Tải bản đầy đủ

Luận văn sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán (85 trang)

Trang 1

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM TÀI CHÍNH GIAO DỊCH
KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN
1.1/. Giới thiệu về sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán
1.1.1/. Khái niệm sản phẩm tài chính
Khái niệm sản phẩm tài chính rất rộng, theo FSR (Financial Services Reform) nó
bao gồm tất cả các sản phẩm liên quan đến :
-

Đầu tư tài chính (cổ phiếu, giấy nợ, lãi suất hưu tri, đầu tư vào bảo hiểm nhân

thọ và tiền gửi ngân hàng).
-

Quản lý rủi ro tài chính (bảo hiểm chung và các sản phẩm phái sinh được sử

dụng để đầu cơ).
-


Thực hiện những khoản thanh toán không dùng tiền mặt (thẻ ghi nợ, séc, thẻ

thông minh và séc du lịch).
1.1.2/. Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán
1.1.2.1/. Lịch sử hình thành giao dịch ký quỹ
Giao dịch ký quỹ có nguồn gốc từ thị trường tương lai về hàng hóa. Thị trường
tương lai đã xuất hiện từ thời trung cổ, nó được phát triển để đáp ứng yêu cầu của giới
nông dân và lái buôn. Đi vào phân tích tình huống nông dân ở thời điểm thu hoạch
trong tương lai, giá cả hàng hóa có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp và điều này
ảnh hưởng rất nhiều đến họ nhất là khi họ cần tiền. Và tương tự, giới lái buôn cũng
chịu rủi ro khi giá cả hàng hóa biến động ở tương lai, trong khi họ là những người luôn
cần hàng. Do vậy nông dân và lái buôn gặp nhau trước thời điểm thu hoạch để thỏa
thuận giá cả cho thời điểm họ có hàng hoặc cần hàng trong tương lai. Điều đó có nghĩa
là họ đã thương lượng loại hợp đồng tương lai về hàng hóa – là loại hợp đồng cung cấp
cách thức mua bán hàng hóa giữa các bên để có thể loại trừ rủi ro do giá cả hàng hóa
không ổn định trong tương lai. Sự phát triển của thị trường tương lai, kèm theo sự gia


Trang 2

tăng những rủi ro dẫn đến việc xuất hiện hệ thống thanh toán bù trừ các giao dịch. Nền
tảng của thanh toán bù trừ là một hệ thống tiền gửi hoặc bảo lãnh tiền gửi, được yêu
cầu từ những người tham gia thị trường tương lai. Trong thực tế trao đổi, những khoản
tiền gửi này được gọi là giao dịch kỹ quỹ, đó là số tiền mà khách hàng phải trả vào tài
khoản của công ty môi giới khi anh ta thiết lập vị thế, được gọi là ký quỹ, tỷ lệ kỹ quỹ
thường 1-10% giá trị hợp đồng tương lai. Từ hoạt động kỹ quỹ trong giao dịch hàng
hóa đã được vận dụng sang các sản phẩm tài chính khác như là chứng khoán (Giao
dịch kỹ quỹ trên thị trường chứng khoán), ngoại tệ (Giao dịch ký quỹ at FOREX), vàng
(Gold giao dịch kỹ quỹ) …và tiếp tục phát triển vào những năm 20 của đầu thế kỷ 20.
1.1.2.2/. Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán
Margin trading - Giao dịch ký quỹ: Là việc mua hoặc bán chứng khoán trong đó
người đầu tư chỉ thực có một phần tiền hoặc chứng khoán, phần còn lại do công ty
chứng khoán cho vay.
Sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ là loại sản phẩm dịch vụ mà công ty chứng
khoán (công ty môi giới) cung cấp cho khách hàng. Trong đó, công ty chứng khoán
(công ty môi giới) cho phép nhà đầu tư mượn tiền của nhà môi giới (công ty môi giới,
công ty chứng khoán ) để mua chứng khoán, trong trường hợp họ không đủ tiền để
mua. Có thể hiểu, nó giống như một khoản vay thông thường có thế chấp, do một cá
nhân thực hiện, để có tiền đáp ứng cho nhu cầu đầu tư.
Ký quỹ, vay mua chứng khoán: là khoản tiền đặt cọc của một khách hàng cho công


ty chứng khoán khi họ thực hiện việc vay tiền mua chứng khoán. Theo quy định của
Hội đồng Dự trữ liên bang Mỹ, mức ký quỹ ban đầu thực thi từ năm 1945 yêu cầu số
tiền ký quỹ từ 50 tới 100% lượng tiền mua chứng khoán. Vào giữa những năm 1990
mức ký quỹ tối thiểu là 50% lượng tiền mua chứng khoán hoặc bán khống chứng
khoán, tính ra tiền mặt hoặc các chứng khoán được giao dịch hợp pháp, với mức tối
thiểu là 2.000 USD. Sau đó, các yêu cầu về ký quỹ duy trì đựơc Hiệp hội các nhà giao


