Tải bản đầy đủ

Ứng dụng chất HĐBM trong sản phẩm chăm sóc tóc

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
~~~~~~*~~~~~~

BÁO CÁO MỸ PHẨM THIÊN NHIÊN
ỨNG DỤNG CỦA CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT
TRONG CÁC SẢN PHẨM CHĂM SÓC TÓC

GVHD:PGS.TS
Nhóm 5:

I)

CÁC NGUYÊN LIỆU CƠ BẢN ĐỂ SẢN XUẤT MỸ PHẨM BAO GỒM:


Các dầu, mỡ, sáp.




Chất làm ẩm



Chất sát trùng



Chất bảo quản



Chất chống oxy hóa



Chất màu



Hương liệu



Các chất phụ gia khác.

1) Giới thiệu về chất hoạt động bề mặt sử dụng trong mỹ phẩm

a) Cấu trúc


Gồm hai phần: ưa nước (hydrophilic head) và kị nước (Hydrophobic tail)
Tính ưa, kị nước của một chất hoạt động bề mặt được đặc trưng bởi thông số là độ cân bằng ưa kị
nước (HLB : -Hydrophilic Lipophilic Balance-HLB), có giá trị từ 0 đến 40.


HLB càng cao thì hóa chất càng dễ hòa tan trong nước




HLB càng thấp thì hóa chất càng dễ hòa tan trong các dung môi không phân cực như dầu

CHĐBM là thành phần chủ yếu có tác dụng tẩy rửa trong mĩ phẩm: Chất hoạt động bề mặt là một
thành phần giúp cho quá trình tẩy rửa dễ dàng hơn do nó tạo bọt, chất bẩn không tan tập trung lên
bề mặt bọt bị đẩy ra ngoài hay phân tán vào dung dịch ở dạng huyền phù, treo lơ lửng và được làm
sạch bằng nước

b) Cơ chế tẩy rửa
Sự tẩy rửa được định nghĩa là “làm sạch mặt của một vật thể rắn, với một tác nhân riêng biệt, chất
tẩy rửa, theo một tiến trình lý hóa khác hẳn với việc hòa tan thông thường
Quá trình tẩy rửa xảy ra theo các bước như sau:


Dung dịch tẩy rửa trong nước làm giảm sức căng của nước, nước thấm sâu vào xơ sợi.



Quá trình lấy bẩn ra.



Quá trình chống tái bám chất bẩn.



Chất hoạt động bề mặt tạo bọt, chất bẩn không tan tập trung lên bề mặt bọt và bị đẩy ra ngoài
hay phân tán vào trong dung dịch ở dạng huyền phù, treo lơ lửng.

Chất tẩy rửa là chất hoạt động bề mặt làm giảm sức căng bề mặt của nước làm cho vải được thấm
ướt hoàn toàn.Mỗi phân tử của chất hoạt động bề mặt có 1 đầu ưa nước, đầu này bị các phân tử
nước hút và 1 đầu không ưa nước (kị nước) – đầu này đồng thời vừa đẩy nước vừa hút vào các chất
dầu mỡ bẩn. Các lực ngược nhau này đã kéo các chất bẩn ra và làm chúng treo lơ lửng trong nước
ở dạng hòa tan, nhũ hoặc huyền phù. Khuấy đảo của tay hay máy giặt đã giúp kéo hẳn các chất bẩn
ra khỏi bề mặt cần làm sạch.
Các vết bẩn phân cực thì dùng chất hoạt động bề mặt anion, các vết bẩn không phân cực thì dùng
chất hoạt động bền mặt không ion.


Chọn lựa và sử dụng CHĐBM cho các quá trình


Tẩy rửa: SLES, ALES, Cetyl ete sulfat, sunfosucinat Na,…



Thấm ướt: alkyl ether sulfat alkyl sulfat mạch ngắn,…



Tạo bọt: SLES tăng cường với các alkanolamide,…



Nhũ hóa: Glyceryl stearate, laureth-2,3 ,PEG-20 stearate,…



Làm tan: alkyl ether sulfate,…

II)

ANKYL POLYGLUCOSIDES (APGs)
1) Giới thiệu

Alkyl polyglucosides (APGs) là một chất hoạt động bề mặt không ion, được sử dụng rộng rãi
trong các hộ gia đình và có nhiều ứng nhiều ứng dụng trong công nghiệp. Nó có nguồn gốc từ các
loại đường, thường sản xuất từ glucose và rượu béo. Các nguyên liệu cho sản xuất APGs trong
công nghiệp là tinh bột và chất béo.
