Tải bản đầy đủ

Kinh tế đối ngoại Phân tích những khả năng và điều kiện để phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay dù còn nhiều khác biệt, còn mâu thuẫn gay gắt, song lại
thống nhất với nhau. Mỗi chủ thể kinh tế là một đơn vị độc lập, nhưng lại phụ
thuộc vào chủ thể khác về nhiều mặt. Nước nghèo phụ thuộc vào nước giàu về
công nghệ, về vốn.Nước giàu sẽ phụ thuộc nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên,
về lao động, về thị trường.
Nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, để có thể duy trì sự phát
triển kinh tế một cách tương đối ổn định, mỗi quốc gia phải có ít nhất 16 thứ sản
phẩm cơ bản là năng lượng, một số kim loại chủ yếu, lương thực, thực phẩm, trang
thiết bị…Ngay trong từng loại đó, do sự phát triển của khoa học-công nghệ mà vai
trò của từng thứ cũng có lúc khác nhau. Trong khi đó, do điều kiện địa lý khác
nhau, do sự phân bố tài nguyên khác nhau nên không quốc gia nào có thể đảm bảo
được tất cả các sản phẩm đó. Kể cả có các tài nguyên thiên nhiên, nhưng thiếu vốn,
trang thiết bị, công nghệ thì nhiều quốc gia cũng không thể khai thác được. Như
vậy, mọi quốc gia đều phụ thuộc vào bên ngoài.
Thực tế lịch sử cho thấy, quốc gia nào thực hiện chính sách tự cung tự cấp
thì không thể phát triển, thậm chí còn thụt lùi. Những nước có tốc độ phát triển
kinh tế cao, có đời sống kinh tế - xã hội phát triển đều là những nước dựa vào kinh
tế đối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nước, biết vận dụng những thành tựu khoa
học – công nghệ để hiện đại hóa nền kinh tế, biết khai thác nguồn lực bên ngoài để
nâng cao hiệu quả nguồn lực trong nước. Những nước biết biến sức mạnh bên

ngoài thành động lực cho sự phát triển bên trong là những nước biết “đứng trên vai
người khổng lồ”
Xuất phát từ những lý do trên, em chọn đề tài: “Phân tích những khả năng
và điều kiện để phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam".
Với cách tiếp cận vấn đề dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu của kinh tế
chính trị Mác - Lênin mà điển hình là phương pháp trừu tượng hoá khoa học.


Ngoài ra một số phương pháp khác như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử cũng được sử dụng.
Do thời gian hạn hẹp với khả năng phân tích của bản thân còn hạn chế nên kết
quả nghiên cứu của luận văn chưa thể hoàn thiện, rất mong nhận được sự góp ý của
các thầy, cô và các bạn để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
I. KHÁI NIỆM KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Để hiểu thế nào là kinh tế đối ngoại và không nhầm lẫn nó với khái niệm
kinh tế quốc tế, trước hết ta hãy xem khái niệm về kinh tế đối ngoại của giáo trình
kinh tế chính trị Mac-Lênin do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia đưa ra như sau:
“Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận kinh tế, là tổng thể các quan
hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc
gia còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều
hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và
phân công lao động quốc tế”.
Như vậy kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế mà chủ thể của nó là một quốc
gia với bên ngoài, với nước khác hoặc tổ chức kinh tế quốc tế khác. Còn kinh tế
quốc tế là mối quan hệ kinh tế với nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể quan
hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế
II. NHỮNG CƠ SỞ KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
- Phân công lao động quốc tế:
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cấp
một hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia nhất định dựa trên cơ
sở những lợi thế của quốc gia đó về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học, công
nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của quốc gia khác thông qua trao đổi quốc tế .
- Lí thuyết về lợi thế tương đối của David Ricardo
Một dân tộc có hiệu quả thấp hơn so với các dân tộc khác trong việc sản
xuất hầu hết các loại sản phẩm, vẫn có cơ sở cho phép tham gia vào sự phân công
lao động và thương mại quốc tế, tạo lợi ích cho dân tộc mình.Theo ông, một hàng


hoá hoặc dịch vụ có lợi thế tương đối là những hàng hoá, dịch vụ mà việc tạo ra nó
có những bất lợi ít nhất. Và hàng hoá hoặc dịch vụ không có lợi thế tương đối là
những hàng hoá, dịch vụ mà việc sản xuất ra chúng có nhiều bất lợi nhất.Và cũng


