượng thực trong các nhà trường để đáp ứng được nguồn nhân lực sau này
có trình độ ngoại ngữ phục vụ phát triển đất nước,
b. Cơ sở thực tiễn
Thực tế việc dạy và học Tiếng Anh hiện nay, đặc biệt là dạy từ vựng đồng thời với
bốn kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ ở các trường THCS nói chung và trường THCS Quang
Trung nói riêng còn gặp nhiều khó khăn. Thể hiện ở sự né tránh của học sinh trong các
lần kiểm tra miệng hay qua việc cho các em thực hành giao tiếp với nhau trong các giờ
ôn tập.
Nhiều giáo viên khi lên lớp kiểm tra bài cũ đều than phiền việc học sinh không
nhớ từ vựng, không viết được câu hay khi thực hành giao tiếp thì rất máy móc. Các em
không biết linh động thay thế từ vựng vào câu để diễn đạt điều mình muốn nói. Điều này
1


gây mất thời gian của tiết dạy. Tình hình như trên cứ kéo dài thiếu đi giải pháp căn cơ.
Nhiều học sinh mặc dù được lên lớp nhưng bị hổng kiến thức, không theo kịp được yêu
cầu của lớp trên hay của cấp học tiếp theo. Bên cạnh đó có một thực tế là trong các báo
cáo chất lượng mỗi bộ môn cuối năm của nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên Tiếng
Anh ở các trường THCS, thường có kết quả là đạt hoặc vượt chỉ tiêu. Nhưng chất lượng
khảo sát đầu năm tiếp theo của mỗi bộ môn so với mặt bằng chung học sinh của bộ
môn ấy tại hai thời điểm thì lại khác xa nhau. Ví dụ như báo cáo chất lượng cuối năm
học 2014 – 2015 là vượt chỉ tiêu, nhưng khảo sát chất lượng bộ môn đầu năm học 2015
– 2016 thì kết quả lại rất thấp. Lý do thì có thể có nhiều, trong đó khoảng thời gian từ
cuối năm học này sang đầu năm học kia kéo dài gần ba tháng hè, thời gian này đủ dài để
kiến thức mới học bị quên đi với một người. Tuy nhiên, điều này phản ảnh thực tế là học
sinh đã không nhớ sâu kiến thức. Mà với ngôn ngữ , nó là công cụ để giao tiếp, nhưng
học sinh lại dễ dàng quên đi thì thật khó để tiếp thu kiến thức mới khi vào học trở lại.
Từ những vấn đề đã nêu tôi thấy thật cần thiết đưa ra SK phương pháp dạy học từ
vựng Tiếng Anh gắn liền với dạy bốn kĩ năng giao tiếp Nghe-Nói-Đọc-Viết rất hiệu quả
mà tôi đúc kết được từ kinh nghiệm dạy học. Tôi xem nó như một giải pháp căn bản
cho tình hình hiện nay. Bởi nó là sản phẩm của sự tìm tòi học hỏi, nghiên cứu và vận
dụng nghiêm túc của bản thân tôi trong thực tiễn dạy Tiếng Anh ở các trường khác nhau
trong huyện Cái Nước hơn 13 năm qua. Đề tài có tên “Một số phương pháp dạy học từ
vựng Tiếng Anh hiệu quả ”.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Không thể phủ nhận việc dạy từ vựng Tiếng Anh theo các phương pháp truyền
thống kết hợp phát triển các kĩ năng ngôn ngữ nghe – nói – đọc – viết là yếu tố căn bản
nhất trong dạy từ vựng. Tuy nhiên , các phương pháp dạy học dù hay thế nào cũng
không thể là nguyên tắc bất di bất dịch và luôn phù hợp với bất kì thời đại nào, bất kì
hoàn cảnh nào. Hơn nữa các phương pháp dạy học cho dù là luôn đúng ở mọi thời đại thì


nó cũng không thể áp dụng dập khuôn cho tất cả các lớp học hay các đối tượng học
sinh được. Từ thực tế như đã nêu trên và như ở phần I. Thì rất cần thiết phải tìm ra sự
phối hợp các phương pháp dạy sẵn có thật linh hoạt kết hợp với việc bổ sung một
phương pháp học tập mới tạm gọi là QMA (Quick – mind attention) , một phương pháp

