Tải bản đầy đủ

TIỂU-LUẬN-KT

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
⁓⁓⁓⁓**********⁓⁓⁓⁓

BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
CHO TRẺ MẦM NON
ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
THÍ NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC
Ở TRƯỜNG MẦM NON II – THÀNH PHỐ HUẾ

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.s: Trần Viết Nhi


Nguyễn Thị Hướng
Lớp: GDMN 3A
MSV: 15S9021068

Huế, 11/2017


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL
CB-GV-NV
GV
GVMN
HĐKPKH
KPKH
MN
MG
MTXQ
SL
TC
TN

Cán bộ quản lí
Cán bộ - Giáo viên- Nhân viên
Giáo viên
Giáo viên mầm non
Hoạt động khám phá khoa học
Khám phá khoa học
Mầm non
Mẫu giáo
Môi trường xung quanh
Số lượng
Tổng cộng
Thí nghiệm

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A




Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Bảng 1.1. Ý nghĩa việc tổ chức TN trong HĐKPKH đối với sự phát triển nhận thức của trẻ
..............................................................................................................................................18
Bảng 1.2. Những tiêu chí để đánh giá kết quả việc sử dụng TN của trẻ............................19
Bảng 1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng TN của trẻ..........................................................20
Bảng 1.4 Nhiệm vụ của GV trong quá trình tổ chức TN cho trẻ.........................................22
Bảng 1.5 Các chủ đề thường tổ chức cho trẻ 5 – 6 tuổi TN trong HĐKPKH.....................23
Bảng 1.6. Đặc điểm các TN tổ chức cho trẻ trong HĐKPKH..............................................24
Bảng 1.7. Các bước trẻ có thể thực hiện khi tổ chức TN trong HĐKPKH..........................25
Bảng 1.8. Thuận lợi khi tổ chức cho trẻ TN trong HĐKPKH...............................................25

Bảng 2.1. Thí nghiệm theo các chủ đề

MỤC LỤC

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tâm hồn trẻ em lứa tuổi MG rất ngây thơ và trong sáng, trẻ “Chơi mà học và
học bằng chơi” thế giới xung quanh qua “ lăng kính chủ quan” của trẻ, tất cả đều
mới lạ “ với biết bao điều kỳ diệu” và “Vì sao lại thế?” hay “Vì sao thế nhỉ?”…
luôn là những câu hỏi thắc mắc, là những điều trẻ luôn khao khát muốn biết, muốn
tìm hiểu và khám phá.
Có lẽ ngay từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho tới khi biết cầm nắm các vật trên
tay, hay khi trẻ biết bước những bước đi chập chững đầu tiên của cuộc đời, trẻ đã
muốn tìm hiểu và khám phá về thế giới xung quanh.
Hoạt động KPKH mang đến cho trẻ những cảm nhận mới lạ về môi trường
xung quanh, phát triển về nhận thức cho trẻ, hình thành ở trẻ lòng yêu thiên nhiên,
có ý thức bảo vệ thiên nhiên.Trẻ mầm non rất thích tìm hiểu và khám phá môi
trường xung quanh. Trẻ rất vui sướng khi tự tay mình được làm các thí nghiệm rồi
tự rút ra kết luận bằng những nguyên liệu và đồ vật thật. Từ những thí nghiệm nhỏ
này sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng về môi trường tự nhiên: Cây cỏ, hoa lá,
các hiện tượng tự nhiên... Cách học trắc nghiệm trực tiếp này rất thích hợp với trẻ
lứa tuổi mầm non và là một trong những nhiệm vụ của công tác đổi mới giáo dục
mầm non hiện nay. Thông qua việc cho trẻ làm các thí nghiệm, đòi hỏi trẻ phải sử
dụng tích cực các giác quan. Chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả
năng phân tích, so sánh, tổng hợp, nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ nhanh nhạy
chính xác, những biểu tượng kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể và sinh động
hẫp dẫn hơn. Khi quan sát trẻ hoạt động ta thấy những biểu hiện ở trẻ rất tích cực,
trẻ rất thích thú khi được quan sát hoặc thử nghiệm những hoạt động khám phá. Vì
vậy, chúng ta những giáo viên mầm non có nhiệm vụ khuyến khích tạo điều kiện
giúp trẻ được khám phá trải nghiệm.
Bên cạnh đó, những kiến thức về môi trường tự nhiên không phải dễ dàng mà
trẻ tự tiếp thu được. Đó là những kiến thức khoa học tương đối khó tiếp nhận đối
với khả năng của trẻ. Các nhà tâm lí học đã chứng minh rằng, quá trình tìm hiểu
môi trường tự nhiên được tổ chức mang tính chất khám phá, trải nghiệm, theo
phương thức đưa trẻ vào hoạt động trực tiếp là phù hợp hơn cả đối với trẻ - đó chính
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
1


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
là phương pháp tổ chức cho trẻ làm các thí nghiệm, thử nghiệm đơn giản. Mục đích
của việc sử dụng phương pháp này là tổ chức cho các trẻ vào trải nghiệm trực tiếp
để giải quyết các tình huống nhận thức. Chúng ta biết rằng trẻ học tốt nhất khi được
trải nghiệm trực tiếp. Mặt khác, việc tổ chức làm các thí nghiệm đơn giản luôn tạo
cho trẻ hứng thú lôi cuốn, kích thích trẻ tích cực hoạt động phát triển ở trẻ tính tò
mò, ham hiểu biết. Đó là cơ hội để trẻ sử dụng mọi giác quan trong quá trình tìm
hiểu, khám phá, thử nghiệm, từ đó tìm ra hoặc kiểm tra lại những kiến thức của
mình, phát triển kĩ năng tư duy bậc cao, phân tích sự kiện, thu thập thông tin...Đồ
thời hình thành các năng lực như: hợp tác với bạn bè, năng động sáng tạo... đặc biệt
là đặt nền tảng cho việc hình thành thái độ khoa học đối với các hiện tượng xảy ra
trong cuộc sống.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc sử dụng phương pháp thí nghiệm khi
tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động KPKH vẫn còn hạn chế, đa phần giáo
viên chưa nhận thức đúng đắn về vị trí, ý nghĩa của phương pháp thí nghiệm. Vì
vậy, khi tổ chức hoạt động KPKH có hiện tượng “dạy chay”, giáo viên áp đặt trẻ
đưa ra kiến thức yêu cầu trẻ nhắc lại, chưa quan tâm đến việc giúp trẻ tìm kiếm kiến
thức như thế nào? Chưa chủ động tạo điều kiện cho trẻ được tìm hiểu kiến thức
thông qua trải nghiệm trực tiếp. Giáo viên còn lúng túng trong việc thiết kế và sử
dụng các thí nghiệm linh hoạt, mang tính phát triển, phù hợp với đặc điểm cá nhân
trẻ và điểu kiện thực tế của trường, lớp, địa phương.Vì chưa được quan tâm nên
hiệu quả hoạt động còn thấp.
Với thực trạng như vậy, bản thân em là một sinh viên đang theo học ngành
Giáo dục mầm non, em nhận thức rõ ý nghĩa của vấn đề này.Xuất phát từ thực tế đó
em đã tìm hiểu, nghiên cứu, vận dụng nhiều phương pháp, hình thức để hướng dẫn
tìm hiểu về thế giới xung quanh có hiệu cao,em mạnh dạn lựa chọn đề tài “Biện
pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt động khám phá
khoa học ở trường mầm non II – Thành phố Huế ”.

