Tải bản đầy đủ

Phương án đầu tư nuôi baba, cá chạch kết hợp cửa hàng

PHƢƠNG ÁN ĐẦU TƢ:

NUÔI THỦY SẢN KẾT HỢP CỬA HÀNG GIỚI THIỆU
SẢN PHẨM VÀ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG
Địa điểm: xã Tân An Hội, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2018


ĐƠN VỊ
LẬP PHƢƠNG ÁN VÀ HỢP TÁC
CÔNG TY TNHH A
GIÁM ĐỐC

ĐƠN VỊ THẨM ĐỊNH
TỔNG CÔNG TY NÔNG NGHIỆP B
TỔNG GIÁM ĐỐC

2



MỤC LỤC
CHƢƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ - SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƢ

5

1. Cơ sở pháp lý:......................................................................................................... 5
2. Sự cần thiết đầu tư: ................................................................................................. 6
3. Mục tiêu của phương án: ........................................................................................ 8
4. Kết luận: ................................................................................................................. 9
CHƢƠNG II: THÔNG TIN PHƢƠNG ÁN, CHỦ ĐẦU TƢ, VỊ TRÍ KHU ĐẤT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
10
1. Tên phương án: ....................................................................................................... 10
2. Quy mô: .................................................................................................................. 10
3. Vị trí khu đất:.......................................................................................................... 10
4. Dự kiến quy hoạch, bố trí tổng thể mặt bằng: ........................................................ 10
5. Điều kiện tự nhiên khu vực thực hiện dự án: ......................................................... 11
6. Đánh giá hiện trạng khu đất xây dựng: .................................................................. 15
7. Thông tin về đơn vị thực hiện phương án: ............................................................. 15
CHƢƠNG III: KỸ THUẬT NUÔI BABA, CÁ CHẠCH LẤU

17

I. KỸ THUẬT NUÔI BABA
1. Đặc điểm sinh học của baba: .................................................................................. 17
2. Kỹ thuật làm ao nuôi: ............................................................................................. 19
3. Kỹ thuật sản xuất baba giống: ................................................................................ 22
4. Nuôi baba thương phẩm: ........................................................................................ 25

II. KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHẠCH LẤU

27

1. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ: .................................................................................... 27
2. Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá chạch lấu: ............................................................... 29
3. Nuôi cá chạch lấu thương phẩm: ............................................................................ 32

III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

33



1. Giải pháp xử lý cá giống, cá thương phẩm hiện có:............................................... 33
2. Giải pháp về con giống:.......................................................................................... 33
3. Giải pháp về ao nuôi:.............................................................................................. 34
4. Giải pháp về thức ăn:.............................................................................................. 35
5. Giải pháp về nguồn nước: ...................................................................................... 35
6. Giải pháp về thị trường:.......................................................................................... 36
7. Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm: ............................................................................. 36
8. Giải pháp về môi trường:........................................................................................ 37
3


CHƢƠNG IV: CỬA HÀNG GIỚI THIỆU SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ ĂN
UỐNG
39
1. Dự kiến quy mô cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống: ..................... 39
2. Mục tiêu đầu tư:...................................................................................................... 40
3. Nguồn nguyên liệu: ................................................................................................ 41
4. Thị trường và đối thủ cạnh trang: ........................................................................... 41
5. Phân tích, đánh giá: ................................................................................................ 42
6. Phương án kinh doanh cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống: ........... 43

CHƢƠNG V: GIẢI PHÁP VỀ HOẠT ĐỘNG

44

1. Giải pháp thực hiện: ............................................................................................... 44
2. Chức năng, nhiệm vụ của Ban Điều hành: ............................................................. 44
3. Quản lý doanh thu: ................................................................................................. 44
4. Quản lý chi phí: ...................................................................................................... 45

CHƢƠNG VI: TỔNG MỨC ĐẦU TƢ VÀ GIẢI PHÁP VỀ VỐN

46

1. Tổng mức đầu tư: ................................................................................................... 46
2. Nguồn vốn: ............................................................................................................. 47
3. Chi phí hoạt động: .................................................................................................. 48
4. Tiến độ thực hiện:................................................................................................... 48
CHƢƠNG VII: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHƢƠNG ÁN TỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƢỜNG
49
1. Đánh giá sự phù hợp của phương án với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch sử dụng đất: .......................................... 49
2. Đánh giá sự tác động của phương án với phát triển kinh tế - xã hội: .................... 49
3. Đánh giá sơ bộ tác động của phương án tới môi trường: ....................................... 50
CHƢƠNG VIII: HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

51

1. Doanh thu: .............................................................................................................. 51
2. Phân tích hiệu quả kinh tế - tài chính: .................................................................... 51
3. Hiệu quả xã hội:...................................................................................................... 52
CHƢƠNG IX: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

53

1. Kết luận: ................................................................................................................. 53
2. Kiến nghị: ............................................................................................................... 53
BẢNG TÍNH HIỆU QUẢ PHƢƠNG ÁN

54

4


CHƢƠNG I
CƠ SỞ PHÁP LÝ, SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƢ
1. Cơ sở pháp lý:
- Căn cứ Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015;
- Căn cứ Luật Thương mại số 36/2005/QH11 được Quốc hội Nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005;
- Căn cứ Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014;
- Căn cứ Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014;
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội
Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về quản lý
phương án đầu tư xây dựng công trình;
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý
chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
- Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng quy định
chi tiết một số nội dung của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính
phủ về tổ chức quản lý phương án đầu tư xây dựng;
- Luật Công nghệ cao được Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008;
- Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành trung ương
Đảng khóa X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn;
- Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc
Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020;
- Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp,
đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp;
- Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005, Thông tư số 102/2006/TTBNN ngày 13/11/2006 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP
V/v “giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản trong các Nông trường quốc doanh, Lâm trường quốc doanh”;
- Quyết định số 5930/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của Ủy ban nhân dân
Thành phố phê duyệt quy hoạch sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn đến 2020
và tầm nhìn đến 2025;
- Quyết định số 3002/QĐ-UBND ngày 19 tháng 6 năm 2015 của Ủy ban nhân
dân Thành phố về Ban hành kế hoạch hành động năm vệ sinh an toàn thực phẩm trong
lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các văn bản pháp luật có liên quan khác;
5


- Căn cứ điều kiện hiện tại về: Tiềm năng đất đai, lao động, cơ sở vật chất kỹ
thuật của khu vực thực hiện phương án tại xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Căn cứ vào định hướng hoạt động, mục tiêu phát triển kinh doanh của Tổng
Công ty Nông nghiệp B và Công ty TNHH A, các nhận định về tiềm năng thị trường,
đánh giá cơ hội đầu tư.
2. Sự cần thiết đầu tƣ:
- Từ xưa đến nay, thịt ba ba, cá chạch lấu là một loại thực phẩm quý, có nhiều
chất dinh dưỡng. Thịt ba ba, các chạch lấu thường được sử dụng trong các nhà hàng,
các khu cung cấp dịch vụ ăn uống. Được chế biến thành các món đặc sản, phục vụ
những bữa tiệc sang trọng. Tuy nhiên, từ xưa ba ba, cá chạch lấu thường chỉ được bắt ở
sông và hồ, chứ chưa được nuôi phổ biến. Nhận thấy được nhiều giá trị mà ba ba, cá
chạch lấu mang lại, chúng tôi đã xem xét hiệu quả kinh tế của phương án mang lại để
hợp tác đầu tư nuôi baba, cá chạch lấu,… tại Trung tâm Giống Thủy Sản và Cây trồng
thuộc Tổng Công ty Nông nghiệp B tại xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ
Chí Minh, bước đầu đưa nghề nuôi baba, cá chạch lấu thành một trong những lĩnh vực
kinh doanh mới và có triển vọng của Tổng Công ty Nông nghiệp B và Công ty TNHH
A, đồng thời có thể triển khai rộng rãi nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và có
thể cung cấp kỹ thuật nuôi, con giống cho bà con nông dân trong huyện Củ Chi và các
vùng lân cận khi có nhu cầu. Trên cơ sở đó đưa con baba, cá chạch lấu trở thành mặt
hàng có giá trị trong định hướng sản xuất kinh doanh lĩnh vực thủy sản của Tổng Công
ty Nông nghiệp B.
- Hiện nay, chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được quan tâm và
cải thiện nên bên cạnh những nguồn thực phẩm khác thì thủy sản vẫn là nguồn cung
cấp thực phẩm chủ lực cho con người, Ba ba đã trở thành đặc sản trong các nhà hàng
sang trọng với mức giá từ khoảng 300 trăm nghìn lên đến hơn 1 triệu đồng tùy từng
loại đã chế biến. Giá baba thịt vào khoảng 250 - 400.000 đồng/kg. Theo thống kê thì
lượng ba ba cung cấp vẫn thiếu hụt và giá không có dấu hiệu giảm.
- Ngoài thị trường nội địa, baba được bán chủ yếu qua đường mậu biên. Thị
trường này vẫn chưa có con số thống kê chính xác. Theo một chuyên gia cho biết,
nếu chúng ta nuôi ba ba với số lượng nhiều, chất lượng thịt ổn định thì hoàn toàn có
thể xuất khẩu chính ngạch và được giá sang sang các quốc gia khác như Nhật Bản,
Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,… Có thể thấy tiềm năng của việc nuôi ba ba là
rất lớn. Vì vậy việc đầu tư vào nuôi ba ba vẫn là lựa chọn hàng đầu của nhiều hộ
nông dân và doanh nghiệp. Nếu biết cách chăm sóc baba hiệu quả thì việc tăng
doanh thu từ nuôi baba là không hề khó.
- Đối với cá chạch lấu, hiện nay thị trường cá chạch rất rộng, không chỉ tiêu
dùng trong nước mà còn xuất khẩu sang Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,... Với
giá bán thương phẩm dao động từ 280.000 - 420.000 đồng/kg nếu nuôi đúng kỹ
thuật, 1 ha ao nuôi sẽ cho thu hoạch hơn 20 tấn cá chạch thương phẩm (2 vụ/năm),
sau khi trừ chi phí, có thể thu lãi trên 03 tỷ đồng.
- Phát triển lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của Tổng Công ty sẽ thu hút lực
lượng lao động tham gia trực tiếp, đồng thời kèm theo các hoạt động dịch vụ khác
như cung cấp con giống, thức ăn, vật tư nuôi trồng thủy sản, dịch vụ thu mua, chế
6


