Tải bản đầy đủ

BÀI THI FINAL chỉnh sửa xong

“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

TRANG

NỘI DUNG

I. Tổng quan về nghiên cứu

2

1. Lý do chọn đề tài

2

2. Mục tiêu đề tài

3

4. Cơ sở lý thuyết

5


II. Nội dung

7

Chương 1 : Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng và giải pháp của vấn đề nghiên cứu

10

1. Thực trạng vấn đề xử lý rác thải hiện nay tại trường học

10

2. Giải pháp xử lý rác thải trong và xung quanh khu vực trường

11

học
3. Xử lý rác thải hữu cơ tại trường học bằng phương pháp nuôi

15

giun quế
4. Phương pháp xử lý rác thải hữu cơ tại vùng nông thôn
Chương 3: Kết quả nghiên cứu

19
26

1. Những công tác kết hợp nhằm xử lý rác thải tại trường THCS

26

Trần Văn Ơn
2. Kết quả

27

III. KẾT LUẬN



28

TÊN ĐỀ TÀI : XỬ LÝ RÁC THẢI HỮU CƠ BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI
GIUN QUẾ

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

1

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

I. Tổng quan về nghiên cứu
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo đó là sự phát triển của con người và các
vấn đề của xã hội như tệ nạn, ô nhiễm môi trường,…Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi
trường là một vấn đề đang nhận được sự quan tâm của toàn xã hội.
Ô nhiễm môi trường sẽ kéo theo đó là sự biến đổi khí hậu, điều này đã và
đang ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người không chỉ thế hệ chúng ta mà còn
cả thế hệ mai sau.
Khí hậu biến đổi một cách trầm trọng như vậy là do rất nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong đó một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó là rác thải,
con người xả rác một cách “vô tội vạ” gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến khí
hậu. Dự báo tổng lượng chất thải rắn từ sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần
22 triệu tấn/năm (nguồn thông tin: eqe.edu.vn)
Đó cũng là sự lãng phí rất lớn, bởi phần nhiều số rác thải đó có thể tái sử
dụng, vừa có giá trị vật chất, vừa giảm sự phân hủy tạo thành những chất gây ô
nhiễm môi trường.
Để ngăn chặn được sự gia tăng của rác thải là một điều dường như không
thể, nhưng để hạn chế được vấn đề này thì chúng ta cần phải có những bước đi thật
hiệu quả để thay đổi ngay từ trong ý thức của các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ những mầm non tương lai của đất nước.
Môi trường ở các trường học hiện nay chưa thật sự xanh, sạch, đẹp. Nguyên
nhân cơ bản là do các bạn học sinh còn thiếu hiểu biết, thiếu ý thức trong việc bảo
vệ và giữ gìn môi trường.

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

2

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Và mỗi ngày có hàng trăm, hàng tấn rác hữu cơ như phân trâu bò lợn, phế
thải rau củ quả, thân thảo… được thải ra ở các hộ gia đình đặc biệt là các vùng
nông thôn Việt Nam gây áp lực lớn đến môi trường. Đó cũng là sự lãng phí rất lớn,
bởi phần nhiều số rác thải đó có thể tái sử dụng, vừa có giá trị vật chất, vừa giảm sự
phân hủy tạo thành những chất gây ô nhiễm môi trường.

Hình ảnh thải phân thỏ

Hình ảnh chuồng nuôi lợn

Xây dựng các cơ sở tái chế rác thải hữu cơ ở vùng nông thôn không phải là
việc đơn giản. Trong khi đó, ngành chăn nuôi rất cần prôtêin đểsản xuất thức ăn và
chủ yếu sử dụng bột cá (phần lớn là NK) cho mục đích này. Tuy nhiên, có một khả
năng tái sử dụng với hiệu quả cao các chất thải hữu cơ như vậy, bằng cách áp dụng
công nghệ enzym phân hủy chất thải để làm thức ăn nuôi giun quế, sau đó dùng
giun quế làm nguồn prôtêin gốc động vật bổ sung thức ăn chăn nuôi. Phân giun quế
và mùn bã sau quá trình nuôi giun là nguồn phân bón hữu cơ rất tốt. Đây là mô
hình đòi hỏi đầu tư rất thấp, có thể mở rộng từ từ, phù hợp với cả các hộ nghèo
nông thôn; sản xuất bền vững, sạch, thân thiện với môi trường.
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

