Tải bản đầy đủ

khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp hỗ trợ trẻ học khó các môntiếng việt và toán trong các trường tiểu học tại thành phố hồ chí minh

SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
TP. HỒ CHÍ MINH
-oOo-

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TP. HỒ CHÍ MINH
-oOoTRUNG TÂM HT&PT GDHN
CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

ĐỀ TÀI:
Khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp hỗ trợ trẻ học khó
các mơnTiếng Việt và Tốn trong các trường tiểu học
tại thành phố Hồ Chí Minh
(Đã chỉnh sửa sau nghiệm thu)
Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Ẩn

SỔ TAY
CHẨN ĐỐN VÀ HỖ TRỢ
HỌC SINH HỌC KHĨ MƠN
TIẾNG VIỆT VÀ TỐN LỚP 1,2,3
(Dành cho giáo viên dạy hỗ trợ học sinh học khó)


TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2008


CHẨN ĐOÁN VÀ HỖ TRỢ
TRẺ HỌC KHÓ HỌC MÔN TIẾNG VIỆT & TOÁN LỚP 1, 2, 3
I. KHÁI NIÊM VỀ KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP
Khó khăn trong học tập (KKTHT) nghĩa là: Sự khó khăn trở ngại mà
đứa trẻ gặp phải trong quá trình thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng trong
học tập và trong sinh hoạt.
Thuật ngữ KKTHT cụ thể có nghĩa là trong quá trình phát triển tâm lý
cơ bản có sự rối loạn về việc hiểu hoặc việc sử dụng ngôn ngữ nói hay viết,
các rối loạn này ảnh hưởng không tốt đến việc lắng nghe, suy nghĩ, nói, đọc,
đánh vần, làm toán và tính toán.
Trẻ em KKTHT hay còn gọi là trẻ học khó là những trẻ không chỉ có
kết quả học tập kém mà tiếp thu bài giảng rất vất vả, chậm. Khi đã hiểu bài
trẻ cũng không tự chuyển tải kiến thức đã tiếp thu được để thực hiện đúng
các bài tập có tình huống khác nhau.
Khái niệm này không dùng để chỉ những trẻ KKTHT do có các tật
khác như: Khiếm thị, khiếm thính, khó khăn vận động, chậm phát triển trí
tuệ.
II. NGUYÊN NHÂN KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP:
Nguyên nhân chính dẫn đến KKTHT ở trẻ là:
• Có sự tổn thương nhất định nào đó ở não,
• Do gien di truyền,
• Nhân tố dinh dưỡng và môi trường làm ảnh hưởng đến não và
quá trình phát triển tâm lý của trẻ.
Những nhân tố thường xuyên tác động đến tình trạng học tập của trẻ là :


• Nhân tố thể chất : Tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, suy dinh
dưỡng…
• Nhân tố tâm lý: Trạng thái tinh thần không thoải mái, bị áp
lực tâm lý, khủng hoảng do nhiều nguyên nhân khác nhau tác
động lên trẻ.
• Nhân tố môi trường: Điều kiện cơ sở vật chất và bầu không
khí học tập tại lớp, trường, hoàn cảnh gia đình, ảnh hưởng
bởi khu – xóm, bạn bè…
Do đó, những trẻ KKTHT được phân làm 2 nhóm: nhóm có nguyên nhân do
môi trường và nhóm học khó do thần kinh.


Về mặt tự nhiên thì giữa 2 nhóm này có một số những điều kiện trùng lắp,
nhưng việc xử lý đối với từng nhóm thì phải khác nhau trong đó các ảnh
hưởng do dinh dưỡng và môi trường dễ khắc phục hơn.
“Thực tế các nguyên nhân thần kinh có thể không chữa trị được
nhưng hành vi có thể chữa được”. Vì vậy chúng ta cần quan tâm đến
cách học của trẻ và cách tác động giúp đỡ trẻ KKTHT hơn là tìm
cách chữa trị thần kinh.
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP :
Khó khăn trong học tập (KKTHT) bao gồm một số khó khăn :
1. Khó khăn về đọc (có thể là học đọc). Chúng ta ai cũng hiểu rằng muốn
học đọc đầu tiên học sinh học cách nhận biết các chữ cái, sự sắp xếp các
chữ cái với nhau và âm của từ đó. Sau đó, nhận ra các từ. Cuối cùng
không tập trung vào các từ riêng lẻ, mà theo hàng, đưa vào não để hiểu .
Sau giai đoạn này học sinh có thể đọc trôi chảy và tập trung vào cả ý
nghĩa (nội dung). Nếu gặp khó khăn về đọc HS sẽ bị rối loạn một trong
những giai đoạn trên.
2. Khó khăn về viết: có thể là viết bằng tay. Học sinh có khó khăn về kỹ
năng vận động tinh, viết chậm và rất khó khăn, thường khó nắm chặt


bút, viết. Khó khăn trong việc tập trung vào việc đánh vần, nhận ra cấu
trúc văn phạm, chấm câu và viết hoa. Sau đó, khó khăn tập trung vào
việc tìm từ vựng cũng như sắp xếp viết ra theo dòng suy nghĩ.
3. Khó khăn về tính toán: Từ những khó khăn về đọc và viết dẫn đến khó
khăn khi học Toán vì học toán bắt đầu bằng việc nhận biết các con số,
học toán cộng trừ cơ bản, toán nhân, chia trong và ngoài bảng, một số
đại lượng cơ bản và các khái niệm hình học. Các khó khăn học toán có
thể bao gồm các vấn đề sau:
- Tri giác nhận thức (sự khác nhau giữa các chữ số hoặc là hình
dạng)
- Trí nhớ (nhớ lại các lập luận của toán học- bao gồm trí nhớ ngắn
hạn và trí nhớ dài hạn)
- Chức năng vận động (viết chữ số rõ ràng, dễ đọc hoặc khoảng
cách nhỏ)
- Ngôn ngữ (liên hệ đến thuật ngữ toán học , nghĩa và cách sử
dụng từ ngữ toán học)
- Lập luận trừu tượng (giải quyết vấn đề và so sánh)
4. Khó khăn trong nhận thức, hành vi và giao tiếp ứng xử trong xã
hội:
Học sinh KKTHT không hiểu ký hiệu của xã hội và cách ứng xử phù hợp
được chấp nhận trong xã hội. Thêm vào đó các em này không thể học cùng
trình độ về việc xử thế với mọi người như những trẻ khác ở cùng độ tuổi.
Tóm lại: Trẻ KKTHT có biểu hiện bên ngoài không khác trẻ bình thường
nhưng có những hạn chế như sau:
-

