Tải bản đầy đủ

Kế toán quản trị hàng tồn kho công ty Thảo Nguyên

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI THẢO NGUYÊN

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Hoàng Thái
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Trâm Anh
Mã sinh viên: 15053745
Khoa: Kế toán kiểm toán
Khóa QH 2015E

Hà Nội, 2018
Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


2


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, với tình cảm chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo
Thạc Sĩ Nguyễn Hoàng Thái đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình
thực hiện đề tài niên luận của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Kinh tế, đặc
biệt là các thầy cô giáo khoa Kế toán kiểm toán đã tận tình truyền đạt kiến
thức cho em trong suốt các năm tháng học tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn các anh các chị nhân viên của công ty TNHH tư
vấn đầu tư BSA đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc cung cấp những thông
tin liên quan đến tình hình tài chính, công tác quản trị hàng tồn kho của công
ty Thảo Nguyên, cũng như góp ý kiến trong quá trình thực tập tại doanh
nghiệp tạo điều kiện cho em hoàn thành bài niên luận này.
Trong quá trình thực tập cũng như trong quá trình làm niên luận luận, do trình
độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên trong niên luận
luận khó tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý
thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm cũng như niên luận của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 08 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Trâm Anh
Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


3

LỜI NÓI ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong xu thế hiện nay khi Việt
Nam đã gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), để có thể tồn tại
và phát triển thì mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo tự chủ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình và phải có lợi nhuận. Muốn thực hiện được điều đó
các doanh nghiệp phải quan tâm đến tất cả các khâu nhằm đáp ứng tốt nhất
nhu cầu của xã hội đồng thời nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, bảo
đảm tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, thương mại… thì hàng tồn kho là một
yếu tố rất quan trọng trong doanh nghiệp, vì vậy việc hạch toán đúng hàng tồn


kho không chỉ giúp cho doanh nghiệp có 1 lượng vật tư, hàng hóa dự trữ đúng
mức, không dự trữ quá nhiều gây ứ đọng vốn, mặt khác không dự trữ quá ít
để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục không bị gián đoạn.
Quản trị hàng tồn kho là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi nhà quản
lý doanh nghiệp phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp quản lý vào
thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó, hàng tồn kho lại
bao gồm rất nhiều thành phần với đặc điểm khác nhau, số lượng khác nhau,
mỗi thành phần lại có độ tương thích khác nhau. Vì thế, doanh nghiệp cần
luôn quan tâm đến hoạt động quản trị hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
Công tác quản lý hàng tồn kho tuy rất quan trọng có tác động mạnh mẽ
tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng chưa thực sự được quan tâm
đúng mức tại các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, em chọn đề tài “Kế toán

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


4

quản trị hàng tồn kho tại công ty cổ phần sản xuất thương mại Thảo Nguyên”
để viết niên luận.
Xuất phát từ yêu cầu khách quan nêu trên, việc nghiên cứu đề tài của
niên luận có ý nghĩa khoa học, mang tính thực tiễn và rất cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Đồng thời đây cũng là tài liệu góp
phần nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý tồn kho
nguyên vật liệu của các công ty vật tư thiết bị nói chung và vật tư thiết bị môi
trường nói riêng.
Mục đích nghiên cứu
+

Thông qua các nội dung được nghiên cứu đề tài có thể tìm hiểu rõ
hơn về công tác quản trị hàng tồn kho tại công ty Thảo Nguyên

+

Làm rõ hơn các vấn đề tổng quan về quản trị hàng tồn kho;

+

Phân tích thực trạng công tác quản trị hàng tồn kho tại Công ty;

+

Đưa ra những giải pháp, mô hình tối ưu, phù hợp nhất với tình hình
của công ty góp phần làm giảm chi phí tồn kho cũng như nâng cao
hiệu quả trong công tác quản trị hàng tồn kho của công ty trong thời
gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+

Đối tượng nghiên cứu: Quản trị hàng tồn kho trong công ty cổ phần
sản xuất thương mại Thảo Nguyên.