2. Mục đích nghiên cứu

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
2


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng tổ chức thí nghiệm cho trẻ mẫu
giáo 5-6, đề tài biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt động
KPKH nhằm các mục đích cụ thể sau:
- Đầu tiên là để thấy được tầm quan trọng và vai trò của việc tổ chức thí
nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học
- Thứ hai là đề xuất một số biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí nghiệm
nhằm giúp trẻ dễ dàng nhận thức các thuộc tính bản chất, mối liên hệ giữa các sự
vật hiện tượng trong quá trình tìm hiểu, khám phá; từ đó nâng cao khả năng hoạt
động trí tuệ của trẻ, giúp trẻ tự tin, chủ động hơn trong quá trình khám phá khoa
học.
- Cuối cùng là rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên và có
thêm kinh nghiệm để hỗ trợ cho công việc sau này.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức cho trẻ 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt động KPKH ở
trường MN II- Thành phố Huế
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức cho trẻ 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt động KPKH ở
trường MN II –Thành phố Huế
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1.Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp tổ chức cho trẻ 5 –6 tuổi thí nghiệm trong hoạt
động KPKH ở trường MN qua các chủ đề: Nước và hiện tượng tự nhiên, động thực
vật
4.2.Về khách thể khảo sát
Khảo sát thực trạng trên 76 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và 20 GVMN đứng lớp
mẫu giáo 5-6 tuổi và một số cán bộ quản lý tại trường MN Thủy Xuân, thành phố
Huế. Thử nghiệm tác động các biện pháp trên 25 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng một số biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong
hoạt động KPKH thì sẽ thì sẽ tạo cho trẻ có nhiều cơ hội thực hành, trải nghiệm
khám phá môi trường xung quanh, hình thành ở trẻ một số biểu tượng về sự vật hiện
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
3


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
tượng, nâng cao khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ, giúp trẻ tự tin, chủ động hơn
trong quá trình khám phá khoa học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức cho trẻ MG 5 – 6
tuổi thí nghiệm trong hoạt động KPKH.
6.2. Xây dựng các biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thí nghiệm
trong hoạt động KPKH.
6.3. Tiến hành thực nghiệm và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập, tổng hợp thông tin về vấn đề
nghiên cứu, bổ sung thêm kiến thức về vấn đề nghiên cứu. Từ đó xây dựng những
luận cứ, luận điểm chính xác và chặc chẽ cho đề tài, làm cơ sở để nghiên cứu thực
trạng và đề xuất biện pháp.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng nhằm khảo sát, đánh giá nhận thức của giáo
viên mầm non về việc tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong khám phá
khoa học. Một bảng hỏi dành cho giáo viên được thiết kế để phục vụ cho mục đích
trên.
7.3. Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi với GVMN và CBQL về vấn đề tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thí
nghiệm trong hoạt động KPKH để bổ sung thêm thông tin cần thiết, làm sáng tỏ kết
quả nghiên cứu. Phiếu phỏng vấn được thiết kế nhằm phục vụ mục đích trên.
7.4. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng trong trong quá trình dự giờ các hoạt động
KPKH do GV tổ chức và trong quá trình cho trẻ thực hiện các thí nghiệm của
GVMN, những biểu hiện của trẻ trong quá trình thí nghiệm. Từ đó, bổ sung thêm
thông tin cần thiết để làm sáng tỏ kết quả nghiên cứu.
7.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch, giáo án tổ chức hoạt động KPKH của GVMN, đặc biệt
là các thí nghiệm được GV sử dụng trong hoạt động KPKH.
7.6. Phương pháp thống kê toán học
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
4


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được chúng tôi xử lý,
phân tích bằng phần mềm Excel nhằm khẳng định độ tin cậy và tính khoa học của
đề tài nghiên cứu.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí nghiệm
trong hoạt động KPKH.
- Làm rõ thực trạng tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thí nghiệm hoạt động
KPKH ở trường MN II- Thành phố Huế.
- Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức của trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi trong hoạt động KPKH.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp vào cơ sở lý luận cho những nghiên
cứu sau
9. Bố cục đề tài
Bố cục đề tài gồm có các phần Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục
sơ đồ, bảng biểu, Mở đầu, Nội dung, Kết luận và khuyến nghị; Tài liệu tham khảo.
Phần nội dung được chia làm 2 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của các biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5
- 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt động KPKH
Chương 2: Biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5-6 tuổi thí nghiệm trong hoạt
động KPKH ở trường MN II – Thành phố Huế

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁC BIỆN PHÁP
TỔ CHỨC CHO TRẺ MG 5 - 6 TUỔI THÍ NGHIỆM TRONG
HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
5


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Phương pháp thí nghiệm là một trong những phương pháp có vai trò hết sức
quan trọng trong quá trình giáo dục. Chính vì vậy vấn đề này từ lâu đã được các nhà
khoa học, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Phương pháp thí nghiệm là một phương pháp dạy học đã có từ lâu cùng với
hệ thống các phương pháp dạy học. Phương pháp thí nghiệm là phương pháp nghiên
cứu đặc trưng của nghành khoa học thực nghiệm.
Anhstanh cũng khẳng định:“ Tất cả sự nhận thức về thế giới thực tại xuất
phát từ thực nghiệm và hoàn thành bằng thực nghiệm”.
Spaski đã nêu lên thực chất của phương pháp thực nghiệm của Galile với ý
nghĩ đầy đủ của nó như sau: Xuất phát từ quan sát và thực nghiệm, nhà khoa học đã
xây dựng được một số giả thiết, đó không chỉ đơn giản là sự tổng quát hóa các TN
đã làm. Nó còn chưa đựng một số điều gì mới mẻ không có sẵn trong từng TN cụ
thể. Bằng phương pháp suy luận logic và bằng toán học, nhà khoa học có thể từ giả
thuyết đó mà rút ra một số hệ quả, tiên đoán một số sự kiện mới mà trước đó chưa
biết đến. Những hệ quả và sự kiện mới đó có thể dùng thực nghiệm mà kiểm tra lại
được. Nếu sự kiểm tra thành công, nó khẳng định sự đúng đắn của các giả thuyết và
khi đó giả thuyết được coi là một định luật vật lí chính xác.
Heisenberg đã viết: “ Những TN đó được sáng tạo ra để giải thích những vấn
đề đặc biệt quan trọng bất kể là thực tế ta có thể thực hiện được TN đó hay không.
Dĩ nhiên, điều quan trọng là TN đó có thể thực hiện được về nguyên tắc, mặc dù kĩ
thuật thực nghiệm của nó có thể rất phức tạp. Những TN tưởng tượng đó rất có ích
trong giải quyết một số vấn đề”.
Ngay từ thời kì văn hóa Phục Hưng, các nhà giáo dục như Tomat More (14781535) đã đề cao phương pháp quan sát, TN thực hành trong dạy học.
Các Mác cũng đã viết:“ Nhà vật lí hoặc là quan sát những quá trình của tự
nhiên ở những nơi quá trình đó xảy ra dưới dạng rõ nét nhất và ít bị những ảnh
hưởng phá hoại che lấp đi mất, hoặc là nếu có thể tiến hành thí nghiệm trong những
điều kiện đảm bảo cho quá trình diễn ra dưới dạng thuần khiết”.