Khi phải xử lý, ứng xử với các tình huống như: hành động theo các
mệnh lệnh cấu trúc phức tạp về ngôn ngữ nhất là nghĩa bóng các câu,
các từ…trẻ thường lúng túng, vì vậy khi phải đối mặt với các câu nói
láy, hay nói tếu của các bạn khác thì trẻ bối rối và thường trở thành đối
tượng bị trêu chọc của các bạn.


-

Về nhận thức, khâu đầu tiên dễ thấy nhất là trẻ KKTHT rất hay quên.
Khối lượng ghi nhớ, các thuộc tính và quá trình ghi nhớ đều có chỉ số
thấp hơn so với tuổi đời.

-

Trẻ KKTHT tiếp thu bài rất chậm và lại rất mau quên, song điều gì đã
ghi nhớ được sẽ ghi nhớ rất lâu bền.

-

Tư duy của trẻ KKTHT chỉ ở mức trực quan hình ảnh. Kiến thức thu
được đều phải được xây dựng trên cơ sở vật chất cụ thể hoặc hình ảnh
của các sự vật.

-

Khả năng tự điều chỉnh hành vi, lập chương trình hành động, hoạch
định công việc kém. Nhiều trẻ dạng này không có khả năng phát triển.
Nếu trẻ đạt được một chút thành tích nào đó trong học tập cũng phải
nhờ sự kèm cặp, theo dõi sát sao của người lớn. Có trẻ đọc, viết được,
nhưng những bài tự đọc, tự viết rất nhiều lỗi do không tự kiểm tra được
các thao tác đọc hay viết của chính mình. Chẳng hạn, khi đọc bài, đọc
chữ của dòng trên tiếp nối với những dòng chữ khác, đọc bài xong
nhưng không hiểu bài nên không trả lời được các câu hỏi về nội dung
bài, hoặc viết chữ thì đánh vần đúng, nhưng viết vẫn sai, thiếu âm hoặc
không đúng âm. Những trẻ yếu chức năng này đều khó khăn khi học
toán.

-

Khi làm việc trẻ nhanh chóng mệt mỏi. Các biểu hiện thường dưới dạng
hoạt động tay chân không có ý thức, dù ở bất kỳ đâu, đang học hay đang
chơi.

-

Đặc điểm khá nổi bật là trẻ rất thích được khen. Đồng thời với thích
khen, trẻ rất hay nản chí khi gặp khó khăn và phản ứng ra mặt như:
Không nhìn lên bảng, không nhìn vào bài để nghe giảng hoặc nghe giáo
viên nói về điều không đúng mà trẻ mắc phải. Xu hướng của những trẻ
này là thích lặp lại cái đã quen, đã biết làm.


Với tất cả những khó khăn đã nêu trên, chúng tôi muốn khẳng định trẻ KKTHT
vẫn có khả năng học tập như những học sinh bình thường cùng trang lứa .
Nhưng do có một số hạn chế như đã nêu trên nên trong quá trình học tập mỗi
trẻ sẽ gặp một số khó khăn nhất định. Những khó khăn này là khó khăn đặc
trưng của trẻ học khó chứ không chỉ là những khó khăn thường gặp trong
quá trình đọc và viết, tính toán và vận dụng của các trẻ em khác.
IV. NHỮNG KHÓ KHĂN CHÍNH CỦA TRẺ HỌC KHÓ KHI HỌC
MÔN TIẾNG VIỆT VÀ TOÁN:
1. Môn Tiếng Việt
Giáo viên đã biết về quá trình học môn Tiếng Việt của học sinh. Để có
thể hỗ trợ tốt cho trẻ học khó, giáo viên cần quan tâm đến các nội dung sau
đây:
Điều 1: Giáo viên phải biết trẻ đang gặp khó khăn về vấn đề gì trong quá
trình học tiếng Việt .
Học sinh của mình đang gặp khó khăn cụ thể nào sau đây:
ƒ Nhầm lẫn giữa các chữ cái (nhận biết chữ cái)
ƒ Đọc: Đọc từ - đọc câu hay đọc cả câu chuyện
ƒ Nghe: Nghe Từ, nghe câu hay nghe cả câu chuyện
ƒ Viết: Viết chữ cái, viết từ hay viết câu
ƒ Hiểu: Hiểu từ, hiểu câu hay hiểu nội dung câu chuyện
ƒ Đọc được nhưng viết ngược….
Điều 2: GV nên chú ý:
ƒ Kỹ năng cần thiết giúp trẻ học đọc tốt là:
-

Nhận biết chữ cái và kết hợp chữ cái.

-

Chuyển từ chữ cái sang âm- lời

-

Nhận biết hình dạng của các từ

-

Sử dụng trí nhớ để hiểu nghĩa của từ

-

Kết hợp nghĩa của bài học vào nghĩa của toàn cảnh.


ƒ Kỹ năng nghe tốt bao gồm:
-

Không có vấn đề khiếm khuyết về thính giác-Tiếp nhận bằng
thính giác

-

Có khả năng giải mã nghĩa của âm thanh- Xử lý bằng thính giác

-

Khả năng tập trung vào thông tin bằng lời

-

Mức độ nhận thức có thể hiểu được ý nghĩa của giao tiếp bằng
lời

-

Hiểu cách thức và ngôn ngữ được dùng.