+

Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến công tác quản trị
hàng tồn kho của công ty Thảo Nguyên.

Phương pháp nghiên cứu
Niên luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập số liệu
Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


5

Số liệu thứ cấp:
- Tham khảo sách báo, tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu;
- Thu thập số liệu thực tế .
Phương pháp xử lý số liệu
Thống kê, phân tích, so sánh và suy luận logic để tổng hợp các số liệu, dữ
kiện nhằm xác định những phương án, giải pháp được lựa chọn.
Kết cấu của niên luận
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, niên luận được
kết cấu thành 3 phần:
Phần I: Tổng quan cơ sở lý luận về quản trị hàng tồn kho trong doanh
nghiệp
Phần II: Thực trạng về công tác quản trị hàng tồn kho tại công ty Thảo
Nguyên
Phần III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị hàng tồn kho tại công ty
Thảo Nguyên

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


6

MỤC LỤC

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


7

PHẦN 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HÀNG TỒN
KHO TRONG DOANH NGHIỆP
1.1

Hàng tồn kho

1.1.1 Khái niệm hàng tồn kho
Theo Chuẩn mực Kế toán số 02 ban hành kèm theo Quyết định số 149/
2001/ QĐ – BTC ngày 31/ 12/ 2001của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thì hàng tồn
kho là tài sản: Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường;
Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang; Nguyên liệu, vật liệu,
công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất – kinh doanh hoặc cung
cấp dịch vụ.
Đối với doanh nghiệp thì hàng tồn kho giữ một vị trí quan trọng trong
công tác quản trị doanh nghiệp. Tồn kho xuất phát từ chính yêu cầu sản xuất
và lưu thông hàng hóa, hàng hóa tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài
sản của doanh nghiệp (40 – 50%).
Đối với lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp mua hàng để bán thu lợi
nhuận. Hàng tồn kho của họ chủ yếu là hàng mua về và hàng chuẩn bị đến tay
người tiêu dùng. Trong lĩnh vực này, doanh nghiệp hầu như không có dự trữ
là bán thành phẩm trên dây chuyền như trong lĩnh vực sản xuất.
Đối với lĩnh vực sản xuất chế tạo, sản phẩm của họ phải trải qua một
quá trình chế biến lâu dài để biến đầu vào là nguyên liệu thành sản phẩm làm
ra cuối cùng. Vì thế hàng tồn kho bao gồm hầu hết các loại, từ nguyên vật
liệu, đến bán thành phẩm trên dây chuyền và bán thành phẩm cuối cùng trước
khi đến tay người tiêu dùng.

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


8

1.1.2 Đặc điểm, phân loại và chức năng của hàng tồn kho
 Đặc điểm của hàng tồn kho
+

Trong doanh nghiệp sản xuất và thương mại, hàng tồn kho

thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của đơn vị và thường là khoản
mục rất lớn trong tài tải ngắn hạn của doanh nghiệp.
+

Số lượng và chủng loại của hàng tồn kho rất phong phú, số lượng

nghiệp vụ phát sinh trong kỳ rất nhiều với giá trị lớn và thường liên quan đến
nhiều chứng từ.
+

Hàng tồn kho có khả năng bị giảm giá so với giá trị sổ sách rất

nhiều do hao mòn hữu hình và vô hình nên dễ bị mất giá, hư hỏng hay lỗi
thời.
+

Hàng tồn kho thường được bố trí ở các địa điểm khác nhau thậm

chí có thể phân tán ở nhiều bộ phận và do rất nhiều người ở các bộ phận khác
nhau quản lý.
 Phân loại hàng tồn kho
Hàng lưu kho trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, đa dạng về chủng loại,
khác nhau về đặc điểm, tính chất thương phẩm, điều kiện bảo quản, nguồn
hình thành có vai trò công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Để quản lý tốt, tính đúng, tính đủ giá gốc hàng tồn kho cần phân loại,
sắp xếp hàng tồn kho theo tiêu thức nhất định.
Theo chuẩn mực 02 – hàng tồn kho được phân thành
+

