Tải bản đầy đủ

Phân tích chi phí giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần may xuất khẩu hà phong

Lời cảm ơn
Bài viết dưới đây là công sức sau một thời gian thực tập của em tại công ty CP may
xuất khẩu Hà Phong với các kiến thức em đã được học tại trường. Là những ý hiểu của
em về công ty CP may xuất khẩu Hà Phong và kế toán thực tế tại doanh nghiệp. Do vậy,
bài viết này mang nhiều tính chủ quan của bản thân em, do đó sẽ không tránh khỏi những
sai sót, nhầm lẫn. Em kính mong các thầy cô trong Khoa Kế toán – Kiểm toán giúp em
chỉnh sửa và hoàn thiện bài viết của em được tốt hơn.

Cháu/Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chú Nguyễn Thanh Thủy, Giảng
viên hướng dẫn Ts. Phạm thị Thư và chị Nguyễn Thị Lan đã tận tình giúp đỡ em/
cháu thực hiện bài báo cáo thực tập tổng hợp này.
Cháu/Em xin chân thành cảm ơn!


Mục Lục
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM............................................................................................................................... 1
1.1.

Một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.. .1


1.1.1.

Khái quát chung về chi phí sản xuất.........................................................1

1.1.2.

Khái niệm về giá thành sản phẩm...........................................................14

1.1.3.

Hạ giá thành sản phẩm...........................................................................20

1.1.4.

Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm...................20

1.2.

. Nội dung phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm....................21

1.2.1.

Ý nghĩa của việc phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.....21

1.2.2.

Các nội dung phân tích chi phí sản xuât và giá thành sản phẩm..........22

1.3.

Phương hướng và biện pháp hạ giá thành sản phẩm...................................32

1.3.1.

Phương hướng.........................................................................................32

1.3.2.

Các biện pháp hạ giá thành sản phẩm....................................................32


CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT KHẨU HÀ PHONG.............35
2.1

Tổng quan về đơn vị thực tập và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến chi phí

sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty CP may xuất khẩu Hà Phong...........35
2.1.1. Tổng quan về đơn vị thực tập.........................................................................35
2.1.2. Ảnh hưởng nhân tố môi trường đến tình hình thực hiện chi phí và giá thành
sản phẩm.................................................................................................................. 41
2.2.

Kết quả phân tích các yếu tố liên quan đến chi phí sản xuất và giá thành

sản phẩm tại công ty cổ phần may xuất khẩu hà phong.........................................46


2.2.1.

Đặc điểm công tác tổ chức sản xuất và tính giá thành tại công ty Cp

may xuất khẩu Hà Phong.......................................................................................46
2.2.2.

Đặc điểm công tác tổ chức sản xuất và tính giá thành tại công ty Cp

may xuất khẩu Hà Phong.......................................................................................46
2.2.3.

Phân tích tình hình chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm................47


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Năm 2017 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đạt 31 tỷ USD, tăng hơn
10% so với năm 2016, với tổng giá trị thặng dư ước đạt gần 16 tỷ USD. Con số này đã
đưa ngành dệt may vươn lên trở thành ngành có giá trị thặng dư xuất khẩu lớn nhất năm
2017. Tuy nhiên sự tăng trưởng mạnh mẽ đó lại đang phải đương đầu với một ngịch cảnh
là có tới hơn 86% nguyên liệu sản xuất là nguyên liệu ngoại nhập tương đương với gần
19 tỷ USD tăng hơn 11% so với năm 2016. Ngoài ra, nước ta là 1 trong 5 quốc gia xuất
khẩu hàng dệt may nhiều nhất vào thị trường Mỹ nhưng lại là nước duy nhất không dùng
nguyên phụ liệu trong nước. Rõ ràng, giá cả nguyên liệu ngoại nhập luôn là “đắt đỏ”, tác
động trực tiếp làm tăng chi phí sản xuất và đẩy giá thành sản phẩm ngành may mặc lên
cao, và việc quá phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập cũng làm cho quá trình sản
xuất bị động và gặp nhiều khó khăn.
Với mục tiêu phấn đấu là 34 tỷ USD giá trị xuất khẩu cho năm 2018, càng đặt ra
cho tòan ngành may mặc phải tìm ra được những biện pháp hữu hiệu để tối thiểu chi phí
sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Là một doanh nghiệp lớn trong xuất khẩu mặt hàng may mặc, trong những năm
vừa qua công ty Cp may xuất khẩu Hà Phong đã có những đóng góp đáng kể đến sự phát
triển của ngành. Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã đi sâu tìm hiểu, tiếp cận với
các yếu tố về chi phí sản xuất cũng như những nỗ lực tiết kiệm chi phí sản xuất tại công
ty Cp may xuất khẩu Hà Phong. Em xin lựa chọn đề tài: “ Phân tích chi phí sản xuất va
giá thành sản phẩm tại Công ty CP may xuất khẩu Hà Phong”.
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm
và phân tích các yếu tố chi phí, giá thành sản phẩm

Phân tích đánh giá thực trạng về phân tích và tổ chức phân tích chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại công ty may XK Hà Phong. Từ đó tìm ra những ưu điểm,
cũng như những tồn tại hiện có trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm may mặc tại
công ty cũng như công tác tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Từ
đó rút ra những đánh giá cho việc phân tích và tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại công ty, đề xuất những kiến nghị, góp phần hoàn thiện hơn công tác
phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của công ty.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1) Đối tượng nghiên cứu: phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty
may XK Hà Phong.


2) Về phạm vi nghiên cứu
 Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về phân tích chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm chủ yếu trên góc độ tìm hiểu về phân tích chi phí và giá thành tại công
ty may XK hà Phong
 Về không gian nghiên cứu: Đề tài khảo sát tại công ty CP may XK Hà Phong. Địa
chỉ xã đoan bái - huyện hiệp hòa- tỉnh bắc giang
 Về thời gian nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu thực tế trong thời gian năm 2017.
4. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
a. Phương pháp thu thập số liệu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
 Thực hiện tìm hiểu và thu thập thông tin và số liệu từ phần mềm kế toán
của công ty.
 Các sổ kế toán chi tiết: Sổ vật tư, sổ nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu,
hàng hóa, sổ theo dõi chi tiết các tài khoản hàng tồn kho(152, 153, 154,
155..), sổ chi tiết giá vốn, sổ chi tiết các tài khoản chi phí NCTT, SXC…
 Các bảng phân bổ khấu hao TSCĐ, công cụ, dụng cụ….
 Bảng hạch toán các chi phí dịch vụ thuê ngoài, dịch vụ vận tải, dịch vụ kho
bến bãi, các chi phí liên quan đến xuất khẩu hàng hóa….
 Các kết quả tiến hành phân tích của công ty tại những kỳ trước.
- Phương pháp phỏng vấn:
 Phỏng vấn đối với giám đốc và kế toán trưởng( kế toán tổng hợp) để biết
mức độ quan tâm và đánh giá chung về chi phí sản xuất và tình hình thực
hiện các biện pháp giảm giá thành sản phẩm.
 Phỏng vấn kế toán xí nghiệp để biết được tình hình thực tế tiêu hao các chi
phí về nguyên vật liệu, các chi phí nhân công trực tiếp và gián tiếp….
 Phỏng vấn bộ phận xuất nhập khẩu để khái quát được qui trình tiền hành
sản xuất, các chi phí phát sinh trong quá trình xuất khẩu thành phẩm….
b. Phương pháp phân tích xử lý dữ liệu
- Phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ thuật:
 Phương pháp so sánh
 Tiến hành so sánh giữa số thực hiện với kế hoạch hoặc định mức nhằm mục
tiêu thấy được mức độ hoàn thành.
 So sánh số thực hiện kỳ này với kỳ trước, các kỳ trước hoặc cùng kỳ của
các năm trước nhằm mục đích thấy được mức độ biến động và xu thế phát
triển của các chỉ tiêu chi phí, giá thành.
 So sánh giữa bộ phận với tổng thể nhằm mục đich thấy được vai trò và vị
trí của bộ phân trong tổng thể đó.