3

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Xuất phát từ những lý do trên, chúng em – những người học sinh trong nhà
trường luôn trăn trở làm thế nào để nhà trường của mình luôn xanh, sạch, đẹp.
Chúng em đã chú ý quan sát môi trường tại trường và khu vực xung quanh trường
nơi chúng em theo học và đưa ra một ý tưởng khoa học đó là: “Xử lý rác thải trong
và khu vực xung quanh trường em, khu dân cư em và vùng nông thôn bằng phương
pháp nuôi giun quế ”
Qua bài dự thi này, chúng em không chỉ muốn giới thiệu đến tất cả các bạn
học sinh cùng trang lứa về mô hình xử lý rác thải chúng em nghĩ ra mà còn với một
mong muốn lớn hơn đó là nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho tất cả các bạn
học sinh và mọi người.
2. Mục tiêu đề tài
+ Giảm thiểu ảnh hưởng của chất thải hữu đến môi trường. Tạo môi trường sống
trong lành, mĩ quan là tiền đề bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng dân cư.
+ Tạo nguồn phân hữu cơ cho mô hình trồng rau sạch, rau an toàn của các hộ
gia đình khu vực thành thị.
+ Giảm chi phí trong chăn nuôi, nâng cao thu nhập cho người dân. Đặc biệt là
phù hợp với người dân nông thôn.
+ Tạo nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, ổn định, không có hóa chất.
+ Cải tạo đất trồng, điều hòa dinh dưỡng đất.
+ Đề ra các biện pháp nuôi giun quế đơn giản, dễ làm mà bất cứ hộ nông dân
nào cũng có thể làm được.
+ Tuyên truyền vận động cho người nông dân hiểu giun đất là một nhà máy hóa
chất tự nhiên mà chúng ta phải quan tâm.
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và sức khỏe nhân loại cho học sinh và
cộng đồng.

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

4

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Xử lý rác thải hữu cơ trong trường học, trong khu dân cư, vùng nông thôn
4. Cơ sở lý thuyết
- Để giải quyết tình huống và mục tiêu đặt ra, em đã tìm hiểu và cần đến kiến thức của
các bộ môn liên quan sau:
a. Môn Toán học:
- Áp dụng công thức tính tỉ lệ % thức ăn cho giun.
- Tính chiều cao, chiều dài, chiều rộng của bể nuôi, chiều cao của mái che.
b. Môn sinh học:
- Tìm hiểu tập tính sinh sống của giun quế, xây dựng mô hình nuôi giun quế cho
phù hợp.
- Tìm hiểu quá trình sỉnh sản, sinh trưởng, phát triển của giun quế
- Tìm hiểu quá trình ủ từ phân phân trâu, bò và các loại rác hữu cơ… giúp hạ chi
phí thức ăn chăn nuôi và bảo vệ môi trường ( tài liệu tham khảo mạng internet).
- Tìm hiểu tác dụng của việc nuôi giun quế, biết được những ưu điểm của mô hình
này.( tài liệu tham khảo mạng internet).
- Sự ô nhiễm ảnh hưởng đến cơ thể và tuổi thọ mỗi con người.
c. Môn hóa học:
- Tìm hiểu, phân tích các thành phần khoáng chất có trong phân trùn quế cần thiết
cho sự phát triển của cây và đặc biệt là cây hấp thụ trực tiếp các khoáng chất như:
Magiê, Nitrat, Photpho, Kali, Calci, Nitơ… có trong phân trùn quế.( tài liệu tham
khảo mạng internet).
- Hàm lượng các chất có trong giun quế.
- Hiểu tính chất của các chất khí CO2, H2S, SO3.
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