Trang 3

dịch chứng khoán (NASD) và Sở Giao dịch chứng khoán đặt ra, và nhiều công ty
chứng khoán cũng có các yêu cầu tương tự hoặc cao hơn.
Giao dịch ký quỹ có hai loại: mua ký quỹ và bán khống.
Mua ký quỹ là việc nhà đầu tư mua cổ phiếu có sử dụng hạn mức tín dụng do công
ty chứng khoán cấp. Nó được đảm bảo bằng khoản ứng trước bằng tiền thế chấp bằng
chính cổ phiếu được mua. Vì vậy, thông thường những nhà đầu tư nào dự đoán giá tăng
sẽ thực hiện giao dịch ký quỹ.
Tại Việt Nam, Theo Thông tư Số 74/2011/TT-BTC hướng dẫn về giao dịch chứng
khoán thì: “Giao dịch mua ký quỹ chứng khoán là giao dịch mua chứng khoán của
khách hàng có sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán và sử dụng các chứng khoán
khác có trong tài khoản và chứng khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố”.
Ví dụ: Nhà đầu tư A dự đoán giá của cổ phiếu XYZ tăng trong tương lai và muốn
mua 3.000 cổ phiếu XYZ với giá 50.000 đồng/cổ phiếu nhưng chỉ có 75 triệu đồng
trong tài khoản. Nhà đầu tư A có thể vay CTCK nơi mở tài khoản 75 triệu đồng còn
thiếu (50% vốn). Lợi nhuận nhà đầu tư A đạt được là chênh lệch giữa giá bán và giá
mua 3.000 cổ phiếu này trừ đi lãi suất vay của CTCK.
Bán khống (short-selling) trong tài chính có nghĩa là một cách kiếm lợi nhuận từ sự
kỳ vọng tụt giảm giá của một loại chứng khoán, ngoại tệ... Bán khống là bán một loại
chứng khoán mà người bán không sở hữu tại thời điểm bán. Cụ thể, họ vay chứng
khoán để bán và sau đó mua lại chứng khoán với giá thấp hơn để trả cho người họ vay,
phần chênh lệch giá thấp hơn đó mang lại lợi nhuận cho người bán khống.
Sau đây tôi xin giới thiệu một số thuật ngữ dùng trong hoạt động giao dịch ký quỹ:
- Tài khoản giao dịch ký quỹ: là tài khoản của khách hàng mở tại công ty chứng
khoán để thực hiện các giao dịch ký quỹ chứng khoán (Theo Thông tư Số 74/2011/TTBTC )


Trang 4

- Tài khoản giao dịch thông thường: là tài khoản của khách hàng mở tại công ty
chứng khoán để giao dịch chứng khoán nhưng không sử dụng tiền vay của công ty
chứng khoán. (Theo Thông tư Số 74/2011/TT-BTC )
- Dư nợ ký quỹ của khách hàng trên tài khoản giao dịch ký quỹ: là tổng số tiền khách
hàng nợ công ty chứng khoán. (Theo Thông tư Số 74/2011/TT-BTC)..
- Tài sản thực có của khách hàng trên tài khoản giao dịch ký quỹ: bao gồm tiền
mặt, giá trị các chứng khoán được phép kỹ quỹ trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính
theo giá thị trường tính theo giá thị trường trừ đi dư nợ ký quỹ. (Theo Thông tư Số
74/2011/TT-BTC).
- Tỷ lệ ký quỹ ban đầu: là tỷ lệ giữa tài sản thực có (trước khi thực hiện giao dịch)
so với giá trị hợp đồng giao dịch (dự kiến thực hiện) tính theo giá thị trường. (Theo
Thông tư Số 74/2011/TT-BTC )
- Tỷ lệ ký quỹ: là tỷ lệ giữa tài sản thực có so với tổng tài sản trên tài khoản giao
dịch ký quỹ tính theo giá thị trường. (Theo Thông tư Số 74/2011/TT-BTC )
- Tỷ lệ ký quỹ duy trì: là tỷ lệ tối thiểu giữa tài sản thực có so với tổng tài sản trên
tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường. (Theo Thông tư Số 74/2011/TTBTC)
- Giá trị ký quỹ ban đầu (Initial Margin- IM): là giá trị ký quỹ ban đầu để có thể
vay một số tiền nhất định của nhà môi giới (công ty môi giới) thực hiện giao dịch
chứng khoán. Trong thực tế để đo giá trị ký quỹ ban đầu, người ta dùng khái niệm tỷ lệ
ký quỹ ban đầu.
- Tỷ lệ ký quỹ ban đầu: là tỷ lệ % tối thiểu của giá trị giao dịch mà NĐT phải có
trong tài khoản ký quỹ khi thực hiện giao dịch mới. Tỷ lệ ký quỹ ban đầu thường được
quy định bằng các cơ quan quản lý và sự đặc thù của mỗi nhà môi giới (công ty môi
giới). VD: Theo Regulation T of the Federal Reserve Board, thì tỷ lệ ký quỹ tối thiểu ở
Mỹ là 50%. Ví dụ NĐT muốn mua 1 số cố phiếu trị giá 10.000 USD, NĐT phải ký quỹ