 So sánh giữa một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác để có mối quan hệ chặt
chẽ và tác động qua lại đến nhau để hình thành nên một chỉ tiêu mới.
Các hình thức so sánh:
 So sánh tương đối: Sử dụng các chỉ tiêu về tỷ lệ phần trăm của chỉ tiêu
kỳ phân tích so với kỳ gốc để thể hiện mức độ hoàn thành, hoặc tỷ lệ
của số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu kỳ gốc để nói lên mức độ
tăng giảm.
 Tỷ lệ phát triển bình quân.
 Tỷ lệ phát triển liên hoàn.
 Phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng.
1) Phương pháp thay thế liên hoàn:
 Xác định công thức xác định mối quan hệ giữa các nhân tố tới chỉ
tiêu tổng chi phí và giá thành sản phẩm.
 Tiền hành thay thế và xác định ảnh hưởng của các nhân tố.
 Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố, đối chiếu với sô chênh lệch
của chỉ tiêu phân tích
2) Phương pháp số chênh lệch:
 Xây dựng công thức nhằm xác định mối quan hệ giữa các nhân tố tới
tổng chi phí và giá thành sản phẩm.
 Xác định ảnh hưởng của các nhân tố
 Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố, đối chiếu với số chênh lệch
của chỉ tiêu phân tích, đưa ra nhận xét.
 Phương pháp khác
1) Phương pháp tỷ suất hệ số: sử dụng các chỉ tiêu về tỷ suất chi phí, tỷ
suất lợi nhuận, tỷ suất tài trợ, tỷ suất đầu tư, hệ số khả năng thanh toán,
hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh….
2) Phương pháp chỉ số: là phương pháp được áp dụng trong phân tích sự
biến động tăng giảm và mối liên hệ tác động phụ thuộc lẫn nhau giữa
các chỉ tiêu kinh tế của một hoặc nhiều yếu tố khác nhau.
Chỉ tiêu chỉ số được xác định bằng mối liên hệ so sánh một chỉ tiêu kinh tế ở những
thời điểm khác nhau. Các chỉ số sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế gồm 2 loại:
- Chỉ số cá thể là chỉ số phản ánh sự biến độn tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tế
riêng biệt.
- Chỉ số chung là chỉ số phản ánh sự biến động tăng giảm của một chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp có nhiều yếu tố hợp thành.


-

Phương pháp chỉ số được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế kết hợp với
phương pháp thay thế liên hoàn để tính toán mức độ ảnh hưởng của số lượng hàng
bán và giá bán tới sự biến động của chỉ tiêu doanh thu.
3) Phương pháp sử dụng biểu mẫu, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị.
Được thiết kế theo các dòng cột để chi chép các chỉ tiêu và các số liệu phân tích.
Số lượng các dòng cột tùy thuộc vào mục đích yêu cầu và nội dung phân tích.
5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phân mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, đề tài gồm 3
chương

Chương I: Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chương II: Phân tích thực trạng chi phí sản xuát và giá thành sản phẩm tại
công ty CP may xuất khẩu Hà Phong.
Chương III: Kết luận, đề xuất biện pháp nhằm cải thiện chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm qua phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công
ty CP may xuất khẩu Hà Phong.


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM.
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1.1.1. Khái quát chung về chi phí sản xuất
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất của chi phí.
a. Khái niệm về chi phí
Kinh doanh là một hoạt động kinh tế nhằm mục đích thu lợi nhuận. Để thực hiện các
hoạt động kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp cần phải bỏ ra chi phí để thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh.
Theo chuẩn mực số 01 “Chuẩn mực chung”: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm
giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản
khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không
bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo quan điểm của các trường đại học khối kinh tế: “Chi phí của doanh nghiệp
được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần
thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện
bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định”.
Tóm lại: chi phí kinh doanh là những khoản chi bằng tiền hoặc tài sản mà doanh
nghiệp bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh. Về bản chất, chi phí kinh doanh là
những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các khoản chi bằng tiền khác
trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đó là quá trình chuyển dịch vốn kinh doanh vào
giá thành sản phẩm.
b. Bản chất của chi phí
Nội dung của chi phí được thể hiện bằng công thức
Trong đó:
- C là hao phí lao động vật hóa - giá trị của tư liệu sản xuất đã tiêu hao như khấu
hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ…
- V là hao phí lao động sống như các chi phí về tiền lương phải trả cho người lao
động tham gia vào quà trình hoạt động kinh doanh.
- là một phần giá trị mới sáng tạo ra như các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT,
KPCĐ; các khoản thuế có tính chất chi phí như thuế tài nguyên, thuế môn bài,
thuế nhà đất, chi phí lãi vay…
 Các khoản chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền
trong một khoảng thời gian xác định

1


 Xét ở góc độ doanh nghiệp, chi phí luôn có tính cá biệt, nó bao gồm tất cả các
khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và hoạt động
 Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
+ Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian nhất định
+ Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một đơn vị lao động đã
hao phí.
c. Phân loại chi phí sản xuất.
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì nội dung, tính chất
của chi phí cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp sản xuất thường
phức tạp hơn các loại hình doanh nghiệp khác, do chức năng của nó bao gồm cả sản
xuất, lưu thông và quản lý. Sự hiểu biết về cơ cấu chi phí của doanh nghiệp sản xuất sẽ
cung cấp những kiến thức rộng bao quát của việc xác định chi phí.
 Phân loại chi phí theo chức năng.
 Chi phí sản xuất: là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng( bộ phận)
sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp(CPNVLTT): là toàn bộ các chi phí về nguyên
liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế tạo
sản phẩm, cung cấp dịch vụ. chi phí về nguyên vật liệu chính thường dễ nhận diện cho
từng đối tượng chịu chi phí ( từng sản phẩm, loại sản phẩm, công trình, hạng mục…) nên
khi hạch toán khoản chi phí này chỉ cần căn cứ vào chứng từ gốc để hạch toán trực tiếp
cho từng đối tượng chịu chi phí. Còn chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể liên quan đến
nhiều đối tượng chịu chi phí. Trường hợp này để hạch toán chi phí vào từng đối tượng
chịu phí phải tiền hành phân bổ theo tiêu thức phù hợp. Trong quản lý khoản mục chi phí
NVLTT, nhà quản lý cần chú ý khi nhận diện chi phí vật liệu phụ, bởi lẽ ngoài việc dùng
trực tiếp để sản xuất, chế tạo sản phẩm, vật liệu phụ còn được dùng để phục vụ, quản lý,
sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT): là các khoản chi phí phải tra cho công
nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch vụ bao
gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công và các khoản trích theo tiền
lương (BHXH< BHYT, KPCĐ) được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ của công nhân
trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp dễ nhận diện cho từng đối tượng chịu chi phí. Thông
thường nhân viên hạch toán chỉ cần căn cứ vào bảng chấm công, phiếu kê khối lượng sản
phẩm, công việc hoàn thành và cấp bậc lương của công nhân để hạch toán khoản mục chi
phí này. Trừ trường hợp trong cùng một qui trình công nghệ sản xuất lại chế tạo ra nhiều
loại sản phẩm khác nhau thì để hạch toán khoản mục chi phí này cho từng loại sản phẩm,

