Tải bản đầy đủ

Ly thuyet pivot Ly thuyet Pivot

Pivot Point – Điểm xoay là gì? Cách
tính Pivot Point
Mục Lục


1. Pivot Point – Điểm xoay là gì?



2. Cách tính Pivot Point – Điểm xoay



3. Giao dịch giá sideway với Pivot Point



4. Giao dịch phá vỡ với Pivot Point




5. Sử dụng Pivot Point để xác định cảm tính thị trường



6. Một số phương pháp tính Pivot Point mới





6.1. Woodie Pivot Point



6.2. Camarilla Pivot Point



6.3. Fibonacci Pivot Point



6.4. Phương pháp nào tốt nhất?
7. Tổng kết về Pivot Point

1. Pivot Point – Điểm xoay là gì?
Nhiều người giao dịch sử dụng Pivot Point (PP) – điểm xoay, điểm trục – để
giúp nhận diện những mức hỗ trợ và kháng cự. Đơn giản thì Pivot Point và
các mức hỗ trợ và kháng cự của nó là những vùng mà giá có thể đảo chiều
tại đó.
Vậy tại sao Pivot Point lại hấp dẫn vậy?
Đơn giản vì nó là MỤC TIÊU. Không giống như những chỉ báo kỹ thuật khác đã
học, Pivot Point là một mức hỗ trợ kháng cự “cứng” chứ không biến động con
số theo giá như RSI, Stoch hay MACD.
Pivot Point có thể được xem đơn giản như các mức Fibonacci với những hỗ trợ
và kháng cự mà nhiều người cùng chú ý.


Sự khác biệt giữa Pivot Point và Fibonacci là Fibonacci sẽ phải đo đạc bằng
cách dùng những đỉnh đáy khác nhau trong những điều kiện thị trường khác


nhau, còn đối với Pivot Point, công thức tính toán là như nhau trong mọi
trường hợp.
Nhiều người giao dịch chú ý đến các vùng Pivot Point và bạn cũng nên vậy.
Pivot Point đặc biệt hữu dụng với những người giao dịch ngắn hạn, lướt sóng
muốn kiếm lợi nhuận từ những biến động nhỏ của giá. Cũng như mức hỗ trợ
và kháng cự, người giao dịch sử dụng Pivot Point để tìm những đợt bật lại
hoặc phá vỡ các vùng Pivot Point.
Đối với những người giao dịch thích giao dịch theo kiểu bật lại, họ sẽ
dùng Pivot Point để tìm vùng đảo chiều. Họ thấy ở Pivot Point những vùng mà
họ có thể đặt lệnh mua hoặc bán.
Đối với những người giao dịch theo kiểu phá vỡ, họ sẽ xem Pivot Point là
những vùng chính cần phá vỡ trước khi giá đi mạnh.
Dưới đây là ví dụ của Pivot Point trên Chart 1H của EURUSD:

Như bạn đã thấy, các mức hỗ trợ và kháng cự nằm ngang được đặt trên biểu
đồ. Nó được đánh dấu rõ ràng về các mức hỗ trợ và kháng cự. Hãy xem ý
nghĩa:
PP là Pivot Point – điểm xoay.


S là Support – hỗ trợ.
R là Resistance – kháng cự
Tuy nhiên, cũng đừng vội suy nghĩ là “S1 cũng là hỗ trợ” hoặc “R1 cũng là
kháng cự”.

2. Cách tính Pivot Point – Điểm xoay
Pivot Point và những mức hỗ trợ, kháng cự của nó được tính toán bằng các
giá mở cửa, đóng cửa, cao nhất và thấp nhất của phiên giao dịch trước.
Do forex là một thị trường 24h liên tục nên phần lớn các người giao dịch sử
dụng thời điểm đóng của phiên New York lúc 5h sáng theo giờ Việt Nam làm
giờ đóng cửa.
Công thức tính Pivot Point là:
Pivot Point (PP) = (Giá cao nhất của phiên trước + Giá thấp nhất phiên trước
+ Giá đóng cửa phiên trước)/3.
Các mức hỗ trợ và kháng cự được tính toán như sau:
Hỗ trợ và kháng cự đầu tiên:


Kháng cự 1 (R1) = (2 x PP) – Giá thấp nhất phiên trước.



