Tải bản đầy đủ

tiểu luận NHỮNG NGUYÊN lý về ĐẢNG KIỂU mới của v i LÊNIN

MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................................................1
MỞ ĐẦU.......................................................................................................2
NỘI DUNG...................................................................................................4
1. NHỮNG NGUYÊN LÝ VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA V.I.LÊNIN..........4
1.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:...........................4
1.2. Những nguyên lý Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân trước cách
mạng tháng Mười.................................................................................................4
1.3. Những nguyên lý Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân sau cách
mạng tháng Mười...............................................................................................12
2. VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN LÝ VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA
V.I.LÊNIN TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
...............................................................................................................................18
3. Ý NGHĨA VIỆC VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN LÝ VỀ ĐẢNG
KIỂU MỚI CỦA V.I.LÊNIN TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM HIỆN NAY..................................................................................................25
KẾT LUẬN.................................................................................................28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................30


2


MỞ ĐẦU
Trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản
chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Là người kế tục trung thành học thuyết
cách mạng của C.Mác và Ph.Ănghen, bằng hoạt động thực tiễn vô cùng đa dạng
và lao động không mệt mỏi của một thiên tài trí tuệ, một nhà lãnh đạo vĩ đại của
giai cấp vô sản, V.I.Lênin đã căn cứ vào những kết luận trong bộ Tư bản của Mác,
Người đã phân tích một cách sâu sắc chủ nghĩa tư bản và chỉ ra chủ nghĩa đế quốc
là “đêm trước của cách mạng vô sản” và điều kiện khách quan để lật đổ chủ nghĩa
tư bản. Trong những điều kiện ấy, vai trò của các Đảng Cộng sản được nâng cao
rất nhiều. Nhưng lúc này các lãnh tụ Quốc tế 2 và những người đứng đầu các
Đảng Xã hội - Dân chủ ở Tây Âu ngày càng lún sâu vào chủ nghĩa cơ hội. Họ xét
lại chủ nghĩa Mác, từ bỏ những nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Đảng
Cộng sản, âm mưu giới hạn phong trào công nhân trong khuôn khổ đấu tranh đòi
những cải cách cục bộ, không động chạm đến nền móng của chủ nghĩa tư bản.
Nhiệm vụ lịch sử lúc này là cần phải đập tan chủ nghĩa cơ hội, bảo vệ chủ nghĩa
Mác và định ra đường lối, cương lĩnh, chiến lược và sách lược đấu tranh của giai
cấp công nhân trong hoàn cảnh lịch sử mới.
Đối với nước Nga lúc bấy giờ do những điều kiện khách quan đã trở thành
nơi tập trung mâu thuẫn của hệ thống đế quốc chủ nghĩa và là khâu yếu nhất của
chủ nghĩa đế quốc. Giai cấp công nhân Nga đã tiến lên giữ vị trí tiên phong của
phong trào công nhân quốc tế. V.I.Lênin cho rằng xây dựng và củng cố Đảng cách
mạng của giai cấp công nhân là điều kiện quyết định sự thành công của sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nhìn thấy Đảng vô sản khả năng “làm đảo lộn
nước Nga” và khả năng cải tạo chế độ xã hội ở Nga. Do vậy, V.I.Lênin đã sáng
lập và rèn luyện Đảng Bônsêvích Nga thành một đảng vô sản vững mạnh, đảng đã


3
lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại, thiết lập nền chuyên chính
vô sản đầu tiên trên thế giới, mở đầu thời đại quá độ của loài người từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Dưới ánh sáng học thuyết về đảng của V.I.Lênin, các
đảng cộng sản và công nhân ở hàng loạt nước trên thế giới đã ra đời và trưởng
thành mau chóng.
Quá trình phát triển và trưởng thành của Đảng ta đã chứng minh một cách
đúng đắn của những nguyên lý của V.I.Lênin về xây dựng đảng. Chính nhờ nắm
vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam mà Đảng ta đã lãnh đạo, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Nghiên cứu thấu đáo những nguyên lý về đảng kiểu mới của giai
cấp công nhân của V.I.Lênin về xây dựng đảng và quá trình Đảng ta vận dụng


những nguyên lý đó vào thực tiễn Việt Nam là một yêu cầu lớn để nâng cao hơn
nữa chất lượng công tác xây dựng Đảng hiện nay.


4

NỘI DUNG
1. NHỮNG NGUYÊN LÝ VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA V.I.LÊNIN

1.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn
tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản bộc lộ hoàn toàn sự phản động của
nó. Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với với giai cấp tư sản, giữa giai cấp tư
sản với nhân dân các nước thuộc địa…trở nên gay gắt. Thời cơ nổ ra cách mạng
vô sản, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân đã đến gần và chín muồi,
song các đảng của quốc tế thứ hai sau khi Ph.Ăngghen mất không đủ sức mạnh,
tư cách và uy tín lãnh đạo cách mạng vô sản.
Nhiêm vụ cấp bách và nặng nề đặt ra là kế thừa, phát triển, sáng tạo những
tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về Đảng cộng sản xây dựng nên các nguyên
lý đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, và áp dụng vào thực tiễn xây dựng đảng
kiểu mới đủ sức lãnh đạo cách mạng vô sản giành thắng lợi.
Lênin đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó, đã đưa ra các nguyên lý đảng
kiểu mới, trực tiếp áp dụng, xây dựng đảng công nhân Dân chủ - Đảng kiểu mới
của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng tháng Mười giành thắng lợi to lớn, lập
nên Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử
phát triển nhân loại. Đó là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
trên phạm vi toàn thế giới.
1.2. Những nguyên lý Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân trước cách
mạng tháng Mười.
V.I.Lênin đã luận chứng và phát triển kế hoạch xây dựng Đảng Mácxít,
Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân ở nước Nga mà những nguyên lý của nó đã