2


kế toán cũng phải tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phù
hợp.
- chi phí sản xuất chung(CPSXC): là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh tại
phân xưởng sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí NVLTT và NCTT để phục vụ và quản
lý sản xuất. chi phí sản xuất chung bao gồm:
 Chi phí nhân viên phân xưởng: là các chi phí về tiền công, tiền lương phải trả cho
những nhân viên làm nhiệm vụ phục vụ quản lý sản xuất( công nhân sửa chữa,
bảo trì máy móc thiết bị sản xuất, quản đốc phân xưởng…) và các khoản trích
theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ..được tính vào chi phí sản xuất của những
nhân viên này.
 Chi phí vật liệu quản lý: là những chi phí về vật liệu phụ dùng cho phục vụ quản
lý sản xuất như:
+ Chi phí công cụ, dụng cụ dùng trong sản xuất sản phẩm.
+ Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ khác dùng trong sản xuất
sản phẩm.
+ Chi phí dịch vụ thuê ngoài dùng trong sản xuất như chi phí tiền điện,
nước, dịch vụ viễn thông…
+ Chi phí sản xuất khác.
Tóm lại chi phí sản xuất chung là một khoản mục chi phí phức tạp bao gồm nhiều
yếu tố chi phí có đặc điểm, tính chất biến đổi khác nhau. Đây là khoản mục chi phí khó
định lượng, khó xây dựng định mức, nên trong quản lý, khoản mục chi phí sản xuất
chung cần phải được chú ý kiểm soát chặt chẽ.
Trong thực tế chi phí sản xuất chung thường được tập hợp theo phạm vi địa điểm
sản xuất như các phân xưởng, các công đoạn… nếu phân xưởng( công đoạn) sản xuất chỉ
tiến hành sản xuất một loại sản phẩm thì chi phí sản xuất chung chính là chi phí trực tiếp
cho loại sản phẩm đó. Trường hợp phân xưởng sản xuất thực hiện sản xuất nhiều loại sản
phẩm thì chi phí sản xuất chung là chi phí gián tiếp, do đó để hạch toán chi phí sản xuất
chung cho từng đối tượng tập hợp chi phí kế toán cũng phải tiến hành phân bổ theo
những tiêu thức phù hợp( số lao động trực tiếp tham gia sản xuất, định mức chi phí sản
xuất chung, số giờ máy hoạt động…
Chi phí NVLTT kết hợp với chi phí NCTT gọi là chi phí ban đầu: Chi phí ban đầu
phản ánh mức chi phí chủ yếu để sản xuất sản phẩm, chi phí này có thể nhận diện cho
từng đơn vị sản phẩm và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết để
sản xuất sản phẩm đó.
Chi phí nhân công trực tiếp kết hợp với chi phí sản xuất hung được gọi là chi phí
chuyển đổi: Chi phí chuyển đổi phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu

3


từ dạng thô sang dạng thành phẩm và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết
để chế biến một lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm.
Tóm lại chi phí sản xuất chỉ phát sinh ở những doanh nghiệp thuộc loại hình sản
xuất nhưn những doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xây lắp.
 Chi phí ngoài sản xuất.
Đây là những chi phí doanh nghiệp phải chi để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng
hóa, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ máy quản lý doanh nghiệp. căn cứ vào chức năng
hoạt động chi phí ngoài sản xuất được chia thành 2 loại:
- Chi phí bán hàng: là những chi phí lưu thông và tiếp thụ trong quá trình bán sản
phẩm hảng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Loại chi phí ngày gồm chi phí
giao hàng, chi phí quảng cáo, chi phí giao dịch, lương nhân viên bán hàng…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí có liên quan đến việc tổ chwucs,
quản lý hành chính và phục vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh
nghiệp
Giống như chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp cũng là chi phí có nội dung phức tạp bao gồm nhiều yếu tố chi phí có đặc
điểm, tính chất khác nhau liên quan đến nhiều bộ phận trong doanh nghiệp. vì vậy
việc kiểm soát, quản lý và phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
cho các đối tượng chịu chi phí rất khó khăn, đôi khi dẫn đến việc đánh giá sai kết
quả hoạt động của từng bộ phận và hậu quả la sẽ làm giảm tinh thần phấn khởi
năng động sáng tạo của các bộ phận trong doanh nghiệp.
Tóm lại tất cả các loại hình tổ chức doanh nghiệp đều phát sinh chi phí ngoài sản xuất.
 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả.
 Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với quá trình sản xuất chế tạo sản
phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán. Đối với doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản
phẩm chính là chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung, còn đối với doanh nghiệp thương mại thì chi phí sản phẩm chính là giá nua hàng
hóa và chi phí mua hàng hóa …
Đặc điểm của chi phí sản phẩm là khi sản phẩm, hàng hóa chưa được bán ra thì chi
phí sản phẩm được phả ánh trong giá thành hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Khi
sản phẩm, hàng hóa được bán ra thì chi hí sản phẩm sẽ được chuyển vào chỉ tiêu giá vốn
hàng bán trên báo cóa kết quả hoạt động kinh doanh. Như vậy một vòng luân chuyển của
chi phí sản phẩm có thể trải qua nhiều kỳ báo cáo, do đó nó ó thể ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động kinh doanh của nhiều kỳ. Đây là dòng chi phí gắn liền với nhiều rủi ro tiềm
tàng từ sự biến động của thị trường. Để quản lý tốt loại chi phí này nhằm hạn chế rủi ro
thì các nhà quản lý doanh nghiệp phải có kế hoạch dự trữ sản phẩm, hàng hóa hợp lý vừa

