Tải bản đầy đủ

Tiểu luận QUAN điểm, tư TƯỞNG của hồ CHÍ MINH về CÔNG tác cán bộ

0

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.....................................................................................................1
NỘI DUNG..................................................................................................3
1. QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ..........3
1.1. Về vị trí, vai trò của cán bộ.....................................................................3
1.2. Yêu cầu đối với cán bộ cách mạng.......................................................3
2. QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN
BỘ..........................................................................................................................8
2.1. Về vị trí, vai trò của công tác cán bộ....................................................8
2.2. Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ.................9
3. VẬN DỤNG NHỮNG QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ
MINH VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY......................................................15
KẾT LUẬN................................................................................................27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................29


1


MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh- anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa
kiệt xuất, người thầy vĩ đại và là nhà tư tưởng lớn của cách mạng Việt Nam. Tư
tưởng của Người là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, là ngọn cờ
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người không chỉ có giá trị
trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn có giá trị bền vững lâu dài đối với sự
phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai. Trong việc xây dựng Đảng
cũng như trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, Người đặc biệt quan
tâm đến vấn đề cán bộ và trong vấn đề cán bộ, Người đặc biệt chú trọng đến vấn
đề rèn luyện đạo đức, tư cách của người cán bộ cách mạng, với mục tiêu nhằm
xây dựng Đảng ta thành một Đảng thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, mỗi
cán bộ đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân. Người dạy: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có
nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách
mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
đạo được nhân dân”, những tư tưởng của Người về cán bộ thực sự có ý nghĩa chiến
lược, quyết định sự thành bại của Đảng, của cách mạng Việt Nam.
Theo tư tưởng của Người, trong điều kiện Đảng cầm quyền, mọi thắng lợi
hay sai lầm đều không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng, tách rời phẩm chất,
năng lực của người đảng viên. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Hồ Chí Minh luôn kiên trì giáo dục đạo đức, đề cao hàng đầu “tư cách
người cách mệnh”, coi đạo đức là cái gốc của người cán bộ, nêu cao đạo đức cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, luôn nhắc nhở người cách
mạng phải “ít lòng tham muốn về vật chất”. Người chỉ rõ người cán bộ cách
mạng phải thường xuyên chống tham ô, lãng phí, quan liêu, những căn bệnh bắt


2
nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, đó là những “giặc nội xâm” có thể làm đổ vỡ
sự nghiệp cách mạng.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhiều vận
mệnh mới, với nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách. Đảng ta xác
định "phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là then chốt,
tư tưởng của Người vẫn giữ nguyên giá trị đối với sự nghiệp cách mạng của dân
tộc ta trong hiện tại và tương lai. Bên cạnh những yếu tố tích cực trong cơ chế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang thực hiện, vẫn còn
tồn tại nhiều yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã và đang bộc lộ cần
phải kiên quyết sửa chữa, khắc phục.
Những lời dạy của Người về tầm quan trọng về cán bộ và công tác cán bộ
trong sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là vấn đề trau dồi đạo đức, phẩm chất của


người cán bộ…cho đến nay, vẫn giữ nguyên giá trị. Trong những năm qua, trước
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và nhiều khó khăn trong nước,
nhờ nắm vững và vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, vượt qua
khủng hoảng, đưa đất nước tiếp tục vững bước tiến lên.


3

NỘI DUNG
1. QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ

1.1. Về vị trí, vai trò của cán bộ
Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến việc
xây dựng đội ngũ cán bộ để có đủ sức mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của
Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa to lớn đối
với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Về vị trí, vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền
của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “cán bộ là những người đem
chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng1.
Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”2,
Người cho rằng:“bất cứ công việc gì nếu thiếu cán bộ khó thực hiện được” 3. Với
ý nghĩa đó, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã
hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ
quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.
1.2. Yêu cầu đối với cán bộ cách mạng
Về tư cách người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số mặt sau:
Một là: Cán bộ phải suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng.
Hai là: Người cán bộ phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên
hết và lên trước hết, “ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.269.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.269.

3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.4, tr.260.


4
lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân
để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của nhân
dân. Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng”1. Hồ Chí Minh
đề ra nguyên tắc: “Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng.
Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích
tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”2.
Trong việc chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh rất coi trọng lợi ích cá
nhân, miễn là lợi ích cá nhân của cán bộ là phù hợp với lợi ích của Đảng, của
cách mạng. Trong cuộc sống, nhiều khi lợi ích cá nhân phù hợp với lợi ích của
Đảng, nhưng cũng có lúc không, vì thế Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu gặp khi
lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên
quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh
của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng”3; đảng viên và cán bộ “phải đặt
lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết…Vô luận lúc nào, vô luận việc gì,
đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại
sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”4.
Ba là: Người cán bộ phải có một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương
sáng trong cuộc sống. Điểm nổi bật của Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân
khác ở trong nước và trên thế giới là toàn bộ cuộc đời của Người là tấm gương
sáng về đạo đức. Sức mạnh của đạo đức đã lan toả, thẩm thấu trong suốt chiều
dài lịch sử của dân tộc, trở thành giá trị cốt lõi, vĩnh hằng của văn hoá trong các
thế hệ các dân tộc ở trên đất nước Việt Nam. Nếu cán bộ không có một đời tư
trong sáng thì sẽ không thuyết phục, vận động được nhân dân trong các phong
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.250.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.250.