5
được trình bày trong những tác phẩm đầu tay và những bài báo đã được công bố
trong báo Tia lửa. Việc thảo ra những nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng là nhiệm
vụ rất quan trọng. Trong hai chương cuối của tác phẩm “Làm gì?”, V.I.Lênin đã
nêu lên luận điểm có tính nguyên tắc, rằng: “Cơ cấu của bất cứ một cơ quan nào
cũng do nội dung hoạt động của cơ quan đó quyết định một cách tự nhiên và tất
nhiên”1. Những nguyên tắc của Đảng Công nhân Mácxít do V.I.Lênin thảo ra là
do nội dung hoạt động chủ yếu của nó quyết định, nhằm tổ chức và lãnh đạo cuộc
đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà mục đích cuối cùng là giai cấp công
nhân giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
V.I.Lênin đã chỉ ra quan điểm rằng, Đảng là lực lượng cách mạng hóa, lãnh
đạo và tổ chức của phong trào công nhân. V.I.Lênin đã bảo vệ luận điểm hết sức
quan trọng này trong cuộc đấu tranh với phái Kinh tế. Bọn chúng định hạ thấp vai
trò lãnh đạo của Đảng trong phong trào công nhân và phủ nhận sự cần thiết phải
có một tổ chức cách mạng tập trung toàn Nga. V.I.Lênin dạy rằng Đảng Mácxít là
“…một hình thức cao của phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa...”2. V.I.Lênin
chỉ ra rằng cơ sở của việc xây dựng về tổ chức và hoạt động của Đảng trong
những điều kiện của nước Nga phải là chế độ tập trung, kỷ luật nghiêm minh của
Đảng, hoạt động bí mật, chủ nghĩa quốc tế vô sản. Những nguyên tắc tổ chức xây
dựng Đảng vô sản cũng đã được V.I.Lênin luận chứng trong bản dự thảo Điều lệ
của Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga tại Đại hội II của Đảng.
Trong tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” V.I.Lênin đã đưa ra những
tiêu chuẩn cứng rắn trong sinh hoạt đảng và những nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.
Những tiêu chuẩn và nguyên tắc này đã trở thành pháp lệnh đối với toàn bộ hoạt
động sau này của Đảng. Trong tác phẩm “Thư gửi người đồng chí về nhiệm vụ tổ
1

V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1975, t.6, tr.127.

2

V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974, t.4, tr.308.


6
chức của chúng ta”, V.I.Lênin đã phát triển, cụ thể hóa kế hoạch xây dựng Đảng
đã được đề ra trong tác phẩm “Làm gì?” và các tác phẩm khác. Người phát triển
những nguyên tắc quan trọng để xây dựng Đảng theo chế độ tập trung dân chủ.
Tác phẩm này có vai trò lớn trong cuộc đấu tranh của những người Mác xít cách
mạng chống lại lề thói thủ công nghiệp, tự trị địa phương của phái kinh tế.
Trong cuộc đấu tranh thành lập Đảng của giai cấp vô sản ở nước Nga từ
những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, qua các Đại hội của Đảng Công nhân
dân chủ - xã hội Nga, qua các tác phẩm, những bài báo xuất sắc, V.I.Lênin đã bảo
vệ và phát triển sáng tạo học thuyết về Đảng của chủ nghĩa Mác, đã xây dựng
Đảng của giai cấp vô sản lên thành một khoa học hoàn chỉnh. Qua những tác
phẩm viết trong thời kỳ này, V.I.Lênin đã nêu lên và luận giải sâu sắc những
nguyên tắc về xây dựng chính Đảng vô sản kiểu mới. Có thể khái quát những
nguyên tắc đó như sau:
Thứ nhất, Đảng là một bộ phận của giai cấp công nhân, là đội quân tiên
phong của giai cấp đó.
Theo V.I.Lênin, Đảng không thể hòa lẫn với toàn bộ giai cấp như là những
người Mensêvích đã làm. Ai hòa lẫn đảng và giai cấp thì người đó đã thủ tiêu
đảng. Đảng phải có những điều khoản lựa chọn những phần tử tiên tiến, có giác
ngộ trong giai cấp công nhân, được vũ trang bằng một học thuyết tiên tiến, cách
mạng. Chỉ với những điều kiện đó, đảng mới có thể là lãnh tụ chiến đấu của giai
cấp công nhân và toàn thể người lao động. V.I.Lênin chỉ ra rằng: Chúng ta là đảng
viên của giai cấp, bởi vậy hầu như toàn bộ giai cấp (và trong thời kỳ chiến tranh,
trong thời kỳ nội chiến thì toàn bộ giai cấp không trừ một người nào cả) cần phải
hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, phải triệt để siết thật chặt hàng ngũ
chung quanh đảng. Nhưng người nào nghĩ rằng dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, hầu
như toàn bộ giai cấp hay toàn bộ giai cấp một ngày kia sẽ đủ sức vươn mình lên


7
đến chỗ đạt tới trình độ giác ngộ và tích cực của đội tiền phong của mình, của
đảng dân chủ - xã hội của mình, thì người ấy sẽ mắc cái bệnh của Ma-ni-lốp và
“chủ nghĩa theo đuôi”. Dưới chế độ tư bản, ngay cả tổ chức công đoàn (tổ chức sơ
khai hơn, vừa tầm hơn với sự giác ngộ của những tầng lớp còn lạc hậu) cũng
không đủ sức bao trùm hầu như toàn bộ, hay toàn bộ giai cấp công nhân. Người
viết tiếp: “Chúng ta là đảng của giai cấp, vì chúng ta lãnh đạo, thực sự theo tinh
thần dân chủ - xã hội, hầu như toàn bộ hay ngay cả toàn bộ giai cấp vô sản;
nhưng phải là một con người như A-ki-mốp mới có thể căn cứ vào đó mà kết luận
rằng, trên lời nói thì chúng ta phải coi đảng và giai cấp là một”1.
Theo quan điểm của V.I.Lênin Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân
so với toàn bộ giai cấp, Đảng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của giai cấp công
nhân, có lý luận tiên phong và có tổ chức chặt chẽ. Người viết: “đội tiên phong có
nghĩa vụ thường xuyên phải nâng các tầng lớp ngày càng đông đảo đó lên trình độ
tiên tiến ấy. Và chúng ta chính là sẽ nhắm mắt lại và quên mất như vậy, nếu xoá bỏ
sự khác nhau giữa những người gần gũi đảng và những đảng viên, giữa những phần
tử giác ngộ và tích cực với những người giúp đỡ chúng ta”2.
Thứ hai, Đảng là bộ phận có tổ chức của giai cấp công nhân.