theo lí thuyết này, một quốc gia cho dù bất lợi trong sản xuất các loại hàng hoá
dịch vụ so với các quốc gia khác vẫn có thể tham gia thương mại quốc tế nếu biết
lợi dụng sự chênh lệch về tiền lương và theo đó là tỷ giá giữa hai đồng tiền nội tệ
và ngoại tệ khi thực hiện trao đổi quốc tế .
- Xu thế thị trường thế giới
Từ những thập kỷ 70 của thế kỷ XX lại đây, toàn cầu hoá và khu vực hoá trở
thành xu thế tất yếu của thời đại dẫn đến “mở cửa” và “hội nhập” của mỗi quốc gia
vào cộng đồng quốc tế, trong đó có “xu thế phát triển của thị trường thế giới”. Xu
thế này có liên quan đến sự phân công lao động quốc tế và việc vận dụng lợi thế so
sánh giữa các quốc gia trong thương mại giữa các nước với nhau.
+ Thương mại trong các ngành tăng lên rõ rệt:
Sau chiến tranh thế giới 2, cùng với khoa học và công nghệ phát triển sự
phân công quốc tế đã có thay đổi rất lớn về hình thức, chủ yếu thể hiện ở sự phân
công giữa các ngành từng bước chuyển sang phân công nội bộ ngành, do đó
thương mại trong các ngành phát triển rất nhanh. Theo dự báo, cùng với cạnh tranh
quốc tế ngày càng gay gắt và cùng với tiến bộ khoa học-công nghệ, thương
mại trong nội bộ ngành sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong thương mại thế giới.
+ Khối lượng thương mại trong nội bộ các tập đoàn kinh tế khu vực không
ngừng mở rộng:
Tổng kim ngạch thương mại trong các tập đoàn kinh tế khu vực ( như cộng
đồng kinh tế châu Âu (EEC-nay là EU)) trong hiệp định sản phẩm xã hội MỹCanađa không ngừng tăng lên và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim
ngạch quốc tế. Hình thành thị trường thế giới trong từng khu vực, lấy Mỹ-châu ÂuNhật Bản làm trung tâm.
+ Thương mại công nghệ phát triển nhanh chóng:
Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, trên thị trường thế giới, thương mại
công nghệ phát triển nhanh chóng, cứ 10 năm lại tăng lên gấp 4 lần, vượt xa tốc độ
tăng trưởng của thương mại hàng hoá. Thương mại công nghệ phát triển theo ba xu


hướng: Cùng với sự điều chỉnh cơ cu ngành nghề và chiến lược kinh tế của các
nước, các nước phát triển sẽ nhanh chóng chuyển vốn, thiết bị và kỹ thuật quá thừa
ra nước ngoài. Còn các nước đang phát triển sẽ tìm cách thu hút vốn của nước
ngoài để phát triển sản xuất, mở rộng kinh tế đối ngoại; Xuất khẩu bằng sáng chế,
phát minh, giấy phép, bản vẽ thiết kế, tổ chức quản lý...sẽ ngày càng chiếm vị trí
quan trọng; Cạnh tranh gay gắt trong thị trường thương mại công nghệ. Trong cuộc
cạnh tranh ấy, các xí nghiệp xuyên quốc gia của các nước phát triển giữ vai trò chi
phối.
+ Thương mại phát triển theo hướng tập đoàn hoá kinh tế khu vực với các
nhân tố sau chi phối:
Cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, cục diện thế giới thay đổi từ hai cực
sang đa cực, so sánh sức mạnh kinh tế thế giới cũng thay đổi rõ rệt. Để duy trì lợi
ích của mình và củng cố vị trí trong đàm phán, nhiều nước đang phát triển cũng tổ
chức các loại hình liên minh kinh tế khu vực. Và để đảm bảo sự ổn định và phát
triển hài hoà, các nước phát triển cũng không thể xây dựng thị trường chungcó tính
chất khu vực nhằm điều hoà ngành sản xuất và thương mại của các nước.
Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu ngành trên
quy mô thế giới. Những tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực mới như dịch vụ, quyền
sở hữu tài sản, trợ thuế ngày càng gia tăng. Vì vậy, các nước có tiềm lực kinh tế
lớn muốn lợi dụng hiệp nghị thương mi song phương để gây sức ép trong đàm
phán thương mại đa phương và ra sức lấy đó làm mẫu mực ký kết hiệp định
thương mại tự do với các nước có liên quan.Xu thế tập đoàn hoá kinh tế khu vực
ngày càng có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình kinh tế thương mại thế giới, làm
cho hướng chuyển dịch tiền vốn và kỹ thuật trên phạm vi thế giới có thay đổi lớn.
Điều này vừa đem lại cơ hội cho sự phát triển thương mại và kinh tế thế giới vừa
có ảnh hưởng bất lợi đối với nhiều nước, nhất là các nước nằm ngoài khu vực và
các nước đang phát triển .Tóm lại, sự hình thành và phát triển kinh tế đối ngoại mà
cơ sở khoa học của nó chủ yếu được quyết định bởi sự phân công và hợp tác lao
động trên phạm vi quốc tế được các quốc gia vận dụng thông qua lợi thế so sánh để