Trang 5

ban đầu 50% tức là 5.000 USD. Tuy nhiên, tùy từng đặc thù của các công ty môi giới
tỷ lệ ký quỹ có thể là 60% hay 70%.
- Ký quỹ hiện tại hay ký quỹ thực tế (Current liquidating margin - CLM ): là số tiền
thực có của NĐT trong tài khoản ký quỹ sau khi thanh lý toàn bộ các trạng thái giao
dịch theo thị giá và thanh toán nợ cho công ty môi giới và các loại phí. Tỷ lệ ký quỹ
thực tế: là tỷ lệ phần trăm của tổng giá trị ký quỹ hiện tại so với tổng giá trị đầu tư tại
thời điểm hiện tại CLM (%) = CLM/ Giá trị hiện tại của các khoản đầu tư.
- Giá trị ký quỹ tối thiểu (Minimum margin requirement- MMR): là giá trị ký quỹ
tối thiểu quy định bởi luật pháp và mỗi công ty môi giới (nhà môi giới) để bảo đảm rủi
ro cho những khoản vay với công ty môi giới (nhà môi giới) khi giá trị toàn bộ tài sản
ký quỹ sụt giảm do biến động của giá cổ phiếu.
- Tỷ lệ ký quỹ tối thiểu: khi CLM < MMR thì NĐT phải thanh lý bớt một số giao
dịch hoặc bổ sung tiền vào tài khoản ký quỹ để CLM ≥ MMR.
- Cảnh báo ký quỹ (Margin call): khi giá trị tài sản ký quỹ thấp hơn giá trị ký quỹ
tối thiểu thì nhà môi giới sẽ gửi đến nhà đầu tư một thông báo gọi là cảnh báo ký quỹ.
Trong trường hợp này, nhà đầu tư phải ký quỹ bổ sung bằng tiền mặt, bán bớt một phần
chứng khoán có trong tài khoản, hoặc mua một phần chứng khoán đã bán khống để
đảm bảo tỷ lệ ký quỹ thực tế không nhỏ hơn tỷ lệ ký quỹ tối thiểu.
- Ký quỹ bổ sung (Additional margin): Là số tài sản bổ sung vào tài khoản ký quỹ
khi nhằm đảm bảo tỷ lệ ký quỹ tối thiểu.
1.1.2.3/. Ưu nhược điểm và rủi ro khi nhà đầu tư sử dụng dịch vụ này
1.1.2.3.1/. Ưu điểm của giao dịch ký quỹ
Trước hết là do tính chất đòn bẩy của giao dịch ký quỹ, cho phép NĐT giao dịch
mua bán một số lượng chứng khoán lớn hơn nhiều lần chỉ với một khoản đặt cọc ít ban
đầu, so với hình thức giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt. Khi NĐT phán đoán đúng tình
hình thị trường, thì lợi nhuận từ giao dịch kỹ quỹ sẽ được khuyếch đại lên rất nhiều lần.


Trang 6

Hơn nữa đây là loại hình thường có mức lãi suất khá thấp so với lãi suất đi vay tiền
mặt thông thường để mua chứng khoán.
Ngược lại, khi giá chứng khoán tăng, NĐT có thể rút bớt số tiền chênh lệch ra để
kinh doanh tiếp hoặc tiêu dùng cho những mục đích cá nhân khác.
Thích hợp với những NĐT với số vốn ít nhưng có thể mua lượng chứng khoán
nhiều hơn số tiền thực có.
Cuối cùng là lợi nhuận từ tài khoản ký quỹ có thể được sử dụng tiếp để đặt cọc mua
thêm chứng khoán.
1.1.2.3.2/. Nhược điểm của giao dịch ký quỹ đối với nhà đầu tư.
Không phải tất cả các loại chứng khoán đều được mua bằng hình thức giao dịch ký
quỹ. Theo đó các chứng khoán vô danh, OTC, IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công
chúng) không được phép mua bằng hình thức giao dịch kỹ quỹ. Điều này làm giới hạn
danh mục đầu tư của các NĐT.
Nhà đầu tư phải trả lãi và phí hoa hồng cho khoản vay nên nợ càng cao lãi phải trả
càng nhiều. Điều này làm giảm thu nhập và vốn của NĐT.
NĐT không được quyền kéo dài thời gian của lệnh gọi ký quỹ. Đó là yêu cầu mà
họ phải hoàn trả toàn bộ hoặc một phần nợ của họ bằng tiền mặt, hoặc nộp thêm chứng
khoán từ bên ngoài vào tài khoản hoặc bán một số chứng khoán trong tài khoản của họ.
CTCK có thể tăng những yêu cầu duy trì của nội bộ công ty để hạn chế bớt những
rủi ro cho công ty bất cứ lúc nào mà không bắt buộc phải thông báo trước cho NĐT.
Những thay đổi này có thể dẫn đến một lệnh gọi, nếu NĐT không đáp ứng được yêu
cầu này công ty có thể thanh toán hoặc bán chứng khoán trong tài khoản của NĐT.
Trong trường hợp giá chứng khoán đang giảm, việc giải chấp chứng khoán để thu hồi
nợ của CTCK có thể dẫn đến thua lỗ cho NĐT.
1.1.2.3.3/. Rủi ro của nhà đầu tư khi sử dụng dịch vụ này