Đảng không những là đội tiền phong mà còn là đội ngũ có tổ chức của giai
cấp công nhân. Đảng phải lãnh đạo cuộc đấu tranh thực tiễn của giai cấp công nhân,
của toàn thể những người lao động, hướng sự cố gắng của họ vào một mục đích. Mà
điều đó cũng chỉ thực hiện được trong trường hợp nếu như tất cả đảng viên trong đảng
phải được tổ chức lại, đoàn kết bằng sự thống nhất ý chí, tham gia vào một trong các tổ
chức của đảng, phục tùng tất cả mọi nghị quyết của đảng và mọi yêu cầu của kỷ luật

1

V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.291.

2

V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.290.


8
đảng. V.I.Lênin giải thích: “Nếu tôi nói rằng đảng phải là một tổng số (không phải là
một tổng số đơn giản trong số học mà là một tổng hợp) các tổ chức,... Nói như thế, tôi
muốn trình bày một cách tuyệt đối rõ ràng và chính xác rằng tôi muốn và tôi đòi hỏi
đảng, đội tiền phong của giai cấp, phải hết sức có tổ chức, rằng đảng chỉ nên thu nhận
những phần tử ít nhất cũng phải chấp nhận một tính tổ chức tối thiểu”1.
Trong tác phẩm “Làm gì”, phê phán quan điểm của phái Mensêvích về cái
gọi là nội dung quan trọng hơn hình thức, cương lĩnh quan trọng hơn tổ chức...,
V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất trong những vấn đề cương lĩnh và sách lược là
điều kiện tất yếu, nhưng chưa đầy đủ để đảm bảo sự thống nhất của đảng và sự
tập trung hoá công tác của đảng...Muốn đạt được sự thống nhất trên đây, thì còn
phải có sự thống nhất về tổ chức nữa, điều này không thể thực hiện được đối với
một đảng vừa mới ít nhiều vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một tiểu tổ, và
chưa có một bản điều lệ đã được chính thức quy định, chưa có nguyên tắc thiểu
số phục tùng đa số, bộ phận phục tùng toàn bộ…”2.
V.I.Lênin còn nhấn mạnh rằng trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, giai
cấp công nhân không có vũ khí nào tốt hơn là sự tổ chức; rằng, tổ chức quả là một vũ
khí nhờ đó mà giai cấp vô sản sẽ tự giải phóng; rằng, đối với giai cấp công nhân thì tổ
chức là vũ khí đấu tranh giai cấp. V.I.Lênin cho rằng: “Trong cuộc đấu tranh để giành
chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là sự tổ chức. Bị phân
chia vì sự cạnh tranh vô chính phủ đang thịnh hành trong giới tư sản, bị đè nặng dưới
sự lao động nô lệ cho tư bản, luôn luôn bị dìm sâu “tận đáy” của cảnh khổ cực, của
sự cùng quẫn và của sự thoái hoá, nhưng giai cấp vô sản vẫn có thể - và tất nhiên sẽ
trở thành - một lực lượng vô địch, chỉ là vì một lý do này: sự thống nhất tư tưởng của

1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.285-286.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.454-455.


9
giai cấp vô sản dựa trên cơ sở những nguyên lý chủ nghĩa Mác được củng cố bằng sự
thống nhất vật chất của tổ chức”1.
Theo V.LV.I.Lênin, Đảng chẳng những là đội tiền phong, đội tiền phong có
tổ chức mà còn là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân. V.I.Lênin viết:
“Chúng ta là Đảng của giai cấp, bởi vậy hầu như toàn bộ giai cấp (và trong thời
kỳ chiến tranh, trong thời kỳ nội chiến thì toàn bộ giai cấp không trừ một người
nào cả) cần phải hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, phải triệt để xiết thật
chặt hàng ngũ chung quanh Đảng”2.
Ngoài Đảng ra, giai cấp vô sản còn các tổ chức khác nữa như: công đoàn,
đoàn thanh niên, các hợp tác xã, các tổ chức văn hoá, giáo dục... Tất cả các tổ
chức đó đều cần thiết đối với giai cấp công nhân, Người viết: “...Các tổ chức
đảng của chúng ta bao gồm những người dân chủ - xã hội chân chính mà càng
mạnh mẽ bao nhiêu, và trong nội bộ đảng càng ít có tình trạng dao động và
không kiên định bao nhiêu, thì ảnh hưởng của đảng đối với những người trong
quần chúng công nhân chung quanh đảng và chịu sự lãnh đạo của đảng, sẽ càng
rộng rãi, càng nhiều mặt, càng phong phú, càng hiệu quà bấy nhiêu”3.
Thứ tư, Đảng phải được xây dụng trên nguyên tắc tập trung dân chủ.
Theo V.I.Lênin, Đảng phải xây dựng và hoạt động trên cơ sở của một điều
lệ thống nhất, lãnh đạo phải từ một trung tâm thống nhất (đại hội đảng và khoảng
thời gian giữa các đại hội là ban chấp hành trung ương); có kỷ luật thống nhất;
thiểu số phục tùng đa số; việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo phải tiến hành từ dưới
lên trên; các cơ quan đảng phải báo cáo từng thời kỳ trước các tổ chức của mình.

1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.490.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.289.

3

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.288-289.