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
6


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Phê phán các quan điểm của chủ nghĩa quy nạp, khoa học luận hiện đại khẳng
định: trong nhà trường cần tổ chức cho học sinh nghiên cứu vật lí theo tiến trình mô
hình hóa. Trong tiến trình nay, ngay từ việc quan sát thí nghiệm và những TN nếu
có được hòa nhập vào nhau và đều được chỉ đạo bởi một nguyên lí nào đó. Đó
chính là cơ sở để nêu ra tiền đề đầu tiên dưới dạng một giả thiết.
Các tài liệu khoa học của các nhà tâm lí học, giáo dục học như: J.J.Ruxô,
Kecsenxtenơ, J.A.Cômenxki, I.F.Kharlamop... đã đi sâu tìm hiểu bản chất của
phương pháp TN, từ đó đưa ra hệ thống lí luận khoa học của phương pháp TN.
Trong đó nhấn mạnh tới vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức của người học và
vấn đề sử dụng phương pháp TN trong dạy học.
Trong lí luận giáo dục của mình J.J.Ruxô (1712 – 1778) đã chú trọng các
phương pháp dạy học mang tính trực quan, đặc biệt coi trọng TN, thực hành. Dạy
học theo ông không chỉ mang tri thức đến cho trẻ mà cái lớn hơn là dạy trẻ phương
pháp tư duy, phương pháp hành động.
Kecsenxtenơ – người đưa ra mô hình “Nền giáo dục công dân” cũng đã nhấn
mạnh: phương pháp thực hành và hành động thực tiễn. Ông đề cao việc cho học
sinh tự mình chủ động chiếm lĩnh tri thức
Jean Piaget (1896- 1980) xem xét sự phát triển của các thao tác thực hành
trong mối liên hệ chung với sự phát triển trí tuệ. Ông chỉ ra rằng các thao tác thực
hành có một ý nghĩa đối với sự hình thành tri giác.
Theo nhà động vật học người Pháp Cuvier thì: “Khi ta quan sát lắng nghe xem
thiên nhiên nói gì, còn khi tiến hành TN thì ta làm cho thiên nhiên phải bộc lộ ra
những bí mật của mình”.
Các nghiên cứu ở hướng hướng này cho thấy sự cần thiết và khẳng định tính
hiệu quả của việc sử dụng các TN, mô hình trong quá trình tổ chức các hoạt động
giáo dục nhận thức cho trẻ mẫu giáo nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ nói chung
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
TS. Trần Thị Ngọc Trâm đã thực hiện đề tài “Thiết kế các hoạt động khám phá
khoa học cho trẻ mẫu giáo” từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 10 năm 2013 nhằm làm
sáng tỏ khung lí thuyết và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế và tổ chức các hoạt động
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
7


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo; đồng thời đề xuất một số hướng tổ chức hoạt
động khám phá khoa học và thiết kế một số hoạt động khám phá khoa học cho trẻ
mẫu giáo. Trong giai đoạn thực hiện đề tài, về mặt lý thuyết, tiến sĩ đã làm sáng tỏ
một số khái niệm công cụ: nhận thức, khoa học, khám phá khoa học với trẻ nhỏ;
làm sáng tỏ những vấn đề lí luận liên quan tới hoạt động khám phá khoa học của trẻ
mẫu giáo như sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo, các quá trình khám phá
khoa học thích hợp với trẻ nhỏ, mục tiêu của tổ chức hoạt động khám phá khoa học
cho trẻ mẫu giáo, tầm quan trọng của hoạt động khám phá khoa học với trẻ nhỏ,
tổng quan chuẩn giáo dục khoa học cho trẻ mẫu giáo của một số nước, cách tiếp cận
quá trình trong dạy khoa học cho trẻ nhỏ, và vai trò của giáo viên trong tổ chức hoạt
động khám phá khoa học cho trẻ. Đây là một đề tài rất gần với đề tài đang thực
hiện, và có thể trở thành cơ sở để nghiên cứu những nội dung cụ thể của đề tài đang
thực hiện; tuy nhiên, hiện nay đề tài vẫn chưa được hoàn thành và công bố.[7, tr.27]
1.2. Cơ sở lí luận của các biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thí
nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học.
1.2.1. Hoạt động khám phá khoa học của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.2.1.1.Khái niệm hoạt động khám phá khoa học
Hoạt động khám phá khoa học dành cho trẻ mầm non được nhìn nhận, hiểu và
định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể như:
Trong quyển giáo trình “Phương pháp cho trẻ mầm non khám phá khoa học về
môi trường xung quanh” thì hoạt động khám phá khoa học là quá trình trẻ tích cực
tham gia hoạt động thăm dò, tìmhiểu thế giới tự nhiên. Đó là quá trình quan sát, so
sánh, phân loại, thử nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra
quyết định,... Hoặc khi dựa vào những định nghĩa về khoa học và khám phá, khái
niệm “khám phá khoa học” dành cho trẻ nhỏ có thể được hiểu như sau:
- Khám phá khoa học là hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm phát hiện ra tri
thức về thế giới xung quanh.
- Khám phá khoa học là tìm thấy, phát hiện ra tri thức tích cực được ẩn giấu từ
thế giới xung quanh.

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
8


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
- Khám phá khoa học là hoạt động nhận thức nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri
thức tích cực có được thông qua quá trình tìm tòi, phát hiện, khám phá thế giới xung
quanh. [3, tr. 35]
Như vậy có thể thấy rằng: “hoạt động khám phá khoa học” của trẻ em được
xem như là hoạt động nhận thức nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức, là quá trình tìm
tòi, phát hiện, khám phá thế giới xung quanh bằng quan sát, so sánh, phân loại, thử
nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định, kết luận
tăng hiểu biết của cá nhân.
1.2.1.2.Mục đích của hoạt động khám phá khoa học
HĐKPKH của trẻ ở trường MN không phải là học hỏi những kiến thức khoa
học mà là hoạt động trải nghiệm, tìm tòi, khám phá những gì trẻ quan tâm và muốn
tìm hiểu. Đối với trẻ MN, học khoa học chủ yếu là học cách suy nghĩ chứ chưa phải
là học những quy luật của khoa học. Điều quan trọng là giáo viên giúp trẻ suy nghĩ
nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem
xét, suy luận, phỏng đoán... về các sự vật và hiện tượng xung quanh. [8, tr. 66]. Như
vậy, mục đích của hoạt động KPKH là:
- Phát hiện các năng lực trí tuệ để trẻ có thể phát hiện vấn đề, tích lũy vốn hiểu
biết và giải quyết các tình huống đơn giản xảy ra trong cuộc sống.
- Hình thành thái độ tích cực đối với MTXQ.
- Cung cấp hệ thống kiến thức đơn giản, chính xác, cần thiết về các sự vật,
hiện tượng xung quanh. [3, tr. 25]
1.2.1.3. Đặc điểm hoạt động khám phá khoa học của trẻ MG 5 – 6 tuổi ở
trường MN
Hoạt động khám phá khoa học của trẻ 5 – 6 tuổi là một hoạt động nhận thức
thế giới khách quan, là một quá trình diễn ra một loạt hành động có liên quan chặt
chẽ với nhau để khám phá, phát hiện, tác động vào đối tượng cụ thể nhằm chiếm
lĩnh tri thức về thế giới xung quanh một cách phù hợp với trẻ 5 – 6 tuổi. Trong quá
trình đó, trẻ nhỏ cần phải sử dụng các thao tác quan sát, so sánh, phân loại, thử
nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định nhằm
chiếm lĩnh hệ thống tri thức mang tính khoa học.[3, tr. 37]
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
9