5

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

- Thành phần hóa học của các chất gây ô nhiễm môi trường.
d. Môn Công nghệ: Các phương pháp chế biến thức ăn cho vật nuôi từ giun quế
e. Môn Ngữ văn: Sử dụng từ ngữ, phương thức biểu đạt phù hợp với bài văn.
Hiểu biết nhưng không tuyên truyền sẽ không có tác dụng. Việc lồng ghép nội dung
vào môn GDCD sẽ giúp cho người người, nhà nhà cùng biết về lợi ích của mô hình
nuôi giun quế bằng rác thải hữu cơ. Từ đó hình thành lên ý thức bảo vệ môi trường.
II. Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
1. Đặc điểm tâm lí và nhận thức của lứa tuổi học đường
Lưa tuổi học đường là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu
ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về
tác hại của sự ô nhiễm môi trường, ý thức vệ sinh nơi công cộng chưa cao.
"Xử lý rác thải trong khu vực trường học" góp phần giúp các bạn học sinh có
lối sống tích cực, ngăn nắp giữ gìn trường lớp xanh, sạch, đẹp.
2. Phân loại rác thải
Quản lý rác thải là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải
của con người. Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu của rác vào môi
trường và xã hội.
Rác thải sinh hoạt phát sinh ở mọi nơi, mọi lúc từ các khu dân cư, từ các hộ
gia đình, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui
chơi giải trí, trường học....
Dựa vào tính chất, có thể phân rác thải thải thành 2 loại là rác hữu cơ dễ phân
hủy và rác thải khó phân hủy.
• Rác hữu cơ dễ phân hủy là các loại rác thải có khả năng tự phân hủy
trong môi trường tự nhiên sau một thời gian ngắn, như: lá cây, rau quả, vỏ trái cây,
xác động vật, phân động vật,...

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

6

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Hình 1.1 – Rác thải hữu cơ dễ phân hủy

• Rác thải khó phân hủy là các loại rác thải có khả năng tồn lưu trong môi
trường tự nhiên rất lâu, như: vải vụn, bao nhựa, chai nhựa, bóng đèn, tóc, lốp xe,
giấy kẹo, giầy da, xốp,...

Hình 1.2 – Rác thải khó phân hủy

3. Tác hại của việc xử lý rác thải không đúng khoa học
Đối với các loại rác thải phát sinh trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường
có thói quen loại bỏ bằng cách đốt hoặc đổ rác bừa bãi ngoài lề đường, ao, hồ,
biển....

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

7

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Tuy nhiên, việc thải bỏ và xử lý rác không đúng cách, không hợp vệ sinh sẽ gây
ô nhiễm môi trường, làm mất mỹ quan công cộng và tác hại xấu ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống con người, sinh vật và chất lượng môi trường.

Chuồng trâu chưa có hệ thống xử lí phân
- Rác thải sinh sinh hoạt:: xả rác xuống mương suối, đốt, chất đống kệ đó…. Gây
ra sự ô nhiễm về nguồn nước, không khí, mất thẩm mĩ quan.

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

8

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Tác hại của ô nhiễm môi trường:
Đối với sức khỏe con người:
Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người. Ô
nhiễm ozon có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng, đau ngực,
tức thở. Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi ngày, chủ yếu do ăn uống
bằng nước bẩn chưa được xử lý. Các chất hóa học và kim loại nặng nhiễm trong
thức ăn nước uống có thể gây ung thư không thể chữa trị.
Đối với hệ sinh thái
Lưu huỳnh điôxít và các ôxít của nitơ có thể gây mưa axít làm giảm độ pH



của đất.
Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng. Điều



này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn.
Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực



hiện quá trình quang hợp.
Các loài động vật có thể xâm lấn,cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm



nguy hại cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.
Khí CO2 sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng hiệu ứng
nhà kính, làm Trái Đất ngày một nóng dần lên, các khu sinh thái sẵn có dần bị phá
hủy.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp của vấn đề nghiên cứu
1. Thực trạng vấn đề xử lý rác thải hiện nay tại trường học
a. Khối lượng và thành phần rác ở trường học
Trường THCS Trần Văn Ơn nằm ở nội thành Hải Phòng, với hơn 450 học
sinh đang theo học nên lượng rác thải mỗi ngày không phải là con số nhỏ.
Khối lượng chất thải rắn phát sinh trong trường học tại trường THCS Trần
Văn Ơn vào mùa hè và mùa đông có sự chênh lệch đáng kể. Vào mùa đông lượng
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