Trang 7

Nhà đầu tư có thể mất nhiều tiền hơn số họ đã đầu tư. Vì tài khoản giao dịch ký quỹ
liên quan đến rủi ro thua lỗ cao hơn tài khoản tiền mặt và có thể thua lỗ nhiều hơn số
tiền NĐT đã đầu tư ban đầu.
NĐT có thể bị bắt buộc phải bán một phần hoặc tất cả chứng khoán khi giá chứng
khoán giảm. Trong trường hợp cần thiết, CTCK có thể bán một phần hoặc tất cả chứng
khoán của NĐT mà không cần hỏi ý kiến của họ. Trong trường hợp này, NĐT ở thế bị
động và không có quyền quyết định đối với khoản đầu tư của họ.
1.1.2.4/. Tìm hiểu qui trình hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán.
Ở các TTCK phát triển, thủ tục để thực hiện giao dịch ký quỹ thông thường như
sau:
Thực hiện giao dịch ký quỹ, khách hàng phải ký hợp đồng mở tài khoản giao dịch
ký quỹ với CTCK. Sau khi mở tài khoản giao dịch ký quỹ, khách hàng được vay một
tỷ lệ nhất định so với giá trị số chứng khoán định mua. Tỷ lệ vay tối đa tại hầu hết các
nước là 50% giá trị đặt mua, một số nước cho vay tới 70% giá trị đặt mua. Khách hàng
sẽ cầm cố bằng chính số chứng khoán mua được từ tài khoản giao dịch ký quỹ để đảm
bảo cho khoản vay.
Sau khi giao dịch, nhà đầu tư phải đảm bảo tỷ lệ ký quỹ duy trì. Tỷ lệ này được đo
bằng công thức: (MV-D)/MV, trong đó, MV là giá trị thị trường của chứng khoán thế
chấp, D là giá trị khoản vay. Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ cho vay nói trên và thông lệ trong
khoảng 35%-50%. Trường hợp tỷ lệ ký quỹ duy trì cao hơn mức nói trên, nhà đầu tư có
nghĩa vụ đóng thêm tài sản ký quỹ (tiền hoặc chứng khoán) để đảm bảo tỷ lệ ký quỹ
duy trì. Nếu không đóng thêm, CTCK có quyền bán chứng khoán trong tài khoản giao
dịch ký quỹ để thu hồi nợ vay.


Trang 8

Hình 1.1: Giao dịch có sử dụng đòn bẩy

Ở Việt Nam chưa có quy định cụ thể về giao dịch ký quỹ, nhưng có các hình thức
như cầm cố chứng khoán, thấu chi hợp tác đầu tư, và cho vay bảo chứng để chỉ hoạt
động của giao dịch bảo chứng trên thị trường chứng khoán. Do quy định về chức năng
hoạt động của công ty chứng khoán hạn chế nên những hoạt động này chủ yếu là giữa
ngân hàng và NĐT thông qua CTCK.
Nhận xét nghiệp vụ giao dịch ký quỹ chứng khoán nếu được áp dụng tại ngân hàng:
a. Ưu điểm :
-

Ngân hàng thận trọng , cho vay thận trọng, thị trường an toàn hơn.

-

Ngân hàng bị khống chế về cho vay chứng khoán

-

Tạo sự minh bạch cho nhà đầu tư

b. Nhược điểm :
-

Ngân hàng không bám sát thị trường chứng khoán như CTCK nên không thể

cho vay tốt hơn CTCK.
-

Quản lý và xử lý tài sản đảm bảo cứng nhắc.

-

Quy trình phức tạp và rườm rà.