2


ra đời từ việc tổng hợp kinh nghiệm dạy từ vựng Tiếng Anh của tôi sẽ được nêu cụ thể
trong SK này.
Cho dù có nói gì chăng nữa thì việc dạy và học ngoại ngữ nói chung, dạy Tiếng
Anh nói riêng vẫn là việc dạy từ mới, cụm từ mới, cấu trúc câu mới như thế nào để khi
áp dụng học sinh biết cách vận dụng những kiến thức thu được này vào trong giao tiếp
thực tế với người nước ngoài, hoặc trong công việc mới là mục tiêu cơ bản trước mắt
của dạy một ngôn ngữ.
Trong các tiết dạy Tiếng Anh, giáo viên cần xem xét các thủ thuật khác nhau cho
từng bước dạy bài học mới như; gợi mở, giới thiệu hoặc tạo ngữ cảnh (set the sence),
dạy từ, lấy ví dụ của từ trong câu cụ thể, đọc từ và câu chứa từ, lắng nghe các từ trong
tình huống giao tiếp từ băng đĩa, videos và cuối cùng kiểm tra để củng cố từ vựng. Muốn
vậy ngay từ khi soạn giảng, giáo viên cần đặt ra và trả lời các câu hỏi:
* Có nên dạy tất cả những từ mới hay chỉ nên dạy số lượng từ nhất định?
* Nên dùng mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới như thế nào cho
phù hợp?.
* Nên dùng tranh ảnh, đồ vật thật để giới thiệu từ mới thế nào?
* Phải làm sao để đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc? vận dụng từ vựng
vào cấu trúc mà không gây áp lực kiến thức?
* Làm thế nào để khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh?
Ngoài việc đặt ra và trả lời các câu hỏi trên, giáo viên cũng cần nắm rõ những đặc
trưng của việc dạy các kĩ năng Tiếng Anh là không được tách rời với dạy từ vựng.
Giải quyết được các vấn đề trên một cách thỏa đáng, chính là giáo viên đã thực hiện việc
dạy Tiếng Anh căn bản và hiệu quả. Muốn vậy ngay từ đầu giáo viên cần xem xét các
phương pháp, thủ thuật khác nhau cho từng bước xử lý từ vựng trong các tiết dạy. Dưới
đây là những điều cơ bản mà giáo viên cần thực hiện để đám bảo dạy tốt từ vựng kết hợp
phát triển 04 kĩ năng ngôn ngữ; nghe, nói đọc và viết.
1/ Lựa chọn từ để dạy cho phù hợp
- Trong việc học từ vựng, người ta chia từ vựng thành hai loại là từ vựng chủ động
(Active vocabularies) và từ vựng bị động (passive vocabularies).
-> Từ vựng chủ động là những từ bạn hiểu, đồng thời có thể sử dụng khi đọc và viết.
Số lượng tử chủ động ít hơn rất nhiều so với từ bị động.
3


Ví dụ: các danh từ (N) hay động từ (V) có ý nghĩa trực tiếp liên quan đến chủ đề hay
nội dung của bài học.
- Chỉ giải thích cho học sinh ý nghĩa các passive vocabularies (từ vựng bị động ) khi cần
thiết.
-> Passive vocabularies (từ vựng bị động) là những từ hoặc cụm từ ta có thể hiểu,
đọc và nghe thông qua ngữ cảnh, qua tình huống giao tiếp, mà ta không cần phải ghi
nhớ chúng.
Ví dụ: các từ để diễn đạt các khái niệm,ý nghĩa của từ ngữ hay tên của sự vật đang
được nói đến trong bài học. Như các giới từ, mạo từ, liên từ v.v…
- Số lượng Active vocabularies cần dạy trong bài tùy thuộc vào nội dung bài và trình độ
của học sinh.
- Với Passive vocabularies ta không cần cho học sinh ghi chép về học thuộc mà chỉ cần
gợi ý cho học sinh hiểu hoặc giải thích ý nghĩa cho học sinh là đủ.
- Một bài nên dạy bao nhiêu Active vocabularies là đủ?
Trong khi lựa chọn từ để dạy, ngoài các vấn đề nêu trên tôi còn xem xét đến hai điều kiện
sau:
+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu ngữ cảnh không ?
+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ? Tức là nó có mang tính học
thuật hay mang tính văn chương quá không?
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu ngữ cảnh và phù hợp với trình độ của học
sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó tôi sẽ dạy cho học sinh.
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu ngữ cảnh trong bài nhưng quá trừu tượng so
với trình độ của học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó tôi chỉ gợi ý cho
học sinh tự hiểu ý nghĩa trong phạm vi bài đó thôi. Ví dụ như cách sử dụng của từ It’s
trong các trường hợp sau của Tiếng Anh lớp 6.
Ví dụ 1: It is hot in the summer. (Unit 13. Activities and the seasons) – trang 134, bức
tranh thứ nhất. “It” chỉ thời tiết – nghĩa trong tình huống này là thời tiết, là trời. Nó là
một đại từ thay thế học sinh đã được gặp nhiều nên nó được xem là là từ thụ động,
giáo viên chỉ cần giảng sơ qua cho học sinh nhớ là được.
Ví dụ 2: Mexico City is the biggest city in the world. It has the population of 13.6
million.
“It” Trong trường hợp này chỉ thành phố Mexico, nó cũng là một đại từ thay thế.
4