Phương trình tổng hợp alkyl glucoside

Công thức alkyl polyglucoside

APGs thân thiện môi trường, có khả năng tự phân hủy, không độc hại, ít ảnh hưởng đến da bởi vì
nó được làm từ nguyên liệu tái tạo, glucose chiết xuất từ ngô và rượu béo từ các loại dầu dừa và cọ.


Với sự gia tăng của chiều dài mạch carbon, độ hòa tan của APGs thay đổi rất nhiều và thường HLB
nó thay đổi từ 10-19. Sản phẩm tạo ra có sức căng bề mặt thấp và tác dụng tốt trong việc làm sạch,
làm ướt, độ hòa tan, ổn định với nhiệt, bền với nước cứng và bền với kiềm, chất tạo bọt,… Nó
tương thích với nhiều chất hoạt động bề mặt ít hoặc không ion khác.

2) Quá trình phát triển
Nhà hóa học người Đức Emil Fischer đã phát triển các quá trình xác định và tổng hợp APGs
đầu tiên vào năm 1893. Quá trình đó hiện nay được biết đến là "Fischer glycosidation" và bao
gồm phản ứng xúc tác axit của glycoses với rượu. Một thế kỷ sau, sau một nghiên cứu và phát
triển nỗ lực tốn kém và phức tạp, công ty Henkel (Đức) thiết kế thành công quy trình sản xuất
công nghiệp cho APGs.
Ngay từ năm 1893, Fischer đã nhận thấy tính chất thiết yếu của APGs, chẳng hạn như sự ổn định
cao đối với quá trình oxy hóa và thủy phân, đặc biệt là trong môi trường kiềm mạnh. Cả hai đặc
điểm đó có giá trị quan trọng trong các ứng dụng về hoạt động bề mặt.
Các bằng sáng chế đầu tiên mô tả cách sử dụng APGs được ứng dụng trong chất tẩy rửa
được nộp tại Đức vào năm 1934.
Rohm & Haas là người đầu tiên đưa ra thị trường octyl/decyl polyglycoside với số lượng lớn
vào cuối những năm 70, tiếp theo là BASF và sau đó là SEPPIC.
Vào đầu những năm 1980, một số công ty đã bắt đầu các chương trình để phát triển APGs
với chuỗi alkyl dài hơn (dodecyl/tetradecyl) nhằm tạo ra một chất hoạt động bề mặt mới dùng
trong mỹ phẩm và chất tẩy rửa. Bao gồm Henkel KGaA, Düsseldorf (Đức) và Horizon-một
đơn vị của Công ty Sản xuất A.Estaley của Decatur, Illinois.
Đỉnh cao mới trong khai thác thương mại của APGs đã đạt được vào năm 1992 với việc khánh
thành một nhà máy sản xuất chất kết dính APG công suất 25.000 tấn/năm của tập đoàn Henkel tại
Hoa Kỳ và năm 1995 với việc mở một nhà máy thứ hai công suất tương đương của Henkel KGaA
ở Đức.

Tổng hợp các glycosides theo Fischer

3) Công nghệ sản xuất.
3.1) Nguyên liệu thô để sản xuất APGs.


3.1.1)Rượu béo.
Rượu béo có thể thu được từ các nguồn dầu mỏ (rượu béo tổng hợp) hoặc từ các nguồn tài
nguyên tự nhiên, tái tạo như chất béo và dầu (rượu béo tự nhiên). Pha loãng chất béo được sử
dụng trong tổng hợp APGs để tạo thành phần kỵ nước của phân tử. Các rượu béo tự nhiên thu
được sau quá trình chuyển hoá và phân đoạn chất béo và dầu (triglycerides), tạo thành esters
methyl của axit béo tương ứng và quá trình hydro hóa sau đó. Tùy thuộc vào độ dài chuỗi
alkyl mong muốn của rượu béo, các nguyên liệu chính là dầu và chất béo của các nguyên liệu
sau: dầu dừa hoặc dầu hạt cọ trong dãy C12/14 và dầu ót hoặc dầu hạt cải dầu cho các rượu
béo C16/18.