Hàng hóa để mua bán

+

Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


9

+

Sản phẩm dở dang và chi phí dich vụ chưa hoàn thành

+

Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ

 Chức năng của hàng tồn kho
+

Tồn kho hàng cung ứng: đảm bảo sự cân bằng giữa chi phí vận

chuyển và chi phí mua hàng.
+

Tồn kho thành phẩm: cho phép thích ứng với sự thay đổi nhu cầu

của khách hàng .
+

Tồn kho dụng cụ và linh kiện: Cần thiết cho dịch vụ hậu mãi và

bảo trì của doanh nghiệp.

1.1.3 Phương pháp hạch toán hàng tồn kho
 Phương pháp kê khai thường xuyên:
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản
ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn vật tư, hàng
hóa trên sổ kế toán. Trong trường hợp áp dụng phương pháp kê khai thường
xuyên, các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để phản ánh số hiện có,
tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa. Vì vậy, giá trị hàng tồn
kho trên sổ kế toán có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế
toán.
Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế hàng tồn kho, so
sánh, đối chiếu với số liệu hàng tồn kho trên sổ kế toán. Về nguyên tắc số tồn
kho thực tế phải luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán. Nếu có chênh
lệch phải truy tìm nguyên nhân và có giải pháp xử lý kịp thời. Phương pháp
kê khai thường xuyên thường áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất (công
Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


10

nghiệp, xây lắp...) và các doanh nghiệp thương nghiệp kinh doanh các mặt
hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, hàng có kỹ thuật, chất lượng cao...

 Phương pháp kiểm kê định kỳ:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết
quả kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ vật tư, hàng hóa trên
sổ kế toán tổng hợp và từ đó tính giá trị của hàng hóa, vật tư đã xuất trong kỳ
theo công thức:
Trị giá hàng xuất kho trong kỳ = Trị giá HTK đầu kỳ + Tổng trị giá
hàng nhập kho trong kỳ - Trị giá HTK cuối kỳ

Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, mọi biến động của vật tư, hàng
hóa (nhập kho, xuất kho) không theo dõi, phản ánh trên các tài khoản kế toán
hàng tồn kho. Giá trị của vật tư, hàng hóa mua và nhập kho trong kỳ được
theo dõi, phản ánh trên một tài khoản kế toán riêng (tài khoản 611 “Mua
hàng”).
Công tác kiểm kê vật tư, hàng hóa được tiến hành cuối mỗi kỳ kế toán
để xác định trị giá vật tư, hàng hóa tồn kho thực tế, trị giá vật tư, hàng hóa
xuất kho trong kỳ (tiêu dùng cho sản xuất hoặc xuất bán) làm căn cứ ghi sổ kế
toán của tài khoản 611 “Mua hàng”. Như vậy, khi áp dụng phương pháp kiểm
kê định kỳ, các tài khoản kế toán hàng tồn kho chỉ sử dụng ở đầu kỳ kế toán
(để kết chuyển số dư đầu kỳ) và cuối kỳ kế toán (để phản ánh giá trị thực tế
hàng tồn kho cuối kỳ).