10
Chỉ tuân theo những yêu cầu đó thì đảng mới có thể thực hiện được vai trò lãnh tụ
của giai cấp công nhân.
Nhấn mạnh ý nghĩa của chế độ tập trung, V.I.Lênin viết: “...trước kia Đảng ta
chưa phải là một khối chính thức có tổ chức, mà chỉ là tổng số những nhóm riêng
biệt và do đó, giữa các nhóm ấy không thể có những quan hệ nào khác, ngoài sự tác
động về mặt tư tưởng. Hiện nay, chúng ta đã trở thành một đảng có tổ chức điều đó
có nghĩa là chúng ta đã tạo ra một quyền lực, biến uy tín về tư tưởng thành uy tín về
quyền lực, khiến cấp dưới phải phục tùng cấp trên của đảng”1.
Theo V.I.Lênin, một Đảng thống nhất và tập trung của giai cấp công

nhân phải là một Đảng có kỷ luật. Nếu như không có một kỷ luật thống nhất và
những trách nhiệm thống nhất trong khi thi hành nghị quyết và các yêu cầu của
điều lệ Đảng thì sẽ không thể tránh khỏi mọi biểu hiện bè phái và phe nhóm trong
các đội ngũ của Đảng, những biểu hiện đó sẽ dẫn Đảng đến chỗ tan rã. Kỷ luật
phải bắt buộc như nhau đối với tất cả mọi đảng viên. Trong Đảng không thể chia
thành “những người được lựa chọn”, “những nhân vật cấp trên” và “những đảng
viên thường”, V.I.Lênin viết: “...khi một đảng chân chính dần dần được hình
thành, thì người công nhân giác ngộ cần phải học cách... đòi hỏi không những
các đảng viên thường, mà cả “những nhân vật cấp trên” nữa đều phải làm tròn
trách nhiệm của người đảng viên...”2.
Thứ năm, Đảng là hiện thân của sự gắn bó giữa đội tiền phong của giai
cấp công nhân và đông đảo quần chúng lao động.
Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân chứ không phải bao gồm hết
thảy toàn bộ giai cấp. Vậy đội tiên phong đó muốn tồn tại, phát triển và có đủ lực
1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.428-429.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1975, t.6, tr.464.


11
lượng, sức mạnh hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình thì phải liên hệ chặt chẽ
với quần chúng. Đảng không thể lãnh đạo được giai cấp nếu như Đảng không có sự
liên hệ với quần chúng công nhân ngoài Đảng và các tầng lớp lao động khác,
V.I.Lênin viết: “Muốn trở thành một đảng dân chủ - xã hội, thì cần phải được sự

ủng hộ của chính giai cấp”1.
Trong mối liên hệ với quần chúng, Đảng phải khắc phục khuynh hướng lệch
lạc, vượt quá xa trình độ của quần chúng, xa rời quần chúng, đồng thời cũng đề
phòng khuynh hướng theo đuôi, hạ thấp trình độ Đảng xuống ngang trình độ quần
chúng. V.I.Lênin viết: “chúng ta sẽ chỉ tự lừa dối mình, nhắm mắt trước những
nhiệm vụ bao la của chúng ta, thu hẹp những nhiệm vụ đó lại, nếu chúng ta quên
mất sự khác nhau giữa đội tiền phong và tất cả số quần chúng hướng theo đội tiền
phong đó; nếu chúng ta quên mất rằng đội tiền phong có nghĩa vụ thường xuyên
phải nâng các tầng lớp ngày càng đông đảo đó lên trình độ tiên tiến ấy”2.
Thứ sáu, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng.
V.I.Lênin coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Tự
cao, tự đại, không thấy những sai lầm, khuyết điểm của mình, giấu giếm những
sai lầm, khuyết điểm là một trong những nguyên nhân làm giảm năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng. V.I.Lênin cho rằng “tự phê bình là một việc tuyệt
đối cần thiết cho hết thảy mọi chính đảng sống và đầy sức sống. Không gì tầm
thường bằng chủ nghĩa lạc quan tự mãn”3. Theo V.I.Lênin, Đảng không được
giấu giếm những sự thật đối với quần chúng, không được che giấu những sai lầm
và khuyết điểm đã mắc phải, Đảng phải mạnh dạn tiến hành “...công tác tự phê

1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.293.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.8, tr.289-290.

3

V.I.Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.10, tr.395-396.


12

bình của mình và tiếp tục bóc trần một cách không khoan nhượng những
thiếu sót của bản thân mình...”1.
Tư tưởng về tự phê bình và phê bình của V.I.Lênin được thể hiện rõ nét và
nổi bật qua cuộc đấu tranh tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng công nhân
dân chủ-xã hội Nga, trong tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi” V.I.Lênin đã
vạch mặt phái Mensêvích lợi dụng tự phê bình và phê bình vô nguyên tắc “ngồi

lê đôi mách để tiến hành đấu tranh ở bên ngoài đại hội ”2. Người cho đó là
hành vi vu khống, là hành động thiếu nhân cách. Tư tưởng đó sau này tiếp tục
được V.I.Lênin phát triển thêm trong tác phẩm “Bệnh ấu trỉ tả khuynh trong

phong trào cộng sản” và trong nhiều tác phẩm khác Người viết sau cách mạng
Tháng Mười.
1.3. Những nguyên lý Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân sau cách mạng
tháng Mười.
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chuyên chính vô sản được
thiết lập, Đảng Bônsêvích Nga trở thành đảng cầm quyền. Trong điều kiện mới
phải tiếp tục củng cố Đảng, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Chuyên chính
vô sản là một cuộc đấu tranh kiên trì, gay go, ác liệt chẳng những phải chống thù
trong, giặc ngoài, mà còn phải cải tạo xã hội cũ, phải chống lại sức mạnh ghê gớm
của những thế lực và thói quen cũ đã ăn sâu trong hàng chục triệu con người, phải
xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa. Muốn giành được thắng lợi cuộc đấu tranh đó, nhất thiết phải có một đảng
vững mạnh đã được tôi luyện trong đấu tranh lâu dài. Theo quan điểm của
V.I.Lênin, không có sự lãnh đạo của Đảng thì không thể có chuyên chính vô sản.
1
2

V.I.Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.8, tr.220.
V.I.Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.8, tr.404.