4


đảm bảo liên tục có sản phẩm, hàng hóa để bán ra thị trường đồng thời tránh để sản phẩ,
hàng hóa tồn kho ứ đọng.
 Chi phí thời kỳ: là những chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ không tạo nên
giá trị hàng tồn kho, mà trực tiếp làm giảm lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh.
 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Là cách phân loại dựa vào sự ứng xử của chi phí với sự thay đổi của mức độ hoạt
động. ứng xử của chi phí có nghĩa là các chi phí sẽ tăng giảm như thế nào đối với những
thay đổi của mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại chi phí theo mối quan hệ
với mức độ hoạt động sẽ giúp nhà quản lý nhận biết được “ ứng xử” của từng loại chi phí
với thay đổi của mức độ hoạt động, phụ vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ
động điều tiết chi phí. Theo cách phân loại này, chi phí được phân loại thành 3 loại: biến
phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
 Biến phí: là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ
hoạt động. Mức độ hoạt động được xem như một nhân tố nguyên nhân trong quá
trình phát sinh biến phí. Một số hoạt động căn cứ thường dùng là tổng số lượng sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ, tổng doanh thu thực hiện, tổng số giờ máy hoạt động,
tổng số giờ lao động, tổng số km vận chuyển….
Tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động căn cứ nhưng
biến phí tính trên 1 đơn vị mức độ hoạt động thi không đổi. Nhìn chung không phải tất cả
mọi khoản biến phí đều có ứng xử như nhau đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động.
có một số loại biến phí thay đổi tỷ lệ thuận, một số khác cũng thay đổi nhưng không
tuyến tính đối với thay đổi của mức độ hoạt động.
 Biến phí tỷ lệ: là những khoản biến phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ thuân với sự
thay đổi của mức độ hoạt động. Một số chi phí thuộc biến phí tỷ lệ như chi phí
NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp trả theo sản phẩm, hoa hồng bán
hàng…
Phương trình biến phí tỷ lệ:
Y – là tổng biến phí
B - là biến phí đơn vị
X - là mức độ hoạt động.
 Biến phí cấp bậc: là những biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi
đến một phạm vi giới hạn nào đó. Tức là khi mức độ hoạt động thay đổi đến
một mức độ phù hợp nào đó và vượt qua giới hạn đó thì biến phí cấp bậc mới
thay đổi. đối với người quản lý để tiết kiệm và kiểm soát tốt biến phí cấp bậc
cần phải lựa chọn mức độ hoạt động thích hợp nhằm tận dụng tối đa năng lực

5


sản xuất sẵn có, đồng thời xây dựng, hoàn thiện định mức biến phí ở từng cấp
bậc tương ứng
Phương trình biến phí cấp bậc
Trong đó:
Y – là tổng biến phí
B - là biến phí đơn vị
X - là mức độ hoạt động.
 Định phí: là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi mức độ hoạt động
thay đổi trong phạm vi phù hợp. phạm vi phù hợp là khoảng cách giữa mức độ hoạt động
tối thiểu và mức độ hoạt động tối đa mà doanh nghiệp có thể thực hiện với năng lực hoạt
động hiện có. Ví dụ một xí nghiệp sản xuất có 5 dây chuyền sản xuất, năng xuất tối đa
của 1 dây chuyền là 8000 sản phẩm trong 1 giờ, với mỗi giờ máy chạy chi phí cho máy là
1 triệu đồng/ máy/ giờ. Như vậy trong 1 giờ máy chạy xí nghiệp có thể sản xuất được ít
hơn 8000 SP, nó có thể là 4000 SP, 5000 SP, 6000 SP hay 7000 SP…nhưng chi phí doanh
nghiệp phải bỏ ra vẫn là 1 triệu đồng/ máy/ giờ chạy. Tuy nhiên nếu xí nghiệp muốn tăng
số lượng sản phẩm sản xuất lên trên 8000 SP/ giờ thì doanh nghiệp buộc phải đầu tư thêm
dây chuyền sản xuất mới, vì mức độ hoạt động của máy là 8000 SP/máy/ giờ, và lớn hơn
8000 SP đã vượt qua giới hạn cho phép của máy chạy.
Hơn thế nữa, định phí không thay đổi nhưng nếu xem xét chúng trên một đơn vị
mức độ hoạt động, định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. Như vậy định phí sẽ luôn
luôn tồn tại cho dù doanh nghiệp có hoạt động hay không, và khi mức độ hoạt động của
doanh nghiệp gia tăng thì định phí tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi. Khi hoạt
động của doanh nghiệp gia tăng thì định phí cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi. Khi
hoạt động của doanh nghiệp đạt năng suất tối đa thì định phí cho một đơn vị mức độ hoạt
động sẽ là thấp nhất.
Định phí được chia thành 2 loại:
1) Định phí bắt buộc
Là định phí không dễ dàng thay đổi bằng hành động quản trị. Định phí bắt buộc
thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức của một doanh nghiệp. ví dụ như
chi phí khấu hao nhà xưởng, chi phí bảo hiểm, lương của ban quản lý cấp cao và
các phòng ban chức năng. Có thể thấy định phí bắt buộc là những chi phí có tính
chất dài hạn và không thể giảm xuống đến bằng không dù chỉ cho một thời gian
ngắn.
2) Định phí tùy ý.

6


Là những định phí có thể thay đổi một cách nhanh chóng bằng hành động của nhà
quản trị. Định phí tùy ý có thể được thay đổi trong quyết định hàng năm của nhà quản trị.
Ví dụ như chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu, đào tạo… như vậy định phí tùy ý có
liên quan đế các kế hoạch ngắn hạn, thường là một năm và trong một số trường hợp cần
thiết doanh nghiệp có thể cắt bỏ định phí tùy ý.
 Chi phí hỗn hợp: là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí.
ở một mức độ nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí và ở các mức độ
khác nhau của hoạt động chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí.
Chi phí hỗn hợp rất phổ biến trong nhiều loại hình tổ chức doanh nghiệp như chi phí
điện nước, điện thoại…phần định phí trong chi phí hỗn hợp phản ánh mức chi phí tối
thiểu cần thiết để duy trì một dịch vụ ở trạng thái sẵn sàng sử dụng. Phần biến phí phản
ánh chi phí do sự tiêu thụ thực tế của dịch vụ. vì vậy nhằm mục đích lập kế hoạch và
kiểm soát chi phí hỗn hợp thì cách tốt nhất là tập hợp chúng khi chúng phát sinh và phân
tích chúng thành yếu tố định phí và biến phí.
- Phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp thành biến phí và định phí
1) Phương pháp cực đại, cực tiểu
Phương pháp cực đại - cực tiểu hay còn gọi là phương pháp chênh lệch. Phương
pháp này phân tích chi phí hỗn hợp dựa trên cớ sở khảo sát chi phí hỗn hợp ở điểm có
mức độ hoạt động thấp nhất trong phạm vi phù hợp. Chênh lệch chi phí giữa hai mức độ
hoạt động được chia cho mức gia tăng mức độ hoạt động sẽ xác định được mức biến phí
đơn vị và tổng biến phí. Sau đó, loại trừ tổng biến phí trong chi phí hỗn hợp, phần còn lại
là tổng định phí trong chi phí hỗn hợp.
Nội dung này được tiến hành qua các bước sau:
Khảo sát chi phí hỗn hợp ở nhiều mức độ hoạt động khác nhau trong thực tế với
các chi phí hỗn hợp có dạng tổng quát: Y = a + b.X
Trong đó:
Y: Chi phí hốn hợp
X: Mức độ hoạt động
a: tổng định phí
b: Hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động.
Chọn hai điểm có mức độ hoạt động nhỏ nhất và lớn nhất trong các điểm đã khảo sát.
Xác định Hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động (b)
hs bien phi 1
Xác định tổng định phí trong chi phí hốn hợp:
Thay giá trị của b vừa tìm được vào phương trình Y = a + b.X để tìm trị số của a.
a = Y - b.X