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


11

Phương pháp kiểm kê định kỳ thường áp dụng ở các doanh nghiệp có
nhiều chủng loại hàng hóa, vật tư với quy cách, mẫu mã rất khác nhau, giá trị
thấp, hàng hóa, vật tư xuất dùng hoặc xuất bán thường xuyên (cửa hàng bán
lẻ...). Phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho có ưu điểm là đơn giản,
giảm nhẹ khối lượng công việc hạch toán. Nhưng độ chính xác về giá trị vật
tư, hàng hóa xuất dùng, xuất bán bị ảnh hưởng của chất lượng công tác quản
lý tại kho, quầy, bến bãi.
1.2 Quản trị hàng tồn kho
1.2.1 Khái niệm và chức năng của quản trị hàng tồn kho
 Khái niệm:
Quản trị hàng tồn kho là một tập hợp các thủ tục xác định bao nhiêu
hàng tồn kho sẽ được bổ sung, mỗi lần có số lượng ra sao, thời điểm nào, các
máy móc thiết bị, nhân sự thực hiện các thủ tục một cách có hiệu quả và là
một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp.
 Chức năng của quản trị hàng tồn kho:
+

Đảm bảo cho hàng hóa có đủ số lượng và cơ cấu, không làm cho
quá trình bán ra bị gián đoạn, góp phần nâng cao chất lượng kinh
doanh và tránh bị ứ đọng hàng hóa.

+

Đảm bảo giữ gìn hàng hóa về mặt giá trị và giá trị sử dụng, góp
phần làm giảm hư hỏng, mất mát hàng hóa gây tổn thất về tài sản
cho doanh nghiệp.

+

Đảm bảo cho lượng vốn danh nghiệp tồn tại dưới hình thái vật
chất ở mức độ tối ưu nhằm tăng hiệu quả vốn hàng hóa và góp phần
làm giảm chi phí bảo quản hàng hóa.

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


12

+

Cung cấp một cơ sở khoa học để lên kế hoạch ngắn và dài hạn
cho việc mua hàng hóa và nguyên vật liệu.

+

Đảm bảo có thể kịp thời bổ sung những nguồn lực trong sản
xuất.

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị hàng tồn kho
 Các nhân tố khách quan
+

Yếu tố lạm phát

+

Môi trường chính sách pháp luật

+

Môi trường văn hóa xã hội

+

Khách hàng
 Các nhân tố chủ quan

+

Hệ thống và chu kỳ vân chuyển hàng tồn kho trong công ty

+

Quy mô kinh doanh

+

Vốn

+

Cơ sở vật chất kĩ thuật

1.2.3 Các chi phí liên quan đến lưu giữ hàng tồn kho
 Chi phí đặt hàng:

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


13

Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển và chi
phí giao nhận hàng. Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi
lần đặt hàng;
Khi doanh nghiệp đặt hàng từ nguồn cung cấp bên ngoài, chi phí đặt
hàng bao gồm chi phí chuẩn bị yêu cầu mua hàng, chi phí để lập đơn đặt hàng
như chi phí thương lượng (gọi điện thoại xa, thư giao dịch), chi phí nhận và
kiểm tra hàng hóa, chi phí vận chuyển;
Trong trường hợp đơn đặt hàng được cung cấp từ nội bộ doanh nghiệp
thì chi phí đặt hàng chỉ bao gồm chi phí sản xuất, chi phí phát sinh khi khấu
hao máy móc và duy trì hoạt động sản xuất;
Trên thực tế, chi phí cho mỗi đơn đặt hàng thường bao gồm các chi phí
cố định và chi phí biến đổi, bởi một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng như chi phí
giao nhận và kiểm tra hàng thường biến động theo số lượng hàng đặt mua.
 Chi phí mua hàng:
Chi phí mua hàng là chi phí cần có để mua hoặc sản xuất ra hàng hóa tồn kho.
Chi phí này được tính bằng cách lấy chi phí một đơn vị hàng hóa nhân với số
lượng hàng mua về hoặc sản xuất ra. Trong trường hợp doanh nghiệp được
hưởng chiết khấu thương mại từ nhà cung cấp thì chi phí mua hàng là giá của
lô hàng sau khi trừ đi phần chiết khấu thương mại được hưởng.
 Chi phí lưu kho:
Chi phí lưu kho bao gồm tất cả chi phí lưu giữ hàng trong kho trong
một khoảng thời gian xác định trước. Các chi phí thành phần của chi phí lưu
kho là: chi phí cất giữ và chi phí bảo quản, chi phí hư hỏng và chi phí thiệt hại

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


14

do hàng tồn kho bị lỗi thời, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí đầu tư vào
hàng tồn kho. Cụ thể như sau:
+

Chi phí cất giữ, bảo quản bao gồm trong đó là chi phí kho hàng.