ƒ .Kỹ năng viết tốt bao gồm:
-

Về thể chất: Khả năng điều khiển bút viết và giấy

-

Khả năng nhận thức về việc hiểu biểu tượng dùng để viếtchữ cái

-

Hiểu cách thức và ngôn ngữ được dùng

-

Khả năng sao chép và tự viết các chữ cái, từ và câu

-

Khả năng chuyển tải ý nghĩa thông qua ngôn ngữ viết

ƒ Kỹ năng thông hiểu bao gồm các mức độ nhận thức:
-

Hiểu ý nghĩa của việc giao tiếp bằng lời nói

-

Hiểu cách thức sử dụng từ, loại từ

-

Hiểu vấn đề vừa đọc xong (nghĩa)

-

Hiểu mức độ phức tạp tăng dần của ngôn ngữ và ý nghĩa của
ngôn ngữ nói và viết

-

Kỹ năng ghi nhớ để lưu giữ thông tin sẽ dùng sau này

2. Môn Toán:
Qui trình học Toán bắt buộc phải diễn ra theo một trình tự khá phức tạp,
nhưng trẻ học được nhờ rèn luyện theo những qui tắc nhất định, hiểu và
nhớ được thông qua thực hành, lặp đi lặp lại nhiều lần và gắn kết với khả
năng đọc, viết, hiểu ngôn ngữ.


Để có thể giúp HS gặp khó khăn khi học Toán giáo viên cần nắm rõ qui
trình học Toán và cũng như môn tiếng Việt GV cần xem xét, xác định HS
của mình đang vướng mắc, gặp khó khăn ở giai đoạn nào trong qui trình
này, để giúp học sinh giải quyết theo từng nội dung cụ thể.
Ví dụ: Các nội dung hoặc kỹ năng cần có để học Toán là:
ƒ Đếm, nhận biết phân biệt các số
ƒ Giá trị và ý nghĩa của con số
ƒ Các phép toán cộng- trừ, nhân – chia (có nhớ- không nhớ…)
ƒ Không gian
ƒ Thời gian
ƒ Đo lường độ dài- tính về khối lượng
ƒ Hình dạng và tính chất
Ứng với nội dung hoặc kỹ năng trên là thao tác, kỹ năng nhất định cần có
phải được rèn luyện. Từ những vấn đề cụ thể trên ta sẽ quan sát, đánh giá khả
năng của trẻ, từ đó có thể tìm ra cơ sở để bắt đầu với học sinh gặp khó khăn
trong học tập môn toán.
V. TIÊU CHÍ CHẨN ĐOÁN TRẺ CÓ KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP:
Căn cứ 4 tiêu chí sau để xác định trẻ có KKTHT:
1. Có nguyên nhân và nhân tố dẫn đến tình trạng KKTHT hiện tại.
2. Kết quả học tập của trẻ yếu - kém so với chuẩn theo qui định , cụ thể là 2
môn Toán và Tiếng -Việt.
3. Tiếp thu bài khó khăn - vất vả, chậm (tuỳ theo mức độ khó khăn của mỗi
học sinh).


4. Không có khả năng tự chuyển tải kiến thức đã tiếp thu được để thực hiện
các bài tập có tình huống khác nhau.
Các tiêu chí xác định trẻ có KKTHT 2 môn Toán và Tiếng Việt trong các lớp 1,2,3
tại các trường tiểu học trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh được dựa trên những cơ sở
sau đây:
Tiêu chí 1.
Có nguyên nhân và nhân tố dẫn đến KKTHT:
Để xác định nguyên nhân dẫn đến việc KKTHT của trẻ đòi hỏi phải đánh giá
nhiều mặt. Quá trình chẩn đoán này phải thực hiện đủ các bước sau:
ƒ Tìm hiểu các nhân tố tâm lý, môi trường, thể chất có thể làm ảnh hưởng
đến việc học tập của trẻ thông qua trò chuyện với HS, gia đình, hồ sơ…
ƒ Đưa ra nhiều giả thuyết dựa trên cơ sở những biểu hiện hành vi của trẻ để
có thể xem xét theo nhiều hướng khi tìm nguyên nhân và loại bỏ dần.
Tiêu chí 2.
Kết quả học tập của trẻ yếu- kém xa so với chuẩn theo qui định, cụ thể là 2
môn Toán và Tiếng Việt
Để xác định, chẩn đoán tiêu chí này GV cần:
-

Dựa vào kết quả những lần kiểm tra và kiểm tra lại để xác định khả
năng của trẻ.

-

Nên kiểm tra cá nhân hoặc nhóm trẻ có kết quả tương đồng vài lần. Có
thể hạ yêu cầu bài kiểm tra khi cần.

-

Cần nêu rõ yêu cầu, diễn đạt dể hiểu khi kiểm tra.