biến tiêu thụ sản phẩm cũng sẽ phát triển theo. Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế,
sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Nông nghiệp B.
- Bên cạnh việc nuôi baba, cá chạch, các loại cá nước ngọt khác thì Phương
án cũng tính đến việc đầu tư xây dựng Cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn
uống kèm theo nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh của Phương án, kết
hợp giữa việc nuôi trồng thủy sản với quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng thông
qua việc cung cấp sản phẩm chế biến tại chỗ, nguồn hàng tại chỗ sau thu hoạch đến
người tiêu dùng địa phương và các vùng lân cận. Ngày nay, sự thay đổi về môi
trường văn hóa đã làm thay đổi nhu cầu ăn uống của khách hàng, do đó đòi hỏi phải
nâng ẩm thực lên tầm nghệ thuật. Khách hàng đang đòi hỏi ngày càng cao sự sáng
tạo của đầu bếp, cung cấp nhiều món ăn mới lạ nhưng vẫn giữ được nét truyền thống
Việt Nam, hầu hết ngày nay các nhà hàng đều được Tây hóa nên việc thành lập nên
một Cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống hoạt động chuyên môn về
món ăn truyền thống là hết sức cần thiết trong trong thời điểm hiện tại. Cửa hàng
giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống sẽ được xây dựng có tính chủ đề rõ nét như
giới thiệu sản phẩm và các món ăn của Việt Nam,... Khách hàng của Cửa hàng giới
thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội với trình độ
văn hóa khác nhau.
- Khu vực đầu tư Cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống là nơi tập
trung dân cư đông đúc của trung tâm huyện Củ Chi, nằm trên trục giao thông Tỉnh
lộ 8, đường Bàu Tre. Tại đây hiện có không ít nhà hàng ăn uống lớn nhỏ mọc lên với
phân khúc thị trường và thực khách khác nhau. Quanh khu vực nổi tiếng với ẩm
thực Bò tơ Xuân Anh, dịch vụ ăn uống Láng The,.. mang phong cách dân giã, đơn
giản, khách hàng thường tìm đến với các buổi hội nghị, lễ kỉ niệm,...; và các quán ăn
phục vụ các món ăn phong cách đa vùng miền, chủ yếu các món bò, gà,... Tuy nhiên
để tìm ra một địa điểm ăn uống chuyên phục vụ các món ẩm thực dân dã từ baba, cá
chạch lấu và thủy hải sản trong một không gian lịch sử, thoải mái nhưng vẫn giữ
được điều giản dị, gần gũi, ấm cúng cho gia đình, cho việc tiếp khách thì có lẽ quanh
khu vực vẫn chưa tìm được.
- Đáp ứng với những điều kiện trên, “Phương án đầu tư nuôi thủy sản kết hợp
cửa hàng giới thiệu sản phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống” ra đời mang tiêu chí
“Cung cấp sản phẩm nông nghiệp sạch và thức ăn ngon, hợp vệ sinh, giá cả hợp lý
và phục vụ chuyên nghiệp”, nhằm tạo nên sự chọn lựa mới cho thực khách với
những thức ăn chế biến từ baba, cá chạch, các loại thủy hải sản, bò, gà,… vô cùng
phong phú và đa dạng, mang màu sắc mới trong khẩu vị ăn của gia đình Việt. Khu
nuôi trồng baba, cá chạch lấu,… kết hợp cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn
uống sẽ đảm bảo nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh của Phương án.
- Khu đất dự kiến đầu tư thuộc xã Tân An Hội, huyện Củ Chi hiện đang thực
hiện việc nuôi trồng một số loại cá nước ngọt thương phẩm, cá giống,… tuy nhiên
hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao, lợi nhuận hàng năm còn thấp. Do đó, để khai thác
có hiệu quả quỹ đất nuôi trồng thủy sản của Tổng Công ty nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế, tăng doanh thu và lợi nhuận cần có Phương án đầu tư mở rộng và nuôi thêm
các loại thủy sản mới, có giá trị kinh tế cao, đem lại nguồn thu nhập cao hơn và ổn
định cho người lao động và mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

7


- Công ty TNHH A là một trong những Công ty được thành lập với mục tiêu,
định hướng phát triển nhằm cung cấp, chế biến các sản phẩm thủy hải sản nhằm đáp
ứng theo xu hướng cũng như nhu cầu về sản phẩm thủy sản ngày càng tăng của người
tiêu dùng. Để thực hiện được mục tiêu và định hướng chung đó, Công ty TNHH A
mong muốn hợp tác cùng Tổng Công ty Nông nghiệp B để đầu tư nuôi trồng thủy sản,
trước mắt sẽ đầu tư nuôi baba, cá chạch lấu và tiếp tục đầu tư nuôi các loại cá nước
ngọt thương phẩm và cá giống hiện đang được Trung tâm Giống thủy sản và Cây
trồng nuôi để cung cấp cho thị trường nội địa và hướng tới xuất khẩu.
- Việc xây dựng “Phương án đầu tư nuôi baba, cá chạch lấu kết hợp của hàng
giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống” trên cơ sở cùng hợp tác đầu tư giữa Tổng
Công ty Nông nghiệp B và Công ty TNHH A nhằm tạo dựng và phát triển nuôi trồng
thủy sản theo hướng nông nghiệp sạch, mang lại một sức sống mới, nâng cao sức cạnh
tranh, và tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn là rất cần thiết. Với quy
mô 12,61ha tập trung tại xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, được đầu tư bài bản và tâm
huyết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Khi phương án đi vào hoạt động sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội ở địa phương
phát triển, góp phần ổn định an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trong khu vực
thực hiện phương án.
- Việc khai thác, thực hiện phương án nhằm mục đích tạo vốn cho Tổng Công
ty Nông nghiệp B và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng khu đất.
3. Mục tiêu của phƣơng án:
- Nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động và huy
động các nguồn lực để phát triển nuôi trồng thủy sản có hiệu quả, phát triển bền vững,
phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng.
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất từ khâu giống, chăm
sóc và thu hoạch, đảm bảo môi trường sinh thái và đồng thời góp phần cung cấp cho
thị trường các sản phẩm baba, cá chạch lấu, các loại cá nước ngọt đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm.
- Phổ biến rộng rãi kỹ thuật nuôi trồng cho nông dân (nếu có nhu cầu) và giải
quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. Từng bước đưa việc nuôi baba, cá
chạch lấu và các loại cá nước ngọt trở thành một lĩnh vực kinh doanh quan trọng của
Tổng Công ty Nông nghiệp B và Công ty TNHH A, tạo sự gắn kết giữa trang trại với
thị trường trong và ngoài nước, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Hợp tác chuyển giao giống, kỹ thuật nuôi trồng ba ba, cá chạch lấu, công
nghệ gây và giữ giống, phương thức quản lý mới có hiệu quả, xây dựng phương án
nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao.
- Đồng thời, Phương án cũng sẽ hình thành cửa hàng giới thiệu sản phẩm và
dịch vụ ăn uống với việc cung cấp các sản phẩm được nuôi trồng tại chỗ theo hình
thức chuỗi sản xuất kinh doanh khép kín từ sản xuất con giống, tổ chức nuôi trồng đến
chế biến, phân phối, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các sản
phẩm được nuôi trồng tại chỗ sẽ được chế biến thành các món ăn theo nhu cầu của
khách hàng khi đến với cửa hàng phân phối sản phẩm và dịch vụ ăn uống. Phương án
8