3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.251.

4

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.251.


5
trào cách mạng. Người cán bộ, ngoài việc phải hoàn thành tốt công việc chung
của Đảng đã được phân công, lại phải còn là một thành viên tốt của gia đình, là
một người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và ngoài xã hội, sống cuộc sống
chan hoà, gần gũi với mọi người chung quanh trong cùng bản làng, thôn xóm…
Yêu cầu về phẩm chất, năng lực. Trước hết, cán bộ phải có đạo đức cách
mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng
chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ
cách mạng. Không ít lần, Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài”1, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm
quan cách mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng
quan tiến chức”, “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ
để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân - phong kiến”, v.v. Người
cán bộ phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ
quốc, “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh,
đồng bào sung sướng”2. Trung thành ở đây trước hết đòi hỏi cán bộ phải hoàn
thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước;
khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian
khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động; “vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng
họ cũng không thay đổi”3; phải luôn luôn có ý thức và hành động bảo vệ Đảng,
bảo vệ Tổ quốc. Trung thành với cách mạng là phải hết lòng, hết sức phục vụ
cách mạng, phục vụ nhân dân, là việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, cũng gắng sức
làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, cũng hết sức tránh.

1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.249.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.249.

3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.278.


6
Đồng thời, về năng lực, cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực
hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
nhân dân. Muốn thế, phải “chuyên”. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, quyết định của đoàn thể chỉ biến thành hiện thực trong cuộc sống,
ngoài yêu cầu về đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó phải đúng
đắn, còn phải tổ chức lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ra sức thực hiện thắng lợi.
Không như thế thì đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm trên giấy.
Cán bộ phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đây là yêu cầu đối với
cán bộ ở tất cả các thời kỳ cách mạng, nhưng trong thời kỳ Đảng cầm quyền
càng đặc biệt quan trọng hơn. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, người cán bộ, bằng
hành động thực tế của mình, phải làm cho dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục;
đừng có mang danh cộng sản để đè đầu cưỡi cổ nhân dân; phải yêu dân, kính
dân; phải việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân
dù nhỏ cũng cố tránh; phải khổ trước thiên hạ và vui sau thiên hạ; phải vừa là
người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Cán bộ phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt. Học suốt
đời, học không biết chán, dạy không biết mỏi (Nho giáo); học, học nữa và học
mãi (V.I.Lênin)… đó là những điều mà Hồ Chí Minh đã chú ý vận dụng vào
trong cuộc sống của chính bản thân mình và giáo dục, rèn luyện cho cán bộ,
đảng viên. Hồ Chí Minh quan niệm: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Hồ Chí
Minh cho rằng, ngày nay không thể lãnh đạo chung chung được nữa, rằng, chỉ có
lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, mà còn phải có tri thức nữa. Hồ Chí Minh
suốt đời chăm chỉ học tập, già rồi, cuối đời rồi vẫn còn học; học ở nhà trường,
học trong cuộc sống, và quan niệm của Hồ Chí Minh học không phải là để có
bằng cấp, để thăng chức.


7
Cán bộ phải có phong cách tốt. Theo Hồ Chí Minh, muốn có phong cách
công tác tốt, phải phòng và chống tác phong chủ quan, tác phong quan liêu, đại
khái, ham chuộng hình thức, phô trương cho oai, làm đại khái, qua loa. Phải sâu
sát, tỷ mỷ; nắm việc lớn, phải giải quyết bắt đầu từ những việc cơ bản, không cận
thị, có đầu óc quan sát; phải chân đi, miệng nói, tay làm, không như thế thì đầy
túi quần thông cáo, đầy túi áo công văn nhưng công việc không chạy.
Riêng về phong cách công tác của cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới các
vấn đề chủ yếu: Sửa cách lãnh đạo về công tác cán bộ; biết chọn trình tự ưu tiên
công việc; thường xuyên tổng kết công tác; phải luôn luôn có sáng kiến; sâu sát,
gần gũi nhân dân, có tinh thần phụ trách trước dân; phải kiểm tra, kiểm soát chặt
chẽ; có lãnh đạo chung, nhưng có chỉ đạo điểm.
Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về quy luật
Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Điều này đúng như
điều tất yếu mà Hồ Chí Minh đã nêu: Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó
ở trong xã hội mà ra, do đó, Đảng phải thường xuyên phải tự đổi mới, tự chỉnh
đốn, và đó chính là quy luật phát triển của một Đảng Mác - Lênin, một Đảng
chiến đấu dưới lá cờ của chủ nghĩa cộng sản, vì một xã hội tốt đẹp, vì sự nghiệp
cao cả là giải phóng con người.
2. QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