-

Quan sát cách giải quyết vấn đề của trẻ trong quá trình trẻ làm bài…


Từ đó mới có thể kết luận chính xác năng lực học tập của trẻ ở 2 môn Tiếng
Việt và Toán. Nếu với những giúp đỡ đó trẻ giải quyết được vấn đề thì có thể
kết luận: trẻ đạt kết quả học tập thấp chỉ vì phản ứng chậm hơn bạn đồng trang
lứa mà thôi.
Tiêu chí 3:

Tiếp thu bài vất vả, chậm, khó khăn” (tuỳ theo mức độ khó khăn của
mỗi cá nhân)
Vấn đề chính trong việc nhận diện và chẩn đoán trẻ có KKTHT là chỉ ra
hành vi cá biệt, giải thích và phân biệt những điểm giống và khác nhau so với
những HS bình thường khác ở cùng độ tuổi, cùng cấp học.
Vì về nhận thức nói chung, điều đầu tiên dễ thấy nhất là trẻ KKTHT rất hay
quên, khối lượng ghi nhớ, các thuộc tính và quá trình ghi nhớ đều có chỉ số thấp
hơn so với trẻ bình thường có cùng tuổi đời. Vì vậy GV nên xác định tiêu chí này
trên khả năng giải quyết các dạng bài tập có thao tác tư duy của trẻ. Nên quan sát
lắng nghe cách lập luận của trẻ, bạn sẽ phát hiện ra trẻ có khó khăn trong học tập
khi chỉ dừng ở mức độ trực quan hình ảnh cụ thể mà thôi.
Tiêu chí 4
Không có khả năng chuyển tải những kiến thức đã thu được để thực hiện các
bài tập trong những tình huống khác nhau
Từ những dấu hiệu trên bạn sẽ dễ nhận ra HSHK không giải quyết được những
nhiệm vụ mang tính vận dụng, suy luận. Trẻ không suy ra từ cái đã biết để giải
quyết nhiệm vụ mới. Muốn chẩn đoán tiêu chí này GV có thể nâng yêu cầu bài tập
lên mức độ sáng tạo để kiểm tra học sinh của mình.
Tóm lại:


Để xác định HSHK, giáo viên cần:
-

Tìm để hiểu rõ về đặc điểm tâm lý, hoàn cảnh gia đình học sinh có KKTHT

-

Linh hoạt trong việc thực hiện vận dụng phương pháp, biện pháp và
phương tiện dạy học để nắm rõ hơn, kiểm tra lại những biểu hiện của
HSHK nhiều lần mới kết luận. (bằng nhiều biện pháp kiểm tra, quan sát để
xác định đúng khả năng hiện tại và vấn đề trẻ đang gặp khó khăn của từng
bộ môn).

-

Sau khi chẩn đoán, GV mới dựa vào nguyên nhân để tìm biện pháp hỗ
trợ phù hợp.
Cũng cần lưu ý:

Thông thường với chương trình học ở các lớp bình thường, HSHK không theo
kịp các bạn cùng lớp. Khi có HSHK giáo viên dạy trẻ HK có thể phân tích tài
liệu - đồ dùng theo bảng liệt kê sau đây :
-

Nội dung bài dạy có thích hợp không? Nếu không, giáo viên điều chỉnh
như thế nào để học sinh có thể nắm được bài?

-

Nội dung có quá trừu tượng không? Nếu có, làm sao để nội dung đuợc
cụ thể hơn?

-

Thông tin sắp xếp nghèo nàn, không hấp dẫn? Làm sao để sắp xếp lại rõ
ràng hấp dẫn HSHK hơn ?

-

Học sinh có đủ khả năng để học vấn đề này không? Nếu không, giáo
viên làm sao để học sinh có thể tiếp thu đuợc với mức độ của các em?

-

Thông tin có phức tạp không? Nếu có, làm sao để đơn giản hóa?

-

Có nhiều thông tin trong tiết học không? Nếu có, làm thế nào để tinh
giản lại?

-

Chú ý đến sự hợp tác trong giáo dục (Với phụ huynh, các nhà quản lý,
các chuyên viên tư vấn về Giáo dục đặc biệt)


VI. BIỆN PHÁP HỖ TRỢ HỌC SINH HỌC KHÓ 2 MÔN TOÁN VÀ
TIẾNG VIỆT:
Biện pháp hỗ trợ cho những học sinh học khó (HSHK) 2 môn Tiếng Việt và
Toán trong các lớp 1,2,3 là những cách làm cụ thể mà giáo viên tác động lên các
em nhằm giúp các em vượt qua được những khó khăn trong khi học 2 môn này
trong quá trình học tập.
Giá trị của các biện pháp hỗ trợ chỉ được nâng cao khi các biện pháp hỗ trợ
mang tính cấp thiết và khả thi, khi được thực hiện, vận dụng phù hợp với từng đối
tượng HSHK. Vì vậy, các giáo viên dạy trẻ HK cần chú ý một số điểm sau đây:
1. Chọn lựa các biện pháp hỗ trợ:
Một lần nữa chúng tôi xin lưu ý:
Khi chọn lựa các biện pháp hỗ trợ, giáo viên cần:
2.1. Xác định nguyên nhân được hoặc nhân tố gây ra sự khó khăn
của HS học khó để dựa vào đó tác động.
2.2. Sự chủ động – sáng tạo của giáo viên:
Sự chủ động – sáng tạo của giáo viên trong khi tìm biện pháp hỗ trợ
là hết sức quan trọng:
Giáo viên có thể xây dựng các bài tập toán thêm vào các chương của
bài tập trong sổ tay của giáo viên theo mức độ của HSHK. Đồng thời
giáo viên nên phát triển thêm đồ dùng dạy học để giúp HS dễ dàng
tiếp nhận nội dung bài học hơn do hạn chế của HSHK.
Khi xây dựng thêm bài đánh giá dựa trên chương trình học, cần đảm
bảo :
(1)Nội dung của bài tập phản ánh các bài học được nhấn mạnh trong
chương trình
(2)Nội dung được viết rõ ràng, rành mạch dễ hiểu


(3) Có giới hạn về thời gian và đáp ứng trình độ của học sinh trong
giai đoạn đó.
2. Biện pháp hỗ trợ trẻ KKTHT
2.1. Biện pháp chung
Biện pháp 1
Phối hợp với BGH trường, gia đình học sinh học khó
Ý nghĩa: Trẻ thấy được sự quan tâm của người lớn đối với mình
Mục tiêu :
o Thống nhất mục tiêu và cách tác động lên trẻ .
o Tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ học tập
Gợi ý cách thực hiện :
o Lên kế hoạch làm việc, thống nhất, nội dung kế hoạch cách làm việc,
cách người lớn tác động lên trẻ ( GV, gia đình, nhà trường, bạn bè nếu
cần…)
o Thường xuyên trao đổi, đánh giá về sự tiến bộ hoặc chưa ở trẻ, có thể
điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp hơn.
Ví dụ:
-