ra quyết định lựa chọn các hình thức kinh tế đối ngoại diễn ra trong điều kiện toàn
cầu, khu vực hoá và được biểu hiện rõ nhất ở xu thế phát triển của thị trường thế
giới trong mấy thập niên gần đây.Đứng trên góc độ kinh tế chính trị, liên hệ với
Việt Nam hiện nay, vấn đề kinh tế đối ngoại sẽ được xem xét trên hai phương diện:
thực trạng và giải pháp. để từ đó thấy được những thành tựu chúng ta đã đạt được
cũng như những sai sót, yếu kém, hạn chế trong kinh tế đối ngoại của ta. Giúp ta
từng bước khắc phục, đi lên, lựa chọn được mô hình kinh tế đối ngoại phù hợp
nhất, trong điều kiện kinh tế nước nhà nói riêng và hoà chung với nền kinh tế thế
giới.
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ
KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TẠI VIỆT NAM
I. THUẬN LỢI
Chế độ chính trị- xã hội
- Từ khi thống nhất đất nước vào ngày 25- 4- 1976 với tên chính thức là
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ nghĩa
đơn đảng ( Đảng Cộng sản Việt Nam) VN đã thiết lập được một chế độ chính trịxã hội ổn định, được quốc tế thừa nhận là một trong những quốc gia an toàn nhất
cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt là các hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Một số biện pháp VN đã thực hiện nhằm ổn định và phát triển kinh tế bền
vững:
+ Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý kinh tế theo chuẩn
mực quốc tế.
+ Phát triển cơ sở vật chất hạ tầng
+ Mở rộng quan hệ ngoại giao
- Trong bối cảnh thế giới có những sự kiện lớn như Vụ 911 ở Mỹ, vấn đề
Bắc triều Tiên với Mỹ và Trung Quốc,… trật tự an toàn xã hội ở VN vẫn đc đảm
bảo.
=> VN đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư quốc tế.


Nguồn nhân lực và con người Việt Nam
- Dân số trung bình năm 2018 ước đạt 95,93 triệu người. Theo thông tin từ
Tổng cục Dân số - kế hoạch hóa gia, dân số sẽ đạt 98 triệu người vào 2020. Trong
số này có khoảng 50% trong độ tuổi lao động làm cho giá nhân công của VN tương
đối rẻ, đây là một thuân lợi trong phân công lao động quốc tế.
- Người VN có đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo, có khả năng nắm bắt
nhanh khoa học, công nghệ, có khả năng thích ứng được với những tình huống
phức tạp.
=> Nguồn nhân lực và con người VN là nguồn lực quan trọng nhất và là lợi
thế lớn nhất trong trao đổi và phân công lao động quốc tế.
Trí tuệ là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển và mở rộng kinh
tế đối ngoại.
Tài nguyên thiên nhiên
- Vị trí địa kinh tế:
+ VN ở trung tâm ĐNA, khu vực châu Á- TBD - một khu vực có nền kinh
tế phát triển năng động và có tốc độ cao. Vị trí này cho phép Việt Nam có thể dễ
dàng phát triển các mối quan hệ kinh tế - thương mại; văn hoá, KH - KT với các
nước trong khu vực và TG.
+ Với đường bờ biển dài 3200km, trải dài trên 15 vĩ tuyến, cùng những
cảng quốc tế trên những tuyến hàng hải quan trọng - VN có ưu thế trong lĩnh
vực hàng hải và giao thương quốc tế.
+ Vị trí giáp với các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia - cho phép VN
và các nước này giao lưu và phát triển kinh tế đối ngoại một cách thuận lợi trong
khu vực và trên thế giới
+ Có vùng biển rộng lớn và giàu tài nguyên - cung cấp lượng hải sản dồi
dào và có giá trị kinh tế cao; khu vực nước ngập mặn có tiềm năng phát triển nuôi
trồng nhiều loại hải sản có giá trị xuất khẩu.