7


Tổng định phí = Chi phí hỗn hợp - (Hệ số biến phí x Mức độ hoạt động)
Thông thường doanh nghiệp có thể chọn mức độ hoạt động thấp nhất để các định
tổng định phí trong chi phí hỗn hợp.
Xây dựng phương trình dự toán chi phí hỗn hợp sau khi biết trọ số cụ thể của a và
b dưới dạng Y = a + b.X
2) Phương pháp đồ thị phân tán
Phương pháp đồ thị phân tán phân tích chi phí hỗn hợp thông qua quan sát và dùng
đồ thị để tìm công thức dự toán chi phí hỗn hợp có dạng Y = a+b.X, từ đó tìm ra các
thánh phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp.
Quá trình thực hiện phương pháp này gồm 2 bước như sau:
Bước 1: Vẽ đồ thị và thể hiện chi phí trên trục tung, mức độ hoạt động thể hiện
trên trực hoành. Các tỷ lệ trên đồ thị cần phải đảm bảo càng chính các càng tốt. Căn cứ
vào sổ lần quan sát thực nghiệm thống kê, lần lượt vẽ các điểm với các mức độ hoạt động
cụ thể tương ứng với chi phí của các mức độ hoạt động này.
Bước 2: Kẻ một đường thẳng nằm trung bình giữa các điểm đã vẽ ở bước 1 sao
cho chúng đi qua nhiều điểm nhất. Hay nói cách khác, chúng phải thể hiện đặc trưng nhất
về chi phí hỗn hợp ở các mức độ hoạt động khác nhau. Đường này sẽ cắt trục tung tại
điểm a (chính là tổng định phí).
Sau đó, ta tính hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động ở 2 điểm đặc
trưng của đồ thị theo công thức
Y = a + b.X => 1
Sau khi biết các tham số a và b, ta xây dựng phương trình dự toán chi phí hỗn hợp
với các trị số a, b cụ thể dưới dạng: Y = a + b.X
3) Phương pháp bình phương bé nhất.
Phương pháp bình phương bé nhất là kỹ thuật phân tích phức tạp hơn phương pháp cực
đại - cực tiểu và có độ chính xác cao hơn. Phương pháp này nhằm xác định phương trình
biến thiên của chi phí dựa trên việc tính toán hệ phương trình 2 biến trong phân tích
thồng kê, sử dụng số liệu chi phí thực tế phát sinh tương ứng với các mức độ hoạt động
của các kỳ đã qua.

8


Phương trình dự toán chu phí hỗn hợp cũng có dạng tổng quát: Y = a + b.X như phương
pháp cực đại - cực tiểu.
Từ phương trình Yi = a + b. Xi, với n lần quan sát, ta có hệ phương trình chuẩn 2 biến
sau:
∑XiYi = a.∑Xi + b.∑Xi2 (1)
∑Yi = n.a + b.∑Xi

(2)

Trong đó:
Yi: Biến số phụ thuộc - Phản ảnh chi phí hỗn hợp ở mức độ hoạt động Xi
Xi: Biến số độc lập - Phản ánh mức độ hoạt động i
b: Độ dốc đường tuyến tính - Phản ánh hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt
động.
a: Hằng số - Phản ánh tổng định phí trong chi phí hỗn hợp
n: Số lần xuất hiện biến số độc lập X
 Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
 Chi phí kiểm soát được: Chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là
chi phí mà lãnh đạo cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởng đến chi phí đó.
 Chi phí không kiểm soát được: Chi phí không kiếm soát được ở một cấp quản lý
nào đó là chi phí mà lãnh đạo ở cấp đó không có thẩm quyền chi phối và ra quyết
định
Việc xác định chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được ở từng cấp quản
lý có thể sẽ không giống nhau ở các doanh nghiệp, vì nó phụ thuộc vào sự phân cấp quản
lý ở mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản lý cấp cao có phạm vi và quyền hạn rộng đối với
chi phí hơn là các nhà quản trị cấp thấp và thường ở các cấp quản lý thấp mới có những
chi phí không kiểm soát được.
 Một số cách phân loại chi phí khác.
 Chi phí chênh lệch: Là những chi phí có ở phương án này nhưng không có hoặc
chỉ có một phần ở phương án khác. Chi phí chênh lệch chỉ cho nhà quản trị thấy
rằng nếu các điều kiện khác không đổi thì sự tăng giảm chi phí ở các phương án
sản xuất kinh doanh khác nhau sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Xác định chi phí chênh lệch giữa các phương án là căn cứ quan

9


trọng để doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư hay phương án sản xuất kinh
doanh.
 Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ vẫn phải chịu cho
dù doanh nghiệp chọn phương án hay hành động nào. Chi phí chìm xuất hiện ở mọi
phương án nào nhà quản trị cẫn phải chấp nhận khoản chi phí này. Chi phí chìm
thường liên quan đến đầu tư vào TSCĐ như chi phí khấu hao thiết bị sẽ luôn tồn tại
trong mọi phương án có liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà thiết bị đó sản xuất ra.
Chi phí chìm không phục vụ cho việc ra quyết định vì chính không có tính chênh
lệch.
 Chi phí cơ hội: Có thể được hiêu là một lợi ích tiềm tàng bị mất hoặc phải hy sinh
khi lựa chọn một hành động này để thay thế một hành động khác. Khác với các
khoản chi phí khac, chi phí cơ hội không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng
lại rất quan trọng cần phải được xem xét cân nhắc một cách kỹ lưỡng trước khi lựa
chọn quyết định kinh doanh
d. phương pháp xác định chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra cho những sản phẩm đã hoàn thành được
gọi là giá thành sản xuất. Chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành là giá
thành đơn vị sản phẩm hay chi phí đơn vị sản phẩm. Để xác định giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp là một vấn đề rất phức tạp. Quá trình sản xuất không giống nhau
trong một doanh nghiệp. Các chi phí sản xuất cũng bao gồm nhiều loại, có tính chất biến
động khác nhau trong quá trình sản xuất. Một số khoản chi phí phát sinh đều đặn từ tháng
này qua tháng khác, một số khoản chi phí khác thay đổi theo mức độ sản xuất. Trong
những trường hợp như vậy cần có cách để xác định chi phí. Đối với loại hình doanh
nghiệp sản xuất có 2 cách xác định giá thành là
- phương pháp xác định giá thành theo công việc.
- phương pháp xác định giá thành theo quá trình sản xuất.
1) Phương pháp xác định giá thành theo công việc:
- Điều kiện vận dụng là phương pháp được áp dụng trong các doanh nghiệp ợtn xuất
các sản phẩm đơn chiếc hoặc theo từng lượt hàng riêng biệt, khác nhau về qui cách,
nguyên liệu hoặc kĩ thuật dùng để sản xuất. Trong thực tế, các doanh nghiệp này thường
tiến hành sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng. Mỗi đơn đặt hàng có thể là một sản
phẩm, một loạt sản phẩm, từng công trình, hạng mục công trình hoặc từng loại công việc
khác nhau. Vì vậy phương pháp này thường được sử dụng phổ biến trong các doanh
nghiệp xây dựng, công nghiệp. Và để áp dụng phương pháp xác định chi phí theo công
việc các sản phẩm phải có ít nhất một trong những đặc điểm sau:
+ Đơn chiếc, sản xuất theo ĐĐH của khách hàng.
+ có giá trị cao.