9

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

rác trung bình từ 3-4 thùng/ngày, vào mùa hè lượng rác trung bình là 2-3
thùng/ngày, điều này có thể giải thích do vào mùa đông có nhiều cây trên sân
trường và khối lượng lá rụng là khá nhiều và cộng với việc thời tiết hay mưa hoặc
sương vào ban đêm thấm vào đã gây cho khối lượng tăng lên.
Kết quả điều tra tỷ lệ khối lượng các thành phần trong rác thải tại trường cho
thấy lượng rác vô cơ và rác tái chế chiếm tỷ lệ khá cao trong trường học: túi nylon
(khoảng 11%), hộp sữa (15%), hộp xôi (11%), chai nhựa (15%), giấy loại (26%)
….Lượng rác hữu cơ bao gồm lá cây cũng chiếm tỷ lệ khá cao do đặc điểm ở
trường có nhiều cây xanh. Tỷ lệ này tăng cao hơn vào mùa mưa do gia tăng lượng
nước mưa và vào mùa mưa lá cây rụng nhiều hơn.
b. Hiện trạng quản lý và phương thức thu gom rác tại trường
Mỗi lớp học được trang bị một thùng rác bằng nhựa, trên sân trường cũng có
những thùng rác lớn hơn để tập hợp và thu gom rác. Sau khi rác đã được tập kết ở
các thùng rác trên sân trường thì được lao công gom lại và tập kết lên xe rác đi qua
trường hằng ngày.
Mặc dù Ban giám hiệu nhà trường đã có nhiều biện pháp, nhưng môi trường
vẫn chưa được cải thiện do nhiều nguyên nhân. Chủ yếu do thiếu ý thức của các
bạn học sinh và chưa có nơi chứa đựng rác một cách thuận tiện. Hiện tượng vứt
giấy rác không đúng nơi qui định vẫn xảy ra.
2. Giải pháp xử lý rác thải trong và xung quanh khu vực trường học
2.1. Phân loại rác tại nguồn
a. Phương pháp phân loại rác tại nguồn trong trường học
Rác thải trước khi được đưa đi xử lý, cần được phân loại ngay tại trường.
Cách nhận biết như sau:
- Rác hữu cơ dễ phân hủy: là các loại rác dễ bị thối rữa trong điều kiện tự
nhiên sinh ra mùi hôi thối như: các loại thức ăn thừa, hư hỏng (rau, xôi, bánh...), vỏ
trái cây, lá cây rụng xuống….
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

10

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

- Rác thải khó phân hủy được chia làm 2 loại đó là rác tái chế và không tái
chế. Rác tái chế là các loại rác có thể sử dụng lại nhiều lần trực tiếp hoặc chế biến
lại như: giấy,bìa carton, các loại nhựa.... Còn lại các loại rác không tái chế là phần
thải bỏ.
b. Vì sao phải phân loại rác tại nguồn
- Phân loại rác tại nguồn góp phần tiết kiệm được tài nguyên; mang lại lợi
ích cho chính chủ nguồn thải từ việc tận dụng phế liệu tái chế
- Phân loại rác tại nguồn góp phần giảm thiểu ô nhiễm;
- Phân loại rác tại nguồn trong trường vừa giúp cho học sinh vận dụng được
kiến thức hóa – sinh đã học vừa góp phần nâng cao nhận thức cho học sinh về bảo
vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường;
- Phân loại rác tại nguồn trong trường góp phần giảm thiểu tổng lượng rác
thải trong cộng đồng thải ra môi trường nhằm giảm tải cho môi trường, tiết kiệm
chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý.
Ráclýthải
2.2. Phương pháp xử
rác thải tại trường THCS Trần Văn Ơn
Mỗi lớp học cần trang bị hai thùng rác bằng nhựa, một thùng màu đỏ đựng
Phânthùng
loại màu trắng đựng giấy loại. Trên sân trường cần có
các loại đồ nhựa, còn
những thùng rác lớn phân làm bốn loại màu: Màu trắng đựng giấy loại; màu xanh
Rác hữu cơ
Rác thải khó phân
đựng lá cây, vỏ hạt hoa quả, thức ăn thừa..; màu đỏ đựng chai nhựa, vỏ nhựa các
dễ phân hủy
hủy
loại; màu vàng đựng các loại khó phân hủy và được đặt ở góc phía sau sân trường
để phù hợp cho tất cả các lớp và lao công tập kết rác thải hằng ngày.
Học sinh
Ủ thành phân
Rác tái chế, tái
Phần rác thải
sử dụng
còn lại
Bón cho cây
xanh