2.1. Về vị trí, vai trò của công tác cán bộ
Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ là một trong những công
tác chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định tới sự thành công của
toàn bộ công tác xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng. Khi nào, nơi nào làm
tốt công tác cán bộ thì khi đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và giành
được thắng lợi, và ngược lại. Với quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú


8
trọng đến công tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, huấn luyện, thử thách, rèn
luyện, sử dụng, đãi ngộ.
Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 trở đi, Hồ Chí
Minh luôn luôn chú ý huấn luyện và xây dựng lực lượng cán bộ. Người chỉ rõ:
“chỉnh huấn là cốt để giúp cán bộ nâng cao tư tưởng cách mạng, củng cố lập
trường, rửa gột khuyết điểm, phát triển ưu điểm”1. Người khuyên: “Cán bộ phải
ra sức học tập chỉnh huấn, phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, hết lòng
hết dạ phục vụ nhân dân, thực hiện đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đi
đúng đường lối quần chúng”2, Nhờ làm tốt công tác cán bộ, cho nên Đảng đã
lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lãnh đạo thắng lợi các
cuộc kháng chiến tranh xâm lược.
2.2. Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Phạm vi của vấn đề công tác cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng,
xin nêu chủ yếu một số nội dung sau đây:
Hiểu và đánh giá đúng cán bộ để lựa chọn và sử dụng đúng cán bộ. Đây là
yêu cầu xuất phát để tiến hành các mặt khác của công tác cán bộ. Nếu không
đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ thì không thể đề ra chính sách
cán bộ một cách đúng đắn được. Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần xem xét lại
cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu
kém sẽ bị lòi ra. Hiểu và đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ phải
có những yêu cầu riêng. Đồng thời, hiểu và đánh giá đúng cán bộ phải có những
chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá
một cách hoàn toàn công minh, khách quan. Yêu cầu về mặt này cho chúng ta
thấy không thể đem cái thước đo chất lượng của cán bộ vùng thành thị để đo chất
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.92.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.137.


9
lượng cán bộ vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; không thể đem thước đo
chất lượng cán bộ lĩnh vực này vào đo chất lượng cán bộ ở lĩnh vực khác.
Người làm công tác cán bộ khi đánh giá, xem xét cán bộ phải “tự biết
mình”, tức là biết được “sự phải trái của mình”, sửa chữa những khuyết điểm của
mình, để “mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”, như thế
mới không phạm những căn bệnh như: thứ nhất tự cao tự đại; thứ hai ưa người ta
nịnh mình; thứ ba do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; thứ tư đem một
cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Hồ
Chí Minh cho rằng, nếu phạm một trong bốn bệnh đó thì người làm công tác cán
bộ cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của
những cái mình trông.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, xem xét một người cán bộ không nên chỉ
xem xét mặt bên ngoài, xem xét qua một việc, mà phải xem xét kỹ cả toàn bộ
công việc của người cán bộ đó. Quan niệm của Hồ Chí Minh là: trong thế giới,
cái gì cũng biến hoá, tư tưởng con người cũng vậy, cho nên xem xét cán bộ phải
toàn diện, xem xét cả một quá trình công tác của người cán bộ. Có người trước
đây có sai lầm nhưng nay đã sửa chữa được, có người nay không có sai lầm
nhưng sau lại mắc sai lầm, có người trước đây đi theo cách mạng nay lại phản
cách mạng, ngược lại có người trước đây không theo cách mạng nay lại tham gia
cách mạng… nghĩa là quá khứ, hiện tại, tương lai của mọi người không phải
luôn luôn giống nhau. Do đó, xem xét cán bộ phải xem xét cả lịch sử của họ,
toàn bộ công việc của họ.
Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm
việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay
công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được
việc, cũng không phải cán bộ tốt. Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang,