kết hớp cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống sẽ mang đến đến một không
gian ấm cúng, trang nhã với những món ăn ngon nổi tiếng, giá cả hợp lý đến với
khách hàng và mang lại không khí thoả mái, thư giãn nhằm cung cấp dịch vụ ăn uống
chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng về: đất đai, lao động và sinh thái của
khu vực cũng như các vùng phụ cận của khu vực để phát triển phương án. Là trung
tâm cung cấp giống, các dịch vụ nuôi trồng thủy sản hiện đại cho các hợp tác xã, các
hộ gia đình trong khu vực.
- Hình thành một trung tâm nuôi trồng và phát triển dịch vụ thủy sản hiện đại
và có quy mô tương đối lớn nhằm đạt năng suất cao, sản lượng ổn định, chất lượng
đồng đều, đáp ứng yêu cầu rất khắt khe về quy định ATTP, được kiểm tra chất lượng,
giám sát trong suốt quá trình sản xuất, được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ
chất lượng sản phẩm,… theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, hướng tới thị trường các
nước Nhật Bản, Đài loan, Hàn Quốc, Trung Quốc,… với những sản phẩm chất lượng
cao kết hợp với cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống chất lượng, đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm.
4. Kết luận:
- Khu đất dự kiến phát triển phương án có quy mô khoảng 12,61 ha tại xã Tân
An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khu vực đã được khảo sát, xem xét kỹ lưỡng về điều kiện tự nhiên, hiện
trạng thực tế tại khu vực, có sự phân tích đánh giá tính hiệu quả tiến độ triển khai, lợi
thế về một số hạ tầng sẵn có.
- Hiện nay, hoạt động sản xuất thủy sản tại khu đất hiệu quả mang lại chưa
cao, doanh thu và lợi nhuận hàng năm còn thấp, chưa phù hợp với quy mô của khu đất
do đó khi Phương án đi vào hoạt động sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Tổng Công ty Nông nghiệp B, cũng như mang lại lợi nhuận cao hơn so với việc nuôi
cá giống, cá thương phẩm.
- Phương án khi được hình thành và đi vào hoạt động sẽ tạo công ăn việc làm
cho nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động tại chỗ và
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cho địa phương.
- Chính vì những vấn đề này mà Công ty TNHH A định hướng hợp tác với
Tổng Công ty Nông nghiệp B và tìm hướng đầu tư mới nhằm khai thác hiệu quả sử
dụng đất một cách tối ưu, đem lại giá trị thu nhập cao hơn và ổn định hơn cho người
lao động và mang lại hiệu quả kinh tế góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Thêm nữa, sản phẩm sản xuất ra từ phương án này không những đáp ứng tốt cho nhu
cầu chính cho thị trường trong nước mà còn hướng đến xuất khẩu. Do vậy cần được
các cấp quan tâm, xem xét để phương án sớm đầu tư xây dựng, đưa vào triển khai
hoạt động.

9


CHƢƠNG II
THÔNG TIN PHƢƠNG ÁN, CHỦ ĐẦU TƢ,
VỊ TRÍ KHU ĐẤT - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1. Tên phƣơng án:
“Phương án đầu tư nuôi thủy sản kết hợp cửa hàng giới thiệu sản phẩm và kinh
doanh dịch vụ ăn uống” tại xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Quy mô:
Phương án sẽ tập trung vào việc nuôi baba, cá chạch lấu, cá giống và cá thương
phẩm,…và khai thác kinh doanh cửa hàng giới thiệu sản phẩm và dịch vụ ăn uống tại
khu đất 12,61ha thuộc xã Tân An Hội, huyện Củ Chi.
3. Vị trí khu đất:
Hình 1: Hình ảnh vị trí thực hiện phương án
4. Dự kiến quy hoạch, bố trí tổng thể mặt bằng:
- Đối với khu nuôi thủy sản sẽ giữ nguyên hiện trạng như hiện tại, đồng thời
cải tạo, sửa chữa một số ao nuôi và một số ao còn để trống để nuôi ba ba, cá chạch.
- Đối với khu dịch vụ ăn uống kết hợp cửa hàng giới thiệu sản phẩm, dự kiến
quy hoạch, bố trí như sau:

10


2
1
2

3
2
2

4

4

4
4

4
4


5. Điều kiện tự nhiên khu vực thực hiện phƣơng án:
5.1. Vị trí địa lý:
- Huyện Củ Chi với diện tích tự nhiên khoảng 43.496ha bằng 20,74% diện
tích toàn Thành Phố, bao gồm 20 xã và một thị trấn. Huyện có vị địa lý nằm ở tọa độ
từ 10053’00” đến 10010’00” vĩ độ Bắc; 106022’00” đến 106040’00” kinh độ Đông,
nằm ở phía Tây Bắc của Thành phố Hồ Chí Minh.
- Huyện Củ Chi có vị trí bao bọc bởi phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng tỉnh
Tây Ninh, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, phía Nam giáp huyện Hóc Môn, TP.Hồ
Chí Minh và phía Tây giáp huyện Đức Hoà tỉnh Long An. Thị trấn Củ Chi là trung
tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách trung tâm Thành phố khoảng 45km
về phía Tây Bắc theo đường xuyên Á.
- Xã Tân An Hội, huyện Củ Chi có diện tích 3.024,14ha (gồm 10 ấp: Cây
Sộp, Bàu Tre 1, Bàu Tre 2, Mũi lớn 1, Mũi lớn 2, Tam Tân, Xóm Chùa, Xóm Huế,
Hậu và Tây).
+ Phía Bắc: giáp xã Trung lập Hạ, Nhuận Đức.
+ Phía Tây: giáp xã Phước Hiệp.
+ Phía Đông: giáp xã Tân Thông Hội, thị trấn Củ Chi, xã Phước Vĩnh An.
+ Phía Nam : giáp huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An.
Nhìn chung hệ thống đường giao thông liên xã tương đối hoàn chỉnh là điều
kiện đặc biệt thuận lợi trong việc phát triển kinh tế.
5.2. Địa hình:
Huyện Củ Chi nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây Nam bộ và miền sụt
Đông Nam bộ, với độ cao giảm dần theo 2 hướng Tây bắc - Đông nam và Đông bắc Tây nam. Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8m - 10m.

Hình 2: Biểu đồ về địa hình và thổ nhưỡng


5.3. Khí hậu:
Huyện Củ Chi nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất
cận xích đạo. Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11,
mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, với đặc trưng như sau:
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo. Khí hậu chia thành
hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau.:
- Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm
khoảng 26,6oC. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28.8 oC (tháng 4), nhiệt độ trung
bình tháng thấp nhất 24,8oC (tháng 12).
- Biên độ nhiệt độ ngày và đêm các tháng mùa khô từ 8 - 100C, các tháng mùa
mưa 5 - 60C.

Hình 3: Nhiệt độ, không khí trung bình
5.3.1. Bức xạ:
Thời gian có nắng trung bình trong năm từ 2.000 - 2.200 giờ/năm. Số giờ nắng
trung bình 9,3 giờ/ngày.
Vào những tháng mùa mưa, số giờ nắng trung bình 6 -7 giờ/ngày. Mùa khô, số
giờ nắng trung bình 12 - 13 giờ/ngày.
Cường độ chiếu sáng vào giữa trưa trong mùa khô lên đến 100.000 lux. Vào
những tháng mùa mưa, do có mây nhiều, thời gian nắng thấp hơn.
5.3.2. Độ ẩm:
Độ ẩm tương đối của không khí trung bình vào các tháng mùa khô là 70%, mùa
mưa là 80 - 90%.
13