- Khi dạy từ vựng giáo viên chỉ nên dạy từ vựng chủ động (Active vocabularies). Vì
việc học sinh nắm được Active vocabularies sẽ biết rõ ba yếu tố cơ bản cần thiết là :
+ Form
+ Meaning
+ Use
- Giáo viên cũng không nên chỉ đơn thuần giúp học sinh biết chữ viết, cách phát
âm và ý nghĩa từng từ vựng chủ động như từ điển đưa ra mà cần cho học sinh biết cách
nhấn, luyến âm với các từ kết hợp trước hoặc sau nó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là phải
cho học sinh hiểu được ý nghĩa cụ thể của từ trong những ngữ cảnh khác nhau. Ví dụ
như từ “blue” một bài nói về màu sắc, nó có nghĩa là xanh dương hay xanh da trời,
Nhưng nếu xét trong các tình huống sau nó lại có những ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ
cảnh.
Ví dụ 1: This ball is blue.

-> Quả bóng này màu xanh dương..

Ví dụ 2: It’s a blue music.

-> Nó là một bản nhạc buồn.

Ví dụ 3: He was beaten black and blue!
-> Anh ta bị đánh đến thâm tím hết cả mình mẩy!
Blue trong trường hợp ví dụ 3 không được hiểu theo nghĩa riêng lẻ nữa mà nó phải được
hiểu theo nghĩa của cụm thành ngữ black and blue – thâm tím.
Như vậy ở bài dạy về màu sắc này, thì blue được nhắc đến lần đầu tiên với nghĩa màu
xanh dương -> nó là từ vựng mới và được xem là passive vocabulary. Học sinh cần
được ghi vào vở như sau:
Blue: (adj) – Màu xanh dương -> Ví dụ 1: This ball is blue.
Còn nó mang các ý nghĩa khác nhau ở ví dụ 2 và 3 thì blue được coi là passive
vocabulary. Giáo viên không bắt buộc học sinh ghi nghĩa hay ví dụ vào vở mà chỉ lấy ví
dụ và giải thích cho học sinh hiểu, em nào muốn nhớ thì tự ghi ví dụ và ý nghĩa.
2. Sử dụng các thủ thuật gợi mở, giới thiệu từ mới
- Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới cho phù hợp, sử
dụng tranh ảnh, đồ vật thật để giới thiệu từ mới. Tranh ảnh sử dụng phải đảm bảo
nội dung không gây phản cảm, không quá nhỏ. Đồ vật thật có thể do giáo viên và học
sinh sưu tầm rồi làm thành mô hình thu nhỏ hoặc mua từ shop đồ chơi làm đồ dùng trực
quan tạo thành bộ sưu tập riêng của lớp để tiện dùng.
5


- Dưới đây là các thủ thuật dạy từ mới nên áp dụng.
a. Visual (nhìn) : Cho học sinh nhìn tranh ảnh, vẽ phác họa cho các em nhìn. Việc
này giúp giáo viên ngữ nghĩa hóa từ cho học sinh một cách nhanh chóng.
Ex:

a car

a flower



b. Mine (điệu bộ) : Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ.
e.g. bored
e.g. (to) jump
Teacher looks at watch, makes
Teacher jumps.
bored face, yawns.
Teacher asks, “What am I doing ?”
Teacher asks, “How do I feel ?”
Key: You are jumping.
Key:
You are sleepy.
c. Reality (Vật thật) : Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được.
e.g. limes (countable), rice (uncountable),
Teacher brings real limes and rice into the
class.
Teacher takes each type of these items
to ask “What’s this ?”
Key: limes, rice