10
ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh
việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh
thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một
chút cũng là cán bộ tốt. Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo
nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”1.
Phải “khéo dùng cán bộ”, “dùng người đúng chỗ, đúng việc”. Hồ Chí
Minh nhấn mạnh: dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng,
cong đều tùy chỗ mà dùng được. Hồ Chí Minh phê bình rằng, thường chúng ta
không biết tùy tài mà dùng người, thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì
bảo đi rèn dao, thành thử hai người đều lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng
người thì hai người đều thành công.
Hồ Chí Minh phê bình nghiêm khắc tệ “kéo bè kéo cánh” trong công tác
cán bộ. Tệ này phát sinh từ bệnh bè phái, ai hợp với mình thì dù người xấu cũng
cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau; ai
không hợp với mình thì người tốt cũng cho là người xấu, việc hay cũng cho là
dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Khuyết điểm
này, như Hồ Chí Minh chỉ ra, nó rất tai hại, nó làm Đảng bớt mất nhân tài và
không thực hành được đầy đủ chính sách của mình, làm hại sự thống nhất, nó
làm mất sự thân ái, đoàn kết đồng chí, gây ra những mối nghi ngờ…
Hồ Chí Minh nêu ra quan điểm toàn diện khi xem xét để đề bạt, bổ nhiệm
cán bộ: Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần
chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy
xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không
được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ
nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại.
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.278 – 279.


11
Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây: thứ nhất ham dùng người bà
con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; thứ hai ham
dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; thứ ba
ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình
không hợp với mình.
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm dùng cán bộ đúng với 5 nội dung: một là
phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể có thái độ và tinh thần chí công vô tư đối
với cán bộ, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi; hai là phải có tinh
thần rộng rãi mới có thể gần gũi với những người mà mình không ưa; ba là phải
có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những cán bộ còn kém, giúp cho họ
tiến bộ; bốn là phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ
tốt; năm là phải có thái độ vui vẻ, thân mật, cán bộ mới vui lòng gần gũi mình.
Phải chống chủ nghĩa biệt phái, cục bộ, địa phương, hẹp hòi. Hồ Chí Minh
hay nhấn mạnh đến việc chống cánh hẩu, họ hàng, thân quen trong công tác cán bộ
nói chung cũng như trong chính sách cán bộ nói riêng. Người phê bình một cách
nghiêm khắc việc ưa kẻ nịnh người làm công tác cán bộ, tìm cách lợi dụng chức
quyền để đưa anh em, họ hàng, bạn bè thân quen vào chức này chức nọ. Hồ Chí
Minh chỉ rõ tác hại của bệnh hẹp hòi, bệnh địa phương cục bộ. Theo Người, những
bệnh chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng
tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra.
Trong vấn đề này, Hồ Chí Minh cũng đề cập việc kết hợp cán bộ tại chỗ
với cán bộ do cấp trên điều về. Người phê bình do hẹp hòi mà cán bộ cấp trên
phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết chặt chẽ. Hồ Chí Minh cho rằng,
phải chữa cho “tiệt nọc” bệnh hẹp hòi, khắc phục kèn cựa, mất đoàn kết giữa cán
bộ trên điều về và cán bộ tại chỗ. Người viết: “Phải biết rằng: chỉ có hai hạng
cán bộ đó đoàn kết chặt chẽ và chỉ có cán bộ địa phương ngày càng thêm nhiều,


12
thì nền tảng của Đảng mới phát triển vững vàng. Cán bộ phái đến, trình độ
thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn. Nhưng cán bộ địa phương lại biết rõ
nhân dân, quen thuộc công việc hơn. Hai hạng cán bộ phải giúp đỡ nhau, bồi
đắp nhau, thì công việc mới chạy”1. Theo quan điểm của Người, tốt nhất là kiếm
cán bộ tại chỗ, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ tại chỗ; song nếu
không có hoặc thiếu thì điều động cán bộ ở nơi khác về. Chúng ta thấy rằng, đây
chính là thực hiện quan điểm coi Đảng ta là một cơ thể sống, đội ngũ cán bộ là
một đội ngũ thống nhất, cán bộ có thể và cần phải được bố trí công tác ở bất cứ
địa bàn nào miễn là người cán bộ đó có đủ đức và tài, có tính đến đặc điểm, yêu
cầu của từng vùng, từng lĩnh vực.
Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa cán bộ mới và cán bộ cũ cũng được
Hồ Chí Minh đề cập không ít trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng.
Hồ Chí Minh chỉ rõ tính tất yếu, tự nhiên, hợp quy luật của vấn đề này, khi cho
rằng: “Số cán bộ cũ có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật tự
nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì
ai gánh vác công việc của Đảng”2. Hồ Chí Minh phân tích rằng, cán bộ mới “vì
công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có
những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn”3.
Do đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu
mến cán bộ mới…Hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau,
đoàn kết chặt chẽ với nhau…Cán bộ cũ thường giữ địa vị lãnh đạo. Vì vậy, nếu
từ nay, quan hệ giữa hai hạng cán bộ ấy không ổn thoả, thì cán bộ cũ phải chịu
trách nhiệm nhiều hơn. Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi”4
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.236.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.237.

3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.237.

4

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.237.