Ở Việt Nam, theo Thông tư Số 74/2011/TT-BTC hướng dẫn về giao dịch chứng
khoán thì quy trình giao dịch ký quỹ như sau:


Trang 9

Nhà đầu tư muốn thực hiện giao dịch ký quỹ phải mở tài khoản giao dịch ký quỹ tại
công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán. Tại mỗi
công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch, nhà đầu tư chỉ được phép
mở một tài khoản giao dịch ký quỹ. Công ty chứng khoán phải quản lý tách biệt tài
khoản giao dịch ký quỹ của nhà đầu tư với các tài khoản giao dịch khác.
Chứng khoán được phép giao dịch ký quỹ là cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đang
niêm yết trên SGDCK đáp ứng yêu cầu về chứng khoán được phép giao dịch ký quỹ
theo quy định của UBCKNN. Công ty chứng khoán có nghĩa vụ công bố công khai
danh mục chứng khoán mà công ty thực hiện giao dịch ký quỹ.
1.2/. Vai trò của giao dịch ký quỹ chứng khoán
1.2.1/. Vai trò của giao dịch ký quỹ chứng khoán đối với thị trường chứng
khoán
Có kinh doanh là có vay nợ, do vậy hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ "Đòn
bẩy tài chính" sẽ còn có đất để phát triển. Lợi ích của hoạt động này (đối với nhà đầu
tư, đối với tổ chức cung ứng dịch vụ và đối với thị trường) đã quá rõ, vấn đề còn lại là
từng thành viên tham gia phải tìm cách để giảm thiểu đến mức thấp nhất tổn thất mà
hoạt động này có thể gây ra.
Vai trò to lớn nhất của giao dịch ký quỹ đối với thị trường chứng khoán là góp phần
làm gia tăng tính thanh khoản, khuyến khích thêm nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp
tham gia thị trường, tiến gần hơn tới TTCK thế giới.
Với quy mô niêm yết và giao dịch sẽ tăng lên nhanh chóng trong những năm tới,
điều hiển nhiên là nhu cầu vay đầu tư chứng khoán sẽ càng nhiều thêm. Các ngân hàng
thương mại sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vay cho từng cá nhân vì chi phí thẩm
định các khoản vay và kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ rất lớn. Trong khi thực tế trên thế
giới, các ngân hàng thương mại không trực tiếp cho nhà đầu tư vay mua chứng khoán
mà kênh tín dụng này được thực hiện qua các công ty môi giới chứng khoán. Nhà đầu


Trang 10

tư được vay một phần tiền từ các công ty chứng khoán theo tỷ lệ ký quỹ ban đầu và
cam kết dùng tài sản thế chấp chính là các chứng khoán.
Giao dịch ký quỹ đang là nhu cầu chính đáng và bức thiết của đa số các nhà đầu tư,
của các công ty môi giới chứng khoán, ngân hàng thương mại và cũng là đòi hỏi chính
đáng để thị trường phát triển. Nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính trong giao dịch ký
quỹ là đòn bẩy có nguyên tắc, được kiểm soát và thừa nhận của pháp luật. Với xu thế
của thị trường tăng trưởng, xác suất cao để nhà đầu tư thành công trong việc sử dụng
đòn bẩy tài chính. Các công ty chứng khoán cũng có nguồn thu tốt hơn nhờ khối lượng
giao dịch tăng vọt. Nhưng quan trọng hơn cả là tính thanh khoản của thi trường sẽ tăng
đáng kể và đó là cơ sở để thị trường sơ cấp phát triển. Giao dịch tăng đột biến vừa qua
là bằng chứng cho thấy không chỉ nhà đầu tư được lợi mà công ty chứng khoán áp
dụng đòn bẩy cũng gặt hái siêu lợi nhuận.
Một trong những tác động dễ thấy nhất của giao dịch ký quỹ đối với thị trường
chứng khoán là sẽ đưa giá chứng khoán dần trở về với giá trị thực của nó. Thật vậy,
nhà đầu tư chỉ kinh doanh bằng tài khoản ký quỹ khi nào họ nhận thấy giá chứng
khoán đó đang thấp hơn giá trị thực của nó, và họ tiên đoán rằng giá sẽ tăng trong
tương lai. Theo qui luật thị trường, cung tăng đến mức mà đủ lớn hơn cầu sẽ đẩy giá
tăng và sẽ đến lúc bằng hoặc cao hơn giá trị thực thì họ sẽ bán chứng khóan để hiện
thực hóa lợi nhuận của mình.
Khi giao dịch ký quỹ được phép thực hiện trên thị trường chứng khoán thì nó sẽ
làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và từ đó sẽ làm cho thị trường trở nên năng
động hơn. Với sự phát triển của sản phẩm giao dịch ký quỹ sẽ làm tăng tính chuyên
nghiệp hơn cho nhà đầu tư, từ đó sẽ làm giảm dần đi những tác động xấu đối với thị
trường chứng khoán do sự ít hiểu biết, do “tâm lý đám đông” của nhà đầu tư gây nên.
1.2.3 /. Vai trò của giao dịch ký quỹ chứng khoán đối với các nhà đầu tư