13
Có thể khái quát tư tưởng của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân
giai đoạn sau cách mạng tháng Mười là vô cùng rộng lớn, gồm những nội dung cơ
bản sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động của đảng cộng sản. V.I.Lênin nhấn mạnh, mọi hoạt động của Đảng, mọi
đường lối, sách lược của Đảng đều phải dựa trên lý luận Mác-xít. V.I.Lênin chỉ rõ:
“chủ nghĩa Bôn-sê-vích đã phát sinh năm 1903 trên một cơ sở vững chắc nhất
của lý luận mác- xít. Và tính chất đúng đắn của lý luận cách mạng ấy- và chỉ
của lý luận ấy thôi- đã được chứng minh không những bởi kinh nghiệm toàn thế
giới trong suốt thế kỷ XIX mà còn và nhất là bởi kinh nghiệm của những sự ngã
nghiêng và do dự, những sai lầm và thất vọng của tư tưởng cách mạng ở Nga” 1.
Vì vậy, Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
mọi hoạt động của Đảng “Chúng ta đã giáo dục đảng của giai cấp vô sản theo
một cương lĩnh mác xít; và chúng ta cũng phải giáo dục như vậy hàng chục triệu

người lao động ở nước ta”2.
Thứ hai, Đảng cộng sản là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có
tổ chức chặt chẽ nhất, cách mạng nhất và giác ngộ nhất của giai câp công nhân.
V.I.Lênin chỉ rõ, Đảng là một bộ phận của giai cấp chứ không phải toàn bộ giai cấp.
V.I.Lênin khẳng định, Đảng là “đội tiền phong giác ngộ nhất của giai cấp vô

sản”3, V.I.Lênin nhấn mạnh: ‘Ai sợ khó khăn trong việc kiến thiết xã hội chủ nghĩa,
ai để cho những khó khăn đó làm cho mình khiếp đảm, ai tỏ ra tuyệt vọng hay
hoang mang hèn nhát, người đó không phải là một người xã hội chủ nghĩa”4.
1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.41, tr.8.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.38, tr.217.

3

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.36, tr.231.

4

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.40, tr.366.


14
Thứ ba, khi có chính quyền, Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị
của chủ nghĩa xã hội và là một bộ phận của hệ thống đó. Theo V.I.Lênin, chỉ có
Đảng mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực xứng đáng là người lãnh đạo
trong hệ thống chính trị của xã hội chủ nghĩa và đây cũng là điều kiện tất yếu để
đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sau khi giành
được chính quyền giai cấp công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng định
hướng sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội “tóm lại, chúng

ta có một bộ máy vô sản, về hình thức thì không phải là cộng sản, một bộ máy
mềm dẻo và tương đối rộng rãi, rất mạnh, một bộ máy mà thông qua đó đảng liên
hệ chặt chẽ với giai cấp và với quần chúng và thông qua đó, chuyên chính của

giai cấp được thực hiện dưới sự lãnh đạo của đảng”1. Chính vì vậy chúng ta
không được phép buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng vì điều này sẽ thủ tiêu sức
mạnh của Nhà nước và của cả hệ thống chính trị trong chủ nghĩa xã hội, là mở
đường cho những phần tử phản động cướp chính quyền, đưa đất nước trở lại con
đường tư bản chủ nghĩa.
Thứ tư, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức,
sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Theo V.I.Lênin, tập trung dân chủ là thuộc tính
cơ bản của Đảng cộng sản. Đảng không phải là một câu lạc bộ, Đảng sẽ bị tan rã
nếu Đảng không là một khối đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
V.I.Lênin chỉ rõ, Đảng cộng sản phải được tổ chức, sinh hoạt và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Thiếu sự chỉ đạo tập trung dân chủ có thể trở thành
vô chính phủ, cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Thiếu dân chủ là phá hoại tính tập
thể trong lãnh đạo và sẽ dẫn đến tình trạng tập trung quan liêu, chuyên quyền, độc
đoán. Theo V.I.Lênin “Chế độ tập trung dân chủ chỉ có nghĩa là đại biểu các địa

1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.41, tr.38.


15
phương hội họp lại và cử ra cơ quan có trách nhiệm để tiến hành việc quản
lý...”2. Để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, theo V.I.Lênin
trước hết “Mọi tổ chức đảng có trách nhiệm cung cấp cho Ban chấp hành trung
ương (hoặc các phái viên của nó) và cho ban biên tập Cơ quan ngôn luận trung
ương tất cả mọi phương tiện để tìm hiểu được toàn bộ sự hoạt động và toàn thể
đảng viên của tổ chức đó”2.
Thứ năm, Đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tự
phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Đoàn kết thống nhất là
nguồn sức mạnh của Đảng, nó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân của
Đảng. Trong nhiều tác phẩm của mình, V.I.Lênin đã lý giải một cách toàn diện sâu
sắc tính tất yếu và tầm quan trọng đặc biệt của sự thống nhất trong đội ngũ Đảng.
Đồng thời, người cũng chỉ rõ, đó là nguồn sức mạnh chủ yếu, vô địch và vô tận
của đảng, là điều kiện để đoàn kết giai cấp “Bất cứ sự bất đồng nào, ngay cả
một sự bất đồng không đáng kể, cũng có thể trở thành nguy hiểm về mặt chính
trị”3. V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến sự đoàn kết thống nhất của Đảng trong điều
kiện đã có chính quyền “Chuyên chính vô sản không thể thực hiện đ ược nếu

không có sự đoàn kết nhất trí của những người lao động”4. Để sự thống nhất
trong Đảng luôn được củng cố và phát triên, Đảng cần phải thường xuyên và
nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình từ đó mới rút ra được những bài
học kinh nghiệm và tìm cách khắc phục sai lầm. V.I.Lênin chỉ rõ “...Chúng ta
không sợ công khai phơi bày các sai lầm của chúng ta để sửa chữa”5. Với ý
nghĩa quan trọng của việc tự phê bình và phê bình trong Đảng nêu trên, V.I.Lênin
1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.40, tr.303.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, t.54, tr.576.