3.1.2 )Nguồn Carbohydrate.
Phần ưu nước của phân tử APGs bắt nguồn từ một carbohydrate. Dựa trên tinh bột từ ngô,
lúa mì hoặc khoai tây, cả carbohydrate polymer và monomer đều thích hợp làm nguyên liệu
cho sản xuất APGs. Các carbohydrate polymer bao gồm, ví dụ: tinh bột hoặc glucose syrups
có chất lượng thấp trong khi các carbohydrate đơn phân tử có thể là bất kỳ một dạng nào trong
đó có glucose. Lựa chọn nguyên liệu thô không chỉ ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu mà
còn ảnh hưởng đến chi phí sản xuất. Nói chung, chi phí nguyên liệu tăng lên theo thứ tự tinh
bột/glucose, syrup/glucose và glucose monohydrate/waterfree, ngoài ra còn tùy thuộc vào các
yêu cầu về thiết bị của nhà máy và do đó chi phí sản xuất giảm theo cùng một thứ tự.

3.1.3) Độ polymer hóa (Độ trùng hợp).
Thông qua tính đa dạng của nguồn carbohydrate, điều kiện của phản ứng Fischer được xúc
tác bằng axit tạo ra hỗn hợp oligomer, trong đó trung bình có nhiều hơn một đơn vị glycose
được gắn vào một phân tử rượu. Số lượng trung bình các đơn vị glycose liên kết với một
nhóm rượu được mô tả bằng mức độ trùng hợp (DP). Hình bên cho thấy sự phân bố của một
APGs với DP = 1,3. Trong hỗn hợp này, nồng độ của các oligomers riêng lẻ (mono-, di-,
tri-, ...-, glycosid) phần lớn phụ thuộc vào tỷ lệ glucose và rượu trong hỗn hợp phản ứng. DP
trung bình là một tính chất quan trọng đối với tính chất hóa lý và ứng dụng của APGs. Trong
phân bố cân bằng, DP của một chuỗi alkyl có độ dài tương đối với các tính chất cơ bản của
sản phẩm, chẳng hạn như tính phân cực, độ hòa tan,… Về nguyên tắc, sự phân bố oligomer
có thể được mô tả bằng mô hình toán học.


P. M. McCurry cho thấy một mô hình được phát triển bởi P.J Flory để mô tả sự phân bố
oligomer của các sản phẩm dựa trên các monome đa chức cũng có thể được áp dụng cho
APGs. Phiên bản sửa đổi này của phân bố Flory mô tả các APGs như một hỗn hợp của các
oligomers phân bố có trật tự. Hàm lượng phân tử trong hỗn hợp oligomer giảm với mức độ
trùng hợp ngày càng tăng. Việc phân phối oligomer thu được bằng mô hình toán học này phù
hợp với kết quả phân tích.

Phân phối đặc trưng của oligomer glycoside dodecyl trong một hỗn hợp DP = 1,3 R =
dodecyl

3.2) Sản xuất APGs ( Sản xuất Dodecyl polyglucosides: APGs-12).

Tóm tắt quá trình chính để tổng hợp
alkyl polyglycosides


Có hai phương pháp chính để sản xuất APGs-12 là phương pháp glycosid hóa gián tiếp và
phương pháp glycosid hóa trực tiếp.
Quá trình chuyển hóa qua hai giai đoạn (gián tiếp) đòi hỏi nhiều thiết bị hơn là tổng hợp
trực tiếp. Trong giai đoạn đầu tiên, carbohydrate phản ứng với một rượu mạch ngắn (ví dụ: nbutanol hoặc propylen glycol). Trong giai đoạn thứ hai, alkyl glucoside mạch ngắn được
chuyển hóa bằng một rượu có mạch tương đối dài (C12/14-OH) để tạo thành APGs cần thiết.