13
Phải chú trọng đến công tác đề bạt cán bộ. Hồ Chí Minh lưu ý việc phải
xem xét thật kỹ trước khi đề bạt cán bộ, sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi,
giúp đỡ, kiểm tra người cán bộ đó; nếu không như thế thì hỏng việc. Hồ Chí
Minh viết rõ: cất nhắc cán bộ không nên làm theo lối giã gạo, nghĩa là trước khi
cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi thì không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm
thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên; một cán bộ bị nhắc lên thả
xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm quý trọng
cán bộ khi cho rằng: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun
trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một
người có ích cho công việc chung của chúng ta”1.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong công tác cán bộ, phải chú ý việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, đây là công việc gốc của Đảng khi
đặt trong mối quan hệ với nội dung vai trò của cán bộ. Công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ là một công việc quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên. Ở
đây, có mấy điểm đáng chú ý mà Hồ Chí Minh đã nêu: Học phải thiết thực, “lấy
tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”2; học phải đi đôi với hành, lý
luận phải gắn với thực tế; sắp xếp thời gian và bài học phải hợp lý; tuyệt đối
chống bệnh chủ quan, hẹp hòi, ba hoa; các tài liệu huấn luyện phải do cơ quan
lãnh đạo xét kỹ; những giờ học tập đều tính như những giờ làm việc; khi cất
nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định;
phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ; những người lãnh đạo phải tham gia giảng dạy các lớp đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ của Đảng; đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải có

1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.273

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.273.


14
kinh phí tương xứng với yêu cầu, “không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong
việc huấn luyện”3
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa và thực
tiễn sâu sắc. Đó là những quan điểm cơ bản chỉ đạo chung vào công tác đổi mới
và chỉnh đốn Đảng trong tất cả các thời kỳ hoạt động của Đảng, đặc biệt trong
thời kỳ cách mạng hiện nay, thời kỳ Đảng tiếp tục cầm quyền lãnh đạo nhà nước
và toàn xã hội thực hiện sự nghiệp đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế.
3. VẬN DỤNG NHỮNG QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 82 năm qua đã chứng minh rằng: sau
khi có đường lối đúng, cán bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc;
muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta
đã có được đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững
vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ các cấp
đã đưa chủ trương, đường lối của Đảng thâm nhập vào quần chúng, tổ chức, lãnh
đạo quần chúng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh dũng, làm nên
thắng lợi lịch sử của cách mạng tháng Tám và các cuộc kháng chiến chống xâm
lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Ðại hội lần thứ VI của Ðảng (năm 1986) đã đề
ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Về công tác cán bộ, Ðại hội nhấn mạnh:
3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.273.


15
"Muốn đổi mới đội ngũ cán bộ, trước hết phải đổi mới công tác cán bộ và đội
ngũ những người làm công tác tổ chức cán bộ", Đại hội đánh giá: “đổi mới cán
bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để
thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng”. Từ đó đến nay, Ðảng ta
không ngừng bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống quan điểm, đường lối về công tác cán
bộ và kiên trì lãnh đạo thực hiện.
Do điều kiện lịch sử để lại, phần lớn cán bộ sau khi kết thúc cuộc kháng
chiến, chưa được đào tạo cơ bản, hẫng hụt về trình độ lý luận, trình độ chuyên
môn, nhất là sự hiểu biết về quản lý kinh tế, phát triển sản xuất... Đảng ta nhận
thấy cần đào tạo, bồi dưỡng khẩn trương đội ngũ cán bộ phục vụ cho mọi lĩnh
vực. Đại hội VI chỉ rõ muốn có được đội ngũ cán bộ tốt không thể không đẩy
mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ một cách bài bản, nghiêm túc: “nhân tài
không phải là sản phẩm tự phát, mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công
phu. Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được phát hiện và sử dụng đúng
chỗ, đúng lúc. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải tuân theo một quy trình
chặt chẽ. Đó là kết hợp giữa bồi dưỡng kiến thức ở các trường học với rèn
luyện trong thực tiễn”1.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Cán bộ
và công tác cán bộ thật sự là yêu cầu vừa cơ bản, vừa bức xúc, đòi hỏi phải đổi
mới từ quan điểm, đến phương pháp, chính sách và tổ chức, chẳng những để đáp
ứng nhu cầu xây dựng đất nước hiện nay mà còn phải chuẩn bị những thế hệ cách
mạng kế tục sự nghiệp của Đảng ta và dân tộc trong tương lai”2. Đại hội VII cho
rằng “khẩn trương xây dựng tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại, từng chức danh cán

1

ĐCSVN (1987), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.34.

2

ĐCSVN, Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1991, tr.91.