+ Ngoài ra, do VN nằm chắn ngang đường hàng không từ Tây sang Đông,
từ Nam lên Bắc và có nhiều sân bay quốc tế quan trọng nên có tiềm lực lớn về
hàng không và hàng hải => thuận lợi tham ra vào phân công lao động quốc tế và
pát triển hàng không, hàng hải.
VN có nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng => những tài
nguyên này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn văn hóa, chính trị; mang lại
nguồn lơn ngoại tệ và củng cố quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước.
- Khí hậu: VN có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa chịu ảnh hưởng sâu sắc của
chế độ gió mùa châu Á; có nhiều vùng tiểu khí hậu thuận lợi cho việc đa dạng cây
trồng; nguồn năng lượng tự nhiên quan trọng, có thể khai thác và sử dụng vào việc
kinh doanh du lịch; độ ẩm cao, lượng mưa trung bình năm khá lớn, cho phép khai
thác hiệu quả tài nguyên đất đai và nhân lên nhiều lần quỹ đất canh tác.
- Tài nguyên:
Tài nguyên rừng
+ Diện tích rừng của VN đã bị tàn phá khá nặng nề cả trước và sau chiến
tranh, bị suy giảm rõ rệt về số lượng, tuy nhiên thì rừng vẫn có khả năng cung
cấp nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ, hàng mỹ nghệ xuất khẩu và 1 số sản phẩm
quan trọng khác.
+ Rừng ẩm nhiệt đới là hệ sinh thái có năng suất cao có tiềm năng sản xuất
nguyên liệu lớn.
Tài nguyên khoáng sản: Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú và đa dạng, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế lớn (than, sắt, đầu mỏ,
bôxit, aptit ...). Nguồn tài nguyên mang lại thu nhập nhiều nhất hiện nay là dầu khí
- ngành mang lại thu nhập nhiều nhất cho VN
II. KHÓ KHĂN
* Điều kiện tự nhiên
Đất đai:


- Quỹ đất canh tác khoảng 10 triệu ha, diện tích đất tốt là 7 triệu ha đã sử
dụng hết. với mức tăng dân số như hiện nay, nếu sử dụng hết 10 triệu ha đất
canh tác thì diện tích đất canh tác bình quân đầu người cũng không tăng
bao nhiêu.
- Diện tích đất đai canh tác bình quân đầu người không ngừng giảm và đứng
hàng thấp thế giới.
Khí hậu:
Lụt bão, hạn hán, sâu bệnh xảy ra thường xuyên ảnh hưởng nặng nề đến
nông nghiệp
Thời tiết khắc nghiệt, tình trạng nước biển dâng cũng tác động mạnh mẽ
đến vấn đề phát triển kinh tế Việt Nam.
Tiềm lực kinh tế có hạn, trình độ khoa học công nghệ còn thấp nên việc dự
báo, kiểm soát cũng như phòng chống càng khó khăn.
Các loại tài nguyên khác:
Tài nguyên khoáng sản phong phú song đa số trữ lượng không nhiều, phân
bố rải rác => khả năng khai thác thương mại bị hạn chế.
Tài nguyên rừng ngày càng bị thu hẹp và khai thác cạn kiệt.
Tài nguyên biển cũng có nhiều khó khăn trong khai thác và kiểm soát
* Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật:
Sau đổi mới , cơ sở vật chất kỹ thuật đã được mở rộng, phát triển,
nâng cấp nhiều song chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế đặc
biệt là hệ thống đường bộ, đường sắt, sân bay, hải cảng.
* Cơ sở hạ tầng pháp lý: Cơ sở hạ tầng pháp lý điều chỉnh hoạt động đối
ngoại vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ, tính ổn đinh chưa cao gây trở ngại cho tiến
trình mở cửa nền kinh tế.
* Trình độ nguồn nhân lực:


- Bao gồm cả cán bộ quản lý nhà nước trong các doanh nghiệp và công nhân
lành nghề.
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật và ngoại ngữ chưa cao, ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế của doanh nghiệp và của từng sản phẩm, tác
động không tốt đến khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Người lao động Việt nam còn có hạn chế về thể lực, ý thức tổ chức kỷ luật
và khả năng hợp tác trong công việc.
CHƯƠNG III. NHỮNG KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ MỞ RỘNG
CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Để có thể mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, thu hút các
nhà kinh doanh nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, những điều kiện quan trọng nổi
lên cần sớm giải quyết là:
I. ĐỔI MỚI TƯ DUY ĐỐI NGOẠI, TƯ DUYAN NINH, TƯ DUY KINH TẾ
- Tư duy đối ngoại: đòi hỏi có nhận thức đúng, phù hợp với thực tiễn về mô
hình và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời phải
mềm dẻo, thông quá các hoạt động đối ngoại mà thêm bạn bớt thù, biến thù
thành bạn
- Tư duy về an ninh: trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, an ninh
của các quốc gia phải có sự tùy thuộc, rang buộc lẫn nhau. Nhìn về tương lai, lợi
ích cơ bản, lâu dài của dan tộc làm điều kiện tiên quyết. Tổn trọng sự cùng
tồn tại hòa bình của các dân tộc khác
- Tư duy kinh tế: khai thác và phát huy triệt để tinh thần dân tộc trong các
hoạt động kinh tế đối ngoại, đoàn kết các lực lượng khác nhau, hướng vào
mục tiêu chung, đảm bảo chữ “tín” trong mối quan hệ giao dịch quốc tế
II. ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI
- chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ trạng thái trị trệ sang trạng thái năng
động, có khả năng tự điều chỉnh và đưa lại hiệu quả cao


- xây dựng các quy chế họat động khoa học, thể chế hóa đồng bộ, quy định
chế độ quản lý rõ rang và gọn nhẹ, đảm bảo đối xử bình đẳng với các thành phần
kinh tế
- chống tệ nạn tham những, bệnh quan liêu, thi hành luật pháp kém hiệu lực
- khắc phục sự mất ổn định của nền kinh tế, nền tài chính, sức mua của đồng
tiền
- chống lạm phát có hiệu quả
- cải tiến cơ chế hoạt động trong các ngành kinh tế đối ngoại theo hướng
khai thác được mọi tiềm lực đất nước, nâng ca chất lượng và hiệu quả ( trước hết là
công tác xuất nhập khẩu)
III. XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG CẦN THIẾT
Huy động các nguồn vốn để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng
hiện đại, đồng bộ với phương châm có trọng tâm, trọng điểm và có bước đi thích
hợp nhằm tạo ra nền tảng kết cấu hạ tầng vững chắc cho phát triển với quy mô
lớn, trình độ cao. Trong đó, ưu tiên phát triển các cơ sở sản xuất năng lượng; một
số thương cảng quốc tế và sân bay quốc tế cỡ lớn, hiện đại, nối kết với các thương
cảng, sân bay quốc tế của các nước trên thế giới và trong khu vực; hoàn thành các
tuyến đường giao thông cao tốc Bắc Nam, xuyên Á cũng như những tuyến đường
kết nối các đầu mối giao thông lớn với các khu vực trong nội địa và mạng giao
thông nối kết giữa các tỉnh, huyện, xã; hoàn chỉnh các mạng đường giao thông,
mạng chuyển tải điện, mạng thông tin liên lạc với những nơi xa xôi trên phạm vi
cả nước để lan tỏa văn minh đô thị, văn minh công nghiệp, văn minh thương mại
tới mọi miền của Tổ quốc; hoàn chỉnh hệ thống khám chữa bệnh, trường học,
công trình văn hóa, thể thao cũng như mạng lưới cung nước, xử lú chất thải, bảo vệ
môi trường, cảnh báo thiên tai trên tất cả các vùng và nhất là ở các đô thị lớn
IV. ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VỚI CƠ CẤU THÍCH HỢP
• Đội ngũ này phải có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của việc mở rộng và
nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh tế đối ngoại. Vấn đề này chỉ được giải quyết