Trang 11

Nếu như giao dịch ký quỹ chỉ có lợi cho thị trường chứng khoán mà không mang
đến lợi ich nào cho nhà đầu tư thì cũng sẽ không thể phát triển được. Không phải ngẫu
nhiên mà hoạt động này lại được phát triển lâu đời ở các thị trường tài chính và thị
trường chứng khoán phát triển mà bởi vì sự hấp dẫn của nó đối với nhà đầu tư rất lớn.
Vai trò của giao dịch ký quỹ đối với các nhà đầu tư là giúp họ có cơ hội để gia tăng lợi
nhuận nhanh.
Sự thật không thể phủ nhận việc sử dụng công cụ tài chính đòn bẩy đem lại lợi
nhuận cao và nhanh cho nhà đầu tư. Với khoản tiền ký quỹ 100 triệu đồng, nhà đầu tư
có thể giao dịch lên đến 200 – 300 triệu đồng. Khi thị trường tăng điểm, có những mã
cổ phiếu tăng trần 3 – 4 phiên liên tiếp đã đem lại khoản lợi nhuận rất hấp dẫn. Từ khả
năng sinh lời cao chỉ với số vốn ít đã kích thích nhà đầu tư sử dụng GDKQ do mong
muốn kiếm lời nhanh
Tại sao sử dụng ký quỹ ? Tất cả là lực đòn bẩy. Vì rằng các công ty vay tiền để đầu
tư vào các dự án, nhà đầu tư có thể vay tiền từ các công ty chứng khoán, ngân hàng và
có lực đòn bẩy cho lượng tiền mặt họ đầu tư. Lực đòn bẩy sẽ khuếch đại mỗi điểm tăng
của cổ phiếu. Nếu nhà đầu tư có một sự đầu tư đúng, ký quỹ sẽ tăng lợi nhuận của nhà
đầu tư một cách đáng kể.
Một khoản ký quỹ ban đầu 50% cho phép bạn - NĐT mua gấp đôi lượng cổ phiếu
mà họ có thể mua bằng tiền mặt trong tài khỏan. Rất đơn giản để nhận thấy NĐT có thể
kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách sử dụng tài khoản ký quỹ hơn là giao dịch bằng
tiền mặt thuần túy. Vấn đề đặt ra là liệu cổ phiếu của NĐT có tăng hay không. Các
chuyên gia đầu tư luôn tranh cãi liệu có nên đầu tư vào những cổ phiếu đang tăng hay
không. Chúng ta không cân nhắc các tranh luận ở đây, nói một cách đơn giản là ký quỹ
đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tăng lợi nhuận.
Để minh họa rõ nét hơn sức mạnh của lực đòn bẩy là thông qua một ví dụ. Hãy
tưởng tượng một tình huống mà chúng ta đều muốn trải qua tạo ra lợi nhuận khổng lồ:


Trang 12

Chúng ta sẽ giữ 20.000 USD giá trị của cổ phiếu mua bằng cách sử dụng 10.000
USD ký quỹ và 10.000 USD tiền mặt. Cổ phiếu của Công ty Cory’s Tequilla giao dịch
với giá 100 USD và bạn cảm nhận rằng nó sẽ tăng giá đáng kể. Thông thường, bạn chỉ
có thể mua 100 cổ phiếu (100 x $100 = $10,000). Do bạn đầu tư ký quỹ, bạn có thể
mua 200 cổ phiếu (200 x $100 = $20,000).
Công ty Cory’s Tequilla đã chọn Jennifer Lopez là người phát ngôn và giá cổ phiếu
tăng chóng mặt lên 25%. Khoản đầu tư của bạn bây giờ là 25.000 USD (200 cổ phiếu x
$125) và bạn quyết định rút tiền mặt ra. Sau khi trả cho công ty môi giới khoản tiền
10.000 USD bạn vay, bạn nhận 15.000 USD lợi nhuận. Đó là 50% lợi nhuận mặc dù cổ
phiếu chỉ tăng 25%. Luôn nhớ rằng, những phí tổn này sẽ được trừ từ lợi nhuận.
1.3/. Tìm hiểu việc áp dụng giao dịch ký quỹ chứng khoán ở một số nước trên thế
giới
1.3.1/. Tìm hiểu hoạt động giao dịch ký quỹ ở thị trường chứng khoán Mỹ
Đối với một số nước như Mỹ không có các tổ chức chuyên doanh lĩnh vực tài chính
chứng khoán mà rất nhiều tổ chức tài chính như NHTM, nhà môi giới chứng khoán...
được phép tham gia vào hoạt động này như là một trong các nghiệp vụ kinh doanh.
Trước năm 1920, không có quy định nào điều chỉnh hoạt động tài chính chứng khoán
phục vụ cho giao dịch ký quỹ. Sau cuộc đại suy thoái năm 1929, vấn đề này mới được
pháp luật Mỹ đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt để ngăn ngừa các tổ chức tài chính
cho vay quá mức. Hiện nay, hoạt động tài chính chứng khoán chịu sự điều chỉnh của
Quy chế của Cục Dự trữ liên bang. Tuy nhiên, hoạt động vay và cho vay chứng khoán
của các tổ chức này cũng được kiểm soát nghiêm ngặt để ngăn ngừa tình trạng cho vay
quá mức, dẫn đến rủi ro hệ thống. Cho dù thực hiện theo mô hình nào thì hoạt động
này đều có một điểm chung là: vì đây là các hoạt động giao dịch phức tạp và ẩn chứa
nhiều rủi ro nên thường chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật và thường bị hạn chế
đối với các TTCK mới thành lập.
1.3.2/. Sự phát triển giao dịch ký quỹ chứng khoán tại Đài Loan