Nói chung với cùng năng suất, quá trình chuyển hoá qua nhiều giai đoạn dẫn đến chi phí
nhà máy cao hơn so với tổng hợp trực tiếp. Bên cạnh hai giai đoạn phản ứng, cần thêm bồn
chứa và các giai đoạn tái chế cho rượu mạch ngắn. APGs phải được tinh chế thêm hoặc phức
tạp hơn do các tạp chất có trong tinh bột (ví dụ protein). Trong quá trình chuyển hoá hóa đơn
giản nhất, syrups có hàm lượng glucose cao (DE> 96%) hoặc các loại glucose rắn có thể phản
ứng với các rượu mạch ngắn dưới áp suất thường. Các quá trình liên tục đã được phát triển
trên cơ sở này. Hình bên cho thấy cả hai đường tổng hợp cho APGs.


3.2.1)Tổng hợp APGs-12

bằng

phương

pháp tổng hợp

trực

tiếp:

Quá trình glycosid hóa C12/14 - APG. FOH =
fatty alcohol

Phương pháp sản xuất APGs-12 trực tiếp từ glucose và rượu n-dodecyl với xúc
tác là p-Toluenesulfonic acid và acid photphoric. Lợi thế của phương pháp này là
chi phí sản xuất thấp, độ tinh khiết của sản phẩm cao và các sản phẩm phụ ít.
Phương pháp này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: chất xúc tác, tỷ lệ rượu và
glucose, nhiệt độ phản ứng và áp suất. Qua tham khảo nhiều công trình nghiên cứu
thì điều kiện tốt nhất để tổng hợp APGs-12 là: tỷ lệ mol của rượu và glucose 7: 1;
nhiệt độ phản ứng là 115° C, lượng chất xúc tác là 1,3%, áp suất phản ứng trong 3 4 kPa.
4) Ứng dụng:
4.1) APGs trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân:


4.1.1)Trong mỹ phẩm:
Trong lĩnh vực thẩm mỹ, APGs đại diện cho một lớp chất hoạt động bề mặt kết
hợp tính chất của các chất không ion và anion. Cho đến nay, tỷ lệ lớn các sản phẩm
thương mại sử dụng C8-14 APGs cho các công thức làm sạch mỹ phẩm. Thành
phần của chúng được xác định để có được hiệu suất tối ưu, chẳng hạn như tạo bọt,
độ nhớt và các tính chất xử lý khác.
4.1.2)Trong nhiều sản phẩm khác:
Sản phẩm chăm sóc tóc.
Kem đánh răng.
Dầu gội đầu.
Sửa tắm.
 Kết luận:
Alkyl polyglucosides (APGs) được sản xuất bằng cách kết hợp một loại đường
như glucose với một rượu béo trong sự có mặt của chất xúc tác axit ở nhiệt độ cao.
Các ứng dụng chính của APGs có thể được áp dụng trong các ngành công
nghiệp chất tẩy rửa, mỹ phẩm, sinh học, hóa chất, thực phẩm, nhựa, thuốc trừ sâu,
dệt, làm giấy, thuốc men và dầu,…APG0810 có thể được sử dụng trong thuốc trừ
sâu, chất tẩy rửa bề mặt cứng và chất tẩy rửa công nghiệp, APG 0814 có thể được
sử dụng trong mỹ phẩm và dệt may và APG1214 có thể được sử dụng trong dầu
gội đầu, tắm bọt, mỹ phẩm và chất tẩy rửa,…
Đặc tính nổi bật:
 Được sản xuất từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng tái tạo
 Hoạt động bề mặt không ion, tương thích với tất cả các lớp bề mặt
 Dễ dàng phân hủy sinh học
 Rất hiệu quả chi phí.
 Bề mặt cực kỳ nhẹ/nhũ hóa
 Tính chất nhũ hoá xuất sắc
 Khả năng tương thích da tuyệt vời.