e.g. open (adj), closed (adj)
Teacher opens and closes the door
Teacher says, “Tell me about the
door” :
it’s ......... what ?
Key: opened/ closed

d. Situation / explanation :
e.g. honest
Teacher explains, “I am not tall.”
Teacher asks, “ How am I ? Tell me the word in Vietnamese”.
Key: Thấp
e. Examples:
e.g. furniture
Teacher lists examples of furniture :
“tables, chairs, beds - these are ...
furniture... Give me another example of...
furniture...
Suggestive keys: wardrobe, couches,
curtain, lighting fixture

e.g. (to) complain
Teacher says, “This room is too noisy
and too small. It’s not good (etc)”.
Teacher asks, “What am I doing?”

f. Synonym \ antonym (đồng nghĩa \ trái nghĩa)
Giáo viên dùng những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.
e.g. intelligent
e.g. stupid
T. asks, “What’s another word
T. asks “What’s the opposite word for
for clever ?”
clever ?”
6


g. Translation (dịch) : Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để
giảng nghĩa từ trong tiếng Anh. Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách
nào khác. Thủ thuật này thường được dùng để dạy các từ trừu tượng, hoặc để giải quyết
một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép. Giáo viên gợi ý học sinh tự dịch
từ đó.
e.g. (to) forget
Teacher asks, “How do you say ‘quên’ in English ?”
3. Tuân thủ các bước giới thiệu từ mới , linh hoạt trong sử dụng các phương pháp
giới thiệu từ mới.
* Các bước hay trình tự giới thiệu từ mới nên tuân thủ là: nghe, nói, đọc và viết.
Không nên bắt đầu từ hoạt động nào khác “nghe”. Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ
đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những
hoạt động khác. Hãy giúp cho học sinh có một thói quen học từ mới đồng thời với bốn
kĩ năng nghe – nói – đọc – viết không tách rời trong một bài học.
-> Nghe : Giáo viên đọc mẫu hoặc cho học sinh nghe băng đọc mẫu từ, học sinh lắng
nghe và ghi lại từ nghe được ra giấy nháp.
-> Nói : Giáo viên nói câu chứa từ mới, học sinh nói lại chỉ từ đó.
-> Đọc : Giáo viên viết từ lên bảng hoặc cho học sinh nghe băng đọc mẫu từ. Học sinh
đọc nhẩm lại từ nghe được.
-> Viết : Học sinh viết từ vào giấy nháp theo phương pháp QMA rồi mới viết vào vở.
* Giáo viên nên chuyển đổi linh hoạt các phương pháp giới thiệu từ mới
+ phương pháp quy nạp:
- Giáo viên chủ động sử dụng trang ảnh, đồ vật thật để đưa ra các từ vựng mới liên
quan tới chủ đề bài học, sau đó hỏi học sinh cho biết chủ đề dựa vào các từ đã nêu.
+ phương pháp song hành:
- Giáo viên có thể giới thiệu chủ đề trước rồi gợi ý học sinh nêu ra các từ có thể
liên quan tới chủ đề. Các từ mà học sinh nêu có thể bằng Tiếng Việt hoặc Tiếng Anh.
* Giáo viên nên tuân
4. Dạy từ mới nên gắn liền với cấu trúc mới của bài
Giáo viên nên thiết lập mối quan hệ giữa từ cũ và từ mới với cấu trúc câu mới. Từ
vựng phải được củng cố liên tục thông qua các câu ví dụ, các bài tập, qua các trò chơi ô
7