Hỗ trợ 1 (S1) = (2 x PP) – Giá cao nhất phiên trước.

Hỗ trợ và kháng cự thứ 2:


trước)

Kháng cự 2 (R2) = PP + (Giá cao nhất phiên trước – Giá thấp nhất phiên
Hỗ trợ 2 (S2) = PP – (Giá cao nhất phiên trước – Giá thấp nhất phiên trước)



Hỗ trợ và kháng cự thứ 3:



trước)
PP)

Kháng cự 3 (R3) = Giá cao nhất phiên trước + 2 x (PP – Giá thấp nhất phiên
Hỗ trợ 3 (S3) = Giá thấp nhất phiên trước – 2 x (Giá cao nhất phiên trước –

Có một số phần mềm còn bổ sung thêm điểm giữa – Mid Point – giữa các mức
kháng cự hoặc hỗ trợ. Đây có thể được xem là các mức kháng cự, hỗ trợ nhỏ.


Hầu hết các phần mềm giao dịch đều có công cụ tính sẵn được PP cho bạn,
và bạn chỉ cần kích hoạt và mọi con số sẽ được tính toán rồi lên biểu đồ cho
bạn.

3. Giao dịch giá sideway với Pivot Point
Cách đơn giản nhất để sử dụng các mức Pivot Point là dùng nó như các vùng
hỗ trợ,, kháng cự. Cũng như các vùng hỗ trợ và kháng cự khác, giá sẽ liên tục
chạm vào các vùng giá hỗ trợ và kháng cự tạo bởi Pivot Point.
Càng nhiều lần giá chạm vào các vùng Pivot Point và xoay chiều thì vùng đó
càng mạnh hơn. Ý nghĩa của từ “xoay” – pivot – có nghĩa là chạm vào và đảo
chiều.
Nếu bạn thấy rằng vùng Pivot Point có thể được giữ vững thì đó có thể là cơ
hội giao dịch cho bạn.
Nếu giá đang ở gần vùng kháng cự phía trên, bạn có thể đặt lệnh bán với
dừng lỗ nằm trên kháng cự. Đơn giản như là bạn đang giao dịch với hỗ trợ và
kháng cự bình thường thôi. Không có gì khó cả.
Hãy xem ví dụ về GBPUSD trên biểu đồ 15 phút dưới đây:


Trên biểu đồ phía trên, bạn có thể thấy giá đang thử lại vùng hỗ trợ S1. Nếu
bạn cho rằng vùng này có thể giữa vững thì bạn nên đặt lệnh mua với dừng
lỗ nằm phía dưới vùng hỗ trợ S2 tiếp theo.
Nếu giá giảm mạnh xuống dưới S1 và S2 thì bây giờ, các vùng này quay ra
tạo thành kháng cự.
Nếu bạn tin tưởng và mạnh dạn về việc S1 sẽ giữ vững, bạn có thể đặt dừng
lỗ chỉ dưới S1 một chút.
Đối với chốt lợi, mục tiêu có thể là PP hoặc R1 vì cả 2 cái này có thể tạo
kháng cự.
Hãy xem giá đã đi đâu kể từ biểu đồ bên trên.
Giá đã không thể xuyên xuống thêm và S1 được giữ vững. Sau đó, giá tăng
lại lên đến PP và bạn đã chốt lời thành công.
Tất cả mọi thứ không chỉ đơn giản như vậy và bạn không nên chỉ dựa vào PP
để giao dịch. Bạn có thể chú ý xem liệu các vùng PP có trung với các hỗ trợ
và kháng cự trước đó hay không. Đồng thời bạn cũng có thể kết hợp với mô
hình nến hoặc các chỉ báo kỹ thuật khác để giúp bạn có tín hiệu xác nhận
nhiều hơn.
Ví dụ nếu bạn thấy một nến Doji xuất hiện ở vùng S1 hoặc Stoch đang nằm
trong trạng thái quá bán thì khả năng về việc S1 được giữ vững là cao hơn.
Thông thường, hầu hết giao dịch nằm trong biên độ giữa S1 và R1, thỉnh
thoảng giá sẽ chạm tới S2 và R2. Còn đối với S3 và R3, hiếm khi chạm vào
vùng này.