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Dựa vào định nghĩa hoạt động, hoạt động khám phá khoa học và phân tích cấu
trúc hoạt động, HĐKPKH cho trẻ 5 – 6 tuổi có một số đặc điểm sau:
- Trẻ 5 – 6 tuổi HĐKPKH nhằm lĩnh hội tri thức về sự vật hiện tượng xung
quanh một cách khoa học. Trẻ càng có nhiều biểu tượng (hình ảnh của đối tượng
xuất hiện lần một) về sự vật hiện tượng và biểu tượng càng đầy đủ, chính xác (hình
ảnh đối tượng xuất hiện lần hai) thì càng tạo cơ hội phát triển các kỹ năng KPKH
liên quan.
- HĐKPKH cho trẻ 5 – 6 tuổi liên quan đến nhu cầu nhận thức. Vì vậy cần đặt
trẻ vào các tình huống có vấn đề nhận thức (tạo ra sự thiếu thốn về nhận thức- nhu
cầu xuất hiện lần một) và tạo điều kiện cho trẻ nhận ra đối tượng đáp ứng và có cơ
hội sử dụng các kỹ năng KPKH khác nhau để đạt mục đích nhận thức.
- Để thực hiện và đạt được mục đích nhận thức là nhờ biết sử dụng các kỹ
năng KPKH phù hợp.
Với cách hiểu này, việc tổ chức HĐKPKH cho trẻ 5 – 6 tuổi của GVMN cần
xuất phát từ bản thân nhu cầu nhận thức của trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi.
Bên cạnh đó HĐKPKH chứa đựng rất nhiều tiềm năng để thoả mãn những nhu cầu
của trẻ như môi trường hoạt động đa dạng, đối tượng hoạt động phong phú, ẩn chứa
nhiều điều lạ lẫm, thú vị. Quá trình tổ chức HĐKPKH chính là quá trình GVMN
tạo điều kiện để nhu cầu của trẻ có cơ hội được thỏa mãn (gặp được đối tượng). Khi
gặp đúng đối tượng, trẻ sẽ bị cuốn hút và tích cực hoạt động.
Như vậy, để tổ chức HĐKPKH cho trẻ được hiệu quả, trước hết giáo viên phải
nắm được đặc điểm nhu cầu, hứng thú của trẻ để chuẩn bị môi trường hoạt động
thích hợp nghĩa là môi trường đó cuốn hút trẻ, làm cho trẻ thích thú từ đó kích thích
đứa trẻ hoạt động. HĐKPKH là phương tiện để trẻ thoả mãn những nhu cầu vì vậy
sau khi đã tạo được môi trường hoạt động thì cần đưa trẻ vào hoạt động một cách
hiệu quả trong môi trường đó – đây là giai đoạn trẻ được cung cấp, mở rộng thêm tri
thức mới, rèn luyện các kỹ năng KPKH và hình thành thái độ tích cực về thế giới
xung quanh, đoán chính xác điều gì sẽ xảy ra. Trẻ rất thích những câu hỏi hướng tới
dự đoán đơn giản và sau đó trẻ có thể thực hiện để kiểm nghiệm dự đoán.

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
10


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
1.2.2. Tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt động khám
phá khoa học.
1.2.2.1. Khái niệm, phân loại thí nghiệm dành cho trẻ mầm non
a. Khái niệm
Tác giả Hoàng Thị Oanh cho rằng, đối với trẻ MN thì “thí nghiệm là việc tổ
chức cho trẻ hành động tác động vào đối tượng, làm thay đổi đối tượng
nhằm kiểm nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại một hiện
tượng nào đó trong tự nhiên” [3, tr. 69]. Đồng ý kiến với các tác giả trên, theo
chúng tôi, đối với trẻ MN, có thể hiểu “Thí nghiệm là quá trình GV tổ chức cho trẻ
tác động lên một sự vật, hiện tượng nào đó, làm thay đổi nó trong một điều kiện
nhất định để quan sát sự thay đổi của sự vật, hiện tượng nhằm rút ra kết luận về đặc
điểm, tính chất và mối liên hệ giữa các sự vật hiện, hiện tượng đó.”
b. Phân loại
- Thí nghiệm với thực vật: Đối tượng của TN sẽ là thực vật như hạt, cây, rễ,
các loại lá... Loại TN này sẽ tìm hiểu về những yếu tố liên quan đến thực vật như
thức ăn, môi trường sống, quá trình phát triển và mối quan hệ của thực vật. TN
thường được thực hiện để trả lời những câu hỏi: Hạt này có nảy mầm thành cây
được không? Hạt này nảy mầm như thế nào? Hạt nào nảy mầm được, hạt nào không
nảy mầm được? Hoa có hút nước không? Vì sao hoa héo? Vì sao hoa tươi? Cành
cây, lá cây có nảy mầm không? Cây có cần nước, không khí, ánh sáng hay không?
Cây này có sống được ở trên cạn, dưới nước không?
- TN với động vật: Đối tượng của TN sẽ là những loài động vật, bao gồm động
vật sống dưới nước, động vật sống trên cạn và động vật sống trên trời… Loại TN
này cũng sẽ tìm hiểu về các yếu tố như thức ăn, môi trường sống, thói quen sinh
hoạt, quá trình sinh sản, sinh trưởng… TN được thực hiện để trả lời hoặc giải thích
những câu hỏi như: Con này thích ăn gì nhất? Con này phản ứng với âm thanh, ánh
sáng như thế nào? Con này dùng gì để bay, bơi, chạy? Con này sinh ra và lớn lên
như thế nào? Con này có sống được trên cạn, dưới nước không? Các con vật có cần
thức ăn, nước uống, không khí không? Tuy nhiên, khi sử dụng động vật để tiến hành
các TN thì rất khó để kiểm soát diễn biến có thể xảy ra, nhiều khi là gây nguy hiểm
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
11