5.3.3. Lượng mưa:
- Lượng mưa trung bình năm: 1.400 - 1.500mm.
- Lượng mưa năm cao nhất (1980): 2.718mm.
- Lượng mưa năm thấp nhất (1958): 1.392mm.
- Số ngày mưa trung bình: 159 ngày/năm
- Mùa mưa bắt đầu vào tháng 4 kết thúc vào tháng11.
- Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa (từ
tháng 5 đến tháng 11). Trong các tháng mùa mưa, lượng mưa trung bình tương đối
đều nhau (khoảng 300 mm/tháng), thậm chí có tháng lượng mưa chỉ khoảng 5 mm
hoặc hoàn toàn không có mưa.
5.3.4. Gió:
- Khu đất nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, rất ít khi có
bão, nhưng trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 thường có những cơn lốc xoáy gây
thiệt hại mùa màng, gẫy đổ cây cối trong khuvực.
- Từ tháng 6 đến tháng 9 có gió Tây hoặc Tây Nam vận tốc trung bình 1,5-3
m/s. Đây là thời kỳ gió mạnh nhất trong năm.
- Tốc độ gió cực đại khi mưa bão là 35m/s.
- Từ tháng 02 đến tháng 5 có gió Đông Nam hoặc Nam vận tốc trung bình 1,52,5 m/s.
- Từ tháng 10 đến tháng 02 năm sau có gió Đông Bắc vận tốc trung bình 1-1,5 m/s.
- Tần suất có gió giao động giữa các tháng từ 23-50%, tần suất lặng gió trong
năm là 07-15%.
5.4. Thủy văn:
Sông Sài Gòn chịu chế độ ảnh hưởng dao động bán nhật triều, với mực nước
triều bình quân thấp nhất là 1,2m và cao nhất là 2,0 m
Các hệ thống kênh rạch tự nhiên khác, đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ
hủy văn của sông Sài Gòn như Rạch Tra, Rạch Sơn, Bến Mương,… Riêng chỉ có
kênh Thầy Cai chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Vàm Cỏ Đông.
Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của
huyện và nét nổi bậc của dòng chảy và sự xâm nhập của thủy triều.
5.5. Điều kiện thổ nhưỡng:
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Củ Chi khoảng 43.496ha, và căn cứ
nguồn gốc phát sinh có 3 nhóm đất chính sau:
5.5.1. Nhóm đất phù sa:
Đất phù sa được hình thành trên các trầm tích lòng sông (Aluvi) tiến hoá
halocen muộn ven các sông, kênh, rạch. Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến
nặng. Thành phần cấp hạt sét là chủ yếu (45 - 55 %), cấp hạt cát cao gấp 2 lần cấp hạt
limon, tỉ lệ các hạt giữa các tầng không đồng nhất do hậu quả của các thời kỳ bồi đắp
phù sa, chỉ số pH xấp xỉ 4, cation trao đổi tương đối cao kể cả Ca2+, Mg2+,Na2+,
14


riêng K+ rất thấp, CEC tương đối cao, đạt chỉ số rất lý tưởng cho việc canh tác cây
trồng, các chất dinh dưỡng về mùn, đạm, lân và kali rất giàu. Đây là một loại đất rất lý
tưởng cho việc canh tác cây trồng như lúa, hoa màu, cây ăn trái.
5.5.2. Nhóm đất xám:
Đất xám hình thành chủ yếu trên mẫu đất phù sa cổ. Tầng đất thường rất dày,
thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt cát trung bình và cát mịn chiếm tỉ lệ rất cao (40 55%), cấp hạt sét chiếm 21 - 27% và có sự gia tăng sét rất rõ tạo thành tầng tích sét.
Đất có phản ứng chua, pH (H2O) xấp xỉ 5 và pH (KCl) dao động trên mức 4; các
Cation trao đổi trong tầng đất rất thấp; hàm lượng mùn, đạm tầng đất mặt khá nhưng
rất nghèo Kali do vậy khi sản xuất phải đầu tư thích hợp về phân bón. Loại đất này rất
dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hóa và thích hợp với các loại cây công nghiệp
hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, đậu. Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng
các cây ăn quả, lâu đa niên vì khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt. Trong sử dụng phải
chú ý biện pháp chống xói mòn và rửa trôi, tăng cường phân bón bổ sung dinh dưỡng
nhất là phân hữu cơ.
5.5.3. Nhóm đất đỏ vàng:
Loại đất này hình thành trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu
chất khác nhau. Đặc điểm của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp
thụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hòa
tan dễ bị rửa trôi.
5.6. Cơ sở hạ tầng:
- Đường nội đồng là đường đất, rộng 2 - 3 m, chưa được bê tông hóa.
- Điện: Có đường điện lưới quốc gia.
- Mạng viễn thông, di động, internet: Ổn định.
5.7. Dân cư:
Việc thực hiện phương án của sẽ không gây ảnh hưởng đến đời sống của các hộ
dân xung quanh khi phương án đi vào hoạt động.
6. Đánh giá hiện trạng khu đất xây dựng:
- Toàn bộ diện tích đất do Tổng Công ty Nông nghiệp B TNHH Một thành
viên quản lý, sử dụng.
- Dân cư hiện hữu nằm ngoài phạm vi ranh phương án quy hoạch.
- Hệ thống giao thông, hạ tầng điện nước, thông tin liên lạc thuận tiện trong
giai đoạn đầu triển khai phương án.

- Hệ thống giao thông, hạ tầng rất thuận lợi khi triển khai đầu tư xây dựng do
khu đất thực hiện phương án kết nối với các tuyến đường giao thông trong huyện như
tuyến đường Bàu Tre, Tỉnh lộ 8 nên thuận lợi cho việc triển khai thực hiện phương án.
7. Thông tin chung về đơn vị thực hiện phƣơng án:
7.1. Thông tin về đơn vị thứ nhất:
B
- Địa chỉ

:
15


- Đại diện : - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

- Số ĐKKD:
7.2. Thông tin về đơn vị thứ 2:
CÔNG TY TNHH A
- Địa chỉ

:

- Đại diện

: - Chức vụ: Giám đốc.

- Số ĐKKD

:

Khái quát về năng lực đối tác:
Công ty TNHH A là một trong những Công ty định hướng phát triển các sản
phẩm nông nghiệp sạch nhằm đáp ứng theo xu hướng cũng như nhu cầu về sản
phẩm nông nghiệp sạch, cùng với hệ thống phân phối sản phẩm có sẵn và và thế
mạnh về tài chính, Công ty TNHH A dự kiến sẽ phát triển các dự án sản xuất nông
nghiệp, chế biến theo mô hình khép kín, toàn diện, từ lĩnh vực con giống đến nuôi
trồng nhằm cung cấp cho thị trường nội địa và hướng tới xuất khẩu.
Sau thời gian nghiên cứu, Công ty TNHH A đã có kế hoạch phát triển các dự
án theo chiến lược đầu tư vào nông nghiệp sạch nhằm đưa tới tay người tiêu dùng
những sản phẩm hoàn toàn an toàn, vì sức khỏe cộng đồng. Đồng thời thúc đẩy phát
triển kinh tế, tăng GDP cho ngành nông nghiệp. Để đảm bảo chất lượng, Công ty
TNHH A có kế hoạch quy hoạch sản xuất theo mô hình tập trung và khép kín, hợp tác
với các đối tác từ các nền nông nghiệp nổi tiếng thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc để
hình thành nên sản phẩm nông nghiệp sạch theo quy trình khép kín từ công nghệ nhân
giống, sản xuất, thu hoạch,... đều được thực hiện theo quy trình khoa học, tuân thủ
nghiêm ngặt các tiêu chí, tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn, vệ sinh thực phẩm.

16


CHƢƠNG III
KỸ THUẬT NUÔI BABA, CÁ CHẠCH LẤU
I. KỸ THUẬT NUÔI BABA
1. Đặc điểm sinh học của baba:
1.1. Cách phân biệt các loài ba ba:
- Ba ba là động vật thuộc lớp bò sát, bộ rùa, họ ba ba Tryonychidae. Trong họ
ba ba có nhiều loài. Các loài thường gặp trên thị trường ba ba ở nước ta có ba ba hoa,
ba ba gai, lẹp suối và cua đinh.
- Ba ba gai phân bố tự nhiên chủ yếu ở sông, suối, đầm hồ, miền núi phía Bắc.
- Ba ba hoa còn gọi là ba ba trơn, phân bố tự nhiên chủ yếu ở các vùng nước
ngọt thuộc đồng bằng sông Hồng.
- Cua đinh, phân bố tự nhiên ở vùng Tây Nguyên, Đông và Tây Nam bộ, dân
các tỉnh phía Bắc gọi là ba ba Nam bộ, ba ba miền Nam để phân biệt với các loài ba
ba ở phía Bắc.
- Lẹp suối, còn gọi là ba ba suối, thấy ở các suối nhỏ miền núi phía Bắc, số
lượng ít hơn ba ba gai, cỡ nhỏ hơn hai loài ba ba trên.