Nếu doanh nghiệp thuê kho thì chi phí này bằng với tiền thuê phải trả. Nếu
nhà kho thuộc sở hữu của doanh nghiệp thì chi phí này bằng với chi phí cơ
hội sử dụng nhà kho này. Ngoài ra, chi phí cất giữ và bảo quản cũng gồm chi
phí khấu hao các thiết bị hỗ trợ cho hoạt động kho như bằng chuyền, xe nâng
chuyên dụng, chi phí trả lương cho nhân viên bảo vệ kho và nhân viên điều
hành;
+

Chi phí lỗi thời thể hiện cho sự giảm sút giá trị hàng trong kho

do tiến bộ khoa học kỹ thuật hay thay đổi kiểu dáng và tất cả những tác động
này làm cho hàng tồn kho trở nên khó có thể bán được. Chi phí hư hỏng thể
hiện sự giảm giá trị của hàng tồn kho do các tác nhân lý hóa như chất lượng
hàng hóa bị biến đổi hoặc gãy vỡ;
+

Chi phí bảo hiểm là để đề phòng trước các hiểm họa như mất

cắp, hỏa hoạn, thảm họa do tự nhiên gây ra;
+

Chi phí thuế là chi phí cho các loại thuế tài sản và các loại thuế

khác tính trên giá trị hàng tồn kho theo quy định của từng địa phương và
chính phủ mà theo đó doanh nghiệp phải tuân theo;
+

Chi phí đầu tư vào hàng tồn kho gồm những chi phí tài chính như

chi phí sử dụng vốn, chi phí trả lãi vay để dự trữ hàng tồn kho, chi phí cơ hội
do ứ đọng vốn trong hàng tồn kho đặc biệt là với hàng tồn kho không hữu ích
hoặc bị dự trữ dư thừa. Điều đáng chú ý là chi phí cơ hội đầu tư vào hàng tồn
kho không thể tính đơn thuần bằng cách sử dụng lãi vay ngắn hạn mà phải là
khả năng sinh lời bị mất đi khi doanh nghiệp quyết định đầu tư nguồn vốn có
giới hạn vào hàng tồn kho. Do đó, đối với hầu hết quyết định đầu tư vào hàng
Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


15

tồn kho, chi phí cơ hội xấp xỉ như chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh
nghiệp.
+

Chi phí lưu kho được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị

hàng lưu kho hoặc được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho
trong một thời kỳ. Chi phí lưu kho có thể được xem như là một chi phí đáng
kể khi thực hiện kinh doanh. Thông thường, chi phí lưu kho hàng năm dao
động từ 20% đến 45% tính trên giá trị hàng tồn kho cho hầu hết các doanh
nghiệp. Cũng giống như chi phí đặt hàng, chi phí lưu kho cũng bao gồm các
chi phí cố định và chi phí biến đổi. Gần như tất cả các chi phí lưu kho biến
động tỷ lệ theo mức độ hàng tồn kho, chỉ có chi phí thuê kho hoặc chi phí
khấu hao các thiết bị được sử dụng trong kho là tương đối ổn định trong thời
gian ngắn. Vì vậy, chi phí lưu kho được xem như chi phí biến đổi trên mỗi
đơn vị hàng tồn kho.
 Chi phí thiệt hại khi không có hàng (hàng tồn kho hết):
Chi phí thiệt hại do hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp
không có khả năng giao hàng bởi nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng dự trữ
trong kho.
+