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
đến bản thân trẻ hoặc TN sẽ làm ảnh hưởng xấu đến đối tượng được lựa chọn, liên
quan đến vấn đề đạo đức. Do đó, TN này thường ít được sử dụng.
- TN với đồ vật: Đối tượng của TN sẽ là các đồ vật: Đồ vật làm bằng kim loại,
đồ vật làm bằng thủy tinh, sứ… Loại TN này sẽ tìm hiểu về các đặc điểm của đồ vật
như kích thước, màu sắc, hình dáng, chất liệu…TN được thực hiện để trả lời các
câu hỏi như: Vật nào chìm, vật nào nổi? Các vật chìm như thế nào? Vật nào trong
suốt? Vật nào đựng được nước? Vật nào tạo ra gió? Giấy và vải có gì khác nhau?
v.v…
- TN với các nguyên vật liệu của thiên nhiên vô sinh: Đối tượng của TN sẽ là
những gì liên quan đến thiên nhiên vô sinh như: Nước, ánh sáng, gió, cát… Cụ thể:
Với nước (nước trong suốt, nước chuyển màu, chuyển mùi, chuyển vị, nước có thể
hòa tan, không hòa tan các chất, nước bốc hơi, nước đóng băng…); với không khí
(không khí có ở khắp nơi, không khí có trọng lượng, không khí cần cho sự cháy; với
gió (gió đến từ đâu…); với ánh sáng, với các vật chất khác có ở xung quanh. Đây là
loại TN được xem là phong phú nhất trong các loại còn lại vì đối tượng TN rất đa
dạng với nhiều đặc điểm, tính chất khác nhau.
1.2.2.2.Đặc điểm thí nghiệm dành cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
Với các thí nghiệm dành cho trẻ MG 5 – 6 tuổi dễ thực hiện, không đòi hỏi
các điều kiện đặc biệt, cần tiến hành trong khoảng thời gian nhất định, không kéo
dài quá lâu sẽ làm trẻ quên mất những gì xảy ra ban đầu
1.2.2.3.Quy trình tổ chức thí nghiệm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Khi tổ chức thí nghiệm cho trẻ cần xác định mục đích cụ thể của mỗi thí
nghiệm. Mục đích thí nghiệm được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ. Nhiệm vụ thí
nghiệm do giáo viên đặt ra hoặc do giáo viên giúp trẻ tự xác định. Nhiệm vụ phải rõ
ràng, được xác định theo từng ý cụ thể.
a. Chuẩn bị cho trẻ làm thí nghiệm
Đối tượng (vật liệu) thí nghiệm, số lượng đối tượng đủ cho cô và trẻ.
- Dụng cụ, phương tiện làm thí nghiệm: tốt nhất nên sử dụng những vật liệu
sẵn có hoặc các phế liệu như vỏ hộp sữa chua, cốc nhựa dùng 1 lần đã qua sử dụng,

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
12


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
vỏ ốc, vỏ trai…Cần đảm bảo đủ số lượng đồ dùng cho cô và trẻ, đồ dùng của cô và
trẻ giống nhau để đảm bảo tính khách quan khi cho trẻ làm thí nghiệm…
- Thời gian: Tùy vào loại thí nghiệm mà giáo viên xác định thời gian cần thiết
để tiến hành thí nghiệm cho phù hợp. Dựa vào thời gian làm thí nghiệm, có 2 loại:
+ Thí nghiệm ngắn hạn: Ví dụ: Trong nước có gì, Vật chìm vật nổi…
+ Thí nghiệm dài hạn. Ví dụ: Hạt nảy mầm, Cây mọc lên từ đâu…
- Địa điểm: Địa điểm làm thí nghiệm là khoảng không gian cần thiết có thể tổ
chức: trong lớp học, sân trường, góc thiên nhiên…
- Dự kiến một số tình huống có thể xảy ra khi tiến hành thí nghiệm.
- Cách bố trí vị trí ngồi/đứng… của trẻ, sự tham gia vào thí nghiệm của trẻ.
b. Tiến hành cho trẻ làm thí nghiệm
- Bước 1: Dự đoán mục đích, cách tiến hành, kết quả thí nghiệm:
Giáo viên cho trẻ suy nghĩ, phán đoán mục đích, cách tiến hành, kết quả hoặc
đưa ra những giả thiết trước khi cho trẻ tiến hành thí nghiệm sau đó thống nhất với
trẻ về mục đích làm thí nghiệm.
- Bước 2: Tổ chức và hướng dẫn thực hiện thí nghiệm
+ Tổ chức: Giáo viên có thể chia trẻ thành các nhóm thực hiện thí nghiệm,
giao đồ dùng thí nghiệm cho các nhóm.
+ Hướng dẫn: Giáo viên hướng dẫn cách tiến hành các thao tác làm thí nghiệm
(theo các mức độ)
Trước khi tiến hành thao tác thí nghiệm, nên trò chuyện để kích thích trẻ chú ý
quan sát, suy đoán…Ví dụ, trước khi thả 1 vật vào nước, có thể hỏi: Các con đoán
xem, cô sẽ làm gì với vật này? Điều gì sẽ xảy ra khi cô thả vật này vào nước?...
+ Nếu thí nghiệm đơn giản, dễ thực hiện và đảm bảo an toàn thì giáo viên cho
các nhóm trẻ hoặc từng trẻ tiến hành các thao tác làm thí nghiệm. Ví dụ: tan và
không tan, vật chìm vật nổi…
+ Nếu thí nghiệm phức tạp hoặc có thể khó đảm bảo an toàn cho trẻ thì giáo
viên thực hiện các thao tác làm thí nghiệm còn trẻ quan sát. Ví dụ khi làm thí
nghiệm Nước bốc hơi, cô cho trẻ quan sát quá trình nước được đun nóng trong nồi
thủy tinh.
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
13


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
- Bước 3: Cho trẻ quan sát, phát hiện hiện tượng xảy ra
Từng trẻ hoặc nhóm trẻ báo cáo kết quả thí nghiệm, so sánh với dự đoán ban
đầu. Các bạn khác nhận xét, góp ý. Dùng các thủ pháp nghệ thuật để trẻ tập trung
chú ý, phát hiện ra sự thay đổi của đối tượng đang được tác động. Giáo viên có thể
đặt câu hỏi, ví dụ: Con đã quan sát thấy điều gì? Hiện tượng gì đã xảy ra?...
Nên cho trẻ lưu giữ thông tin về hiện tượng quan sát được bằng cách điền ký
hiệu vào mô hình.
- Bước 4: Giải thích hiện tượng
Khuyến khích trẻ giải thích các hiện tượng quan sát được. Sau đó giáo viên
khái quát lại thông tin cần cung cấp. Giáo viên lưu ý sử dụng lời giải thích đảm bảo
cơ sở khoa học nhưng đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của trẻ. Ví dụ: Giải
thích lý do vì sao viên bi chìm, quả bóng nổi, giáo viên có thể nói: Viên bi chìm vì
nó đang nằm ở đáy bình nước; Quả bóng nhựa nổi vì nó đang nằm ở mặt nước… Lý
do: Khi thả vào nước, hòn bi bị lực hút xuống mạnh hơn lực nước đẩy lên nên bi
chìm còn bóng bị lực nước đẩy lên mạnh hơn lực hút xuống nên bóng nổi.
- Bước 5: Kết luận
Khuyến khích trẻ rút ra kết luận, sau đó cô chính xác hóa thông tin kết luận.
Nên kết hợp với kết quả trên mô hình để cho trẻ kết luận. Ví dụ: Một vật chìm
hay nổi phụ thuộc vào lực nước đẩy nó lên hay lực hút nó xuống. Vật nào thả xuống
nước mà bị lực hút xuống mạnh hơn lực đẩy lên thì chìm còn vật nào bị lực đẩy lên
mạnh hơn lực hút xuống thì nổi. Vật chìm bao gồm bi, thìa inox, đinh sắt…; vật nổi
bao gồm bóng nhựa, viên xốp, lá khô…
- Bước 6: Liên hệ, ứng dụng kiến thức vào thực tế
Ví dụ: Tàu, thuyền… nổi được trên mặt nước nên có thể giúp con người di
chuyển từ nơi này đến nơi khác. Mỏ neo chìm xuống dưới nước nên có thể giữ tàu,
thuyền đứng lại ở một nơi. Nếu rơi xuống nước mà không biết bơi thì chúng ta sẽ bị
chìm, bị chết đuối; do vậy không được tự ý chơi gần nước…
c. Đánh giá:
Cho trẻ nhận xét, đánh giá kết quả quá trình làm thí nghiệm. Giáo viên chính
xác hoá thông tin rồi khái quát những thông tin cơ bản.
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
14