10


+ được đặt mua trước khi sản xuất
+ có kích thước lớn.
- Đặc điểm của phương pháp xác định chi phí theo công việc: trong phương pháp
này thì các chi phí về NVLTT, NCTT, CPSXC được tính dồn và tích lũy theo công việc,
giúp nhà quản trị biết được giá thành từng công việc, so sánh với giá thành kế hoạch
nhằm kiểm soát kịp thời chi phí và điều chỉnh, xử lý kịp thời quá trình chi phí của doanh
nghiệp.
+ Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là theo từng công việc. Đối tượng tính giá thành
là công việc đã hoàn thành. Do vậy kế toán cần phải lập cho mỗi công việc một phiếu gọi
là phiếu chi phí theo công việc hoặc phiếu tính giá thành theo công việc. Phiếu này được
lập khi phòng kế toán nhận được thông báo và lệnh sản xuất đã được phát ra cho công
việc đó, nó được lưu giữ trong suốt quá trình sản xuất để ghi chép tập hợp các chi phí sản
xuất có liên quan đến công việc đang được tiến hành. Khi công việc hoàn thành, các chi
phí sản xuất đã tập hợp được trên “ Phiếu chi phí theo công việc” là căn cứ để xác định
tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm của công việc đó.
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trục tiếp thường là chi phí
trực tiếp có liên quan đến từn đối tượng tập hợp chi phí nên sẽ được tập hợp trực tiếp cho
từng đơn đặt hàng trên các phiếu chi phí theo công việc mở cho từng ĐĐH trên các phiếu
chi phí theo công việc mở cho từng ĐĐH. Các nhân viên kế toán chỉ cần căn cứ chứng từ
gốc để nhập số liệu chi phí vào phiếu chi phí theo công việc. Trường hợp một phân
xưởng trong kỳ đảm nhiệm sản xuất nhiều ĐĐH, các chi phí NVLTT, NCTT trước hết
được tập hợp theo từng khoản mục cho từng phân xưởng, trong mỗi phân xưởng sẽ chi
tiết cho từng ĐĐH.
+ Chi phí sản xuất chung
Trường hợp mỗi phân xưởng chỉ tiến hành sản xuất một ĐĐH, chi phí sản xuất
chung cũng là chi phí trực tiếp nên cũng được tập hợp trực tiếp cho từng ĐĐH tương tự
như đối với chi phí NVLTT và CP NCTT.
Trường hợp một phân xưởng sản xuất nhiều ĐĐH, ch phí sản xuất chung sẽ được
tập hợp riêng, sau đó tiền hành phân bổ cho từng ĐĐH theo những tiêu thức phù hợp.
Theo đó có 2 cách để tập hợp chi phí sản xuất chung.
Cách thứ nhất: tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ, cuối kỳ
tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng theo mức thực tế
Cách thứ hai: ước tính tổng chi phí sản xuất chung của từng phân xưởng ngay từ
đầu kỳ để tính đơn giá chi phí sản xuất chung ước tính cho một đơn vị tiêu thức phân bổ.

11


Khi một trong các đơn đặt hàng đã hoàn thành kế toán sẽ căn cứ vào tỷ lệ phân bổ
chi phí SXC ước tính và tổng tiêu thức chọn làm căn cứ vào tỷ lệ phân bổ của ĐĐH đó
để xác định chi phí SXC phân bổ cho ĐĐH đó.
Các tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung chủ yếu là: tổng thời gian lao động
trực tiếp, tổng chi phí lao động trực tiếp, tổng số giờ máy hoạt động, tổng chi phí NVL
TT và chi phí NCTT...
Thông thường các doanh nghiệp thường lựa chọn tiêu thức phân bổ thứ 2 vì nó
đáp ứng kịp thời số liệu chi phí đơn vị để định giá công việc hoàn thành và sử dụng vào
các quyết định kinh doanh. Bởi lẽ, chi phí SXC gồm nhiều yếu tố chi phí nên để tập hợp
khoản mục chi phí này không chỉ dựa vào các chứng từ phát sinh bên trong doanh nghiệp
như PXK vật liệu, bảng thanh toán lương.... mà còn phải dựa trên cơ sở các chwungs từ
phát sinh bên ngoài doanh nghiệp như hóa đơn tiền điện, tiền nước và các dịch vụ khác
phục vụ cho sản xuất chung. Hơn nữa chi phí sản xuất chung thường là chi phí gián tiếp
liên quan đến nhiều đối tượng, mà các đối tượng khác nhau lại không hoàn thành vào
cùng mọt thời điểm. Do đó đến kỳ tính giá thành, doanh nghiệp chưa có đầy đủ thông tin
về chi phí sản xuất chung để tính giá thành cho những công việc đã hoàn thành. Việc
phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công việc ĐĐH hoàn thành theo ước tính là cần
thiết, nhưng việc ước tính chi phí sản xuất chung phải được dựa trên cơ sở khoa học,
không sai lệch nhiều so với thực tế phát sinh chi phí, như vậy việc cung cấp thông tin về
giá thành sản phẩm mới đảm bảo được tính kịp thời và tính chính xác có thể chấp nhận
được. Đây là yêu cầu đặt ra đối với các nhân viên kế toán quản trị.
Nếu áp dụng cách thứ 2 thì đến cuối kỳ sau khi tập hợp đầy đủ các chi phí sản xuất
chung thực tế phát sinh, kế toán sẽ phải tiến hành xử lý chênh lệch phân bổ thừa, thiếu
chi phí sản xuất chung.
Cuối kỳ kế toán không cần phải đánh giá chi phía sản xuất dở dang vì tổng chi phí
sản xuất đã được tập hợp theo từng ĐĐH chưa hoàn thành cũng chính là chi phí sản xuất
dở dang của đơn đặt hàng đó.
Kế toán xác định chi phí sản xuất theo công việc, kế toán sẽ sử dụng những tài
khoản sau:
- Tài khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
- Tài khoản chi phí nhân công trực tiếp
- Tài khoản chi phí sản xuất chung.
- Tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang hoặc tài khoản sản xuất.
- Tài khoản thành phẩm.
- Tài khoản giá vốn hàng bán.
Trình tự kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm theo công việc theo
phương pháp KKTX:

12


Bảng:
2) Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
 Điều kiện áp dụng: là phương pháp được sử dụng trong các doanh nghiệp sản
xuất hàng loạt lớn một loại sản phẩm, quá trình sản xuất phải trải qua nhiều công
đoạn khác nhau, sản phâm hoàn thành ở bước này sẽ là đối tượng được tiếp tục
chế biến ở bước sau. Do đặc điểm trên phương pháp xác định chi phí theo công
việc - theo quá trình thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất gạch,
xi măng, giày dép, chế biến thực phẩm… sản phẩm được tập hợp chi phí và tinhs
giá thành theo quá trình thường có đặc điểm:
- Đồng nhất.
- Giá trị đơn vị không cao.
- Được khách hàng đặt mua trong và sau khi sản xuất.
 Đặc điểm của phương pháp;
- Với phương pháp này thì các chi phí sản xuất gắn với các phân xưởng sản xuất
chứ không phải với từng công việc riêng biệt. do vậy trong phương pháp xác định
chi phí theo quá trình sản xuất, các chi phí sản xuất hầu hết được tập hợp trực tiếp
theo từng phân xưởng sản xuất, hoặc nếu phát sinh những khoản chi phí chung thì
cũng chỉ phải phân bổ cho một số ít phân xưởng sản xuất thay vì phân bổ cho rất
nhiều công việc khác nhau như trong phương pháp xác định chi phí theo công
việc. điều đó cũng có nghĩa là các chi phí sản xuất có thể tập hợp trong cả kỳ hạch
toán và chỉ phải phân bổ vào thời điểm cuối kỳ.
Trình tự thực hiện quá trình tập hợp chi phí va xác định giá thành sản phẩm theo
quá trình:
- Đối với kế toán chi phí sản xuất trong phương pháp này là từng phân xưởng sản
xuất khác nhau của quá trình sản xuất của doanh nghiệp. đối tượng tính giá thành
là bán thành phẩm hoàn thành ở từng phân xưởng và thành phẩm hoàn thành ở
phân xưởng cuối cùng.
- Các chi phí sản xuất thường là chi phí trực tiếp nên được tập hợp theo phương
pháp trực tiếp cho phân xưởng có liên quan. Trường hợp chi phí sẩn xuất phát
sinh có liên quan đến nhiều phân xưởng thì tập hợp riêng, đến cuối kỳ tiến hành
phân bổ cho xác phân xưởng theo tiêu thức hợp lý.
- Đối với chi phí sản xuất chung: do đặc điểm của phương pháp xác định chi phí
theo quá trình là sản phẩm thường được đặt mua sau khi sản xuất nên việc tính giá
thành thành phẩm hoàn thành thường được thực hiện vào cuối kỳ. vì vậy chi phí
sản xuất chung cũng thường được phân bổ vào giá thành sản phẩm hoàn thành ở
thời điểm cuối kỳ theo số liệu chi phí thực tế. tuy nhiên nếu vào thời điểm cuối kỳ
doanh nghiệp chưa tập hợp được đầy đủ số liệu về chi phí sản xuất chung thực tế

13


thì có thể phân bỏ chi phí sản xuất chung vào giá thành sản phẩm hoàn thành theo
mức ước tính như ở phương pháp xác định chi phí theo công việc.
- Chi phí sản xuất ở mỗi phân xưởng sau bao gồm giá trị bán thành phẩm của phân
xưởng chuyển sang và các chi phí sản xuất phát sinh tại phân xưởng đó, vì bán
thành phẩm hoàn thành ở phân xưởng trước là đối tượng được tiếp tục chế biến ở
phân xưởng sau và cứ tuần tự nhu vậy cho đến khi tạp thành thành phẩm ở phân
xưởng cuối cùng của qui trình sản xuất.
- Quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra liên tục từ kỳ này sang kỳ khác, việc
tính giá thành thành phẩm hoàn thành được thực hiện vào cuối kỳ. do đó vào thời
điểm doanh nghiệp tính giá thành thành phẩm hoàn thành sẽ có một số sản phẩm
còn đang trong quá trình sản xuất chưa hoàn thành gọ là sản phẩm dở dang. Sản
phẩm dở dang cuối kỳ này sẽ được chuyển sang kỳ sau để tiếp tục chế biến. vì vậy,
để tính được giá thành sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp phải xác định giá trị
của số sản phẩm dở dang này.
 Kế toán chi phí sản xuất theo quá trình sản xuất
Để tập hợp và xác định chi phí sản xuất theo quá trình, kế toán sử dụng các tài khoản
sau:
- TK chi phí NVLTT
- TK chi phí NCTT
- TK chi phí SXKDDD hoặc TK giá thành sản xuất.
- TK thành phẩm
- TK GVHB
Như vậy khác với phương pháp xác định chi phí theo công việc là chỉ cần mở một Tk
chi phí SXKDDD cho toàn doanh nghiệp thì ở phương pháp này cần phải mở cho mỗi
phân xưởng một TK chi phí SXKDDD để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm hoàn thành của phân xưởng đó.
Trình tự kế toán chi phí snar xất và tính giá thành sản phẩm theo quá trình sản
xuất:
1.1.2. Khái niệm về giá thành sản phẩm.
a. Khái niệm.
Quá trình sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất luôn tồn tại hai mặt đối lập
nhau nhưng có liên quan mật thiết với nyau, đó là các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra
và kết quả sản xuất thu được- sản phẩm, công việc hoàn thành. Như vậy doanh nghiệp
phải tính được chi phí đã bỏ ra để sản xuất được sản phẩm.
Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất tính cho một
khối lượng sản phẩm nhất định đã hoàn thành.

14


Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản
xuất, kết quả sử dụng lao động vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và
chức năng lập giá. Toàn bộ các CPSX mà doanh nghiệp chi ra để sản xuất sản phẩm sẽ
được bù đắp bởi số tiền thu về tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, căn cứ vòa giá thành sản
phẩm doanh nghiệp mới có thể xác định được giá bán sản phẩm hợp lý đảm bảo doanh
nghiệp có thể trang trải chi phí đầu vào và có lãi.
b. Phân loại giá thành sản phẩm.
Để quản lý tốt giá thành sản phẩm cần phân biệt các loại giá thành khác nhau
1) Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính
 Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế
hoạch, sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận kế toán của doanh
nghiệp tính trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. giá thành kế
hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để phân tích, đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoach hạ giá thành của doanh nghiệp.
 Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên định mức chi phí hiện
hành. Việc tính giá thành định mức cũng thực hiện trước khi tiến hành quá trình
sản xuất, chế tạo sản phẩm. giá thành định mức là thước đo để xác định kết quả sử
dụng loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp từ đó có cơ sở đánh giá các
giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng.
 Giá thành thực tế: là loại giá thành được xác định trên cơ sở số liệu chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ. giá thành thực tế chỉ có thể xác
định được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. giá thành thực tế
sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phả ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp
trong việc tổ chức áp dụng các giải pháp kinh tế- kỹ thuật để thực hiện quá trình
sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
2) Theo phạm vi chi phí tính vào giá thành
 Giá thành sản xuất: là giá thành chỉ bao gồm các khoản chi phí phát sinh
trong quá trình sản xuất sản phẩm.

Giá thành công xưởng( hay giá thành sản xuất sản phẩm): là giá thành bao gồm
toàn bộ các chi phí sản xuất như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sản xuất chung. Giá thành sản xuất toàn bộ có vai trò quan trọng trong các
quyết định mang tính chất chiến lược dài hạn như quyết định ngừng sản xuất hay tiếp tục
sản xuất một loại sản phẩm nào đó.