16
bộ ở các cấp, các ngành và căn cứ vào đó để đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ,
chấm dứt tình trạng bố trí cán bộ theo kiểu thân quen, cảm tính chủ quan”1.
Tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác cán bộ,
Đại hội VIII của Đảng khẳng định toàn Đảng phải hết sức chăm lo xây dựng thật
tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ bản lĩnh về
các mặt. Sớm xây dựng chiến lược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại đất nước. Quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ cho cả hệ thống
chính trị, quan điểm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chỉ rõ: “Đảng phải lo
cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực. Đảng thống nhất lãnh
đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm
của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị trong công tác cán bộ. Bảo đảm
nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm cá nhân trong công

tác cán bộ...
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm
chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn. Quan tâm đào tạo,
bồi dưỡng cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các
chuyên gia trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị; coi
trọng cả đức và tài, đức là gốc”2.
Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, Đảng ta rất chú trọng
việc bố trí, sử dụng cán bộ. Đại bội VIII của Đảng nhấn mạnh việc bố trí, sử

dụng cán bộ một cách khoa học: “Bố trí và sử dụng cán bộ phải đảm bảo
đúng tiêu chuẩn và sở trường, Đề bạt, bổ nhiệm đúng lúc, giao việc đúng tầm,
thay thế kịp thời khí cần thiết, Xây dựng quy chế bầu cử có nhiệm kỳ, bổ nhiệm

1

ĐCSVN (1991), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.99.

2

ĐCSVN (1996), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.145-146.


17
có thời hạn. Có chế độ cho cán bộ được từ chức hoặc rút chức để nhận công
việc thích hợp”3.
Kế thừa và phát triển những quan điểm về công tác cán bộ, sau Đại hội
VIII, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 3 đã ban hành Nghị quyết về chiến
lược phát triển cán bộ, trong đó đưa ra 5 quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: thứ nhất, phải
xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa; thứ hai, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy
truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc; thứ ba, gắn việc xây dựng đội ngũ
cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách...; thứ tư, thông qua
hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng cao trinh độ
dán tri để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ; thứ năm, Đảng
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc
tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên

trong hệ thống chính trị.
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII là nghị quyết tương đối toàn diện về
nội dung của công tác cán bộ, Nghị quyết đã xây dựng những tiêu chuẩn cán bộ
trong thời kỳ mới, trong đó có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với cán
bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ
trang; cán bộ quản lý kinh doanh. Đồng thời, Nghị quyết đưa ra một số nhiệm
vụ và giải pháp lớn về xây dựng quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng; xây dựng các
quy chế công tác cán bộ (đánh giá, tuyển chọn, bầu cử, bổ nhiệm và miễn
nhiệm, luân chuyển, chế độ học tập, nhân dân tham gia xây dựng và giám sát
cán bộ, chế độ kiểm tra, bảo vệ chính trị nội bộ, phân công và phân cấp quản lý

3

ĐCSVN (1996), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.145-147.


18
cán bộ); đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ; đổi mới và chỉnh
đốn tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ.
Đại hội IX của Đảng đề ra yêu cầu cao hơn trong xây dụng đội ngũ cán bộ
cho hệ thống chính trị: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và
quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu vê đạo đức, lối sống, có trí
tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân. Có cơ chế và
chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những
người có đức, có tài. Thực hiện đúng đắn nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo
công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của
các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác
cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch và đào tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và
cán bộ các dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực.
Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả
công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có
phương pháp khoa học, khách quan, công tâm, theo quy trình chặt chẽ, phát
huy dân chủ, dựa vào tập thể và nhân dân để tuyển chọn cán bộ. Đổi mới, trẻ
hóa đội ngủ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên
tục, kế thừa và phát triển”1.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa IX đã ra kết
luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII, Nghị quyết
Trung ương 3 và 7 khóa VIII về công tác tổ chức và cán bộ. Hội nghị đánh
giá thẳng thắn những việc đã làm, ưu điểm, khuyết điểm và thiếu sót trong
công tác cán bộ: Đánh giá và quản lý cán bộ là khâu yếu nhất nhưng chậm được
khắc phục, chậm cụ thể hóa và triển khai chiến lược cán bộ, công tác cán bộ
chưa góp phần đẩy lùi tiêu cực tham nhũng, chính sách cán bộ còn nhiều thiếu
1

ĐCSVN (2001), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.141-142.