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
1.2.2.4.Vai trò của thí nghiệm đối với trẻ MG 5–6 tuổi trong KPKH
Trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng và trẻ MN nói chung có nhu cầu tìm hiểu, khám phá
môi trường xung quanh rất mạnh mẽ. Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi,
tìm hiểu các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh. Tò mò là một đặc tính
bẩm sinh của trẻ. Câu hỏi thường xuyên của trẻ là "Tại sao?” như Tại sao có cầu
vồng? Cầu vồng là gì? Tại sao có gió? Ai làm ra sóng? Tại sao phải tưới cây? Tại
sao nước biển lại mặn? Tại sao có mưa? Tại sao miếng sắt chìm trong khi con tàu
cũng làm bằng sắt lại không chìm? Tại sao bầu trời có màu xanh? Vân tay là gì?
Bông hoa là con trai hay là con gái? ‘Thức ăn’ nào sẽ làm cho cây lớn nhanh nhất?
Tại sao nam châm có thể hút được vật? Mây có tên không? .... và muôn vàn cái tại
sao khác. Một trong những cách tốt nhất để trả lời các câu hỏi tại sao của trẻ là để
trẻ tự tìm lấy câu trả lời qua các hoạt động TN. Thí nghiệm tạo nhiều cơ hội cho trẻ
hoạt, cho trẻ học thông qua tìm tòi, khám phá, phát hiện, trải nghiệm, giải quyết vấn
đề...; giúp trẻ phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội, thẩm mỹ,
đặc biệt là mặt nhận thức.
Thứ nhất, TN cho trẻ thấy những thay đổi bất ngờ giống như làm ảo thuật
khiến trẻ vô cùng thích thú. Ví dụ như khi làm TN với nước bắp cải tím, trẻ chỉ cần
bỏ xà bông vào thì nước màu tím sẽ biến thành màu xanh, vắt chanh vào thì nước
màu tím lại chuyển sang màu hồng giống như là ảo thuật gia. Hơn nữa, việc trẻ
được tự mình thực hiện những thí nghiệm đơn giản hoặc tích cực tham gia cùng với
Cô, với bạn sẽ dẫn đến việc phát triển ham muốn nhận thức ở trẻ, khơi dậy ở trẻ tính
tò mò, lòng ham hiểu biết.
Thứ hai, thí nghiệm tạo ra nhiều cơ hội để rèn luyện và phát triển ở trẻ các kĩ
năng như quan sát, so sánh, dự đoán, nhận ra sự biến đổi... Điều này sẽ giúp trẻ hiểu
các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh luôn luôn biến đổi và điều này sẽ
thúc đẩy trẻ tìm hiểu nguyên nhân của những biến đổi và đặc biệt là thôi thúc trẻ dự
đoán kết quả trước khi tiến hành một TN nào đó. Đây chính là cơ sở để chúng tôi
nghiên cứu vai trò của thí nghiệm trong HĐKPKH.
Thứ ba, sau khi làm TN, GVMN thường cho trẻ “ghi chép” lại kết quả TN
bằng cách sử dụng những hình vẽ đơn giản hoặc ký hiệu để ghi nhớ hoặc mô tả quá
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
15


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
trình trẻ đã làm TN, hoặc “viết” lại kết quả thí nghiệm mà trẻ vừa làm xong. Điều
này sẽ giúp phát triển ở trẻ tư duy trực quan sơ đồ, một bước quan trọng để hình
thành và phát triển tư duy logic cho trẻ. Đồng thời, việc “ghi chép” này cũng chính
là tiền đề chuẩn bị cho sự lĩnh hội ngôn ngữ viết sau này.
Thứ tư, khi tham gia hoạt động thí nghiệm, trẻ buộc phải dự đoán, phải suy
luận, qua đó hình thành kỹ năng suy luận cho trẻ, phát triển tư duy logic, hình thành
ở trẻ kỹ năng thiết lập mối quan hệ nhân - quả. Đồng thời, khi tiến hành TN, trẻ cần
phải quan sát, mô tả và diễn đạt bằng lời sự biến đổi của sự vật hiện tượng khi trẻ
tác động tích cực vào và trẻ giải thích các hiện tượng xảy ra theo cách hiểu của trẻ.
Việc được mạnh dạn diễn đạt lại những gì trẻ biết, hiểu và đã được làm như thế này
không chỉ giúp phát triển ngôn ngữ mạnh lạc cho trẻ mà còn hình thành ở trẻ tính tự
tin, mạnh dạn và duy trì hứng thú của trẻ đối với các hoạt động nhận thức. Ngoài ra,
phần lớn các TN đều được tổ chức dưới hình thức hoạt động nhóm nên trẻ có nhiều
cơ hội để phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm
(phân công công việc, thỏa thuận, bàn bạc...). Đây là một trong những “ kĩ năng
mềm” rất cần thiết cho trẻ trong cuộc sống sau này.
Cuối cùng, TN là một dạng hoạt động thực hành. Do đó, nó giúp trẻ phát triển
khả năng ứng dụng hiểu biết vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo của trẻ. Đây
cũng chính là ưu điểm khá lớn của TN. Thông qua TN, trẻ thấy được ý nghĩa của
những gì mà trẻ đang làm, đang học và có cơ hội được vận dụng những hiểu biết
vừa có được qua TNvào thực tế. Ví dụ như sau khi làm thí nghiệm cây cần ánh sáng
để phát triển, trẻ có thể đi tìm những chậu cây nào đang được đặt ở những nơi
không có hoặc thiếu ánh sáng để mang ra ngoài nắng. Hoặc qua thí nghiệm làm ra
đất mùn, ‘thức ăn’ mà cây ưa thích nhất, cô và trẻ có thể tự làm ra đất mùn từ thức
ăn thừa của lớp, từ vỏ trái cây mà trẻ ăn tráng miệng, từ lá vàng của các chậu câu ở
góc thiên nhiên… và sau đó bón cho cây ở góc thiên nhiên…Hay sau khi làm thí
nghiệm ‘Cây thích uống loại nước nào nhất’ (nước thường, nước dấm, nước xà
bông, nước rửa rau/trái cây/thịt, nước xả quần áo…), trẻ biết nên tận dụng loại nước
nào để tưới cây và không nên dùng loại nước nào.