Khi nguyên vật liệu trong kho hết, chi phí thiệt hại do không có

nguyên vật liệu bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do
ngừng trệ sản xuất;
+

Khi tồn kho sản phẩm dở dang hết thì doanh nghiệp sẽ bị thiệt

hại do kế hoạch sản xuất bị thay đổi và nó cũng có thể là nguyên nhân gây ra
những thiệt hại do sản xuất bị ngừng trệ;
+

Khi tồn kho thành phẩm hết có thể gây nên hậu quả là lợi nhuận

bị mất đi trong ngắn hạn nếu khách hàng quyết định mua sản phẩm từ những

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


16

doanh nghiệp đối thủ và gây nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn khi
khách hàng quyết định đặt hàng từ những doanh nghiệp khác trong tương lai.

1.2.4 Nội dung về quản trị hàng tồn kho
 Quản trị hiện vật của tồn kho
Quản trị tốt về mặt vật chất của tồn kho bảo đảm cho khách hàng của doanh
nghiệp một "mức độ dịch vụ tốt" và có thể tạo ra lợi thế so với các đối thủ.
Những nguyên tắc cơ bản của kho hàng
+

Trong các doanh nghiệp sản xuất, người ta chia thành kho thành

phẩm, kho nguyên vật liệu, kho các bộ phận linh kiện, kho dụng cụ đồ nghề...
Trong các doanh nghiệp thương nghiệp bán buôn hoặc bán lẻ, hàng hóa được
dự trữ ở các kho tạm giữ hoặc là các kho dự trữ, nhưng cũng cả ở diện tích
bán. Những kho này là cần thiết, do hàng hóa phải được bảo vệ chống ăn
trộm, chống thời tiết xấu, chống nóng, ẩm và chống những biến dạng…
Những cơ sở dự trữ cần phải kín và phù hợp với từng loại sản phẩm, hàng
hóa, vật tư cần được bảo vệ. Địa điểm kho dự trữ cần phải được bố trí sao cho
việc vận chuyển tối thiểu và dễ dàng cho việc nhập, xuất các hàng hóa.
+

Mã hóa và phương pháp xếp đặt các sản phẩm tồn kho: Để thuận lợi

cho công tác tồn kho và tăng tốc độ giải phóng kho, doanh nghiệp cần phải
xác định sản phẩm một cách nhanh chóng. Giải pháp đơn giản nhất là sử dụng
tên gọi của chúng, nhưng cách gọi tên này thường ít được sử dụng, đặc biệt
khi chúng gồm những chỉ dẫn kỹ thuật hoặc kích cỡ, do đó doanh nghiệp
thường sử dụng một bộ mã số (chẳng hạn như: 1234) hoặc cả chữ cái và số
cho mỗi mặt hàng dự trữ.

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


17

 Quản trị kế toán tồn kho.
 Xác định số lượng dự trữ:
Doanh nghiệp sử dụng các phiếu kho để ghi chép sự vận động của hàng
hóa (nhập và xuất) và tính toán số lượng tồn kho (dự trữ cuối cùng = dự trữ
ban đầu + nhập - xuất)
Kiểm kê: Phiếu kho cho phép nắm được hàng tồn trong kho về mặt
giấy tờ, nhưng nó không thể tính được những mất mát hoặc hư hỏng ở tất cả
các dạng. Để khắc phục điều này, quy định các doanh nghiệp thực hiện cần
kiểm kê một cách thường xuyên (kế toán), hoặc gián đoạn (ngoài kế toán).
Việc kiểm kê này là cơ sở để đánh giá dự trữ được biểu thị ở bảng cân đối,
cho phép nhà quản trị biết được bất cứ lúc nào về tình hình dự trữ của họ.
Việc kế toán này của dự trữ là khá dễ dàng về số lượng hiện vật, nhưng có
nhiều khó khăn về giá trị.
 Xác định giá trị dự trữ
Hàng ngày vật tư, hàng hóa nhập kho được kế toán ghi nhận theo giá thực tế
nhưng đơn giá, thời điểm các lần nhập khác nhau là khác nhau. Do đó vấn đề
cần phải định giá cho chúng khi xuất kho theo giá nào và phương pháp mà
công ty áp dụng trong chế độ kế toán. Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện
hành doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá sau để
áp dụng cho việc tính giá thực tế xuất kho cho tất cả các loại hàng tồn kho
hoặc cho riêng từng loại:

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


18

+

Phương pháp tính giá thực tế đích danh.