Bán phế liệu
Thu gom
Lao công
Tập kết
Điểm tập kết

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

11

Đơn vị
dịch vụ vệ
– Lớp 9A trường THCS Trần
Văn
Ơn
sinh
môi
Vận chuyển
trường

Khu xử lý rác thải


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Mô hình xử lý rác thải tại trường THCS Trần Văn Ơn
Sau khi rác đã được tập kết ở các thùng rác trên sân trường thì được lao công
thu gom lại và xử lý theo từng nguồn
a. Xử lý rác thải khó phân hủy:
+ Thu gom rác tái chế: thùng đỏ đựng đồ nhựa và thùng trắng đựng giấy loại
vào bao tải rồi bán cho những người đi thu mua, số tiền thu được từ bán giấy loại
và chai nhựa sẽ lập thành quỹ để ủng hộ cho các bạn có hoàn cảnh khó khăn vươn
lên trong học tập.
+ Thu gom rác không tái chế: Các thành phần rác không có khả năng tái chế
sẽ được thu gom đưa đến điểm tập kết để xe chuyên dụng đến vận chuyển đưa đi
xử lý tại các khu xử lý rác thải tập trung theo quy định.
b. Các biện pháp xử lý rác thải dễ phân hủy
- Biện pháp 1: chôn lấp: là phương pháp xử lí lâu đời. Ở nhiều nơi, người ta đào
một hố sâu để đổ rác, phân thải xuống và lấp lại. sau một thời gian phân, rác

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

12

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

chuyển hóa thành mùn, nhưng phương pháp này theo Willson và cộng sự có những
nhược điểm sau:
- Đòi hỏi nhiều diện tích đất.
- Làm giảm thể tích rác ít và thời gian xử lí lâu.
- Có mùi hôi thối, sinh ra các khí độc như CH4, H2S, NH3 và nước rác rò rỉ làm ô
nhiễm môi trường xung quanh và mạch nước ngầm, ảnh hưởng tới sức khỏe con
người, động vật và cây trồng.
- Chịu ảnh hưởng của thời tiết.
- Biện pháp 2 : Ủ
* Ưu điểm:
- Phân thải và rác không bị bỏ đi mà được tái chế thành sản phẩm cung cấp cho
nông nghiệp.
- Có thể xử lí được nước thải ra từ rác, phân.
* Nhược điểm: Tốn diện tích, tăng chi phí do phải mua các loại men vi sinh để ủ
và thời gian ủ rất lâu
c. Biện pháp đốt: Đối với rác thải hữu cơ là rất khó đốt, gây ô nhiễm môi trường
sống.
- Biện pháp 3: Thải ra sông ngòi và ra biển: biện pháp này gây ô nhiễm môi
trường sống ( Không khí, nguồn nước…), gây mất thẩm mĩ quan.
- Biện pháp 4 : ủ phân yếm khí (bioga)

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

13

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

* Ưu điểm: Xử lí tốt các loại phân, rác thải hữu cơ. Tận dụng được khí sinh ra.
* Nhược điểm: Cần vốn đầu tư lớn ( Khoảng 30 triệu đồng) không phù hợp với
người dân.
- Biện pháp 5: sử dụng giun quế xử lí các loại phân thải, rác thải hữu cơ.
* Ưu điểm:
- Dễ làm, dễ thực hiện, chi phí đầu tư ban đầu không lớn phù hợp với người
dân.( Quy mô hộ gia đình chỉ cần vài trăm nghìn: Giống giun 35000đ/kg )
- Mặt bằng nuôi giun có thể tận dụng trong vườn nhà, trong chuồng trại cũ,
lều tạm hoặc sử dụng các vật liệu đơn giản như chum, thùng xốp, chậu, khay gỗ….
- Thức ăn để nuôi giun chủ yếu tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có như rác
hữu cơ (rau, củ, hoa, quả, vỏ trái cây loại bỏ, rơm rạ, các loại bã đã ép dầu …),
phân trâu, bò, thỏ, dê, lợn, gà … rất dồi dào và rẻ tiền.
- Nuôi giun ít bị bệnh, ít rủi ro, kỹ thuật đơn giản, dễ làm, sớm có thu nhập.
Đồng thời nuôi giun tốn ít công chăm sóc.
- Phân giun dùng để bón vườn, bón cây cải tạo đất trồng.
=> Biện pháp lựa chọn tối ưu nhất là biện pháp 5 sử dụng giun quế xử lí các
loại rác thải hữu cơ.
3. Xử lý rác thải hữu cơ tại trường học bằng phương pháp nuôi giun quế
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