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
16


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Như vậy, TN giúp trẻ lĩnh hội những khái niệm ban đầu, những tri thức tiền
khoa học một cách chủ động và tích cực. Trẻ được tự tay thực hiện, được trực tiếp
quan sát hiện tượng xảy ra trong những điều kiện tự quy định, điều này sẽ mang lại
cho trẻ rất nhiều hứng thú và kích thích trẻ tiếp tục tìm tòi, khám phá những điều
mới mẻ trong thế giới xung quanh. Đồng thời, thông qua TN, trẻ nhận biết được sự
biến đổi không ngừng của các sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, điều này
thúc đẩy trẻ tìm hiểu nguyên nhân của sự biến đổi đó và cố gắng suy nghĩ, vận dụng
những kinh nghiệm, hiểu biết đã có để có thể dự đoán kết quả.
1.3. Cơ sở thực tiễn của các biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí
nghiệm trong HĐKPKH
Các bài tập được xây dựng dựa vào các tiêu chí đánh giá mức độ sử dụng TN
đã xác định (xem phụ lục). Khảo sát được tiến hành từ giữa tháng 11 năm 2017 đến
cuối tháng 11 năm 2017, tại trường Mầm non II – phường Thuận Thành – Thành
phố Huế. Quá trình khảo sát được tiến hành theo các bước như sau:
- Bước 1: Chọn địa bàn khảo sát, liên hệ với Ban giám hiệu, GV đứng lớp để
xin phép.
- Bước 2: Xây dựng bài tập đánh giá mức độ sử dụng TN của trẻ trước khảo
sát và tiến hành đánh giá khảo sát trên 16 GV ( Trường mầm non II ) để kiểm tra
tính khả thi, độ tin cậy của bài tập. Điều chỉnh bài tập.
- Bước 3: Xử lí kết quả
1.3.1. Vài nét về trường Mầm Non II – Thành phố Huế
Trường Mầm Non II, đóng trên địa bàn phường Thuận Thành, thành phố Huế.
Trường có 2 cơ sở: cơ sở chính tại số 41 Đinh Tiên Hoàng, cơ sở 2 tại số 30 Nguyễn
Biểu; gồm 20 nhóm, lớp, trong đó 03 nhóm trẻ, 17 lớp mẫu giáo thu nhận trên 700
trẻ trong các độ tuổi. Trường có tổng số 67 CB-GV-NV. Trong đó, có 03 CBQL, 41
giáo viên, 23 nhân viên.
Năm học 2017-2018 trường có 20 nhóm lớp, gồm 03 nhóm trẻ: 24- 36 tháng
tuổi, 04 lớp mẫu giáo bé (3- 4 tuổi), 05 lớp mẫu giáo nhỡ (4- 5 tuổi) và 08 lớp mẫu
giáo lớn (5- 6 tuổi). Trường có đầy đủ các phòng chức năng, đáp ứng yêu cầu
trường trọng điểm chất lượng cao của Thành phố Huế. Trường quy hoạch đủ các
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
17


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
loại vườn: vườn rau của bé với nhiều loạc rau tươi, sạch; vườn hoa đủ màu sắc;
vườn cổ tích với nhiều tượng nhân vật ngộ nghĩnh và sân trường được trồng nhiều
cây xanh, trang bị nhiều đồ chơi ngoài trời, cảnh quang môi trường “Thân thiện- an
toàn- xanh- sạch - đẹp” tạo điều kiện thuận lợi trong mọi sinh hoạt của trẻ.
Trường đạt Chuẩn quốc gia mức độ I năm 2004; Huân chương Lao động hạng
Ba năm 2005.
1.3.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc tổ chức cho trẻ MG 5 –
6 tuồi thí nghiệm trong khám phá khoa học ở trường MN II – Thành phố Huế
Số phiếu phát ra: 20, số phiếu thu được: 20. Tuy nhiên, có một số phiếu hỏi vì
trả lời không đầy đủ các mục và các câu nên số lượng phiếu sử dụng thống kê là 18.
Trên cơ sở phiếu trưng cầu ý kiến GVMN về biện pháp tổ chức cho trẻ MG 5 – 6
tuổi TN trong hoạt động KPKH, kết hợp với việc đàm thọai trao đổi và quan sát quá
trình tổ chức TN trong HĐKPKH, tôi thu được kết quả như sau:
- Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc sử dụng TN trong HĐKPKH cho
trẻ MG 5 – 6 tuổi
Có một tỉ lệ đáng kể (27,78%) được hỏi cho rằng việc sủ dụng TN trong
HĐKPKH cho trẻ 5 – 6 tuổi là rất cần thiết. Một nữa ý kiến cho rằng (50,00%) cho
rằng việc này là cần thiết. Phần còn lại (22,32%) cho rằng việc này bình thường.
Kết quả này cho thấy, 77,78%GV được hỏi đều nhận thức rõ mức độ cần thiết của
việc sử dụng TN trong HĐKPKH bởi vì đây là một hoạt động rất quan trọng và cần
thiết cho trẻ và nội dung, mục đích yêu cầu của nó cũng đã được thể hiện rất rõ
trong chương trình GDMN đổi mới 2016.
- Nhận thức của GV về ý nghĩa của việc tổ chức TN trong HĐKPKH đối với
sự phát triển nhận thức của trẻ.
Bảng 1.1. Ý nghĩa việc tổ chức TN trong HĐKPKH đối với sự phát triển nhận
thức của trẻ
TT

Ý nghĩa

TC
Ít quan
trọng

Mức độ quan trọng
Bình
Quan trọng
thường

Rất quan
trọng

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
18


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi

1

2

3

4

5

6

7

8

Phát triển ham muốn
nhận thức ở trẻ, khơi
dậy ở trẻ tính tò mò,
lòng ham hiểu biết.
Tạo ra nhiều cơ hội để
rèn luyện và phát triển ở
trẻ các KN như quan sát,
so sánh, dự đoán, nhận
ra sự biến đổi
Phát triển ở trẻ các biểu
tượng về thế giới xung
quanh theo hướng
logic.
Giúp phát triển ở trẻ tư
duy trực quan sơ đồ,
một bước quan trọng để
hình thành và phát triển
tư duy logic cho trẻ.
Hình thành kỹ năng suy
luận cho trẻ, hình thành
ở trẻ kỹ năng thiết lập
mối quan hệ nhân quả.
Giúp phát triển ngôn
ngữ mạnh lạc cho trẻ,
hình thành ở trẻ tính tự
tin, mạnh dạn.
Phát triển kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng hợp
tác, kỹ năng làm việc
theo nhóm
Phát triển khả năng ứng
dụng hiểu biết vào thực
tiễn, phát triển khả
năng sáng tạo của trẻ.