+

Phương pháp giá bình quân gia quyền.

+

Phương pháp giá nhập trước xuất trước (FIFO).

+

Phương pháp giá nhập sau xuất trước (LIFO).

Mỗi phương pháp tính giá thực tế xuất, nhập kho của vật tư, hàng hóa đều
có những ưu nhược điểm nhất định với mức độ chính xác và tin cậy tùy thuộc
vào yêu cầu quản lý và năng lực nghiệp vụ của các kế toán viên và trang thiết
bị xử lý thông tin của doanh nghiệp.
Công thức chung:
Giá thực tế vật tư, hàng hóa = Số lượng vật tư, hàng hóa xuất kho * Đơn giá
thực tế
Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp để áp dụng cần chú trọng tới ảnh
hưởng của từng phương pháp đối với bảng tổng kết tài sản và bảng kê lợi
nhuận của doanh nghiệp.
 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của quản trị hàng tồn kho
 Chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển hàng tồn kho

Hệ số quay vòng hàng tồn kho cho biết trong một năm hàng tồn kho quay
vòng được bao nhiêu lần. Hệ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý hàng
tồn kho có hiệu quả, không bị ứ đọng vốn và ngược lại. Tuy nhiên muốn đánh
giá chính xác, doanh nghiệp phải so sánh hệ số này với hệ số trung bình của
ngành vì hàng tồn kho mang tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


19

cứ hệ số quay vòng hàng tồn kho cao là tốt, hệ số quay vòng hàng tồn kho
thấp là xấu.

 Chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho=

Hệ số này cho biết trung bình để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao
nhiêu đồng vốn đầu tư cho hàng tồn kho. Hệ số này càng thấp chứng tỏ hiệu
quả vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho càng cao.

 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi của hàng tồn kho
Khả năng sinh lợi của hàng tồn kho =

Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng hàng tồn kho sẽ tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế. Khả năng sinh lợi
của hàng tồn kho càng cao chứng tỏ hàng tồn kho được sử dụng càng hiệu
quả.

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


20

PHẦN 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI
THẢO NGUYÊN

2.1

Tổng quan về công ty cổ phần sản xuất và thương mại Thảo
Nguyên

2.1.1

Giới thiệu chung
Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần sản xuất thương mại Thảo Nguyên
Mã số thuế: 0800754528
Tình trạng hoạt động: Đang hoạt động (đã được cấp GCN ĐKT)
Nơi đăng ký quản lý: Chi cục Thuế Huyện Kim Thành
Địa chỉ: Đội 13 thôn Thiên Đông, Xã Kim Tân, Huyện Kim Thành, Hải

Dương
Điện thoại: 03203724632
Đại diện pháp luật: Lê Mạnh Cương
Địa chỉ người ĐDPL: Đội 13 thôn Thiên Đông-Xã Kim Tân-Huyện
Kim Thành-Hải Dương
Giám đốc: Lê Mạnh Cương
Ngày cấp giấy phép: 11/11/2009
Ngày bắt đầu hoạt động: 15/11/2009
Ngày nhận TK: 11/11/2009