Tìm hiểu thói quen, cách ứng xử trong gia đình, các khó khăn
của trẻ trong giải quyết vấn đề của cuộc sống, quá trình phát triển
ngôn ngữ của trẻ…

-

Thống nhất từng bước cách tác động lên trẻ: Cách đưa ra yêu
cầu, giao nhiệm vụ, dạy trẻ thời gian bao lâu mỗi ngày, cách hỗ
trợ trẻ khi làm bài ở nhà, tỏ ra quan tâm đến trẻ, dành nhiều thời
gian hơn cho trẻ, không quá chú ý đến những lỗi trẻ mà mắc
phải…

-

Thường xuyên gặp gở, trao đổi về tình hình của trẻ, cùng phối
hợp và điều chỉnh kế hoạch nếu cần.


Biện pháp 2
Lập kế hoạch giáo dục cá nhân
Ý nghĩa:
o Tác động trực tiếp, giúp trẻ theo đúng khả năng, nhu cầu, đặc điểm.
o Giúp trẻ vượt được khó khăn bản thân đang gặp trong quá trình học Toán
và tiếng Việt
Mục tiêu :
o Xác định đúng vấn đề trẻ gặp khó khăn trong quá trình học môn Toán và
Tiếng Việt
o Cụ thể hoá mục tiêu ngắn hạn, dài hạn và cách làm việc theo khả năng hiện
có của trẻ.
Gợi ý cách thực hiện :
o Đánh giá chính xác khả năng hiện tại của trẻ thông qua nhiều hình thức
khác nhau, nhiều lần.
o Tìm ra vấn đề khó khăn của trẻ, sở thích của trẻ..
o Xác định mục tiêu dài hạn, ngắn hạn dựa vào khả năng của trẻ, chú ý rèn
luyện một số kỹ năng học tập môn Toán và Tiếng Việt : Kỹ năng đọc
thầm, nói, viết, khả năng tính toán bằng nhiều hình thức khác nhau
o Từ kế hoạch giáo dục cá nhân, GV đề ra kế hoạch bài giảng cụ thể.
o Lên kế hoạch thực hiện : Tiết cá nhân, nhóm, chung cả lớp…tuỳ theo vấn
đề từng trẻ đang gặp phải và theo hoàn cảnh thực tế của trường, lớp.
Lưu ý: Việc thực hiện đều đặn thường xuyên việc đánh giá, điều chỉnh mục
tiêu và cách thực hiện các mục tiêu một cách phù hợp của GV sẽ giúp trẻ vượt
qua khó khăn của mình nhanh hay chậm.
Biện pháp 3
Kích thích hứng thú và tăng động cơ học tập cho trẻ.
Ý nghĩa:


Giúp trẻ tự tin, hứng thú, ham học, thấy mình có giá trị…
Mục tiêu :
o Đưa trẻ dần vào nề nếp học tập.
o Rèn luyện một số thói quen cần thiết trong học tập, đặc biệt, nâng cao các
kỹ năng học tập cần thiết của môn Toán và tiếng Việt.
Gợi ý cácch thực hiện:
o Cho trẻ thêm thời gian khi giải quyết các vấn đề, động viên liên tục tạo sự
phấn khởi cho trẻ.
o Hạ yêu cầu nếu cảm thấy trẻ khó giải quyết ( thay đổi câu hỏi, chẻ nhỏ vấn
đề, gợi ý thêm…)
o Thay đổi phương pháp, hình thức tác động, dạy theo kiểu từng bước nhỏ…
o Cho phép sử dụng máy tính nếu cần
o Cho phép trẻ viết chữ to hơn bình thường
o Chú ý nhiều đến nội dung trước khi yêu cầu về hình thức…
Lưu ý: Đặc đểm chung của trẻ KKTHT là rất thích được khen nên trong quá
trình dạy trẻ KKTHT cần luôn luôn chú ý đến việc động viên khen ngợi để
khuyến khích trẻ.
3.2. Các biện pháp hỗ trợ cụ thể:
Môn Tiếng Việt
Học đọc:Giúp những học sinh chưa có kiến thức về âm vị học như sau:
+ Thực hiện trình tự học đọc theo sơ đồ
Đọc các từ quen thuộc (nhận biết chữ cái song song với phát âm)


xác định có bao nhiêu từ trong một câu, chỉ ra các thành phần của một từ ngữ




chuyển lên mức cao hơn là đề nghị các em nói có bao nhiêu âm tiết trong từ


Cuối cùng chuyển đến phần khó hơn là âm vị, làm mẫu với một âm, cho trẻ phát
âm âm đó riêng biệt, sau đó đến âm của từ và âm tiết.
+Khi HS gặp khó khăn trong đánh vần, phát âm nên tập phát âm lại từng tiếng
một. và phải bắt đầu luyện những cấu âm cơ bản
Ví dụ:
m--a

ma, má

hoặc từ “Tính” trẻ phát âm thành “tín” GV cần tách : “t - tí – t - t ính – tính”
Luôn luôn giáo viên cần đi theo phương pháp “từng bước nhỏ một” và
động viên trẻ liên tục
Tuỳ theo từng kiểu khó khăn để có cách tác động phù hợp
Ví dụ:
Khó khăn khi đọc

Biện pháp

Phát âm chưa chuẩn về thanh điệu:

o Xác định âm vị
o Lập qui trìmh phát âm từng từ
o Luyện phát âm
Chưa nhận dạng được chữ cái hoặc Dạy lại từng chữ theo kiểu nhận biết
nhầm lẫn giữa các chữ cái
như “chụp ảnh” cho đến khi trẻ nhận
biết
Nếu trẻ nhầm lẫn các chữ nên dựa vào
điểm khác nhau của chúng để dạy trước
khi nói điểm giống nhau giữa chúng
Không ráp được vần và âm, không đọc Dạy lại âm vị, vần, phát âm, ghép vần,
được tiếng.
đọc từ
Đọc thiếu âm, ngược âm, đọc nhầm các Dạy lại nhận biết chữ cái, dùng chữ cái
từ tương tự nhau

đối lập để giúp trẻ dễ nhận biết, đọc từ,
câu, định hướng không gian.