4. Giao dịch phá vỡ với Pivot Point
Cũng giống như hỗ trợ và kháng cự thông thường, các mức Pivot Point không
phải lúc nào cũng giữ vững.
Sử dụng phương pháp giao dịch khi giá đi ngang với Pivot Point là có thể,
nhưng không phải lúc nào cũng được. Nhiều khi các mức Pivot Point không
giữ được và bạn cần phải có những công cụ nhằm chuẩn bị cho việc tìm kiếm
lợi thế trong tình hình đó.
Như đã nói trước đó, có 2 cách để giao dịch phá vỡ – breakout – đó là:
1.

Kiểu hung hăng (Aggressive)


2.

Kiểu dè dặt (Conservative)

Cả 2 cách đều tốt, tuy nhiên cần nhớ rằng nếu bạn chọn cách an toàn, tức là
đợi giá thử lại tại các hỗ trợ và kháng cự, bạn có thể sẽ bị mất các biến động
mạnh.
Hãy xem ví dụ về EURUSD trên biểu đồ 15 phút bên dưới để thấy việc giao
dịch theo phá vỡ vùng Pivot Point.

Có thể thấy rằng EURUSD đã tăng mạnh trong suốt cả ngày giao
dịch. EURUSD ở cửa ngày với một khoảng trống – gap – nhảy lên Pivot Point.
Giá tăng mạnh và dừng lại ở R1.
Sau đó, giá phá R1 và tăng thêm 50 pips.
Nếu bạn có phương pháp giao dịch hung hăng (aggressive), bạn sẽ bắt được
biến động mạnh này và kiếm được lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu bạn là một
người giao dịch an toàn và bạn đợi sự thử lại của giá để vào lệnh thì bạn đã
“mất ăn”. Giá không thử lại R1 sau khi phá vỡ. Cả R1 và R2 sau khi phá vỡ
đều không được thử lại.
Hãy xem cách EURUSD cố gắng tăng lên R3.


Tuy nhiên, nếu bạn tuân theo phương pháp hung hăng, bạn có thể đã bắt
phải những tín hiệu sai khi giá không thể tiếp tục đi xa hơn sau khi phá vỡ
Pivot Point. Nếu dừng lỗ của bạn ngắn, bạn sẽ bị dừng lỗ.
Sau đó, bạn có thể thấy giá phá vỡ mạnh. Chú ý là giá đã thử lại vùng kháng
cự đã gãy.
Quan sát khi mà giá đảo chiều sau đó và phá vỡ R3, vẫn còn cơ hội để đặt
lệnh bán khi giá thử lại vùng kháng cự chuyển thành hỗ trợ (resistance
turned suPivot Pointort – turned resistance) (có thể tìm đọc lại trong các bài
học trước về vấn đề này).
Hãy nhớ rằng, một khi mức hỗ trợ bị phá vỡ, nó thường trở thành mức kháng
cự. Ngược lại, kháng cự khi bị phá vỡ cũng có thể trở thành hỗ trợ và yếu tố
này giúp bạn vào lệnh an toàn hơn.
Đặt dừng lỗ và chốt lời với giao dịch kiểu phá vỡ với Pivot Point
Một điều khó khăn khi giao dịch kiểu phá vỡ là chọn điểm để đặt dừng lỗ.
Không giống như giao dịch khi giá đi ngang, việc giao dịch kiểu phá vỡ là
phải tìm kiếm những biến động nhanh và mạnh.
Một khi mức nào đó bị phá vỡ, theo lý thuyết, vùng đó sẽ trở thành “hỗ trợ
thành kháng cự” hoặc “kháng cự thành hỗ trợ”.
Nếu bạn đặt lệnh mua khi giá phá vỡ R1, bạn cần đặt dừng lỗ dưới R1 một
chút.
Hãy quay lại ví dụ với EURUSD phía trên xem vùng mà bạn có thể đặt dừng
lỗ.
Để đặt điểm chốt lời, bạn có thể chú ý đến vùng Pivot Point hỗ trợ hoặc
kháng cự tiếp theo như là các vùng có thể đặt chốt lời. Rất ít khi mà giá có
thể phá vỡ tất cả các mức của Pivot Point, ngoại trừ khi có tin kinh tế quan
trọng hoặc sự kiện bất ngờ diễn ra.
Hãy xem lại ví dụ bên trên về EURUSD một lần nữa và đặt tất cả chốt lời và
dừng lỗ trên biểu đồ.