Trang 13

Ngay khi TTCK vừa ra đời, năm 1962 một số giao dịch ký quỹ đã được cho phép
thực hiện một cách hạn chế. Tháng 6/1974, theo yêu cầu của công chúng đầu tư về việc
mở rộng hoạt động giao dịch ký quỹ nhằm thúc đẩy sự phát triển của TTCK trong bối
cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Ủy ban Chứng khoán và Hợp đồng tương lai Đài
Loan (TSPC) đã ban hành “Hướng dẫn về hoạt động cho vay để mua chứng khoán và
cho vay chứng khoán của các định chế tài chính”, đồng thời hướng dẫn Ngân hàng
Truyền thông, Ngân hàng Đài Loan và Ngân hàng Đất đai tổ chức thực hiện các giao
dịch ký quỹ. Tháng 8/1979, “Quy chế quản lý ngành tài chính chứng khoán” được ban
hành, sau đó, Công ty tài chính chứng khoán Fuh-Hwa được thành lập và đi vào hoạt
động ngày 21/4/1980 với tư cách là một tổ chức tài chính chuyên thực hiện các hoạt
động giao dịch ký quỹ chứng khoán. Tháng 1/1990, Luật Chứng khoán và giao dịch
chứng khoán được sửa đổi, cho phép các CTCK thực hiện vay và cho vay chứng
khoán. Kể từ năm 1994, hoạt động tài chính chứng khoán được mở rộng, TSPC cho
phép thành lập hàng loạt Công ty tài chính chứng khoán như Global, Fu Bon, Entie,
đánh dấu sự chấm dứt một giai đoạn ngành tài chính chứng khoán giữ vai trò định
hướng chính sách trong lĩnh vực chứng khoán, chuyển sang giai đoạn kinh doanh trên
cơ sở cạnh tranh thực sự. Giá trị giao dịch ký quỹ trên tổng giá trị giao dịch toàn thị
trường tăng mạnh, từ 14,87% năm 1990 lên trên 38,29% năm 2001.
1.3.3/.Sự phát triển giao dịch ký quỹ chứng khoán tại Nhật Bản
Tại Nhật Bản, nhiều Công ty tài chính chứng khoán đã được thành lập sau Chiến
tranh Thế giới lần thứ II bằng cách chuyển đổi các CTCK hiện tại nhằm mục đích ổn
định và tăng cường hoạt động của các CTCK thông qua việc cung cấp các khoản vay
để thực hiện giao dịch ký quỹ. Sau khi Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán
được sửa đổi năm 1955, các Công ty tài chính ckhoán thành lập phải được Bộ Tài
chính cấp phép. Sau thời gian này, 9 Công ty tài chính chứng khoán đã được sáp nhập
thành 3 công ty để tăng cường chức năng tài chính chứng khoán, đó là Công ty tài
chính chứng khoán Nhật Bản (vốn điều lệ 10 tỷ Yên), Công ty tài chính chứng khoán


Trang 14

Osaka (vốn điều lệ 3,5 tỷ Yên) và Công ty tài chính chứng khoán Chubu (vốn điều lệ
200 triệu Yên) (tính đến tháng 6/2003). Đặc thù của hệ thống các Công ty tài chính
chứng khoán tại các nước này là không đặt ra mục tiêu kinh doanh mà chủ yếu nhằm
mục tiêu bình ổn giá cả và phát triển TTCK thông qua việc hỗ trợ các giao dịch chứng
khoán. Việc thành lập các Công ty tài chính chứng khoán theo mô hình này đáp ứng
được nhu cầu thúc đẩy hoạt động giao dịch của thị trường, song vẫn đảm bảo khả năng
quản lý chặt chẽ để giảm thiểu khả năng rủi ro, đặc biệt là với các thị trường mới thành
lập do vay và cho vay chứng khoán về bản chất là các giao dịch phức tạp và ẩn chứa
nhiều rủi ro nếu hệ thống quản lý thị trường không đủ hiệu quả.
1.3.4/. Bài học kinh nghiệm khi áp dụng giao dịch ký quỹ chứng khoán tại Việt
Nam
Một là thành lập Công ty tài chính chứng khoán. Cùng với sự phát triển của thị
trường, tính thanh khoản của thị trường ngày một nâng cao, trình độ và năng lực của
các nhà đầu tư chứng khoán ngày càng hoàn thiện, cần nghiên cứu cho phép áp dụng
các giao dịch loại này như một biện pháp khuyến khích giao dịch, thực hiện thông lệ và
tiêu chuẩn giao dịch quốc tế. Trong trường hợp của Việt Nam, với đặc thù TTCK còn
rất non trẻ, trước mắt có thể nghiên cứu để triển khai hoạt động vay và cho vay chứng
khoán theo mô hình thành lập Công ty tài chính chứng khoán như là một cơ quan thực
hiện chính sách thị trường chứ không phải vì mục tiêu lợi nhuận (giống như Hàn Quốc,
Nhật Bản và Đài Loan).
Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc, sau chiến tranh Triều Tiên, Hiệp hội Kinh doanh
Chứng khoán Hàn Quốc thành lập Công ty tài chính chứng khoán Hàn Quốc như một
biện pháp giải quyết khó khăn tài chính của các CTCK và thúc đẩy giao dịch chứng
khoán. Sau khi Luật Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán được ban hành năm
1962, Công ty tài chính chứng khoán Hàn Quốc tập trung vào hoạt động giao dịch ký
quỹ và cho vay có bảo đảm bằng chứng khoán nhằm thực hiện mục tiêu phát triển và
bình ổn TTCK. Công ty tài chính chứng khoán Hàn Quốc là một tập đoàn trong đó cổ