3

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.42, tr.336.

4

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.40, tr.260.

5

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, t.44, tr.120.


16
chỉ rõ thái độ “công khai thừa nhận sai lầm” của một Đảng là tiêu chí quan trọng
để đánh giá, xem xét Đảng đó có thật sự là đảng mácxít hay không. Bên cạnh đó,
V.I.Lênin cũng nhấn mạnh “cần phải để cho tất cả các đảng viên được hết sức tự
do phê bình các cơ quan trung ương và công kích các cơ quan trung ương”1.
Thứ sáu, Đảng gắn bó chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh để ngăn
ngừa và khắc phục bệnh quan liêu, xa rời nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của
dân chúng. Nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của dân chúng thì mọi chủ
trương, đường lối của Đảng không trở thành hiện thực. Vì vậy, sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể thành công nếu Đảng tổ
chức và phát huy được tính sáng tạo cách mạng của nhân dân. Người chỉ ra rằng:
“Vì trong quần chúng nhân dân, chúng ta chỉ tựa như một giọt nước trong đại
dương, và chỉ khi nào biểu hiện được đúng ý nguyện của nhân dân thì chúng ta
mới quản lý nhà nước được”2. Vì vậy, chỉ riêng với bàn tay những người cộng sản
thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Tính sáng tạo sinh động của
nhân dân, đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới. V.I.Lênin khẳng định: “Không có
sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong

của mình, tức là đối với giai cấ p vô sản, thì cách mạng vô sả n không thể thực
hiện được”3. V.I.Lênin chỉ rõ: “Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ
nhất là sự cắt đứt liên hệ với quần chúng...”4 . Để Đảng luôn giữ được mối liên hệ
mật thiết với nhân dân, theo V.I.Lênin trước hết Đảng phải đổi mới lối làm việc
của mình, phải làm cho Đảng thật sự là đội tiên phong của giai cấp vô sản cách

1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, t.46, tr.430.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, t.45, tr.134.

3

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.39, tr.251.

4

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, t.44, tr.426.


17
mạng. Đồng thời V.I.Lênin cũng yêu cầu xử lý hết sức nghiêm minh đối với
những cán bộ đảng viên của Đảng xa rời quần chúng.
Thứ bảy, là Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động vào Đảng, kịp thời đưa những người không đủ
tiêu chuẩn và những phần từ cơ hội ra khỏi Đảng. Đảng là đội tiên phong của giai
cấp. Đảng chỉ có thể làm tròn vai trò ấy nếu trong Đảng chỉ bao gồm những chiến
sĩ tiên phong. Tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú vào Đảng là biện pháp quan
trọng để cải thiện thành phần, nâng cao chất lượng của Đảng, là điều kiện vô cùng
quan trọng để nâng cao uy tín và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo
V.I.Lênin: “Chỉ có những người chân thành đi theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ

những ai thành tâm trung thành với nhà nước công nhân, chỉ có những người
lao động trung thực, chỉ có những đại biểu thật sự của quần chúng bị áp bức
dưới thời chủ nghĩa tư bản, mới vào đảng được”1. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ
cách mạng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đều không thể tránh khỏi có một số
người không còn giữ được vai trò tiên phong. Đặc biệt trong điều kiện Đảng có
chính quyền không thể tránh khỏi những phần tử cơ hội tìm mọi cách chui vào
Đảng và mưu đồ lợi ích cá nhân, phá hoại sự đoàn kết thống nhất của Đảng, làm
giảm sút niềm tin của quần chúng đối với Đảng. Vì vậy, song song với việc tích
cực kết nạp đảng viên mới thì đồng thời cũng kịp thời đưa những người không đủ
tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng, đảm bảo cho Đảng luôn trong
sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. V.I.Lênin
nhấn mạnh: “Cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian xảo, những đảng
viên cộng sản đã quan liêu hoá, không trung thực, nhu nhược…”2.

1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.39, tr.256.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, t.44, tr.154.


18
Thứ tám, là tính quốc tế của Đảng cộng sản. Chủ nghĩa quốc tế của giai
cấp công nhân là bản chất của Đảng cộng sản. Bản chất đó bắt nguồn từ vai trò,
sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. V.I.Lênin chỉ ra rằng:

“Thắng lợi của cách mạng vô sản đòi hỏi giai cấp công nhân tất cả các nước
tiên tiến phải hết sức tin cậy lẫn nhau, đoàn kết anh em hết sức chặt chẽ với nhau
và phải hết sức nhất trí trong các hành động cách mạng của họ”1. Tính quốc tế
của Đảng, trước hết phải được thể hiện trong thực tiễn mà cụ thể là Đảng tổ chức
và hoạt động theo những nguyên lý của học thuyết Mác về Đảng; ở đường lối
chiến lược, sách lược đối nội, đối ngoại của Đảng; ở chỗ Đảng luôn quan tâm
giáo dục đội ngũ đảng viên và nhân dân lao động chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đảng
phải kiên quyết chống mọi khuynh hướng sô-vanh nước lớn hoặc chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi. V.I.Lênin cũng chỉ rõ, tính quốc tế của Đảng không chỉ được quy định
bởi tính quốc tế của giai cấp công nhân, bởi mục tiêu đấu tranh của các đảng cộng
sản không chỉ dừng lại trong phạm vi một nước mà là trên toàn thế giới và kẻ thù
của giai cấp công nhân là giai cấp tư sản có “sức mạnh của tư bản quốc tế, ở
những mối liên hệ quốc tế mạnh mẽ và vững chắc của giai cấp tư sản”2. Vì vậy,
V.I.Lênin khẳng định, cách mạng vô sản muốn thắng lợi thì giai cấp vô sản và các
dân tộc bi áp bức trên toàn thế giới phải đoàn kết chặt chẽ với nhau cùng đánh kẻ
thù chung là giai cấp tư sản.
2. VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN LÝ VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA V.I.LÊNIN
TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Học thuyết Mác - Lênin về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân,
cũng như toàn bộ Chủ nghĩa Mác-Lênin với thuộc tính cách mạng và khoa học
của nó đòi hỏi các chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân phải xuất phát từ
1

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.38, tr.109.