Tăng cường luyện tập tìm từ, phát âm
dưới nhiều hình thức khác nhau
-

Không đọc được vần có âm đôi.

Dạy lại chữ cái, ghép vần từ đơn giản
đến phức tạp. Phân biệt đơn âm, đa âm
tiết.
Tăng cường luyện phát âm, có thể thông
qua trò chơi.

-

Chưa đọc trơn được câu ngắn. Đọc Dạy lại chữ cái, từ, luyện đọc và không
nhảy chữ nhảy hàng:
gian: Trên xuống, trái- phải…Cho đọc
chữ to, nhỏ dần…

- Đọc vẹt, không đúng chữ, âm; bỏ chữ, Luyện tập trí nhớ cho trẻ theo chuỗi
nhảy hàng…nhưng vẫn hiểu câu chuyện
theo trí nhớ.
- Đọc chậm, không hiểu ý chính của Luyện tập lại đọc chữ cái, từ, câu và
bài
kiểm tra khả năng hiểu: Từ, câu…trước
khi yêu cầu trẻ hiểu nội dung bài.
Học viết.
Khi trẻ có hiện tượng
ƒ Viết chính tả kém
ƒ Biểu hiện hay quên chữ cái cuối cùng hoặc viết ngược âm của từ khi viết
chính tả.
ƒ Sai dấu thanh, bỏ dấu không đúng chỗ
ƒ Không biết diễn đạt ý thành câu, ý tưởng nghèo nàn, viết không đúng ngữ
pháp. Sử dụng đại từ nhân xưng không đúng.
Hãy lưu ý đến tiến trình tiếp cận về ngôn ngữ viết
ƒ Bước đầu tiên là “tiền tập viết” Trong giai đoạn này GV lên kế hoạch
xác định mục tiêu viết và tổ chức cho HS viết..
Giáo viên có thể liệt kê các câu hỏi theo cấu trúc trên tờ giấy thảo để giúp học
sinh phân loại các ý tưởng của các em .


VD: Yêu cầu trẻ viết về bản thân :
Có thể đặt vấn đề bằng những câu hỏi: Tên, tuổi? Con thích ăn những gì? Không
thích ăn những gì? Thích học môn gì? Thích chơi trò chơi gì?.... để trẻ viết tất cả
vào giấy một cách tự do.
ƒ Bước thứ hai là viết thảo, học sinh sắp xếp lại các ý tưởng đã viết trên giấy.
Giáo viên cần chú ý tập trung vào nội dung ban đầu HS viết ra trước khi
chú ý đến các quy ước viết để khuyến khích ý nghĩ tuôn tràn của các em.
Các em sẽ xử lý về văn phạm và chính tả trong phần biên tập.
ƒ Bước thứ ba là biên tập, học sinh làm bài viết trên giấy của mình và đuợc
sự trao đổi ý kiến của bạn bè. Trên cơ sở đó giáo viên có thể hướng dẫn các
kỹ năng cụ thể để học sinh xem lại phần cốt lõi, đảm bảo là bài viết của học
sinh đúng theo cấu trúc, GV cần khuyến khích sự tích cực của HS.
ƒ Bước thứ tư là xem lại, cho phép học sinh biên sọan lại theo những đề nghị
của bước thứ ba và các em tự quyết định sẽ sử dụng phần nào để cải thiện
bài viết của em.
Môn Toán
Chiến lược hỗ trợ :
o Dạy ngôn ngữ toán học và khuyến khích học sinh sử dụng mỗi ngày.
Ví dụ: giúp các em tìm hai hình có không gian hai chiều trong tờ báo
o Sử dụng vật trưng bày có thể thấy được. Vẽ hình và đường biểu diễn để
minh họa các khái niệm cốt lõi và nét riêng của các vấn đề .
o Sử dụng đồ dùng dạy học đuợc làm bằng tay và các sự vật cụ thể. Học sinh
cần có đồ vật để đếm, con súc sắc, phần nhỏ- miếng nhỏ để học phân số,
vòng tròn. Que kem, khối hình học, tấm thẻ hình học khi học kỹ năng mới
trong toán học, ngay cả ở cấp phổ thông trung học.
o Học bạn bè, hãy cho các em học lẫn nhau.
o Dạy kỹ thuật tự quản lý giờ giấc và chiến lược học tập của bản thân
(hãy cố gắng cho học sinh một danh sách các bước các em phải thực hành, và
các em tự kiểm tra khi các em làm bài.)


o Cho phép học sinh sử dụng máy tính nếu cần. Các dụng cụ này giúp học
sinh tập trung vào việc giải quyết vấn đề và nâng cao thái độ học tập toán
của các em.
Thật ra đây cũng là những biện pháp thông thường khi dạy Toán, GV cần dựa
vào khó khăn cụ thể của HS để rút ra biện pháp hỗ trợ khi dạy từng vấn đề cụ
thể cho các em.
Ví dụ::
Tập phân tích đề bài (Yêu cầu trẻ đọc to từng vấn đề, ngừng lại để trẻ suy nghĩ,
hiểu rõ yêu cầu… trước khi làm bài)
Dùng đồ dùng trực quan để minh hoạ, cho HS sử dụng đồ dùng trực quan khi
làm bài nếu cần.
Tập kiểm tra lại kết quả .
Nhìn chung các biện pháp hỗ trợ trẻ có khó khăn trong học Toán và tiếng Việt
vẫn sử dụng những phương pháp chung của dạy học, vấn đề cần lưu ý là cách tác
động chậm, lặp đi lặp lại một nội dung trong nhiều lần cho đến khi trẻ nhớ và thao
tác thuần thục mới chuyển sang nội dung mới ( Phương pháp “Từng bước nhỏ”
một trong giáo dục đặc biệt )