 Hành vi bọt nổi bật với bề mặt
 Hiệu suất làm sạch tuyệt vời

III)

CÁC SẢN PHẨM DẠNG BÌNH CHĂM SÓC TÓC:

- Một số chất hoạt động bề mặt được sử dụng trong phối chế dầu gội
- Tìm hiểu ứng dụng chất hoạt động bề mặt trong sản phẩm dầu gội đầu và


sữa tắm dành cho nam
- Các dòng sản phẩm :

 OXY-RHOTO VIETNAM:



X-MEN:

Các sản phẩm sẽ trình bày và đề cập:






Sản phẩm dầu gội nước hoa X-men Sport
Sản phẩm dầu gội Oxy perfect shampoo
Sản phẩm sữa tắm X-men Boss

Sản phẩm dầu gội nước hoa
X-men Sport

Thành phần

Tính chất

Thành phần

Tính chất

Ammonium
laurenth sulfate

CHĐBM

Citric acid

Chất bảo quản

Ammonium lauryl
sulfate

CHĐBM

Polyquaternium

Chất điều hòa

Demethicone

CHĐBM

Glycol Distearate
cocamide MEA
PEG-45

Tạo nhũ
ổn định bọt
Diệt khuẩn

Tricaprylate/
Tricaprate

Bảo quản

Trimetyl
olpropane
Polydecence
Sodium lactate
Chloromethyl
isothiazolinone
Methyl
isothiazolinone

Thấm ướt
Ổn định pH
Chất bảo quản
Chất bảo quản

Sản phẩm dầu gội Oxy Perfect Shampoo
Thành phần
Ammonium
laurenth sulfate
Ammonium lauryl
sulfate
Demethicone
Cocamido propyl
betaine
Acrylates
copolymer
PEG-45

Tính chất
CHĐBM

Thành phần
Zinc PCA

CHĐBM
CHĐBM
CHĐBM

C12-15Alkyl
Benzoate
Glyceryl
Menthol

Tạo độ mềm mượt

Sodium chloride

Diệt khuẩn

Zinc Pyrithione
DMDM hydantoin
Cyclopentasiloxan

Diệt khuẩn
Bảo quản

Phenyl
Trimethicone
CI 42090
C12-15 Pareth-3
Hydrogenated

Tính chất
Trị gàu

Giữ ẩm
Làm mát,bảo
quản
Chất làm sệt

Tạo màu


e
Cocamide DEA

Ổn định bọt

Disodium EDTA

Làm mềm nước
cứng

Sản phẩm X.Men Boss
Thành phần
Sodium laurenth
sulfate
Lauryl glucoside
Cocamidopropyl
Betain
Dimethicone

Tính chất
CHĐBM

Thành phần
Acid citric

Tính chất
Chất bảo quản

CHĐBM

Fragrance

Hương thơm

Glycerine

Giữ ẩm

Glycol Distearate

Tạo nhũ

CHĐBM

Polyquaternium
-10
PEG-7 Glyceryl
Cocoate
Methylcloro
isothiazolinone

Chất điều hòa
Diệt khuẩn
Chất bảo quản

 Khảo sát tính chất các chất hoạt động bề mặt chính có trong sản phẩm
chăm sóc tóc:
 Ammonium laurenth sulfate
 Ammonium lauryl sulfate
 Demethicone
 Cocamido propyl betaine
 Sodium laurenth sulfate
 Lauryl glucoside
 Dimethicone
 Lauric Acid
1. Sodium Lauryl Sulfate:
 Sodium Lauryl Sulfate and Ammonium Lauryl Sulfate, là muối của Lauryl Sulfate,
được sử dụng rộng rãi làm CHĐBM dạng anion
 Trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân , Sodium Lauryl Sulfate and
Ammonium Lauryl Sulfate được sử dụng thứ yếu trong dầu gội,sữa tắm, nước hoa,
lăn khử mùi và cũng có thể tìm thấy ở những sản phẩm khác.Nó có thể dùng trong
nước cứng. khảo sát tính chất các CHĐBM chính có trong sản phẩm dầu gội đầu


 Sodium Lauryl Sulfate và Ammonium Lauryl Sulfate làm sạch da và tóc với việc hỗ
trợ sự kết hợp giữa nước với dầu và chất bẩn, do đó chất bẩn được tẩy ra ngoài
 Công thức hóa học: CH3(CH2)10CH2OSO3NH4

 Ammonium lauryl sulfat đóng vai trò như một chất tạo bọt, và có tính tẩy rửa.