Baba gai

Baba trơn

Cua đinh

Lẹp suối
Hình 4: Một số loại baba

- Về tên khoa học của các loài ba ba trên, một số tài liệu phân loại đã ghi:
Baba hoa là Trionyx sinensis, baba gai là Tryonyx steinachderi, baba Nam bộ là
Trionyx cartilagineus.
- Cách phân biệt nhanh nhất là dựa vào màu da bụng và hoa vân trên bụng.
17


 Da bụng ba ba hoa lúc nhỏ màu đỏ, khi lớn màu đỏ nhạt dần, khi đạt cỡ 2 kg
trở lên gần như màu trắng. Trên nền da bụng điểm khoảng trên dưới 10 chấm đen to
và đậm, vị trí từng chấm tương đối cố định, các chấm đen này loang to nhưng nhạt
dần khi ba ba lớn đần, khi đạt cỡ trên 2 kg phải quan sát kỹ mới thấy rõ.
 Da bụng ba ba gai màu xám trắng, trên điểm rất nhiều chấm đen nhỏ, làm da
bụng có màu xám đen lúc nhỏ và xám trắng lúc lớn.
 Ba ba suối da bụng màu vàng bóng, không có chấm đen.
 Ba ba Nam bộ da bụng màu trắng, không có chấm đen.
 Ngoài da bụng, có thể căn cứ vào các nốt sần trên lưng, trên diềm cổ, và trên
cổ của ba ba để phân biệt chúng.
1.2. Tập tính sinh sống của ba ba:
Ba ba có một số tập tính sinh sống đặc biệt:
- Tuy là động vật sống hoang dã, nhưng rất dễ nuôi trong ao, bể nhỏ.
- Sống dưới nước là chính, nhưng có thể sống trên cạn và có lúc rất cần sống
trên cạn. Ba ba thở bằng phổi là chính nên thỉnh thoảng phải nhô lên mặt nước để hít
thở không khí. Mùa đông lạnh, cường độ hô hấp nhỏ, ba ba có thể rút trong bùn ở đáy
ao, dựa vào cơ quan hô hấp phụ trong cổ họng để thở, cơ quan hô hấp phụ tựa mang
cá, ba ba lấy oxy trong nước và thải CO2 trong máu vào nước qua cơ quan này. Ba ba
lên khỏi mặt nước khi có nhu cầu di chuyển, đẻ trứng, phơi lưng...
- Vừa biết bơi, vừa biết bò, leo, biết vùi mình nằm trong bùn cát, đặc biệt có
thể đào hang trú ẩn, đào khoét bờ ao chui sang ao bên cạnh.
Ba ba nhút nhát lại vừa hung dữ. Ba ba thích sống nơi yên tĩnh, ít tiếng ồn, kín
đáo. Khi thấy có tiếng động mạnh, có bóng người hay bóng súc vật đến gần, chúng
lập tức nhảy xuống nước lẩn trốn. Tính hung dữ của baba thể hiện ở chỗ hay cắn nhau
rất đau, con lớn hay cắn và ăn tranh mồi của con bé, bị đói lâu có thể ăn thịt con bé.
Khi có người hoặc động vật muốn bắt nó, nó có phản ứng tự vệ rất nhanh là vươn cổ
dài ra cắn.
1.3. Tính ăn:
Ba ba thuộc loài ăn thức ăn động vật.
Ngay sau khi nở một vài giờ, ba ba đã biết tìm mồi ăn. Trong tự nhiên thức ăn
chính trong mấy ngày mới nở là động vật phù du (thủy trần), giun nước (trùng chỉ) và
giun quế loại nhỏ. Khi lớn ba ba ăn cá, tép, cua, ốc, giun đất, trai, hến,... Trong điều
kiện nuôi dưỡng, có thể cho ba ba ăn thêm thịt của nhiều loại động vật rẻ tiền khác,
đồng thời có thể huấn luyện cho ba ba biết ăn thức ăn chế biến (thức ăn công nghiệp)
ngay từ giai đoạn còn nhỏ.
1.4. Sinh trưởng:
Ba ba hoa lúc mới nở có quy cỡ từ 3-6g/ con, Ba ba gai và ba ba Nam bộ cỡ lớn
hơn. Tốc độ lớn của ba ba phụ thuộc vào loài, kỹ thuật nuôi và điều kiện môi trường
nuôi. Từ cỡ giống 100-200g/con, sau khi nuôi 6-8 tháng, ba ba hoa có thể đạt cỡ 0,50,8kg/con đối với miền Bắc từ 0,8 - 1kg/ con đối với miền Nam. Ba ba gai nuôi có tốc
độ lớn nhanh gấp đôi hoặc trên gấp đôi ba ba hoa.
18


1.5. Sinh sản:
Ba ba hoa cỡ 0,5kg mới bắt đầu đẻ trứng lần đầu, tuổi tương ứng là 2 năm. Ba
ba gai cỡ 2 kg trở lên mới bắt đầu đẻ trứng. Trứng ba ba thụ tinh trong.
Ba ba sống dưới nước, nhưng đẻ trứng trên cạn. Đến mùa đẻ, thường là vào
mùa mưa, ba ba ban đêm bò lên bờ sông, bờ ao, hồ tìm chỗ kín đáo, có đất cát ẩm và
tơi xốp bới tổ đẻ trứng. đẻ xong chúng dùng 2 chân trước cào đất lắp kín trứng, dùng
bụng xoa nhẵn mặt đất ổ trứng rồi xuống nước sinh sống, không biết ấp trứng. trứng
nằm trong ổ, trải qua mưa nắng và các điều kiện không thuận lợi về dịch hại, sau 5060 ngày nở thành ba ba con, điều kiện ấp tự nhiên này tỷ lệ nở rất thấp. Trong điều
kiện nuôi, con người có thể tạo chỗ cho ba ba đẻ thuận lợi hơn và có nhiều phương
pháp ấp trứng đảm bảo tỷ lệ nở cao trên dưới 90%.
Trứng ba ba phần lớn hình tròn như hòn bi, màu trắng.
Ba ba càng lớn đẻ trứng càng to và càng nhiều.
Ba ba hoa cỡ khoảng 500g đẻ 1 lứa từ 4-6 trứng, đường kính trứng từ 1719mm, trọng lượng 3-4g/quả. Ba ba hoa cỡ 1-1,5kg mỗi lứa đẻ từ 8-15 trứng, đường
kính trứng 20-23mm, trọng lượng 4-7g ba ba cỡ 2-3kg có thể đẻ 20-30 trứng một lứa.
Trứng ba ba gai lớn hơn trứng ba ba hoa. Ba ba Nam bộ cỡ 4-4,5kg/con, đẻ trứng
nặng từ 20-25g/quả.
Ba ba có thể đẻ từ 2-5 lứa trong 1 năm, ba ba cái càng lớn, chế độ nuôi vỗ cho
ăn càng tốt đẻ càng nhiều lứa, mỗi lứa cách nhau từ 25-30 ngày.
Tại các tỉnh phía Bắc, một số gia đình có sổ ghi chép theo dõi, bình quân cả đàn
ba ba nuôi trong ao 1 năm đẻ 3, 5 lứa, số trứng ba ba đẻ thu được từ 40-55 quả trên
1kg ba ba cái cỡ từ 1-1,5kg.
1.6. Tính thời vụ rất rõ rệt giữa 2 vùng:
Ba ba hoa nuôi ở các tỉnh phía Bắc: một số con đẻ sớm vào cuối tháng 3 hoặc
đầu tháng 4 ( dương lịch ), đẻ rộ trong các tháng 5,6,7 sau đó đẻ rải rác tiếp các tháng
8,9,10, cuối tháng 10 là kết thúc vụ đẻ.
Thời vụ nuôi bắt đầu vào cuối tháng 3 đến đầu tháng 12. Từ giữa tháng 12 đến
hết tháng 2 thời tiết lạnh nhiệt độ nước dưới 180C, có khi dưới 150C ba ba không ăn
và không lớn. Các tháng ba ba sinh trưởng nhanh nhất là từ tháng 5 đến tháng 10.
Ba ba hoa nuôi ở các tỉnh miền Trung và phía Nam: hầu như ăn mồi quanh
năm, sinh trưởng liên tục và đẻ quanh năm, do khí hậu ấm áp quanh năm không có
mùa đông lạnh như các tỉnh phía Bắc. Trong vùng này, nhiệt độ nước các ao nuôi ba
ba trong năm dao động chủ yếu trong phạm vi từ 24-32ºC, ít khi dưới 22ºC hoặc trên
33ºC. Những nơi có điều kiện cấp nước tốt có thể khống chế được nhiệt độ nước trong
phạm vi thích hợp nhất từ 26-30ºC.
2. Kỹ thuật làm ao nuôi:
Muốn nuôi ba ba có kết quả tốt, điều quan trọng đầu tiên là phải xây dựng được
ao nuôi phù hợp với điều kiện sống của ba ba và quản lý được đàn ba ba nuôi.
Xây dựng ao nuôi ba ba cần phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chủ yếu sau:
2.1. Điều kiện về nguồn nước và chất nước:
19