DANH SÁCH
KẾ HOẠCH BÀI DẠY HỖ TRỢ HỌC SINH HỌC KHÓ
MÔN TIẾNG VIỆT VÀ TOÁN LỚP 1, 2, 3
(KÈM THEO CÁC ĐĨA HÌNH )


KHỐI LỚP 1:
1. Tiếng Việt : hỗ trợ cá nhân 2 học sinh:
-

Châu Mỹ Tiên: khó môn Toán

-

Nguyễn Trọng Hiếu: khó Môn Tiếng Việt

ƒ GV Trần Thị Minh Thứ, trường TH Chương Dương, Q.5
2. Toán: hỗ trợ nhóm 8 HS HK của khối 1, môn Toán:
ƒ GV Vũ Uyên Phương, trường Tiểu học (TH) Phú Thọ Hòa,
Q. Tân Bình.
3. Toán: hỗ trợ cá nhân 2 HS là hai anh em sinh đôi:
-

Trần Phan Uy: Khó khăn khi học Toán nhiều hơn

-

Trần Phan Vinh: khó khăn khi học Tiếng Việt nhiều
hơn

ƒ GV Vũ Uyên Phương, trường TH Phú Thọ Hòa, Q. Tân Bình
4. Toán: hỗ trợ cá nhân 2 học sinh học khó:
-

Châu Mỹ Tiên

-

Nguyễn Trọng Hiếu

ƒ GV Trần Thị Minh Thứ, trường TH Chương Dương, Q.5
KHỐI LỚP 2:
5. Tiếng Việt: Hỗ trợ nhóm, GV Lê Thị Ngọc Tuyết, trường TH Tân
Tiến, Huyện Củ Chi.
6. Tiếng Việt: Hỗ trợ cá nhân học sinh Phạm Anh Thư trường TH Tân
Tiến, Huyện Củ Chi
7. Toán: hỗ trợ cá nhân học sinh Nguyễn Thanh Hùng trong hình thức
hoạt động nhóm, GV Trần Thanh Mai, trường TH Chương Dương,
Quận 5
8. Toán: hỗ trợ cá nhân HS Trần Anh Minh: GV Bùi Hồng Mai, GV
trường Nguyễn Viết Xuân, Q. Tân Bình.


KHỐI LỚP 3:
9. Tiếng Việt: hỗ trợ nhóm môn Tiếng Việt, GV Trần Vi Thúy, trường
Hồ Thị Kỷ, Q.10
10. Tiếng Việt: hỗ trợ cá nhân HS Lê Tuấn Thành, GV Trần Vi Thúy,
trường Hồ Thị Kỷ, Q.10
11. Toán: hỗ trợ nhóm, GV Trần Trung Tính, GV trường Phú Thọ
trường TH Phú Thọ , Q.11
12. Toán: hỗ trợ nhóm, GV Nguyễn Thị Lan, trường Nguyễn Sơn Hà,
Quận 3


KẾ HOẠCH BÀI DẠY
MƠN TIẾNG VIỆT LỚP 1
(PHÂN MƠN: TẬP ĐỌC)
Trường Tiểu học: CHƯƠNG DƯƠNG, Q5, TP. Hồ Chí Minh
Giáo viên: Trần Thị Minh Thứ
Học sinh: Châu Mỹ Tiên- Nguyễn Trọng Hiếu: HS năm thứ 2 lớp 1
Bài dạy: Người trồng na
Ngày dạy: 21-05-2008
Ngun nhân và biểu hiện của học sinh học khó:
- Tiên: Khơng chịu khó suy nghĩ, tiếp thu chậm, hay qn, thường trả
lời khơng biết, khơng tự tin. Khó khăn nhiều trong khi học Tốn
- Hiếu: chậm, tiếp thu chậm, suy nghĩ lâu, đọc chậm, sức khỏe kém .
Khó khăn nhiều khi học Tiếng Việt.
I. Mục tiêu:
1. Kiến thức:
- Học sinh đọc trơn bài “Người trồng na”. Luyện đọc các từ ngữ: lúi
húi, ngoài vườn, trồng, ra quả.
- Ơn lại các vần: oai, oay, qua việc tìm tiếng trong bài, ngoài bài.
2. Kó năng: đọc chính xác, lưu loát.
3. Thái độ: tích cực học tập.
II. Biện pháp thực hiện:
-

-

GV quan tâm nhiều, cho 2 học sinh nhắc lại khi bạn trả lời đúng,
không nóng vội dành cho thời gian để HS suy nghó. Động viên
khuyến khích HS trả lời.
GV lập lại câu trả lời của trẻ cho trẻ nhận xét Đ, S


-

Dùng nhiều hình ảnh trực quan giúp trẻ nhận ra nội dung bài dần
đi từ câu hỏi dễ đến câu hỏi khó để học sinh tìm hiểu bài.

III. Đồ dùng dạy học:
1. Thầy: Sách giáo khoa, tranh vẽ, vật thật.
2. Trò: SGK
IV. Các hoạt động dạy học:

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY
1. Khởi động : (1’) Hát
2. Kiểm tra bài cũ: “Làm anh/ SGK 139” -5’
-Yêu cầu mỗi em đọc 1 khổ thơ theo yêu cầu có
trong quả kết hợp trả lời câu hỏi:
+ Khi em bé khóc, anh phải làm gì?
+Khi em bé ngã, anh phải làm gì?
+Khi mẹ cho quà bánh, em phải làm gì?
+Khi có đồ chơi đẹp, em phải làm gì?