chữ. Ví dụ khi dạy về các tính từ (Adjectives) trong cấu trúc câu She is tall. S + tobe +
Adj. (Unit 9. Parts of the body). Trong ví dụ: She is short. Ta có thể liên hệ với từ các
em đã biết là từ tall. Và hỏi các em sẽ viết câu thế nào vẫn giữ được ý của câu mà lại sử
dụng được từ tall. Và đáp án là She is not tall.
5. Thường xuyên sử dụng các thủ thuật kiểm tra, củng cố từ mới
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu từ mới thôi không đủ, mà chúng ta còn phải thực
hiện các bước kiểm tra và củng cố từ vựng vào đầu giờ, vào cuối mỗi phần học hoặc
cuối tiết học. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố sẽ khuyến khích học sinh học tập tính
cực và hiệu quả hơn. Trong hoạt động này, giáo viên có thể kiểm tra từ mới dưới dạng
các trò chơi như:
- Rub out and remember: Xóa phần từ đã giới thiệu trên bảng và yêu cầu học
sinh tái tạo lại ở trên bảng
- Slap the board: Viết phần từ vừa giới thiệu hoặc dán tranh thể hiện từ trên
bảng. Yêu cầu học sinh vỗ vào phần từ hoặc tranh khi nghe giáo viên đọc từ đó (từ trên
bảng bằng tiếng Anh thì đọc bằng tiếng Việt và ngược lại)
- What and Where: Viết từ vừa giới thiệu vào các vòng tròn trên bảng, cho học
sinh đọc và xóa dần các từ, sau đó yêu cầu học sinh viết lại từ đúng vị trí cũ của nó.
- Jumbled words: Giáo viên viết các từ với các chữ cái xáo trộn, sau yêu cầu
học sinh viết lại từ cho đúng.
- Word square: Giáo viên chuẩn bị ô chữ có chứa các từ đã giới thiệu, yêu cầu
học sinh khoanh tròn các từ mà các em tìm thấy.
- Crossword Puzzle: Giáo viên chuẩn bị hàng ô chữ được đánh số và yêu cầu học
sinh chọn hàng. Giáo viên đọc lời giải thich cho hàng đó và cả nhóm đoán từ đó là gì.
- Netword: Học sinh viết mạng từ theo chủ điểm
- Bingo: Học sinh chọn những từ trong số các từ mà giáo viên gợi ý, sau khi
nghe giáo viên đọc, nếu học sinh nào nghe có được 5 theo hàng ngang từ trước nhất thì
hô to “bingo”
- Guessing game: Một học sinh viết từ vào một tờ giấy hoặc sử dụng hình ảnh
từ, sau đó dùng các từ khác miêu tả, diễn đạt từ đó cho các học sinh khác đoán.
- Hot seat: Giáo viên ghi từ hoặc cụm từ lên bảng, những người còn lại trong
nhóm miêu tả chúng để cho người đại diện có thể nói được từ hoặc cụm từ đó.
8


- Matching: Một cột giáo viên viết từ, còn cột thứ hai viết khái niệm hoặc định
nghĩa không theo thứ tự của cột thứ nhất, sau yêu cầu học sinh nối từ với khái niệm hoặc
định nghĩa của chúng.
- Ordering: Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ vào vở, sau đó giáo viên đọc
một đoạn văn ngắn có chứa các từ đó, học sinh nghe và đánh dấu thứ tự các từ theo trình
tự đọc.
- Reproduction : Học sinh đọc lại những từ vựng bằng cách nhìn vào những
tranh ảnh, vật thật, từ đồng nghĩa, trái nghĩa, hành động, ví dụ, tình huống, từ tương
đương tiếng Việt như trong phần giới thiệu từ vựng.
Các kĩ năng kiểm tra được thực hiện ở mỗi giờ dạy khác nhau và có thể linh
động thay đổi luật chơi trong các trò chơi để tạo ra sự mới mẻ, không gây nhàm chán
cho học sinh. Song ta cũng cần chú ý đến đối tượng học sinh, hay chính là trình độ nhận
thức của học sinh nhanh hay chậm để đảm bảo việc kiểm tra được thực hiện thường
xuyên và với mọi học sinh. Đối với các học sinh khá, tiếp thu nhanh giáo viên sử dụng
các kĩ năng thường mang tính chất yêu cầu học sinh tái tạo lại phần từ đã học như ;
Rubout and remember, slap the board, what and where, netword, guessing game ...
Đối với học sinh yếu, tiếp thu chậm hơn thì sử dụng các cách kiểm tra mang tính gợi mở
từ như: jumbled words, wordsquare, matching, ordering ...
PHẦN BỔ SUNG
Áp dụng dạy và hướng dẫn học sinh học từ vựng theo phương pháp QMA đồng
thời với thực hiện 05 nội dung nêu trên.
a. Phương pháp QMA là gì?
QMA , là một phương pháp dạy học từ vựng cho người học Ngoại ngữ, là viết tắt
của các chữ cái trong cụm từ Tiếng Anh Quick - mind attention. Nghĩa là sự tập trung
tư duy nhanh.
Phương pháp này do bản thân tôi đúc kết trong quá trình học và dạy Tiếng Anh,
xuất phát từ tiêu chí mà tôi đặt ra trong mỗi tiết dạy phải luôn đảm bảo cho học sinh hiểu
và nhớ được từ vựng hoặc cụm từ mới thông qua cấu trúc câu, vận dụng nói và viết
chúng với câu cụ thể ngay tại lớp học, để các em có thể nhớ được lâu và tự nhiên nhất
(nhớ được từ thì gợi nhớ đến câu, nhớ đến câu lại nhớ ra tình huống, nhớ được tình
huống thì gợi nhớ được chủ đề bài học).
9