Trong ví dụ này, một khi bạn thấy giá phá vỡ R1, bạn nên đặt dừng lỗ phía
dưới R1. Nếu bạn tin rằng giá sẽ tiếp tục tăng, bạn cần giữ lệnh của mình và
chuyển điểm dừng lỗ lên dần nếu biến động giá vẫn tiếp tục đúng hướng.
Bạn cần xem xét cẩn thận và điều chỉnh cho phù hợp.
Cũng như các phương pháp khác, bạn cần cẩn thận với những rủi ro khi giao
dịch theo kiểu phá vỡ Pivot Point.
Trước tiên, bạn sẽ không biết rằng liệu giá có đi tiếp hay không. Bạn luôn suy
nghĩ rằng giá sẽ tiếp tục tăng sau khi vào lệnh, nhưng nhiều khi bạn lại bị
trúng đỉnh hoặc trúng đáy, có nghĩa là bạn đã bị trúng tín hiệu sai.
Thứ hai, bạn sẽ không biết chắc liệu đó có phải là tín hiệu phá vỡ thực sự hay
không, hay chỉ là một biến động bất thường do một thông tin kinh tế quan
trọng nào đó gây ra.
Sự tăng giảm bất thường và biến động thường diễn ra khi có một thông tin
quan trọng đang được công bố, vì vậy, bạn cần nắm rõ những thông tin quan
trọng và cẩn thận với những thông tin có trong lịch công bố thông tin trong
ngày hoặc trong tuần.
CUối cùng, cũng giống như giao dịch khi giá đi ngang, tốt nhất là đợi giá phá
vỡ các vùng hỗ trợ và kháng cự quan trọng mới vào lệnh.


Nhiều khi chúng ta nghĩ giá đang phá R1 nhưng lại không chú ý rằng có một
kháng cự mạnh nằm phía trên R1 một chút. Giá có thể phá R1 nhưng lại
chạm vào kháng cự mạnh phía trên và giảm điểm trở lại.
Bạn cần nắm rõ thêm kiến thức về hỗ trợ và kháng cự, mô hình nến, chỉ báo
kỹ thuật động lượng để giúp có một tín hiệu giao dịch tốt hơn và nhằm xác
định xem sự phá vỡ này là thực hay không.

5. Sử dụng Pivot Point để xác định cảm tính thị trường
Có một cách nữa để dùng PP vào trong chiến lược giao dịch của bạn, đó là
cách dùng PP để đo cảm tính thị trường (market sentiment).
Điều này có nghĩa là bạn có thể thấy hiện những người giao dịch toàn cầu
đang nghiêng về việc mua hay bán một cặp tiền nào đó. Việc bạn cần là nhìn
vào PP. Dựa vào vị trí của giá so với PP (Trên hoặc dưới), bạn sẽ xác định được
rằng phe mua hay phe bán đang nắm tình hình.
Nếu giá phá lên PP thì đó là dấu hiệu người giao dịch đang đánh giá thị
trường tăng điểm và bạn nên mua vào. Hãy xem ví dụ dưới đây để xem điều
gì xảy ra sau khi giá vượt lên trên PP.

Trong ví dụ này, chúng ta thấy rằng EURUSD tạo khoảng trống – gap – và mở
cửa ngày giao dịch phía trên của PP. Sau đó giá tăng lên cao hơn nữa, vượt
qua tất cả những kháng cự.


Ngược lại với ví dụ trên, nếu giá cắt xuống PP thì bạn có thể bán ra. Việc giá
giảm xuống dưới PP cho dấu hiệu rằng cảm tính thị trường là giảm điểm và
phe bán đang giành được lợi thế trong phiên giao dịch.
Hãy xem biểu đồ của GBPUSD dưới đây:

Trên biểu đồ này, chúng ta thấy giá thử lại PP, vốn được xem như là 1 mức
kháng cự. Sau đó, giá tiếp tục giảm điểm. Nếu bạn đã ghi nhớ rằng giá mà
dưới PP thì sẽ giảm điểm tiếp và bạn đặt lệnh bán, bạn đã kiếm được lợi
nhuận rồi. GBPUSD giảm gần 300 pips.
Tất nhiên, tình hình không phải lúc nào cũng vậy. Có nhiều khi bạn nghĩ rằng
nhiều người giao dịch đang đánh xuống một cặp tiền nào đó, nhưng sau đó
lại thấy cặp tiền đó đảo chiều và đi lên, rồi nhanh chóng phá cả đỉnh.