19
sót, bất hợp lý, Hội nghị đưa ra 5 giải pháp để tiếp tục thực hiện 3 nghi quyết
của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII và VIII về công tác cán bộ: Tiếp tục
cụ thể hóa và thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ,
đồng thời phát huy trách nhiệm của các bộ phận trong hệ thống chính trị, tập
thể quyết định đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu;
khắc phục tình trạng trì trệ và những mâu thuẫn hiện nay trong đội ngũ cán bộ,
công chức; Xây dựng quy hoạch, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển
cán bộ; Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ cán bộ, công
chức; Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức, đẩy mạnh
cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác.
Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân; lãnh đạo phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
chủ động, tích cực hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, Đại hội X của
Đảng khẳng định tiếp tục đổi mới công tác cán bộ. Tổng kết nhiệm kỳ 20012006, Đại hội X đánh giá: “Công tác cán bộ có một số đổi mới về nội dung và
cách làm. Đã giữ vững và thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công
tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt hơn nguyên tắc tập trung
dân chủ, coi trọng hơn việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong
hệ thống chính trị và người đứng đầu các tổ chức; bước đầu tổ chức để nhân
dân tham gia ý kiến vào công tác cán bộ, nhất là ở cơ sở. Tiếp tục cụ thể hóa
một bước và xác định một số giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
khóa VIII về "Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước". Triển khai tương đối dồng bộ các khâu công tác cán bộ: đánh
giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện
chính sách cán bộ. Công tác luân chuyển và quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý


20
bước đầu có chuyển biến rõ rệt, góp phần đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ
và khắc phục một bước tinh trạng hẫng hụt về cán bộ.
Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục,
nhất là việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, thực hành dân chủ và chế độ trách nhiệm trong công tác. Chậm đổi mới
cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối
với cán bộ. Chưa kiên quyết và thiếu những quy chế có hiệu lực để sắp xếp, bố
trí lại đội ngũ cán bộ, thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém về phẩm chất và
năng lực, để công việc trì trệ; hầu như chỉ khi cán bộ bị kỷ luật hoặc vi phạm
pháp luật mới thay thế được. Chưa có chính sách đủ hiệu lực khơi dậy tài năng
và thu hút nhân tài vào các lĩnh vực quan trọng. Chậm khắc phục tình trạng cục
bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở các địa phương, ngành.
Đại hội X đề ra mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham
nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có
tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu
của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tính thần đoàn kết, hợp
tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập
thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ
cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Ðại hội XI của Ðảng đã đề ra nhiệm vụ:
“Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” và
chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ”, xây dựng được


21
đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực đảm đương nhiệm vụ, có tính kế
thừa, phát triển, khắc phục cho được những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán
bộ và công tác cán bộ thời gian qua.
Ðể đổi mới công tác cán bộ, các cấp ủy đảng, các cơ quan tham mưu về tổ
chức cán bộ cần quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, có hiệu quả
các nhiệm vụ và giải pháp về công tác cán bộ mà Nghị quyết Ðại hội XI của
Ðảng đã đề ra. Ðồng thời, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Kết luận số 37-KL/TW của Ban Chấp
hành Trung ương (khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Cụ thể là:
Trước hết, phải nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, các tổ chức trong hệ
thống chính trị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức
đảng, cơ quan, đơn vị ở các cấp về vị trí, vai trò quan trọng của công tác cán bộ
và đội ngũ cán bộ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách và
tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng đối với công tác cán bộ. Tiếp tục cụ
thể hóa, xây dựng hệ thống các quy chế bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng đối với
công tác cán bộ, nguyên tắc Ðảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản
lý đội ngũ cán bộ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ. Phát
huy đầy đủ vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ
thống chính trị. Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định nhằm mở
rộng và phát huy dân chủ, thực hiện công khai trong công tác cán bộ, làm cho
công tác cán bộ đi vào nền nếp, có tầm nhìn xa và có tính khoa học, tránh được
tình trạng tùy tiện, áp đặt chủ quan, cảm tính. Tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử,
thực hiện bầu cử có số dư một cách thực chất; mở rộng quyền tiến cử và tự ứng


22
cử, giới thiệu nhiều phương án nhân sự trong bầu cử và bổ nhiệm cán bộ. Ðổi
mới và thực hiện tốt chế độ bỏ phiếu tín nhiệm, từ chức, thôi chức, miễn chức để
kịp thời thay thế những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ. Ðổi mới việc ban
hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định về công tác cán bộ; về quy
trình công tác cán bộ, bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy đầy đủ trách
nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, tiếp tục cụ thể hóa để thực hiện các quan điểm, chủ trương của
Ðảng về công tác cán bộ một cách đồng bộ ở tất cả các khâu của công tác cán bộ.
Tiếp tục đổi mới phương pháp, quy trình đánh giá cán bộ; bảo đảm đánh giá cán
bộ công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan, toàn diện; lấy hiệu quả hoàn
thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu; chống các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc
trong đánh giá cán bộ, khắc phục tình trạng nể nang, chủ quan, cảm tính, dĩ hòa
vi quý trong đánh giá cán bộ. Ðồng thời, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân
trong đánh giá cán bộ, khắc phục tình trạng không có cá nhân nào chịu trách
nhiệm cụ thể về kết quả đánh giá cán bộ. Ðổi mới công tác tuyển dụng trên cơ sở
xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nhân tài. Cần thay đổi phương pháp tuyển dụng hiện nay, thực hiện tuyển
dụng theo chức danh, vị trí công tác. Ðối với mỗi chức danh, vị trí công tác cần
đề ra tiêu chí tuyển dụng rõ ràng, tổ chức thi tuyển công khai để chọn người thật
sự có năng lực đảm đương nhiệm vụ. Tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch, tạo
nguồn cán bộ; khi tiến hành quy hoạch cán bộ cần có cơ chế bảo vệ, xác định rõ
lộ trình đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm, đề bạt, bố trí và sử dụng cán bộ theo quy
hoạch. Xem xét, lựa chọn nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch là những người ưu tú
có triển vọng phát triển về năng lực lãnh đạo, quản lý để tạo nguồn cán bộ lâu
dài. Ðịnh kỳ rà soát bổ sung quy hoạch, đưa ra khỏi quy hoạch những người
không đáp ứng được yêu cầu, điều kiện và bổ sung nhân tố mới. Xây dựng và