b. Áp dụng phương pháp QMA như thế nào?
Trong khi dạy giáo viên luôn yêu cầu học sinh sử dụng giấy nháp thường xuyên
để viết nháp tốc kí từ vựng mới của bài học gắn với câu cụ thể trước khi nói , đọc hoặc
ghi vào vở . Trong khi viết, các em phải nhẩm đọc nhanh cả câu theo cảm âm đã được
nghe trong băng hay nghe từ giáo viên. Câu này nên lấy là câu đã có sẵn trong sách giáo
khoa hoặc do giáo viên đưa ra qua ví dụ, gắn liền với điểm ngữ pháp mới trong bài học.
Khi viết nháp học sinh phải tốc kí, không cần viết đẹp, nhưng chữ phải viết đúng nhớ
chỗ chấm, phẩy. Trong khi viết học sinh phải đồng thời nhẩm đọc nhanh cả câu đó
nhưng tay viết thật nhanh chỉ từ mới đó thôi.
c. Ưu điểm của phương pháp QMA
- Học sinh tập trung cao vào bài học.
- Học sinh nhớ được các từ khóa trong bài học và từ đó nhớ được tình huống đối thoại
hoặc trường hợp sử dụng từ.
- Học sinh ý thức hơn trong việc đảm bảo chính xác khi viết hay khi nói.
- Giúp học sinh nâng cao khả năng đọc trôi chảy.
-Tạo phản xạ hỏi đáp nhanh trong giao tiếp và cách sử dụng từ linh hoạt hơn.
- Giúp học sinh tập tính tư duy nhanh khi đang nói nhanh.
- Hạn chế được sự phân tâm của học trò trong tiết học vào những vấn đề khác.
- Giáo viên có thể dạy từ lồng ghép với quá trình dạy bốn kĩ năng Tiếng Anh.
d. Những yêu cầu để thực hiện phương pháp QMA trong dạy và học từ vựng
Phương pháp này có những đòi hỏi và cũng là các yêu cầu bắt buộc để có thể áp dụng
thành công đối với cả người dạy và người học.
+ Thứ nhất, đòi hỏi giáo viên cần luôn nhắc nhở, kiểm tra và đôn đốc học sinh triệt để
sử dụng giấy nháp.
+ Thứ hai, trước khi viết một mẫu câu mới vào vở dưới dạng ví dụ, câu cần phải chứa
từ vựng mới, và học sinh cần được giáo viên nhắc nhở phải viết tốc kí câu đó ra giấy
nháp trước mới được ghi mẫu câu vào vở.
+ Thứ ba, phương pháp này đòi hỏi học sinh kiên trì và tự giác viết nháp liên tục như
một thói quen thường xuyên với sự tập tư duy nhanh trong thời gian ngắn hạn.
+ Cuối cùng, giáo viên phải thường xuyên đưa ra dạng bài tập, kiểm tra bài cũ đầu mỗi
tiết học sao cho phù hợp với thời lượng, mức độ tiếp thu của học sinh theo kiểu sử dụng
10