Giá thành sản xuất theo biến phí: là giá thành chỉ bao gồm các biến phí sản xuất
kể cả biến phí trực tiếp và biến phí gián tiếp. như vậy nếu xác định giá thành sản xuất

15


theo biến phí thì các chi phí sản xuất cố định được ghi vào báo cáo kết quả kinh doanh
như các chi phí thời kỳ trong niên độ mà không tính vào giá thành sản xuất

Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định: là giá thành bao gồm toàn
bộ biến phí sản xuất( trực tiếp và gián tiếp) và phần định phí sản xuất chung cố định được
phân bổ trên cơ sở công suất hoạt động thực tế so với công suất hoạt động chuẩn theo
công suất thiết kế và định mức( công suất hoạt động bình thường). nhu vậy nếu giá thành
sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định thì phần định phí sản xuất chung cố định
không được phân bổ vào giá thành sản phẩm gọi là định phí sản xuất chung hoạt động
dưới công suất và được coi là chi phí thời kỳ

Giá thành toàn bộ( hay gọi là giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ): là giá thành
sản xuất sản phẩm tiêu thụ cộng các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
tính cho sản phẩm đã tiêu thụ trng kì. Chi tiêu này chỉ xác định khi sản phẩm đã tiêu thụ
và sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp
c. Phương pháp xác định giá thành sản phẩm.

Phương pháp chung: trong các doanh nghiệp sản xuất, vào một kỳ sản xuất mới,
doanh nghiệp cần tiếp tục chế biến những sản phẩm dở dang từ kỳ trước, tiếp tục đưa
thêm chi phí sản xuất để sản xuất thêm sản phẩm mới. cuối kỳ, giá trị sản phẩm dở dang
cần loại trừ ra để tính phần chi phí sản xuất trong các sản phẩm hoàn thành, đó là tổng giá
thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ có
tính đến chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ và loại trừ chi phí sản phẩm cuối kỳ.
Công thức tính:
Tổng giá thành
sản phẩm

=

Chi phí của
sản phẩm dở
dang đầu kỳ

Chi phí sản

Chi phí của sản

+ xuất trong kỳ - phẩm dở dang cuối
kỳ

Gía thành đơn vị sản phẩm =
Các kỹ thuật tính giá thành áp dụng trong một số qui trình sản xuất chủ yếu
1) Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có đặc điểm trong cùng một qui
trình công nghệ sản xuất, sử dụng một loại guyên vật liệu đồng thời thu được nhiều loại
sản phẩm khác nhau.
Trong trường hợp này đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ qui trình công
nghệ sản xuất, đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm

16


Trình tự thực hiện
B1: dựa trên đặc điểm kinh tế hoặc kỹ thuật qui định cho mỗi loại sản phẩm một hệ
số. trong đó chọn loại sản phẩm có đặc trưng tiêu biểu nhất có hệ số = 1.
B2: Thực hiện qui đổi sản lượng thực tế từng loại sản phẩm ra sản lượng sản phẩm
chuẩn.
Tổng sản
lượng sản
=
phâm chuẩn
B3: tính tổng giá thành liên sản phẩm theo phương pháp giản đơn.
Tổng giá thành
Chi phí của
Chi phí sản
Chi phí của sản
liên sản phẩm = sản phẩm dở + xuất trong kỳ - phẩm dở dang cuối
dang đầu kỳ
kỳ
B4: tính hệ số phân bổ chi phí của từng loại sản phẩm
Hệ số phân bổ chi phí sản =
phẩm i
B5: tính giá thành của từng loại sản phẩm.
Tổng giá thành = Tổng giá thành
sản phẩm i
liên sản phẩm

*

Hệ số phân bổ
chi phí sản phẩm

Cuối cùng tính giá thành đơn vị từng loại sản phẩm.
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất có đặc điểm trong
cùng một qui trình công nghệ sản xuất đồng thời thu được nhóm sản phẩm cùng loại với
phẩm cấp, qui cách khác nhau. Trong trườn hợp này đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
nhòm sản phẩm còn đối tượng tính giá thành là từng qui cách sản phẩm trong nhóm sản
phẩm.
Trình tự thực hiện
- Chọn tiêu chuẩn phân bổ giá thành. Tiêu chuẩn phân bổ thường được sử dụng là
giá thành định mức hoặc giá thành kế hoạch.
- Tính tổng giá thành thực tế của cả nhóm sản phẩm theo phương pháp giản đơn.
- Tính tỷ lệ giá thành:
Tỷ lệ giá thành
=
- Tính giá thành thực tế từng qui cách sản phẩm.
Tổng giá thành thực tế
Tiêu chuẩn phân bổ
Tỷ lệ
=
*
từng qui cách sản phẩm
của từng qui cách
giá
theo khoản mục
sản phẩm.
thành

17


2) Phương pháp tính giá thành phân bước
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp vó qui trình cong nghệ sản xuất
phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải qua nhiều giai đoạn chế biến liên tục kế tiếp nhau,
nửa thành phẩm giai đoạn trước là đối tượng tiếp tục chế biến ở giai đoạn sau.
Trong trường hợp này đói ượng tập hợp chi phí là từng giai đoạn phân xưởng, đối
tượng tính giá thành có thể là thành phẩm hay nửa thành phẩm. do có sự khác nhau về đối
tượng tính giá thành nên phương pháp này có 2 cách:
(1) Cách tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm
Theo phương pháp này kế toán phải lần lượt tính giá thành nửa thành phẩm của giai
đoạn trước kết chuyển sang giai đoạn sau một cách tuần tự để tiếp tục tính giá thành nửa
thành phẩm của giai đoạn sau, cứ như vậy cho đến khi tính được giá thành thành phẩm ở
giai đoạn cuối cùng
Trình tự tình giá thành
Trong đó
Gía thành = Giá thành NTP +
CPSX dở
+ CPSX phát - CPSX dở
NTP giai
giai đoạn i-1
dang đầu kỳ
sinh trong
dang
đoạn i
chuyển sang
giai đoạn i
kỳ giai đoạn
cuối kỳ
i
giai
đọan i
Việc kết chuyển tuần tự chi phí từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau có thể theo số
tổng hợp hoặc theo từng khoản mục giá thành.
Phương án tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm giúp tính được
giá thành nửa thành phẩm ở từng giai đoạn sản xuất, thuận tiện cho hạch toán nửa thành
phẩm nhập kho hoặc tiêu thụ nửa thành phẩm.
(2) Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm.
Theo phương pháp này đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở giai đoạn công nghệ
cuối cùng. Do vậy để tính giá thành chỉ cần tính toán, xác định chi phí sản xuất của từng
giai đoạn nằm trong thành phẩm.
Trình tự tính giá thành.
- Tính tổng giá thành thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng theo từng
khoản mục chi phí:
Tổng TP hoàn
thành giai đoạn =
-

cuối
Công thức tính chi phí sản xuất thành phẩm từng giai đoạn trong thành phẩm.
+ đối với chi phí bỏ vào lần đầu của quá trình sản xuất

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×