Trong ví dụ trên, nếu bạn thấy giá phá xuống PP và bạn canh bánh, có thể
bạn đã có một ngày rất rất buồn. Vào phiên Âu, EURUSD đã tăng điểm trở lại,
phá cả PP. Sau đó, giá nằm luôn ở trên PP, cho thấy sức mạnh của phe mua.
Bài học ở đây là gì?
Dân giao dịch là những người hay thay đổi.
Cảm giác của dân giao dịch về một dòng tiền nào đó có thể thay đổi nhanh
chóng từ ngày này qua ngày nọ, thậm chí là thay đổi theo phiên. Đó là lý do
tại sao mà bạn không thể chỉ đơn giản là mua khi giá nằm trên PP hoặc bán
khi giá giảm xuống dưới PP.
Bên cạnh đó, nếu bạn sử dụng PP để phân tích, bạn nên kết hợp với các chỉ
báo kỹ thuật khác để nhằm xác định cảm tính thị trường.

6. Một số phương pháp tính Pivot Point mới
Ngoài phương pháp tính PP tiêu chuẩn như đã đề cập, còn có nhiều cách
khác để tính PP. Chúng ta hãy cùng xem dưới đây.
Chú thích:
H: Giá cao nhất phiên trước
L: Giá thấp nhất phiên trước


C: Giá đóng cửa phiên trước
6.1. Woodie Pivot Point
R2 = PP + H – L
R1 = (2 x PP) – L
PP = (H + L + 2C)/4
S1 = (2 x PP) – H
S2 = PP – H + L
Theo phương pháp trên, bạn có thể thấy rằng cách tính PP rất khác so với
cách tiêu chuẩn, từ đó dẫn đến việc các hỗ trợ và kháng cự được tính toán ra
cũng khác.
Hãy xem ví dụ về Woodie Pivot Point được sử dụng cho biểu đồ EURUSD ở
dưới đây. Các đường Woodie Pivot Point, hỗ trợ, kháng cự là các đường liền,
trong khi đó các đường dấu chấm là Pivot Point được tính theo phương pháp
tiêu chuẩn.

Công thức khác nhau đã dẫn đến những mức hỗ trợ kháng cự khác nhau.


Nhiều người giao dịch sử dụng Woodie Pivot Point bởi vì nó làm tăng trọng số
cho giá đóng cửa của phiên trước. Nhiều người lại thích phương pháp PP tiêu
chuẩn vì nó được nhiều người sử dụng, từ đó nó trở nên hiệu quả do số đông
sử dụng tạo nên.
6.2. Camarilla Pivot Point
R4 = C + ((H – L) x 1.5000)
R3 = C + ((H – L) x 1.2500)
R2 = C + ((H – L) x 1.1666)
R1 = C + ((H – L) x 1.0833)
PP = (H + L + C)/3
S1 = C – ((H – L) x 1.0833)
S2 = C – ((H – L) x 1.1666)
S3 = C – ((H – L) x 1.2500)
S4 = C – ((H – L) x 1.5000)
Công thức tính Camarilla Pivot Point có sự tương đồng với công thức của
Woodie. Nó cũng sử dụng giá đóng cửa của ngày hôm trước và khoảng giá
cao nhất – thấp nhất để tính toán các mức hỗ trợ, kháng cự.
Điểm khác biệt ở đây là bạn phải tính đến 8 vùng chính (bao gồm 4 kháng cự
và 4 hỗ trợ), và mỗi vùng này lại nhân với một con số khác nhau.
Ý tưởng chính của Camarilla Pivot Point rằng giá có xu hướng tự nhiên là sẽ
quay về mức trung bình (tương tự Bollinger Band), có nghĩa là nó thường sẽ
quay lại mức giá đóng cửa của ngày hôm trước.
Bạn có thể giao dịch bằng cách đặt lệnh mua hoặc bán khi giá chạm vào Hỗ
trợ 3 hoặc Kháng cự 3. Tuy nhiên, nếu giá bật mạnh đến S4 hoặc R4 thì đó là
dấu hiệu rằng xu hướng trong ngày mạnh, và bạn cần đi theo hướng đó.
Hãy xem sự khác nhau của Camarilla Pivot Point (đường liền) khác thế nào so
với Pivot Point tiêu chuẩn (đường dấu chấm) trong biểu đồ dưới đây.