triệt để nếu được tổ chức tốt việc thực hiện chiến lược con người, từ khâu xác
định rõ vị trí, chức năng của con người trong các hoạt động kinh tế xã hội, đến
việc đề ra những tiêu chuẩn cần thiết cho từng loại cán bộ và công nhân kĩ thuật
theo yêu cầu những nhiệm vụ mới.
• Cần đánh giá phẩm chất và đặc điểm xã hội của đội ngũ cán bộ hiện nay,
có kế hoạch đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng họ một cách đúng mức. suy cho cùng
mọi thành công của hoạt động kinh tế-xã hội nói chung và phát triển các hoạt
động kinh tế đối ngoại nói riêng đều do yếu tố con người quyết định. Thực tiễn
ở những nước đã đạt được sự thần kì trong các giai đoạn phát triển kinh tế chính
là do họ đã biết khai thác triệt để và phát huy tối đa hóa yếu tố con người. Yếu
tố con người ở đây không chỉ đơn thuần là kỹ năng và trình độ thành thạo của
họ mà điều quan trọng hơn là nề nếp làm việc, kỷ luật lao động, tính tổ chức và
sức mạnh tổng hợp của từng tập thể lao động.
• Hơn nữa trong mối quan hệ phát triển mối quan hệ hang hóa-tiền tệ, trong
sự phát triển của các mối quan hệ mậu dịch và hợp tác quốc tế,, chúng ta cần
những con người có tri thức và khả năng tổ chức kinh doanh cũng như có bản
lĩnh kinh doanh, không những được rèn luyện tác phong công nghiệp mà còn có
ý chí vươn lên, chấp nhận sự cạnh tranh và biết cách thắng đối phương qua sự
cạnh tranh. Lao động của người quản lý và kinh doanh giỏi cần được coi trọng
và đánh giá cao đối với tài năng trong các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật.
V. CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu, không chỉ của riêng
Việt Nam mà còn của cả thế giới.
• Hội nhập tạo ra nhiều cơ hội để phát triển kinh tế trong nước nhưng cũng
tạo ra nhiều thách thức. Đảng ta có quan điểm hội nhập trên cơ sở những
bước đi thận trọng và thích hợp. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng ta khẳng định chủ trương: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển


nhanh, có hiệu quả và bền vững. Nghị quyết số 07/NQ-TW về hội nhập kinh
tế quốc tế, ngày 27-11-2001 của Bộ Chính trị nêu rõ các mục tiêu của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực
hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
• Trong bối cảnh mới, việc hội nhập không chỉ dừng lại ở kinh tế mà cần
mở rộng ra tất cả các lĩnh vực.
-. Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại.
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và
hội nhập kinh tế quốc tế cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa
phương hóa, đa dạng hóa thị trường và đối tác, tham gia rộng rãi các tổ chức
quốc tế. Các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh
vào việc phục vụ đắc lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống
quan hệ kinh tế quốc tế bình đẳng, công bằng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích của
các nước đang phát triển và chậm phát triển.
- Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh
quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như trong
quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hưởng tiêu cực tới nhiệm
vụ bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội; mặt khác, các cơ quan quốc phòng
và an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quá trình
hội nhập.
Đảng ta nêu rõ: “Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh
tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu
quả” và “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.


KẾT LUẬN
Để có thể mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại tốt chúng ta cần phải có
chính sách phù hợp để không phải là người yếu thế trên trường quốc tế. Muốn vậy
trước hết phải xem xét lại một số vấn đề về mặt lý luận, phương pháp luận, thẳng
thắn nhìn vào thực trạng của kinh tế đối ngoại nước ta từ đó tìm ra những giải pháp
cho vấn đề này.
Trong giới hạn của môn học và hạn chế về trình độ, em chỉ trình bày những
khái niệm cơ bản nhất của kinh tế đối ngoại, những giải pháp cơ bản để mở rộng
và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại, những khái niệm liên quan chưa được
đề cập tới.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình môn Kinh tế Quốc tế của Thầy giáo – TS Dương Văn Bạo
- Tham khảo nguồn Internet


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI.............................3
I. KHÁI NIỆM KINH TẾ ĐỐI NGOẠI................................................................3
II. NHỮNG CƠ SỞ KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI............................................................................3
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ
KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TẠI VIỆT NAM.......6
I. THUẬN LỢI......................................................................................................6
II. KHÓ KHĂN.....................................................................................................8
CHƯƠNG III. NHỮNG KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ MỞ RỘNG................10
CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI.....................................................10
I. ĐỔI MỚI TƯ DUY ĐỐI NGOẠI, TƯ DUYAN NINH, TƯ DUY KINH TẾ...............10
II. ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI................................................................................................................10
III. XÂY DỰNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG CẦN THIẾT....................................11
IV. ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VỚI CƠ CẤU THÍCH HỢP......................11
V. CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.............................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................15
- Giáo trình môn Kinh tế Quốc tế của Thầy giáo – TS Dương Văn Bạo................15
- Tham khảo nguồn Internet....................................................................................15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×