2

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t.41, tr.6.


19
điều kiện cụ thể của dân tộc, giai cấp, thực tiễn chính trị và xã hội của đất nước
mình mà vận dụng sáng tạo, phù hợp.
Là người trung thành và kiên trì đi theo Chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí
minh chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học cái tinh thần xử lý mọi việc,
đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến
của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế ở
nước ta”1.
Thứ nhất, Đảng Cộng sản việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân,
đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin
“làm cốt”:
Bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã có một luận
điểm quan trọng: Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đồng
thời là Đảng của dân tộc Việt nam. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951), Người khẳng định: “Trong giai đoạn này,
quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một.
Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”2.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII nhấn mạnh: “Khẳng định bản chất
giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta không tách rời Đảng và giai cấp với các
tầng lớp nhân dân lao động khác, với toàn thể dân tộc. Ngay từ khi mới thành
lập, Đảng ta đã mang trong mình tính thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố
dân tộc. Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết giải
phóng dân tộc. Đảng tìm thấy nguồn sức mạnh không chỉ ở giai cấp công nhân
mà còn ở các tầng lớp nhân dân lao động, ở cả dân tộc. Cũng từ đó, nhân dân
1
2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr.292.
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr.175.


20
lao động và cả dân tộc đã thừa nhận Đảng ta là người lãnh đạo, người đại biểu
chân chính cho quyền lợi cơ bản, thiết thân của mình”1. Đó cũng là vấn đề có ý
nghĩa phương pháp luận quan trọng với tình hình hiện nay trong công tác xây
dựng đảng, tránh bệnh tả khuynh (cô độc, biệt phái) hoặc hữu khuynh (xóa nhòa
bản chất giai cấp công nhân của Đảng). Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của dân tộc”2.
Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Khi nghiên cứu tình hình ở các
nước tư bản, Lênin đã nêu ra luận điểm: Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết
hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Bám sát đặc điểm tình hình Việt
Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Hồ Chí
Minh cho rằng nếu kết hợp Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân thì
chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé, phong trào công nhân còn non yếu.
Trong khi đó phong trào yêu nước rất mãnh liệt của nhân dân, bất luận là giai cấp,
tầng lớp nào, vì vậy phải kết hợp với phong trào yêu nước của đông đảo quần
chúng. Đảng ra đời ngày 3-2-1930 là kết quả của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Ngay trong quá trình vận động chuẩn bị thành lập Đảng, trong Đường Cách
mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có

1

ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, HN, 1991, tr.128.

2

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI), Nxb CTQG – ST, Hà Nội, 2011, tr.4.


21
chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”3. Dẫn
đường cho mọi hoạt động của giai cấp đều cần thiết phải có một học thuyết cách
mạng. Song, theo Hồ Chí Minh, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều
nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa
Lênin”2. Nếu không có lý luận dẫn đường, Đảng chỉ là một tập hợp ngẫu nhiên,
rời rạc, thiếu thống nhất và không có sức mạnh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học
thuyết cách mệnh nhất vì nó chỉ ra cho Đảng mục tiêu, con đường thực hiện sứ
mệnh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng dân tộc,
xóa bỏ áp bức bất công, xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp. Lấy Chủ nghĩa
Mác – Lênin làm cốt không có nghĩa là giáo điều máy móc theo từng câu, từng
chữ mà chính là nắm vững tinh thần của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó linh
hồn sống là phép biện chứng duy vật. Đồng thời phải thâu tóm tinh hoa văn hóa
của dân tộc và nhân loại, tham khảo kinh nhiệm của các đảng anh em, vận dụng
sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam để hoạch định đường lối đúng đắn.
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XI viết: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của
nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất
nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn và phù hợp
với nguyện vọng của nhân dân”3.
Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam phải được xây dựng theo những
nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản:
+ Về nguyên tắc tập trung dân chủ.
1

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, HN, 1995, t.2, tr.268.

2

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, HN, 1995, t.2, tr.268.

3

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI), Nxb CTQG – ST, Hà Nội, 2011, tr.4-5.


22
Đây là nguyên tắc rường cột để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ
chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa phát huy sự
nghiệp của tất cả những ai đã tự nguyện gắn bó với nhau thành một tổ chức. Văn
kiện Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định:
“Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức sinh hoạt và hoạt động
của đảng”1. Những nội dung cơ bản của nguyên tắc này được phản ánh sâu sắc
trong Điều lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đây là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Dân chủ và
tập trung có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau, là hai mặt của một vấn đề. Dân
chủ không đối lập với tập trung, mà chỉ đối lập với tình trạng độc đoán chuyên
quyền. Tập trung không đối lập với dân chủ mà chỉ đối lập với tình trạng tản mát, tự
do tùy tiện, vô tổ chức. Dân chủ là để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung. Tập
trung chỉ có thể đạt được trên cơ sở phát huy dân chủ thực sự trong Đảng.
Để bảo đảm tập trung, Người nhấn mạnh phải thống nhất về tư tưởng, tổ
chức, hành động. Do đó, thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp
trên, mọi đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Từ đó làm
cho “Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiến hành đánh thì chỉ như một người”2.
Để bảo đảm dân chủ, Người yêu cầu tư tưởng phải tự do. Đối với mọi vấn đề, mọi
người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó một quyền lợi
mà cũng chính là nghĩa vụ của mỗi người.
Về tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây
là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Sở dĩ phải bảo đảm tập thể lãnh đạo vì một
người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng
không thể thấy hết được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Nhiều người thì
1

ĐCSVN: Văn kiện HN lần thứ 6 BCHTW khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, tr.25.