Có thể thấy Camarilla Pivot Point nhấn mạnh vào giá đóng cửa phiên giao
dịch nhiều hơn so với PP tiêu chuẩn. Chính vì vậy, thường các mức kháng cự
của Camarilla nằm ở mức thấp hơn các mưc skhangs cự của PP tiêu chuẩn,
trong khi đó thì các mức hỗ trợ thì lại nằm cao hơn.
6.3. Fibonacci Pivot Point
R3 = PP + ((High – Low) x 1.000)
R2 = PP + ((High – Low) x .618)
R1 = PP + ((High – Low) x .382)
PP = (H + L + C)/3
S1 = PP – ((High – Low) x .382)
S2 = PP – ((High – Low) x .618)
S3 = PP – ((High – Low) x 1.000)
Fibonacci Pivot Point được tính toán dựa trên cách tính PP tiêu chuẩn. Sau đó,
nhân biên độ hôm trước với mức Fibonacci. Nhiều người sử dụng con số
38.2%, 61.8% và 100% cho việc tính toán này.


Sau đó, cộng hoặc trừ con số có được cho PP và chúng ta sẽ có
được Fibonacci Pivot Point.
Xem biểu đồ bên dưới để thấy sự khác nhau giữa các mức của Fibonacci Pivot
Point (đường liền) so với PP tiêu chuẩn (đường chấm đứt).

Sự logic của Fibonacci Pivot Point nằm ở chỗ nhiều người giao dịch thích sử
dụng tỷ lệ Fibonacci . Nhiều người còn dùng nó cho cả các đường MA, các
mức hồi lại… Vì vậy, nó còn được đem ra áp dụng cho việc tính PP.
Hãy nhớ rằng Fibonacci Pivot Point và PP tiêu chuẩn đều dùng để tính hỗ trợ
và kháng cự. Càng nhiều người sử dụng chúng, chúng càng trở nên hiệu quả
hơn.
6.4. Phương pháp nào tốt nhất?
Cũng giống như những chỉ báo kỹ thuật khác nhau, không một phương pháp
đơn nào là tốt nhất. Chúng phải dựa vào việc bạn kết hợp kiến thức về PP với
những công cụ khác trong số các công cụ bạn dùng.


7. Tổng kết về Pivot Point

PP được dùng để xác định các mức hỗ trợ và kháng cự một cách khách quan.

Một số điều cần ghi nhớ để sử dụng PP tốt hơn:


PP là kỹ thuật xác định những mức hỗ trợ và kháng cự tiềm năng.



Có 4 cách chính để tính PP: Cách tiêu chuẩn, Woodie, Camarilla và
Fibonacci.



PP rất hữu dụng vì giá thường biến động xung quanh các mức của PP.
THường thì trong ngày, giá hay nằm trong khoảng S1 và R1.




PP có thể dùng để giao dịch khi giá đi ngang, phá vỡ hoặc đi theo xu
hướng.



Người giao dịch khi giá đi ngang có thể vào lệnh mua khi giá nằm gần
các mức hỗ trợ và bán ra khi giá nằm gần các mức kháng cự.



PP còn được người giao dịch kiểu phá vỡ dùng để xác định các vùng
chính cần phải phá vỡ để giá biến động mạnh.



Người giao dịch theo cảm tính (hay xu hướng) dùng PP để xác định tình
trạng tăng hay giảm của một cặp tiền.



Sự đơn giản của PP khiến nó hữu dụng đối với người giao dịch. Nó cho
phép thấy được các vùng sẽ tác động đến biến động của giá. Bạn sẽ đồng
điệu với biến động của thị trường hơn và có thể quyết định giao dịch tốt hơn.



Sử dụng phân tích PP một mình là không đủ. Nên học cách sử dụng PP
chung với các chỉ báo kỹ thuật khác như mô hình nến, giao cắt của MACD,
giao cắt của MA, Stoch, RSI. Sự xác nhận của các chỉ báo càng nhiều, khả
năng chúng ta giao dịch thành công càng cao.
____________________________________________________________



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×