14

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

• Nuôi giun bằng thùng nhựa
- Địa điểm nuôi thử nghiệm: Tại trường THCS Trần Văn Ơn
- Vật liệu: thùng nhựa
- Mục đích: Xử lí rác thải hữu cơ ở trong và xung quanh trường học, tạo
nguồn phân giun bón cho cây xanh và thức ăn cho mô hình trường học nông trại.
- Nguồn thức ăn: rau, củ, hoa, quả, vỏ trái cây loại bỏ…
- Kĩ thuật làm thùng nhựa để thả giun:

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

15

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Thùng nuôi giun nhìn tổng thể
Thùng được chia làm 2 ngăn , ngăn 1 thùng màu xanh có đáy được khoét
thủng, dùng để chứa giun quế và rác thải hữu cơ, được đậy kín thuận lợi cho việc
phân hủy rác thải

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

16

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

17

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Ngăn 1. Thùng nuôi giun được đục các lỗ nhỏ để giun thở ( cho rác hữu cơ vào
trong thùng nuôi)

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

18

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Ngăn 2: Khay chứa phân giun
Giun sẽ ăn thức ăn và thải ra phân giun, phân giun sẽ rơi xuống ngăn 2 khay
màu trắng chứa phân giun, phân giun để bón cho cây xanh
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

19

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

b. Kết quả nhận thấy sau hơn 2 tháng ( Từ giữa tháng 8/2018 đến hết tháng
10/2018 )
+ Giun sinh sinh trưởng, phát triển nhanh.
+ Sau hơn 2 tháng giun đã bắt đầu sinh sản, tăng số lượng giun.
+ Rác thải hữu cơ ở trong trường, căng tin được xử lí, tận dụng làm thức ăn cho
giun.
+ Có giun cung cấp cho mô hình nuôi gà của nhà trường. ( Mô hình trường học
nông trại).
+ Lượng phân giun lớn tạo ra hàng ngày có thể cung cấp đủ cho cây xanh trong
trường hoặc mô hình trồng rau sạch tại các hộ gia đình
- Kết luận: Nuôi giun bằng thùng xốp phù hợp với gia đình ở thành thị,phù
hợp tại trường học nơi diện tích đất ít.
4. Phương pháp xử lý rác thải hữu cơ tại vùng nông thôn
a. Nuôi bằng bể xi măng
- Địa điểm nuôi thử nghiệm: Tại nhà ông Vũ Văn Đán bảo vệ trường
- Vật liệu: Xây bể bằng gạch
- Mục đích: Xử lí rác thải hữu cơ, phân trâu bò, thỏ...., tạo nguồn thức ăn chăn nuôi
sạch, tiết kiệm chi phí thức ăn chăn nuôi, giảm tác hại ô nhiễm
- Nguồn thức ăn: Phân trâu, bò, thỏ; rau, củ, hoa, quả, vỏ trái cây loại bỏ…
- Kĩ thuật nuôi thả:
b.Chuẩn bị bể nuôi: Xây bể dài 3m; rộng 1,5m; cao 0,5m. đáy bể đổ vữa và có lỗ
thoát nước.