Trong phân tử của chúng một đầu có chứa một mạch Carbon dài, đầu còn lại là
muối của acid sulfuric và NH3. Mạch dài có tính kỵ nước, đầu chứa muối có tính
ưa nước, làm cho nó có tính tẩy rửa và hoạt động bề mặt tốt.
 Khi ammonium lauryl sulfate phản ứng với ethylene oxide, kết quả tạo thành một
phân tử lớn hơn là ammonium laureth sulfate. Phân tử lớn này cũng có tính tẩy rửa
và HĐBM tương tự, nhưng lớn hơn, vì vậy nó không thâm nhập da và tóc dễ dàng.
Thuật ngữ "laureth" thật sự là một sự làm giảm bớt.
2. Cocamidopropyl Betaine:
 Công thức hóa học:

 Cocamidopropyl Betaine là một chất tẩy rửa lưỡng tính, mà là một chất tẩy rửa có
thể hoạt động như một acid hoặc base. Nó không gây kích ứng da hay màng nhầy.
 Nó được dùng để làm đặc những dầu gội đầu, và để giảm bớt sự kích thích do các
chất tẩy rửa khác ảnh hưởng.
 Nó có những hiệu ứng kháng sinh, và được sử dụng trong những sản phẩm vệ sinh
cá nhân.
 Nó có những thuộc tính chống sự tĩnh điện, vì vậy nó có vai trò điều hoà trong
những dầu gội đầu.
3. Dimethicone:
 Công thức hóa học:dimethicone


 Dimethicone và Methicone là silicone dạng polyme. Sự khác biệt duy nhất giữa
hai polyme là các đơn vị lặp lại của Dimethicone chứa hai nhóm methyl, trong khi


các đơn vị lặp lại của Methicone có chứa một nhóm methyl.
Trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân Dimethicone và các thành
phần liên quan được sử dụng trong xây dựng nhiều loại mỹ phẩm và các sản phẩm
chăm sóc cá nhân bao gồm các loại kem mỹ phẩm và kem, xà bông tắm, dầu gội
và các sản phẩm chăm sóc tóc. Các thành phần được sử dụng rộng rãi nhất trong

nhóm này là Dimethicone.
 Silicones được sử dụng như emollients (làm mềm da) và như chất lỏng dễ bay hơi
mà làm cho lớp phủ cảm thấy mịn, nhưng mà không bay hơi để lại một bã nhờn.
 Dimethicone là tên gọi khác polydimethylsiloxane và được sử dụng để tạo một
cảm giác mềm mượt cho mái tóc hay da sản phẩm. Nó cũng được sử dụng như
một emulsifier cho nhũ "nước-trong-dầu"..
4. Cocamide DEA:
 Công thức hóa học:




Cocamide DEA, Lauramide DEA, Linoleamide DEA và Oleamide DEA là
chất lỏng nhớt hoặc các chất rắn sáp. Thành phần cấu tạo là các axit béo dẫn
xuất của diethanolamine (DEA). Trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc
cá nhân, các thành phần được sử dụng trong công thức dầu gội, thuốc nhuộm
tóc, các sản phẩm tắm, và kem.



Cocamide DEA, Lauramide DEA, Linoleamide DEA, DEA Oleamide có
khuynh hướng tăng khả năng tạo bọt và ổn định bọt. Chúng cũng được sử
dụng để làm đặc nước của mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân.



Cocamide DEA, Lauramide DEA, Linoleamide DEA và Oleamide DEA được sản
xuất từ nguồn gốc tự nhiên axit béo. Cocamide DEA có nguồn gốc từ các axit béo
của dầu dừa, Lauramide DEA có nguồn gốc từ axit lauric, Linoleamide DEA có
nguồn gốc từ acid linoleic, và Oleamide DEA có nguồn gốc từ acid oleic

 Đó là các chất HĐBM chính, sau đây là các đồng HĐBM được dùng trong
sản phẩm…
5. Polyethylene glycol

 Polyethylene glycol là một chuỗi polyme dài gôm nhiều đơn vị ethylene glycol
ghép lại. Số lượng ghi sau tên cho biết trọng lượng gần đúng phân tử của chuỗi
(con số cao hơn có nghĩa là chuỗi dài hơn)


=>PEG được sử dụng như một chất làm đặc trong nhiều sản phẩm. Nó được sử
dụng trong kem đánh răng để ngăn chặn vi khuẩn bằng cách kiểm soát sự tích tụ cao
răng.