từ khóa đã cho để viết ra một câu bất kỳ có chứa từ đó . Nếu không làm bài tập dạng này
thường xuyên sẽ không phát huy hết hiệu quả của phương pháp.
III/. ĐÁNH GIÁ TÍNH MỚI, TÍNH HIỆU QUẢ VÀ KHẢ THI, PHẠM VI ÁP DỤNG
1. Tính mới của sáng kiến:
Sáng kiến có các kết quả so sánh, đối chiếu giữa hai thời điểm khảo sát chất lượng
bộ môn Tiếng Anh trước và sau khi áp dụng trong cùng một năm học rất tỉ mỉ và xác
thực, trong đó có phương pháp QMA lần đầu tiên được áp dụng song song với các
phương pháp truyền thống và nó đã mang lại hiệu quả sau một thời gian ngắn áp dụng.
Đặc biệt là phương pháp này chưa từng xuất hiện trong bất kỳ tài liệu nghiên cứu nào và
nó đã chứng minh được tính khả thi thông qua các kết quả so sánh của các bài khảo sát
được tính trung bình cộng áp dụng khảo sát trên đối tượng là các học sinh lớp 6 mà tôi
dạy trong năm học 2015 – 2016 . Sau khoảng thời gian áp dụng SK được 04 tháng thì tôi
đã tiến hành một khảo sát riêng để biết phản ứng của học sinh trong việc áp dụng
phương pháp dạy và học QMA trong giảng dạy. Mẫu phiếu khảo sát về áp dụng phương
pháp này cho việc học từ vựng của học sinh như mô tả trang bên.
(Xem bảng trang 12)

11


Họ và tên học sinh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lớp: . . . . . . . . . . .
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN

(Về sử dụng phương pháp “ Quick - mind attention” (QMA) trong học Tiếng Anh)
* Em hãy chọn phương án đúng nhất cho nhận xét sau về sử dụng phương pháp học QMA trong việc học
Tiếng Anh:
1. Việc sử dụng phương pháp học QMA: (2.5 đ)
A. không giúp em tập trung tốt trong tự học, khó thực hiện theo qũi thời gian của em.
B. giúp em tập trung tự học tốt hơn.
C. dễ thực hiện vì em có thể học ngay cả khi đang ngồi xem Tivi.
D. cả B và đều đúng
2. Với phương pháp học QMA: (2.5 đ)
A. em thấy tự tin khi học bằng phương pháp này.
B. em không nghĩ cách học này giúp ích cho em, em thấy không cần phải viết nháp nhiều.
C. cách học này giúp trí óc của em luôn nhớ về những ý chính trong mỗi đoạn hội thoại thông qua các từ khóa
của mỗi câu.
D. Cả A và C.
3. Sau một thời gian áp dụng phương pháp học QMA: (2.5 đ)
A. em thấy vốn từ của em vẫn không được cải thiện
B. em có thể đọc trôi chảy hơn, vốn từ vựng nhiều lên từng ngày
C. em thấy khó nhớ các câu hơn trước
D. cả A và C
4. Nhờ học bằng phương pháp QMA: (2.5 đ)
A. em thấy không còn lo nhiều về việc học Tiếng Anh nữa
B. em thấy cách học này không hiệu quả bằng cách học của riêng em
C. em thấy học Tiếng Anh thú vị hơn trước
D. cả A và C đều đúng

Theo mẫu trên, học sinh nào làm bài khảo sát này có điểm từ 7.5 trở lên (tương đương
chọn đúng từ 03/ 04 câu) thì được xem là em học sinh đó đã thấy được hiệu quả và đang
vận dụng phương pháp vào việc học ở lớp cũng như tự học ở nhà. Và điểm này là đạt
xét về mức độ phù hợp của phương pháp với người học. Dưới 03 câu đúng là chưa đạt.
c. Đáp án phiếu thăm dò ý kiến
12