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

20

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Tiến hành đo và tính thể tích bể nuôi giun
c. Chuẩn bị thức ăn:
Giun có thể sử dụng đa dạng các loại chất hữu cơ như là nguồn dinh dưỡng
chính, khi gặp những điều kiện bị cưỡng bức chúng có thể lấy chất dinh dưỡng từ
đất để duy trì sự sống. Chất lượng và số lượng của các chất dinh dưỡng có sẵn
không chỉ ảnh hưởng đến mật độ giun mà còn ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
sinh sản của chúng (Edwards và Bohlen,1996). Giun là loài ăn tạp, tuy nhiên không
phải bất kì loại thức ăn nào cũng trở nên yêu thích đối với chúng. Thực tế, giun rất
mẫn cảm với các nguồn phân động vật có hàm lượng nước tiểu cao, các loại cây
thực vật có vị cay, đắng, chua, chát và có chất độc. Chính vì vậy, chúng ta không
nên sử dụng những nguồn chất hữu cơ này làm thức ăn cho giun. Hiện tại, loại thức
ăn mà giun ưa thích nhất và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất chính là các nguồn
phân của các loài nhai lại như: phân trâu bò, phân ngựa, dê, cừu, thỏ… Do vậy, các
hộ gia đình có nguồn phân này dồi dào có thể sử dụng làm thức ăn cho giun trực
tiếp mà không cần ủ hoai. Ngược lại, những hộ gia đình không thể tự túc được các
nguồn phân trên, có thể sử dụng một số loại chất hữu cơ khác: phân lợn, thân cây
chuối, rơm rạ, rau bèo… đem trộn lẫn, ủ cho hoai rồi mới cho giun ăn.
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

21

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Ủ phân trâu với rau đã loại bỏ
Đối với các loại chất hữu cơ không thể sử dụng trực tiếp cho giun ăn, ta bắt
buộc phải ủ và phương pháp ủ như sau: Các loại vật liệu trước khi ủ đem trộn lẫn
với nhau, chất thành đống (riêng đối với rơm rạ và thân cây chuối trước khi ủ băm
thành từng đoạn 5-10cm cho nhanh mục, nếu rơm rạ đã gần mục rồi thì không cần
băm cũng được). Khi đánh đống không nên nén nguyên liệu quá chặt để các loại vi
khuẩn thiếu khí có thể phát triển nhanh chóng tạo điều kiện cho quá trình phân huỷ
được nhanh hơn. Nếu hỗn hợp chất nền khô ta có thể vừa xếp vừa tưới (độ dày
khoảng 20cm tưới 1 lần), lớp dưới tưới ít, lớp trên tưới nhiều hơn để có hàm lượng
nước khoảng 50-60%. Cứ làm như vậy cho đến hết nguyên liệu ta sẽ được một
đống ủ hình chóp cầu và cuối cùng chát bùn kín toàn bộ đống ủ. Dùng tấm nilon,
bao dứa hay bạt phủ kín để tránh mưa gió.
Sau khi ủ khoảng 15 ngày, kiểm tra đống ủ, nếu hỗn hợp nguyên liệu ủ chưa
đều ta có thể đảo cho đều, nếu nguyên liệu khô phải tưới nước, dùng cọc tre nhọn
có tiết diện 5-10cm xuyên thủng đống ủ từ trên xuống dưới để làm chỗ tưới nước
và thông hơi để loại bỏ khí độc. Kiểm tra đống ủ thường xuyên để tiêu diệt kiến và
côn trùng có hại (nếu có) đồng thời tưới nước cho đống ủ khi bị khô.
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