=>PEGs thường phản ứng với các axít béo để làm cho chất tẩy rửa có bọt dày lên
và ổn định hơn. Khi có sự kết hợp hóa học của acid béo từ dầu dừa, nó hình thành
chất tẩy rửa như PEG-5 cocamide, được dùng trong dầu gội đầu như là một chất hoat
động bề mặt, tạo nhũ, và ổn định bọt.
6. Lauryl glucoside



Lauryl glocoside là một chất hoạt động bề mặt và tẩy rửa được tạo ra từ dầu dừa
( phần chứa “lauryl”) và đường ( phần có gốc glucose). Chúng đóng vai trò làm
mềm da và có thể làm việc trong môi trường nước cứng.



Nó được sử dụng trong dầu gội với vai trò là chất tẩy rửa và làm đặc dung dịch

7. Sodium stearate: CH3(CH2)16COONa

8. Glycerine

• Glycerine được sử dụng làm chất giữ ẩm ( làm mềm da) trong xà phòng
tắm
Formula:


IV)

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT ĐẾN CON
NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG

 Sự tác động qua lại giữa những phân tử hoạt động bề mặt và những cấu trúc sinh
học như protein, enzym, màng tế bào.
 Protein tạo thành những phức hợp hấp thu cationic và anionic. Những phức hợp
này gây ra sự thoái hóa protein sự biến đổi về biến thể cơ bản.
 Việc nuốt những chất hoạt động bề mặt tương đối không nặng vì chúng được
biến thể rất nhanh: Các anionic và NI biến thể rất nhanh và các cationic thì chậm
hơn. Không có sự lắng đọng dồn lại trong cơ thể.
 Những tác động trên mắt, nhạy cảm hơn da, nhưng thông thường một vấn đề
quan trọng chỉ có thể xảy ra khi mắt bị phơi nhiễm lâu với một nồng độ cao chất
hoạt động bề mặt không được theo dõi, và cần rửa ngay mát bằng nhiều nước
lạnh
 Muốn giảm tác động âm tính của các anionic trên da như làm khô, kích thích
da, người ta có thể thêm những chất hoạt động bề mặt lưỡng tính và những
zwitterionic trong những thuốc giặt dạng lỏng. Các hợp chất này mang điện
tích dương phối hợp dễ dàng với những anionic và như vậy ngăn cản sự hấp
thu các chất này ở trên da
 Những hợp chất của nitrosamin và nitrosamit khác nhau về tính ổn định hóa
học và cơ chế độc tính
 Gây ung thư, Làm khô, kích thích da, ây ra sự thoái hóa protein sự biến


đổi về biến thể cơ bản
 Tác động trên mắt chỉ có thể xảy ra khi mắt bị phơi nhiễm lâu với một
nồng độ cao chất hoạt động bề mặt không được theo dõi
 Việc nuốt những chất hoạt động bề mặt tương đối không nặng vì chúng
được biến thể rất nhanh
 Những chất có tiềm năng độc
 Cho người:
1,4 dioxane: tạo nên khi ethoxyl hóa cồn béo thực hiện trong môi trường axit, ở
nhiệt độ rất cao
 Nó hiện diện trong những ethersulfat (LES) dùng trong nước rửa chén
hoặc dầu gội. Nó có thể bị nghi ngờ là tiềm năng gây bệnh ung thư
 Oxit etylen tự do hiện diện trong các rượu béo etoxy hóa (NI) là độc. Thực tế
nguy cơ là không có nếu trong sự tiêu chuẩn hóa rượu bén etoxy hóa, người ta
rất nghiêm ngặc trong việc xác định hàm lượng tối đa của oxit etylen tự do.
 Các nitrosamin rất ổn định và chỉ trở thành chất độc khi xảy ra phản ứng
enzym . VD: NDELA (Nitroso Di Etanol Amin) có tiềm năng gây ung thư
hàm lượng những tạp chất có thể đi vào phản ứng với các amin phụ để sinh
ra.
 Các nitrosmit khi thủy phân là những nguồn phát sinh khối u ác tính



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×