23
hoàn thiện cơ chế phát hiện, tiến cử, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài; xây
dựng, cụ thể hóa tiêu chuẩn các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý làm cơ sở
cho việc phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo và bố trí, sử dụng cán bộ.
Tiếp tục đổi mới quy trình, thủ tục bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử, cụ thể
hóa trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc phát hiện, giới thiệu cán bộ theo
hướng mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; một người hoặc nhiều người có
thể giới thiệu và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu cán bộ để bổ nhiệm hoặc
ứng cử. Xây dựng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu cơ
quan, đơn vị trong công tác cán bộ.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng
tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng. Cần tập trung nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ làm công tác quản lý, giảng dạy; đổi mới phương pháp quản lý đào
tạo, tăng cường giảng viên là cán bộ đang đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo,
quản lý trong hệ thống chính trị. Ðổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng theo các tiêu chuẩn chức danh; lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng
chương trình đào tạo phù hợp với từng đối tượng; chú trọng bổ sung và cập nhật
kiến thức mới; đổi mới cách dạy, cách học, cách thi cử nhằm phát huy tính tích
cực của học viên, vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề mới nảy sinh
trong thực tiễn. Khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp đơn thuần hiện nay.
Ðẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ theo quy hoạch; thực hiện việc bố trí
cán bộ lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương và không giữ chức vụ
quá hai nhiệm kỳ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa luân chuyển, điều động và
tăng cường cán bộ; kết hợp hài hòa giữa luân chuyển với ổn định đội ngũ cán bộ
và giữa luân chuyển dọc với luân chuyển ngang; nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế,
chính sách đối với cán bộ luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao.


24
Thứ năm, cùng với giảm biên chế hành chính, cần đổi mới và hoàn thiện
chính sách đối với cán bộ, trước hết là chế độ tiền lương, nhà ở và môi trường,
điều kiện làm việc thuận lợi để cán bộ, công chức an tâm công tác, tận tâm với
công việc. Có chính sách, quy chế tôn vinh những người có đức, có tài, tâm
huyết với công việc; phát huy, sử dụng tốt tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức
và tầng lớp doanh nhân, không phân biệt là đảng viên hay người ngoài Ðảng.
Cần quan tâm giáo dục mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, tạo động lực
để cán bộ luôn phấn đấu vươn lên.
Thứ sáu, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát đối với
công tác cán bộ. Chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên thực hiện Ðiều lệ
Ðảng, thực hiện các nguyên tắc, chỉ thị, nghị quyết của Ðảng; xử lý nghiêm các
tập thể và cá nhân vi phạm các nguyên tắc, quy định của Ðảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của Ðảng với thanh tra của
Nhà nước, giữa tự kiểm tra của mỗi cấp ủy với kiểm tra của cấp trên. Xây dựng
quy chế tiếp nhận, xử lý những ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong việc nhận xét, đánh giá, phê bình tổ
chức đảng và cán bộ, đảng viên.
Thứ bảy, đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị ở các cấp phải
quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nắm vững các yêu cầu nhiệm vụ và
tích cực, chủ động trong công tác cán bộ; phát huy trách nhiệm của mình để xây
dựng đội ngũ cán bộ, không “khoán trắng” cho cơ quan, tổ chức. Ðồng thời, xây
dựng các cơ quan và đội ngũ cán bộ tham mưu cho cấp ủy về công tác tổ chức
cán bộ; đổi mới phương pháp công tác và lề lối làm việc nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác; có cơ chế, chính sách thu hút người có đức, có tài
nhằm bổ sung cán bộ có chất lượng làm công tác cán bộ. Trong điều kiện hiện
nay, cấp ủy các cấp cần đặc biệt chú ý đến việc đánh giá, tuyển chọn, bố trí, sử


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×