SL

%

SL

%

SL

%

SL

18

1

5,56

5

27,78

11

61,11

1

18

1

2

11,11

10

55,56

5

18

3

16,67

5

27,78

9

50,00

1

18

2

11,11

4

22,22

11

61,11

1

18

1

5,56

4

22,22

10

55,56

3

16,67

18

0

0

3

16,67

9

50,00

6

33,33

18

2

11,11

2

11,11

7

38,89

7

38,89

18

1

5,56

1

5,56

11

61,11

5

27,78

5,56

%
5,56

27,78

5,56

5,56

Qua bảng 1.1 cho thấy đa số GV đều cho việc tổ chức TN trong HĐKPKH là
quan trọng đối với sự phát triển nhận thức của trẻ.
- Nhận thức của GV về những tiêu chí đánh giá kết quả việc sử dụng TN của
trẻ
Bảng 1.2. Những tiêu chí để đánh giá kết quả việc sử dụng TN của trẻ
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
19


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Mức độ quan trọng
Ít quan
TT

Tiêu chí

TC

trọng

Bình thường

Quan trọng

Rất quan
trọng

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

18

3

16,67

6

33,33

9

50,00

0

0

18

1

5,56

3

16,67

13

72,22

1

5,56

0

0

3

16,67

10

55,56

5

27,78

0

0

2

11,11

13

72,22

3

16,67

0

0

0

0

12

66,67

6

33,33

0

0

1

5,56

11

61,11

6

33,33

Dự đoán mục
1

đích, cách tiến
hành, kết quả thí
nghiệm:
Thực hiện các

2 thao tác thí
nghiệm
Quan sát, phát
3 hiện hiện tượng

18

xảy ra
Giải thích hiện
4 tượng

5

18

Rút ra kết luận

18

Liên hệ, ứng
6 dụng kiến thức

18

vào thực tế

Từ bảng 1.2, có thể thấy rõ được tiêu chí để đánh giá kết quả sử dụng TN của
trẻ đều dựa vào dự đoán mục đích, cách tiến hành, kết quả TN, thực hiện các thao
tác TN, quan sát, phát hiện hiện tượng xảy ra, giải thích hiện tượng, rút ra kết luận
để từ đó liên hệ , ứng dụng kiến thức vào thực tế.
- Yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng TN của trẻ.
Bảng 1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng TN của trẻ
T

Yếu tố ảnh hưởng

TC

Mức độ ảnh hưởng

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
20


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
T

1
2
3

4

Bình

Ít
Khả năng tri giác, chú
ý
Khả năng ghi nhớ,
tưởng tượng
Vốn biểu tượng về thế
giới xung quanh
Khả năng định hướng
trong không gian, thời

thường
SL
%

SL

%

18

0

0

3

18

2

11,11

18

0

18

Nhiều
SL

%

Rất nhiều
SL

%

16,67 10 55,56

5

27,78

3

16,67

9

50,00

4

22,22

0

3

16,67

6

33,33

9

50,00

1

5,56

3

16,67 10 55,56

4

22,22

18

1

5,56

5

27,78 10 55,56

2

11,11

18

1

5,56

2

11,11 10 55,56

5

27,78

gian
Các thao tác tư duy
5

như phân tích, tổng
hợp, so sánh, khái quát
hóa, hệ thống hóa…
Cách thức tổ chức các

6

hoạt động vui chơi,
sinh hoạt, học tập cho
trẻ của giáo viên

Từ bảng 1.3, cho thấy đa số GV đều cho rằng các yếu tố ảnh hường đến kĩ
năng TN của trẻ rất nhiều. Cụ thể như khả năng tri giác, chú ý, vốn biểu tượng về
thế giới xung quanh và cách thức tổ chức hoạt động vui chơi, sinh hoạt, học tập cho
trẻ của GV có 83,34 % GV lựa chọn mức độ ảnh hưởng nhiều dến rất nhiều. Bên
canh đó, thì yếu tố anht hường là khả năng ghi nhớ, tưởng tượng, khả năng định
hượng trong không gian và các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh,
khía quát hóa, hệ thống hóa cũng chiếm trên 70 % sự đồng tình của các GV.
Tuy nhiên, khi khảo sát mức độ sử dụng TN của trẻ thì có 22,22% GV cho
rằng trẻ biết sử dụng TN ở mức độ cao, có đến 50 % GV cho rằng trẻ biết sử dụng
ở mức bình thường và 27,78 % còn lại thì GV nghĩ rằng trẻ chỉ biết sử dụng TN ở
mức độ thấp.

SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
21


Bài tiểu luận
GVHD: ThS. Trần Viết Nhi
Kết quả kháo sát cho thấy GV rất chú trọng việc tổ chức TN trong HĐKPKH
và đánh giá cao khả năng tham gia hoạt động KPKH của trẻ.
1.3.3. Thực trạng tổ chức cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thí nghiệm trong hoạt
động KPKH của giáo viên mầm non ở trường MN II – Thành phố Huế.
- Nhiệm vụ của GV trong quá trình tổ chức TN cho trẻ.
Bảng 1.4 Nhiệm vụ của GV trong quá trình tổ chức TN cho trẻ
Mức độ thực hiện
T
T

Nhiệm vụ

TC

Hiếm khi

Thỉnh
thoảng

Thường
xuyên

SL

%

SL

%

SL

%

Rất
thường
xuyên
S
%
L

1

Cung cấp và chính xác
hóa các biểu tượng về
thế giới xung quanh và
các thông tin

18

1

5,56

2

11,1
1

9

50,0
0

6

33,33

2

Rèn luyện các thao tác
thí nghiệm

18

0

0

3

16,6
7

11

61,1
1

4

22,22

3

Rèn luyện khả năng
quan sát thí nghiệm

18

0

0

2

11,1
1

12

67,6
7

4

22,22

4

Rèn luyện khả năng
giải thích hiện tượng

18

2

11,1
1

8

44,4
4

6

33,3
3

2

11,11

5

Giáo dục thái độ tích
cực, độc lập trong quá
trình thực hiện các
nhiệm vụ nhận thức

18

0

0

2

11,1
1

6

33,3
3

10 55,56

Hầu hết GV khi được hỏi cho rằng các nhiệm vụ như cung cấp và chính xác
hóa các biểu tượng về thế giới xung quanh và các thông tin (83,33 %), rèn luyện các
thao tác TN (93,33 %), rèn luyện kĩ năng quan sát TN và giáo dục thái độ tích cực,
độc lập trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nhận thức (88,89 %) đều được GV
thực hiện ở mức độ thường xuyên và rất thường xuyên trong quá trình tổ chức TN
cho trẻ. Nhưng ở nhiệm vụ Rèn luyện khả năng giải thích hiện tượng có hơn 50% ý
kiến của GV cho rằng hiếm khi hoặ tỉnh thoảng thực hiện nhiệm vụ này.
SVTH: Nguyễn Thị Hướng – GDMN 3A
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×