-GV nhận xét, cho điểm.
3. Bài mới:
”Hoạt động 1: Hướng dẫn HS luyện đọc 10’
-Gv đọc mẫu bài “Người trồng na”, giảng: “Cụ
già trồng na cho con cháu hưởng, con cháu sẽ
không quên công ơn của người trồng.
-Luyện đọc:
+Tiếng từ: lúi húi, ngoài, trồng chuối, ra (gạch

HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
-Hát

ĐDDH

-Mỗi em chọn 1 quả (Trong
mỗi quả có từ đầu dòng thơ )
đọc 1 khổ thơ
trả lời câu hỏi ứng với dòng
thơ HS vừa đọc
Khi em bé khóc, anh phải dỗ
dành .
+Khi em bé ngã, anh phải
nâng dịu dàng .
+Khi mẹ cho quà bánh, chia
em phần hơn
+Khi có đồ chơi đẹp, phải
nhường cho em.
-HS theo dõi- nhận xét

Quả
có từ
ghi sẵn
của
từng
dòng
thơ

-HS dò sách trang 142.

-Thực hành theo yêu cầu.
Luyện đọc từ khó : lúi húi,
ngoài, trồng chuối, ra.

SGKø

Thẻ từ


chân các âm, vần HS đọc sai)
-Yêu cầu HS phân tích, đánh vần.

Phân tích từ khó : lúi húi,
ngoài, trồng chuối, ra.

”Hoạt động 2: Ôn vần oai, oay. 5’
-Tìm tiếng ngoài bài có vần oai (cô gợi ý bằng
tranh minh hoạ: củ khoai hoặc quả xoài , điện
thoại, ghế xoay,gió xoáy)
-Điền tiếng có vần oai hoặc oay

-HS dò trong sách, gạch chân Tranh
tiếng có vần oai => trả lời.
vẽ

+Treo tranh, yêu cầu HS điền tiếng cho phù hợp
với tranh.
+Bác só nói chuyện điện ………
+Diễn viên múa …. người.
-GV nhận xét HĐ2.
”Hoạt động 3:Luyện đọc lại bài 5’
-GV đính bài lên bảng có cả kênh chữ + kênh
hình các từ minh hoạ bằng tranh: na, một cụ già,
chuối.
-Gv nêu câu hỏi:
+Cụ già trồng gì?
+Người hàng xóm khuyên cụ trống gì?
+Vì sao không trồng na mà trồng chuối?
4. Củng cố- Dặn dò: 3’
-Gv tổng kết
-Nhận xét tiết học

Tranh
– vật
thật

-HS nhìn tranh, trả lời và
nêu tiếng có vần oai- oay.
-Mỗi em 1 tranh, điền tiếng
vào câu cho phù hợp.

-1 HS đọc, 1 em lật hình.

-HS lên nhận quả và trả lời.
-Người hàng xóm khuyên cụ
trồng chuối .
-Na lâu ra quả, chuối vài
tháng có quả ăn.

RÚT KINH NGHIỆM SAU TIẾT DẠY
GV đã thực hiện được các biện pháp hỗ trợ phù hợp với đặc điểm khó khăn của
học sinh; đặc biệt cách tiếp cận nhẹ nhàng, ln động viên, khuyến khích học sinh
có tác động tâm lý tốt. Tuy nhiên, cần quan tâm thêm các chi tiết sau:
1. Về ĐDDH : Cần thêm bộ chữ cái ghép vần của HS .
2. Phần luyện đọc ở hoạt động 1, học sinh phân tích và đánh vần từ khó , GV
nên cho HS đọc trơn chứ khơng dừng lại ở đánh vần. GV có thể sử dụng bộ
chữ ghép vần để hướng dẫn HS thực hành luyện tập cá nhân trong ghép từ
ngữ , luyện đọc từ khó, đọc câu .

Bảng
phụ +
hình


3. Phần củng cố : Cho 2 em đọc thi đua để kiểm tra việc đọc chính xác và lưu
lốt (Theo mục tiêu bài dạy )

KẾ HOẠCH BÀI DẠY
MƠN TỐN LỚP 1
Trường Tiểu học: CHƯƠNG DƯƠNG, Q5, TP. Hồ Chí Minh
Giáo viên: Trần Thị Minh Thứ
Học sinh: Châu Mỹ Tiên
Nguyễn Trọng Hiếu
Bài dạy: Luyện Tập chung
Ngày dạy: 21/05/2008
Nguyên nhân và biểu hiện của học sinh học khó:
- Tiên: Không chòu khó suy nghó, tiếp thu chậm, hay quên, thường
trả lời không biết, không tự tin. Tính toán chậm.
- Hiếu: Tiếp thu chậm, suy nghó lâu, đọc chậm.
I.Mục tiêu:
1. Kiến thức:
Giúp HS củng cố về: phân tích số, so sánh số; sắp xếp các số từ
bé đến lớn; từ lớn đến bé; các ngày trong tuần lễ; giải toán có
lời văn.
2. Kó năng: rèn làm toán nhanh, chính xác.
3. Thái độ: tích cực học tập, yêu thích môn Toán.
II. Biện pháp:
1. GV quan tâm nhiều, cho 2 học sinh nhắc lại khi bạn trả lời đúng, không
nóng vội dành thời gian để HS suy nghó. Động viên khuyến khích HS trả
lời.
2. GV lập lại câu trả lời của trẻ cho trẻ nhận xét Đ, S
3. Dùng nhiều hình ảnh trực quan giúp trẻ thích thú hơn khi làm bài.
III, Đồ dùng dạy học:
1. Thầy: Sách giáo khoa, các đồ dùng phục vụ môn Toán.
2. Trò: SGK


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×