1- D, 2 - D, 3 - B, 4 - D
Và kết quả của việc áp dụng phương pháp dạy vào học từ mới QMA cùng lúc với
các phương pháp dạy truyền thống được mô tả qua số liệu thống kê kết quả ở phần 2c
bên dưới.
2. Tính hiệu quả và khả thi của SK.
Việc áp dụng SK của tôi vào giảng dạy đã mang lại kết quả như mong đợi. Kết
quả so sánh trước khi triển khai SK với sau khi triển khai cụ thể như sau:
a. số liệu khảo sát kết quả học tập trước khi áp dụng sáng kiến
- Tổng số học sinh lớp 6 (6A1, 6A2, 6A3, 6A4 và 6A5) là 125.
- Số học sinh tham gia khảo sát 125 em/ 125 bài/ lần x 03lần khảo sát. Điểm trung bình
cộng như sau:
* Giỏi : 5%
* Khá: 15,1%
* Tb: 32.7%
* Yếu 28.3%
* Kém 18,9%
=> Kết quả cho thấy chỉ có 52,8% đạt Tb trở lên. Số học sinh yếu kém chiếm tỉ lệ rất
cao. Trong khi đó chỉ tiêu bộ môn Tiếng Anh năm học 2015 -2016 nhà trường đề ra đầu
năm với học sinh khối 6 là kết quả cuối năm đạt từ 88.4% Tb trở lên. Vậy con số 52,8%
so với 88,4% cần khoảng cách tới 35,6% mới đạt.
b. kết quả học tập sau khi áp dụng sáng kiến được hơn 07 tháng.
- Tổng số học sinh lớp 6 (6A1, 6A2, 6A3 và 6A4 ) là 123 ( giảm 02 so với đầu năm).
- Số bài khảo sát là 123/ 123 em. (Với 05 bài kiểm tra mỗi em). Tính điểm trung bình
cộng rồi đưa ra tổng hợp % như sau:
- Có 88,7% học sinh đạt tb trở lên. Số học sinh yếu kém đã giảm chỉ còn 11.3 %. So với
trước khi áp dụng SK thì kết quả này đã vượt qua 24.3 bậc. Đây là một kết quả khá ấn
tượng, chứng tỏ hiệu quả của phương pháp dạy.
c. Kết quả khảo sát cảm nhận của học sinh về phương pháp học QMA.
- 89/123 học sinh đạt điểm 10
- 19/123 học sinh đạt điểm 7,5
- 15/123 học sinh đạt điểm 4.5. Không có trường hợp dưới điểm 4.5.
13


- > Kết quả khảo sát cho thấy có 108/ 123 phiếu có điểm 7,5 trở lên đạt (87.8%).
Điều này cho thấy khi áp dụng phương pháp dạy từ vựng QMA học sinh học tập rất hiệu
quả.
3. Phạm vi áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến này tuy là nghiên cứu và áp dụng trên đối tượng học sinh lớp 6, nhưng
việc triển khai trong thực tế hoàn toàn phù hợp với cả các cấp học từ THCS đến THPT.
Nó không những chỉ áp dụng được cho HS ở trường THCS Quang Trung mà còn có thể
rất khả thi khi áp dụng cho học sinh các trường THCS, THPT trong toàn tỉnh .
IV. KẾT LUẬN
Qua việc áp dụng kinh nghiệm dạy học từ vựng như đã nêu, tôi nhận thấy
- Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn.
- Đa số học sinh đã biết vận dụng các từ mới vào các câu ngay tại lớp học.
- Vốn từ vựng của các em ngày càng được nâng lên.
- Chất lượng bộ môn ngày được cải thiện.
- Các em học sinh yếu kém có thể sử dụng được từ vựng vào những câu đơn
giản. Những học sinh khá giỏi có thể sử dụng từ vựng linh động trong những câu phức
tạp hơn. Điều này chứng tỏ các phương pháp mà tôi đang áp dụng là rất hiệu quả. Nhưng
tôi nghĩ cho dù người giáo viên có áp dụng phương pháp dạy hay nào đi chăng nữa thì
việc dạy trên thực tế vẫn rất cần tinh thần tự giác học tập, sự cộng tác của học sinh với
người dạy, đồng thời cũng không thể áp dụng máy móc dập khuôn bất kỳ lý thuyết nào
mà cần phải lựa chọn các phương pháp một cách phù hợp, linh hoạt. Giáo viên giảng dạy
phải không ngừng học hỏi, sáng tạo để tìm ra các thủ thuật truyền đạt ngắn nhất, nhanh
nhất, mang lại hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó là sự kết hợp vào các sắc thái biểu cảm,
tình cảm thái độ đúng mực, sự tận tâm của người giáo viên với học sinh. Có như vậy thì
mới đạt được kết quả mong muốn. Sáng kiến kinh nghiệm của tôi tuy được đầu tư
ghiên cứu tỉ mỉ, trình bày sao cho hợp lý nhất, nhưng rất có thể có những thiếu sót mà
trong quá trình hoàn thành tôi chưa nhận ra. Vậy kính mong quý lãnh đạo và đồng
nghiệp góp ý cho tôi để tôi bổ sung và hoàn thiện từ đó tiếp tục áp dụng SK trong
việc giảng dạy ở những năm tiếp theo.
Tôi xin trân thành cảm ơn mọi ý kiến đóng góp.
14


Xác nhận của Hiệu trưởng

Người báo cáo

ĐỖ HOÀNG HỒ LIỆP HẢI

VŨ THÀNH TRUNG

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×