a) Có nguồn nước cấp bảo đảm đủ nước nuôi quanh năm, có thể chủ động tháo
nước và thay nước khi cần. Ao có nguồn nước cấp dồi dào, có điều kiện thay nước
luôn có thể áp dụng kỹ thuật nuôi thả mật độ dày, cho ăn thoã mãn để đạt tốc độ lớn
và năng suất cao. Điều kiện cấp nước không chủ động, thay nước khó khăn chỉ nuôi
được mật độ thưa, năng suất thấp hoặc vừa phải.
Cần nhất là trong mùa nắng nóng, trong trường hợp nắng kéo dài, ao nuôi ba ba
vẫn giữ được mức nước nuôi ở độ sâu thích hợp. Thuận tiện nhất là sử dụng nguồn
nước tự chảy, nguồn nước từ sông, suối, kênh, mương, đầm hồ lớn. Nuôi quy mô nhỏ,
nhu cầu lượng nước cấp không nhiều, có thể sử dụng nước giếng khoan, giếng xây.
Ngoài ra một số nơi có điều kiện có thể sử dụng mạch ngầm hoặc nguồn nước ấm để
nuôi trong mùa đông (đối với vùng núi và miền Bắc).
b) Nguồn nước cấp cần sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải hoặc thuốc trừ
sâu, pH từ 6,5 - 8, hàm lượng oxy cao 4mg/l trở lên. Nơi không có điều kiện phân tích
nước, có thể lấy nước sinh hoạt tắm giặt bình thường để làm tiêu chuẩn. Đối với vùng
gần biển, nơi có ảnh hưởng của thuỷ triều và nước lợ, độ mặn của nguồn nước cấp
cho ao nuôi ba ba không quá 3-4%o.
2.2. Các yêu cầu kỹ thuật về xây dựng ao nuôi:
a) Nên xây dựng ao nuôi ở nơi yên tĩnh, kín đáo, không bị cớm rợp, dễ thoát
nước, không bị úng ngập, có nguồn nước cấp độc lập để bảo đảm cấp nước sạch.
b) Diện tích ao rộng hẹp vừa phải. Ao rộng nuôi dễ lớn nhanh, nhưng khó quản
lý, đầu tư lớn mới có năng suất sản lượng cao. Ao hẹp dễ quản lý, nhưng nuôi chậm
lớn hơn ao rộng. Diện tích thích hợp với từng loại ao các nơi ta lựa chọn như sau:
- Ao nuôi ba ba bố mẹ từ 100-200m2/ao, lớn nhất không nên quá 400m2.
- Ao nuôi ba ba thịt từ 100-200m2/ao, lớn nhất không quá 1.000m2.
- Bể ương ba ba giống từ mới nở đến 1 tháng tuổi: 1-10m2/bể. Nên xây nhiều
bể nhỏ ương riêng rẽ ba ba nở cùng thời gian 1-2 ngày vào 1 bể.
- Ao, bể ương ba ba giống từ 2-3 tháng tuổi: 10-50m2.
- Ao, bể ương ba ba giống lớn (4-6 tháng tuổi) từ 50-150m2. Giai đoạn này
ương trong ao tốt hơn ương trong bể xây.
c) Độ sâu thích hợp (tính từ đáy ao lên đỉnh bờ):
- Ao nuôi ba ba bố mẹ từ 1,5-2m, có mức nước chứa thường xuyên từ 1,21,5m, thời gian nắng nóng và mùa rét cho nước sâu thêm 20-30cm.
- Ao nuôi ba ba thịt từ 1,5-2m, có mức nước chứa thường xuyên 1-1,2m. Thời
gian nắng nóng và mùa rét cho nước sâu thêm 20-30cm. Đáy ao nuôi ba ba thịt và ba
ba bố mẹ tốt nhất vừa có chỗ nông vừa có chỗ sâu, để thích hợp với điều kiện tự nhiên
của ba ba.
- Bể ương ba ba mới nở: từ 0,5-0,6m, chứa nước sâu từ 10cm (lúc đầu) đến
40cm (cuối giai đoạn ương).
- Bể ương ba ba giống cỡ 2-3 tháng tuổi từ 0,7-1m, chứa nước sâu từ 0,4-0,6m.
- Bể ương ba ba giống lớn (4-6 tháng tuổi): từ 0,8-1,2m, chứa nước sâu 0,60,8m. Ao ương sâu từ 1-1,5m, chứa nước sâu 0,8-1m.
20


- Ao quá rộng và quá sâu không thuận lợi cho công tác quản lý trong quá trình nuôi.
d) Mỗi ao có cống cấp nước và thoát nước riêng. Cống thoát nước có điều kiện
nên đặt sát đáy ao để dễ tháo cạn và hút bỏ chất cặn bẩn trong ao. Cấp nước vào ao
nên cho chảy ngầm, không xối mạnh trên mặt nước làm ba ba sợ hãi không có lợi cho
sinh trưởng.
e) Có chỗ cho ba ba nghĩ ngơi dưới nước và trên bờ.
- Ba ba ăn no xong thường tìm chỗ nghĩ ngơi thích hợp, rất hay vùi mình
xuống bùn, chỉ để hở trên bùn 2 lỗ mũi để thở. Khi yên tĩnh, nhất là vào các buổi nắng
ấm, ba ba còn hay bò lên bờ hoặc trèo lên vật nổi trên mặt ao để phơi nắng (có nơi gọi
là phơi lưng, tắm nắng...) cho đến khi mặt da khô hết nước dính mới xuống nước trở
lại. Ba ba phơi nắng như vậy có tác dụng rất tốt, có thể tự chữa khỏi các bệnh nấm
nước, bệnh lỡ loét khi vết thương còn nhẹ. Trên thực tế thì những ao nuôi không có
điều kiện cho ba ba phơi nắng, ba ba rất hay bị bệnh.
- Cách tạo chỗ cho ba ba rúc nằm dưới đáy ao:
+ Vét hết bùn bẩn trong ao, để đáy trơ, sau đó đổ lớp cát non (cát mịn sạch)
hoặc cát pha bùn sạch lên trên, diện tích rải cát bùn từ 20-100% diện tích đáy ao, bể,
tuỳ mật độ nuôi dày hay thưa chiều dày lớp cát bùn từ 4-15cm tuỳ theo cỡ ba ba lớn
nhỏ, bể ương ba ba mới nở chỉ cần lớp cát dày 3-4cm, ao nuôi ba ba bố mẹ hoặc ba ba
thịt đã lớn lớp cát cần dày 10-15cm, đủ cho ba ba vùi kín mình 3-5cm. Không nên
dùng cát thô (cát già), cát bẩn có lẫn nhiều mảnh cứng sắc cạnh rải đáy cho ba ba nằm
vì ba ba tạo lực xoáy rất mạnh, dễ bị cọ sát mất nhớt, rách da chảy máu và từ chỗ chảy
máu dễ bị nhiễm trùng sinh bệnh. Đáy đổ cát mịn dễ xử lý hơn đáy bùn mỗi khi cần
tẩy dọn ao, nhưng một số người cho rằng để đáy bùn sạch nuôi ba ba bóng đẹp hơn.
Cũng không nên dùng lớp bùn cát quá dày, vừa tốn cát, vừa khó xử ký khi bắt ba ba
mỗi khi cần tẩy dọn ao và thay cát đáy.
+ Có nhiều cách tạo chỗ cho ba ba bò lên phơi nắng: Đơn giản nhất là thả một
số vật nổi như bó tre, nứa (cả cây), cây gỗ, tấm gỗ, tấm phên...
+ Tạo lối cho ba ba bò từ ao lên bờ, có thể là một luống đất ria ao hoặc cả một
vườn cây cạnh ao. Riêng ao nuôi ba ba bố mẹ không làm kiểu này.
+ Đắp ụ trong ao hoặc xây bệ nổi trên mặt ao, có cầu cho ba ba lên xuống.
Cũng có thể lát nghiêng một đầu ao, bể, độ dốc vừa phải, phần ngập dưới nước là chỗ
để cho ba ba ăn, phần cao trên mặt nước là chỗ cho ba ba phơi mình, diện tích phần
lát từ 10-20% diện tích ao, tuỳ theo mật độ nuôi dày hay thưa.
f) Có chỗ cố định cho ba ba ăn để dễ theo dõi sức ăn của ba ba và để làm vệ
sinh khu vực ăn. Đơn giản nhất là cho thức ăn vào rổ, rá, nia, mẹt, khay, buộc dây treo
ngập nước từ 0,3-0,6m cho ba ba ăn, khi cần thì nhấc lên như nhấc vó. Có thể xây một
bệ máng ở một góc ao, rộng 0,4 - 0,6m, ngập dưới nước 0,3-0,6m. Ao bể nhỏ và nông,
đáy sạch có thể thả thức ăn trực tiếp xuống đáy ao cho ăn, nên chọn vị trí gần cửa
cống tháo nước để dễ tháo hút chất cặn bẩn thức ăn thừa hàng ngày. Có thể luyện cho
ba ba quen ăn ở ngay sát mép nước.
g) Các chỗ ba ba hay bò leo như đáy bể, sườn ao, bể các gốc tường xây nên xây
phẳng, có điều kiện nên trát vữa nhẵn để ba ba khó leo và không bị xướt da bụng dẫn
đến nhiễm trùng sinh bệnh.
21