22

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Thời gian ủ tốt từ 30-45 ngày hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào loại nguyên liệu đem
ủ. Khi nhiệt độ hạ xuống, sờ tay vào đống ủ không thấy nóng tay, nguyên liệu đã
hoai mục hoàn toàn và không có mùi hắc, mùi khó chịu là hoàn thành việc ủ thức
ăn. Dùng cào, xẻng phá vỡ đống ủ, làm tơi và trộn đều (nên nhớ là cho ăn đến đâu
thì mở rộng đống ủ đến đó chứ không nên phá tung đống ủ ngay từ lúc ban đầu, sau
khi lấy thức ăn xong phải đậy lại để tránh mưa gió tác động trực tiếp vào nguyên
liệu ủ). Trước khi cho ăn 1-2 ngày, lấy thức ăn để ở nơi thoáng mát, có mái che, để
cho nguội, để hả khí độc nếu có, để xua đuổi kiến và côn trùng có hại, ta sẽ có chất
nền thích hợp để nuôi giun.
d. Kĩ thuật chăm sóc – nuôi dưỡng giun:
* Nhiệt độ: Hoạt động, sự chuyển hoá, sinh trưởng, hô hấp và sinh sản của giun
chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiệt độ. Bình thường giun đất sống trong phạm vi nhiệt độ
từ 5-30 độ C .Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng và sinh sản của giun từ 2025 độ C, giun quế sinh trưởng và sinh sản tốt nhất ở nhiệt độ từ 25- 280C.
* Độ ẩm: Độ ẩm là nhân tố rất quan trọng cho sự phát triển của giun. Độ ẩm thích
hợp nhất đối với giun quế từ 60-70% . Chúng ta có thể kiểm tra độ ẩm trong ô nuôi
bằng cách: dùng tay nắm một ít thức ăn lấy trong ô nuôi rồi bóp mạnh tay đến khi
nào rỉ ra một vài giọt nước. Khi thấy khối chất nền trong ô nuôi khô, dùng ô doa để
tưới nước cho khối chất nền. Nước tưới trên ô nuôi phải sạch, không lẫn chất độc,
không có mùi hôi.
* Độ chiếu sáng: Tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời rất có hại cho giun và có khả
năng giết chết giun. Giun né tránh ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn chiếu mạnh, ánh
sáng màu xanh và tia tử ngoại nhưng không sợ ánh sáng hồng. Đây cũng là nguyên
nhân làm cho giun sống nơi ẩm ướt và tối tăm nhưng lại có nhiều thức ăn hơn.
* Không khí: Ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản của giun chủ yếu là hàm lượng
O2 và CO2 có trong không khí. Giun có thể chịu đựng được với nồng độ CO2 từ
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

23

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

0,01-11,5%. Lưu ý đến các chất khí có hại như: Cl2, NH3, H2S, SO2, SO3, CH4. giun
quế không thể sống tốt trong chất thải hữu cơ chứa nhiều NH3.
* Độ PH: Là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của
giun. Giun quế có thể sống và sinh sản tốt trong ngưỡng pH từ 7-8. Vì vậy, thức ăn
cho giun cần được kiểm tra, xử lý sao cho đạt độ pH thích hợp. Có thể dùng quỳ
tím để đo pH trong thức ăn của giun.
* Che đậy ô nuôi:
Dùng tấm chiếu hoặc bao tải đay phủ lên bề mặt chất nền là tốt nhất. Nếu không có
ta có thể sử dụng bao dứa tuy nhiên cần phải đục thành nhiều lỗ nhỏ đều nhau trên
bề mặt bao để tạo sự thông thoáng và thấm nước tốt hơn. Tấm đậy phải sạch, không
dính hoá chất độc và phải có khả năng giữ ẩm tốt. Vào mùa đông khi nhiệt độ thấp
có thể phủ thêm lớp rơm lên trên bề mặt của tấm đậy để giữ ấm cho giun và hạn
chế sự bốc hơi nước của khối chất nền.

Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

24

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


“Xử lý rác thải hữu cơ bằng phương pháp nuôi giun quế ”

Bể nuôi đuợc che bằng chiếu và lá cọ
* Tưới nước:
Do tập tính của giun thường sống trong môi trường ẩm thấp, hơn nữa nước
chiếm tới 75-90% trọng lượng cơ thể giun do đó nước đóng vai trò rất quan trọng
đến sự sinh trưởng, sinh sản và phát triển của chúng. Tùy theo mùa vụ và các loại
thức ăn khác nhau mà ta có thể tưới vào chất nền những lượng nước sao cho phù
hợp (vào mùa đông tưới ít nước hơn mùa hè, loại thức ăn có độ ẩm cao tưới ít nước
hơn loại thức ăn có độ ẩm thấp…). Tuy nhiên, thông thường để cho dễ ta có thể
kiểm tra bằng cách dùng tay bốc 1 nắm chất nền sau đó bóp cho rỉ ra vài giọt nước
là được, tức là sao cho độ ẩm đạt khoảng 60-70%.
Người thực hiện: Nguyễn Thúy Vi, Vũ Văn Quyết

25

– Lớp 9A trường THCS Trần Văn Ơn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×