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


21

Năm tài chính: 2009
Số lao động: 40
Cấp Chương Loại Khoản: 3-754-190-194
Ngành nghề kinh doanh: G4641 Bán buôn vải, hàng may sẵn, giày dép
(Ngành chính)
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty cổ phần sản xuất thương mại Thảo Nguyên là công ty do ông
Lê Mạnh Cương (hiện đang là giám đốc công ty cổ phần sản xuất thương mại
Thảo Nguyên) thành lập với số vốn góp là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu
đồng). Công ty được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh vào ngày 11/11/2009.
Được thành lập trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn nhiều khó
khăn và bị ảnh hưởng không nhỏ bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, việc
kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn. Thứ nhất, do nền kinh tế suy
thoái, người dân chi tiêu tiết kiệm hơn trước nên việc tìm kiếm đầu ra cho sản
phẩm là một vấn đề lớn. Thứ hai, do công ty mới thành lập nên cần một
khoảng thời gian khá dài để gây dựng uy tín với khách hàng.
Lúc mới thành lập năm 2009, công ty chỉ có 5 nhân viên nhưng đến hết
năm 2017 số lượng nhân viên đã lên tới con số 55. Hiện nay, năng lực lao
động và trình độ của nhân viên ngày càng được cải thiện hơn so với trước đây.

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


22

2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty

Giám đốc

Phó giám đốc

Bộ phận sản xuất

2.2

Bộ phận
kho

Phòng tài chính
– kế toán

Bộ phận
bán hàng

Thực trạng công tác quản lý hàng tồn kho tại công ty cổ phần sản
xuất thương mại Thảo Nguyên

Hàng tồn kho chủ yếu của Urenco 13 là các loại giày dép, phụ gia chế tạo,
nguyên vật liệu…

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


23

(Số liệu lấy từ phòng Tài chính-Kế toán của công ty Thảo Nguyên)

Việc phân loại hàng tồn kho gắn với quá trình quản lý với từng khâu của
quá trình sản xuất kinh doanh đảm bảo quá trình quản lý chặt chẽ và có hiệu
quả. Trong quá trình phân loại hàng tồn kho, bộ phận kho tiến hành phân loại
cụ thể như sau:
+

Hàng mua đang đi đường:

+

Hàng hoá

+

Nguyên vật liệu

+

Thành phẩm

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


24

Hiện nay, hàng tồn kho của công ty được tính theo giá gốc.Giá gốc
hàng tồn kho bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan
trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện
tại.
Giá gốc hàng tồn kho mua ngoài bao gồm giá mua, các loại thuế không
được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua
hàng và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho.
Giá gốc của hàng tồn kho do đơn vị tự sản xuất bao gồm chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển
hóa nguyên vật liệu thành thành phẩm.
Với đặc thù của công ty hoạt động chủ yếu là thương mại nên phương pháp
tính giá HTK cuối kỳ, hạch toán HTK, lập dự phòng giảm giá HTK được áp
dụng cụ thể:
+

Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho cuối kỳ: Phương pháp bình
quân gia quyền.

+

Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Phương pháp kiểm kê định
kỳ.

+

Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo nguyên tắc giá gốc

2.2.1 Lập kế hoạch
Do quy mô công ty còn nhỏ chủ yếu chỉ sản xuất giày thể thao nên quy
trình lập kế hoạch chưa thực sự được chú trọng thực hiện.

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


25

Công ty thường mua nguyên vật liệu và các chất phụ gia (dùng để sản
xuất giày thể thao) vào đầu kì và số lượng mua là bao nhiêu phần lớn dựa trên
tình hình tiêu thụ và sản xuất của năm trước và cũng dựa trên số lượng còn
tồn ở kho của nguyên vật liệu đó. Ví dụ năm 2013 công ty tiêu thụ được 450
đôi giày da vậy đầu năm 2014 công ty sẽ mua số lượng nguyên vật liệu và
chất phụ gia để sản xuất được khoảng 450-500 đôi giày da.

(Số liệu lấy từ bộ phận kế toán của công ty Thảo Nguyên năm 2013)

Nguyễn Thị Trâm Anh
K60_Kế toán kiểm toán


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x