h) Chống được ba ba vượt ao ra ngoài đi mất:
- Cửa cống tháo nước và cấp nước cần bịt bằng lướt sắt.
- Ao nuôi ba ba bố mẹ cần xây bờ từ đáy lên, đỉnh bờ xây cao hơn mặt nước
chứa trong bể từ 0,2-0,5m (tùy bể to nhỏ). Đỉnh tường và các góc tường xây gờ chắn
rộng 5-10cm (tùy bể to nhỏ) nhô về phía lòng ao.
- Ao nuôi ba ba thịt không nhất thiết phải xây bờ từ đáy lên như ao nuôi ba ba
bố mẹ, nhưng cần xây tường hoặc rào chắn xung quanh. Ao nuôi trong vườn, có thể
dựa vào tường xây bảo vệ chung cả khu vườn. Các ao đất rộng có thể dùng tấm tôn,
tấm nhựa rào chắn xung quanh bờ.
- Bờ đất giữa 2 ao cần đắp chắc chắn, không để có lỗ rò rĩ nước, ba ba có thể
đào khoét rộng chui đi mất.
i) Có chỗ thích hợp cho ba ba đẻ trứng:
- Ao chuyên nuôi ba ba bố mẹ sinh sản cần xây “nhà đẻ" hoặc “phòng đẻ” cho
ba ba ở rìa ao để ba ba tập trung đẻ nhanh, không mất trứng, giảm tỷ lệ trứng hư hỏng.
Nhà đẻ xây ở một phía bờ ao, có cửa thông với ao rộng 0,5-0,6m có lối dốc thoai thoải
cho ba ba bò lên. Diện tích nhà đẻ từ 2-6m2, mỗi m2 cho 15-20 con vào đẻ. Nền nhà
đẻ cao hơn mực nước ao 0,4-0,5m để không bị ngập nước. Dùng gạch xây xung
quanh, trong đổ cát sạch , ẩm (nên dùng cát mịn, để cát ướt nhão hoặc khô rời, ba ba
không đẻ), lớp cát dày 20-25cm để ba ba bới tổ đẻ trứng. Nhà đẻ cần lợp mái che mưa
nắng, tạo yên tĩnh cho ba ba vào đẻ. Đáy nền nhà đẻ cần có lỗ thoát nước, không để
cát bị đọng nước làm hỏng trứng.
- Các ao không làm nhà cho ba ba đẻ, ba ba phải tự tìm chỗ thích hợp xung
quanh bờ ao để đẻ trứng, trứng dễ bị thất lạc và hư hỏng nhiều.
3. Kỹ thuật sản xuất ba ba giống:
Muốn phát triển sản xuất ba ba giống có lãi nhiều cần đặc biệt lưu ý áp dụng
tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, hạ giá thành sản xuất ba ba giống.
Sản xuất ba ba giống gồm 3 khâu kỹ thuật chủ yếu: nuôi vỗ ba ba bố mẹ sinh
sản, thu trứng và ấp trứng, ương nuôi ba ba giống.
3.1. Nuôi vỗ ba ba bố mẹ (nuôi ba ba sinh sản, nuôi ba ba đẻ trứng):
Chỉ tiêu chính đánh giá trình độ kỹ thuật của khâu này là năng suất đẻ trứng và
tỷ lệ trứng thụ tinh cao. Năng suất đẻ trứng còn nhiều người mới đạt mức trên dưới 20
trứng trên 1kg ba ba cái trong 1 năm, trong lúc những người nuôi có kỹ thuật tốt đã
đạt 45-50 trứng. Tỷ lệ trứng thụ tinh, nhiều người mới đạt mức trên dưới 50% số
trứng ba ba đẻ ra và thu được, trong lúc người có kỹ thuật tốt đạt trên dưới 80% vào
đầu vụ và trên 90% vào chính vụ, có những người nuôi ít, đạt 95-100%. Số người
chưa đạt các mức trung bình trên cũng còn khá nhiều.
Muốn đạt các chỉ tiêu cao cần thực hiện tốt các vấn đề kỹ thuật sau:
a) Xây dựng ao nuôi phù hợp với các yêu cầu sinh sản của ba ba.
b) Làm tốt công tác chuẩn bị ao nuôi. Ao, bể mới xây cần ngâm rữa nhiều lần,
thử nước đảm bảo độ pH thích hợp (từ 7-8) mới thả ba ba vào. Ao nuôi sau một vụ,

22


trước khi nuôi vụ mới cần tẩy dọn sạch để diệt mầm bệnh. Khi thấy cần thiết, phải
thay lớp bùn cát đã bị thối bẩn nặng.
c) Nuôi đúng thời vụ. Các tỉnh phía Bắc phải bắt đầu nuôi vỗ từ tháng 8, tháng
9 để đến khi bắt đầu rét, ba ba bố mẹ đã béo khoẻ, sang Xuân chuyển hoá tuyến sinh
dục nhanh, đẻ sớm. Sau khi đẻ xong lứa thứ nhất, tiếp tục nuôi vỗ để ba ba đẻ các lứa
thứ 2, 3, 4,...
Các tỉnh phía Nam có thể nuôi vỗ cho đẻ quanh năm, nhưng nên nuôi vỗ sớm
để ba ba đẻ tập trung các tháng từ tháng 1 đến tháng 2, tránh cho ba ba đẻ vào các
tháng có nhiệt độ cao.
d) Chọn ba ba bố mẹ có các tiêu chuẩn tốt về hình dạng, sức khoẻ và qui cỡ.
Không sử dụng ba ba đã có bệnh. Cỡ chọn nuôi nên từ 1kg trở lên với ba ba hoa, 2kg
trở lên với ba ba gai. Trong phạm vi 4kg trở lại, cỡ nuôi càng lớn chất lượng trứng
càng tốt, ba ba con nở ra càng khoẻ và mau lớn. Ba ba đực cái thả chung một ao,
nhưng phải đồng cỡ, tránh thả lẫn một số con lớn gây uy hiếp đối với những con nhỏ.
Số lượng nuôi 1 ao cần thả đủ 1 lần, không thả rải rác.
e) Phối ghép tỷ lệ đực/cái thích hợp. Hiện nay nhiều người cho rằng tỷ lệ thích
hợp nhất là 1/2,5-3 (một con đực ghép với 2,5 đến 3 con cái). Tuy nhiên, có một số
người nuôi ghép tỷ lệ 1/4 đến 1/5 vẫn đạt kết quả tỷ lệ trứng thụ tinh cao. Thả nhiều
ba ba đực có hại vì chúng hay cắn nhau sinh bệnh, hay quấy nhiễu ba ba cái làm ba ba
cái sinh sản không bình thường, lại vừa tốn thức ăn.
f) Lựa chọn mật độ nuôi thích hợp. Những năm qua đã có người nuôi mật độ
cao tới 2-3kg/m2, nhưng trong điều kiện nuôi bình thường, mật độ nuôi phổ biến và
thích hợp chỉ nên từ 0,5-1kg/m2 hoặc 0,5-1 con/m2. Nuôi mật độ dày hơn, điều kiện
cho ăn và thay nước không đầy đủ, ba ba đẻ kém , dễ sinh bệnh.
g) Chăm sóc và quản lý tốt.
3.2. Thu trứng và ấp trứng ba ba:
Trứng ba ba ấp nở tự nhiên tỷ lệ nở rất thấp, thời gian ấp nở lâu.
Hiện nay, những người sản xuất giỏi có thể đạt tỷ lệ nở trên dưới 90%, có
người đạt 100% so với số trứng thụ tinh đem ấp và rút ngắn được thời gian ấp nở từ 510 ngày so với bình thường.
Muốn ấp nở tốt, trước hết phải biết kỹ thuật thu trứng. Nên theo dõi ba ba đẻ,
thu trứng vào các buổi sáng, lúc ba ba đẻ rộ thu hàng ngày, lúc ba ba đẻ thưa 3-5 ngày
thu 1 lần, không nên để ba ba đẻ sau 15-20 ngày mới thu trứng đem ấp. Các quả trứng
nhỏ, hình dạng không bình thường và trứng không thụ tinh cần loại ngay, chỉ giữ
trứng thụ tinh để ấp. Trứng thụ tinh phần lớn tròn, vỏ trứng có màu sắc bình thường,
phần trên màu trắng là túi chứa hơi để phôi thở, phần dưới màu phớt hồng là phần
phôi và noãn hoàn (lòng đỏ trứng). Trứng hỏng (không thụ tinh) màu sắc không bình
thường, hay có vết đốm loang lỗ , không phân biệt rõ 2 phần như trứng thụ tinh. Cần
ghi chép các số liệu từng ao nuôi về ngày đẻ, ngày thu trứng ấp, số lượng trứng thu
được, số lượng trứng thụ tinh,... để giúp cho việc xử lý kỹ thuật ấp và dự đoán kết quả
nuôi vỗ, tỷ lệ nở...
Cách ấp trứng: Nên ấp trong nhà hoặc có phòng ấp riêng để tránh nhiệt độ thay
đổi bất thường và bảo vệ được trứng. Dụng cụ ấp trứng thường dùng khay, chậu bằng
23