2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, HN, 1995, t.5, tr.553.


23
nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do đó hiểu được mọi
mặt, mọi vấn đề. Sở dĩ cá nhân phụ trách là vì nếu không sẽ dẫn đến tệ bừa bãi,
lộn xộn, vô chính phủ rồi hỏng việc. Vì thế, bất kỳ công việc gì sau khi đã được
tập thể bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch rõ ràng thì cần giao cho một người phụ trách,
nếu giao cho một nhóm người thì cũng cần có một người phụ trách chính, như thế
công việc mới chạy, mới tránh được thói dựa dẫm, đùn đẩy trách nhiệm. Do đó,
tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn đi đôi với nhau.
+ Về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng:
Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc sinh hoạt đảng, là quy luật phát triển
của đảng. Người thường đặt tự phê bình lên trước phê bình. Bởi vì Người cho
rằng, mỗi đảng viên trước hết phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, khắc phục
khuyết điểm, giống như phải tự soi gương rửa mặt hàng ngày. Hơn nữa phải tự
phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người xem tự phê bình và phê
bình là vũ khí để rèn luyện đảng viên, nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ
hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết
điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn
cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó.
Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn chân chính”1. Muốn thực hiện
tốt nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân
mình cũng như với người khác, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Người
phê phán những thái độ lệch lạc, sai trái, thường xảy ra trong tự phê bình và phê
bình như thiếu trung thực, che giấu khuyết điểm của bản thân, sợ phê bình, không
dám phê bình, nể nang, dĩ hòa vi quý, hoặc ngược lại lợi dụng phê bình để nói
xấu, bôi nhọ, vùi dập, đả kích người khác…
1

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, HN, 1995, t.5, tr.261.


24
+ Về đoàn kết thống nhất trong Đảng:
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đoàn kết, thống nhất trong Đảng là cơ sở để
xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải bảo
đảm sự đoàn kết, thống nhất trong đảng như bảo vệ con ngươi của mắt mình. Cơ
sở để xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong đảng là đường lối, quan điểm của
Đảng và Điều lệ Đảng. Nó tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, về tổ chức, từ đó có
sự thống nhất về hành động của đảng vào thực tiễn, biến đường lối của Đảng
thành hành động của quần chúng. Để xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong
đảng, Người yêu cầu phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ để cán bộ đảng
viên có thể tham gia bàn bạc đến nơi đến chốn những vấn đề hệ trọng của Đảng;
phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần trung thực,
chân thành, thẳng thắn, tự nghiêm khắc với mình và có tình thương yêu đồng chí;
phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân với
bao nhiêu thứ tệ nạn nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân.
Từ thực tiễn cách mạng Viêt Nam, Đai hội đảng toàn quốc lần thứ VII của
Đảng đã khẳng định: “Trong điều kiện lãnh đạo chính quyền, Đảng đặc biệt coi
trọng đổi mới công tác quần chúng của đảng theo quan điểm: cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; sức mạnh của đảng là ở sự
gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân, làm suy
yếu sức mạnh của đảng, của cách mạng sẽ đưa đến những tổn thất không lường
được đối với vận mệnh của đất nước”1. Hồ Chí Minh yêu cầu, cán bộ đảng viên
phải thường xuyên đi sâu vào đời sống quần chúng nhân, tổng kết, đúc kết ý kiến
của quần chúng. Người lãnh đạo phải biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân
dân, nhưng không được theo đuôi quần chúng.

1

ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sư thật, H.1991, tr.20.


25
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, luận
điểm Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân
của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Trong khi tổ chức đảng có nơi buông
lỏng lãnh đạo, khoán trắng cho chính quyền, thì cũng xuất hiên khuynh hướng
ngược lại là quan liêu, gia trưởng, độc đoán xa rời quần chúng. Do đó, tăng cường
vai trò lãnh đạo của đảng phải đi đôi với phát huy dân chủ rộng rãi thông qua hai
hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Phát huy dân chủ không phải là
mục tiêu hướng tới của đảng mà còn sẽ tạo nên động lực phát triển của đảng và
toàn xã hội. Mở rộng dân chủ phải gắn với tăng cường kỹ cương, chống tình trạng
vô chính phủ, tùy tiện nhất là các biểu hiện lợi dụng dân chủ để chống đảng,
chống nhân dân, chống chế độ.
Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản mà Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã chỉ dẫn đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Thực tế những
năm đổi mới đã chỉ rõ, ở đâu có quan liêu, tham nhũng, ở đó xa rời nguyên tắc tập
trung dân chủ; chưa thật sự bảo đảm tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thiếu
tinh thần tự phê bình và phê bình; kỷ luật lỏng lẻo; thiếu gắn bó mật thiết với
nhân dân. Vì vậy, tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cộng
sản là những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách hiện nay. Chính vì vậy, chúng ta
phải không ngừng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, cụ thể hóa những
nguyên tắc đó một cách phù hợp với từng tổ chức đảng trong từng cơ quan thuộc
hệ thống chính trị và tổ chức kinh tế, xây dựng một cơ chế tương hỗ để các
nguyên tắc đó phát huy đầy đủ, đúng đắn, tránh vận dụng lệch lạc, tùy tiện.
3. Ý NGHĨA VIỆC VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN LÝ VỀ ĐẢNG KIỂU MỚI CỦA
V.I.LÊNIN TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Từ ngày ra đời đời đến nay, trải qua biết bao thử thách gay go quyết liệt,
Đảng ta vẫn không ngừng lớn mạnh. Đó là nhờ Đảng ta được xây dựng theo


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×