nhôm, sắt tráng men hoặc bằng nhựa. Diện tích khay, chậu to nhỏ tuỳ theo số lượng
trứng cần ấp. Một chậu rửa mặt thông thường có thể ấp trên dưới 100 trứng, một chậu
nhôm to có thể ấp trên dưới 300 trứng.
Khay chậu ấp có chiều cao trên 10cm, trong đổ cát sạch mịn, ẩm và tơi xốp, lớp
cát dày 7-8cm (cách miệng khay, chậu 3-4cm), đáy khay chậu có lỗ thoát nước để
tránh cát ấp bị đọng nước làm hỏng trứng ấp. Nhặt trứng thụ tinh rải đều trên mặt cát,
quả cách quả 2cm, đầu có túi hơi để phía trên (chú ý không đặt ngược, không đặt
nghiêng), khi đủ 1 lớp trứng thì lấy cát bột rải lên trên cho kín, lớp cát cao hơn trứng
2-3cm. Để khay trứng vào nơi yên tĩnh để ấp. Nếu có điều kiện xác định, nên khống
chế hàm lượng nước trong cát ẩm từ 7-10% (cát ẩm cho lên tay bóp vẫn rời không
vón cục) và độ ẩm không khí trong phòng ấp khoảng 85%. Ngoài ấp phổ biến bằng
khay, chậu, các cơ sở sản xuất lớn hàng ngàn, hàng chục ngàn trứng có thể xây phòng
ấp, bể ấp chuyên hoặc dùng máy ấp trứng nhập từ nước ngoài.
Quản lý việc ấp trứng là nhiệm vụ rất quan trọng trong thời kỳ ấp từ 50-55
ngày. Cần nhất là giữ cho nhiệt độ và độ ẩm cát ấp được ổn định. Cách 1-2 ngày lớp
cát trên mặt bốc hơi bị khô, cần phun nước cho ẩm trở lại bình thường, nước phun cần
từ từ, đặc biệt tránh dội nước làm cho nhiệt độ cát ấp bị thay đổi đột ngột, phôi trứng
sẽ chết. Trong những ngày mưa lớn hoặc ban đêm nhiệt độ không khí xuống thấp
dưới 25ºC, cần có biện pháp tăng nhiệt độ phòng ấp (nơi có điện có thể thắp bóng
điện 100-200W để toả nhiệt, cần che đèn cho nhiệt độ toả đều, nếu không che có chỗ
sẽ bị quá nóng, trứng sẽ bị chết). Những ngày quá nóng, phòng ấp nên để thoáng gió
hoặc làm mát bằng quạt,... Nhiệt độ ấp thích hợp nhất là ổn định từ 30-32ºC, ở nhiệt
độ này thời gian ấp chỉ 45-50 ngày nhiệt độ ấp cao hơn 1-2 độ thời gian ấp có thể rút
ngắn 4-5 ngày nhưng để không an toàn. Dưới 20ºC và trên 35ºC phôi trứng bị chết, ấp
không nở được. Khi thấy trứng sắp nở (mổ mỏ, có chỗ nứt vỏ) cần đặt khay nước sạch
hoặc bát nước vào giữa khay, chậu ấp trứng, ba ba con nở ra biết tự bò vào nước cũng
có thể kê khay chậu ấp trứng trên 1 chậu to hoặc bể con, trong chậu hoặc bể chứa
nước, ba ba con nở ra tự nhảy vào nước. Nếu không để sẵn nước, ban đêm chậm biết,
ba ba con bị khô da sẽ chết.
Quá trình quản lý ấp trứng, có thể bới cát kiểm tra trứng, nhưng không được
đảo trứng, đồng thời cần có các biện pháp bảo vệ không cho kiến, chuột, rắn, mèo, gà
lọt vào ăn hại trứng và ba ba con. Nhặt ba ba mới nở vào chậu nước sạch, chọn những
con khoẻ mạnh, đã “rụng rốn” để đưa vào bể ương.

Hình 5: Ấp trứng Baba
24


3.3. Ương nuôi Ba ba giống:
Để đảm bảo ương từ ba ba mới nở thành ba ba giống có tỷ lệ sống cao, nên chia
thành 3 giai đoạn ương. Dưới đây chủ yếu giới thiệu kỹ thuật ương ba ba hoa.
Giai đoạn 1: Ương từ lúc mới nở cỡ 4-6g thành cỡ 15-25g. Thời gian ương
nhanh từ 25-30 ngày. Chăm sóc kém thời gian có thể kéo dài gấp đôi. Ba ba nở đầu vụ
và giữa vụ, đúng mùa sinh trưởng ương lớn nhanh hơn ba ba nở cuối vụ. Ba ba mới
nở do quy cỡ còn nhỏ, sức yếu, cơ quan tiêu hoá chưa hoàn chỉnh nên cần được chăm
sóc tỉ mỉ trong các bể nhỏ có diện tích từ 1m2 đến 10m2. Mức nước trong bể ương từ
10-15cm mấy ngày đầu tăng dần đến 40cm vào cuối tháng. Không nên để nước quá
sâu vì ba ba con luôn phải ngoi lên mặt nước thở, tốn năng lượng, ảnh hưởng đến sức
khoẻ. Mặt bể có thể thả bèo tây non, sạch cho ba ba con nằm thở giáp mặt nước. Mật
độ ương trung bình 50 con/m2, có thể ương dày 100-150 con/m2 nhưng sau 10-15
ngày phải san thưa, cho ăn đầy đủ và thay nước luôn. Cho ăn trùn chỉ (giun đỏ), giun
đất, trùn quế, thả vào khay đưa xuống bể cho ba ba ăn vào sáng sớm hoặc chiều tối.
Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống đạt 90-100%.
Giai đoạn 2: Ương từ cỡ giống 15-25g thành cỡ giống 50-80g, thời gian ương
nuôi cần 2-3 tháng với ba ba nở đầu vụ. Giai đoạn này tốt nhất vẫn nên ương trong bể
xây cỡ 20-30m2 hoặc trong ao nhỏ cỡ 50-100m2. Mật độ ương trung bình 25-30
con/m2. Cho ăn no đủ bằng giun đất, cá mè luộc chín, gỡ ra thả xuống bể cho ba ba
vào sáng, chiều. Quản lý chăm sóc tốt có thể đạt tỷ lệ sống 90-100%. Ương nuôi kém,
sau 3 tháng chưa đạt quy cỡ nêu trên.
Giai đoạn 3: Ương cỡ giống nhỏ 50-80g thành cỡ giống lớn 100-150g, con to
trên 200g. Thời gian ương cần 2-3 tháng, nếu thả qua mùa đông thì mất 5-6 tháng.
Giai đoạn này nuôi trong ao đất lớn nhanh hơn trong bể xây. Diện tích bể ương trên
dưới 50m2, diện tích ao ương 100-150m2. Mật độ ương trung bình 7-10 con/m2, cao
nhất 15 con/m2. Cho ăn no đủ bằng cá mè luộc, gỡ cho ăn, cũng có thể cá băm nhỏ
cho ăn vào sáng, chiều. Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống có thể đạt 90-100%.
Cần định kỳ 1 tháng kiểm tra 1 lần để phân cỡ, tách con to con nhỏ nuôi riêng
ao. Quá trình nuôi cần đảm bảo ao bể ương có nhiệt độ thích hợp từ 25-33ºC.

Hình 6: Baba con
4. Nuôi ba ba thƣơng phẩm:
4.1. Ao nuôi:
- Diện tích: 100 - 600m2. Độ sâu: 1 - 1,5m. Độ trong: 30cm
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x