Trang 15

đông là các CTCK, ngân hàng, tổ chức liên quan đến chứng khoán, công ty bảo hiểm,
các cá nhân. Mục tiêu hoạt động chính của Công ty tài chính chứng khoán Hàn Quốc
không phải là kinh doanh mà là hỗ trợ giao dịch thị trường, bình ổn giá cả chứng
khoán.
Trước thực trạng hơn 100 CTCK với quy mô vốn, trình độ quản lý và công nghệ rất
khác nhau ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng cơ chế giao dịch ký quỹ sẽ đặt ra những
thách thức không nhỏ. Để cơ chế giao dịch ký quỹ vận hành hiệu quả dưới sự quản lý
giám sát có hệ thống, cần có sự hiện diện của một định chế tài chính đặc biệt đóng vai
trò "nhà cái" cho các CTCK tham gia cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ.


Trang 16

Hình 1.2: Mô hình Công ty tài chính chứng khoán
Người đầu tư

CTCK
Tổ chức thanh toán
Công ty tài chính chứng
khoán

Đây là mô hình được áp dụng ngay từ đầu khi triển khai giao dịch ký quỹ tại Nhật
Bản và Hàn Quốc. Theo mô hình này, người đầu tư mở tài khoản, ký quỹ ban đầu và
vay tiền/chứng khoán để giao dịch. CTCK đóng vai trò trung gian cung cấp dịch vụ
cho vay tiền/chứng khoán, với "nhà cái" là Công ty tài chính chứng khoán. Mô hình
này cho phép "nhà cái" đặt ra luật chơi đồng bộ đối với giao dịch ký quỹ, cũng như xây
dựng hệ thống quản lý rủi ro và giám sát tập trung. Sự hiện diện của công ty tài chính
chứng khoán không chỉ cho phép các CTCK nhỏ có thể cung cấp dịch vụ, mà ngay
những CTCK lớn cũng có thể nhờ cậy như người cho vay cuối cùng khi cần.
Mục tiêu của việc thành lập Công ty tài chính chứng khoán thể hiện ở việc thúc đẩy
các hoạt động giao dịch chứng khoán, bình ổn thị trường, tăng tính thanh khoản cho
TTCK. Do đó, Chính phủ phải đóng vai trò quyết định trong việc thành lập Công ty tài
chính chứng khoán Việt Nam, trong đó có sự cân nhắc các điều kiện thực tế của nền
kinh tế và TTCK. Trong thời gian đầu, do Chính phủ phải đóng vai trò chủ chốt trong
việc quản lý và điều tiết hoạt động tài chính chứng khoán, mô hình phù hợp là công ty
sở hữu Nhà nước hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.
Hai là cần thiết phải hình thành một hành lang pháp lý cho hoạt động vay và cho
vay chứng khoán, bao gồm các Quy chế về hoạt động vay và cho vay chứng khoán và


Trang 17

bổ sung các quy định tại các văn bản pháp luật liên quan (Quy chế về đăng ký, lưu ký,
thanh toán bù trừ chứng khoán), trong đó những nội dung chính cần phải đề cập bao
gồm:
Đầu tiên là chủ thể tham gia giao dịch vay và cho vay chứng khoán: bao gồm tổ
chức thanh toán trung tâm là Trung tâm lưu ký chứng khoán, thực hiện vai trò là đối
tác trung tâm điều phối hoạt động hạch toán, chuyển khoản chứng khoán vay, tài sản
bảo đảm, thực hiện thanh toán cho các thành viên là các CTCK (G30 khuyến nghị rằng
vai trò của công ty thanh toán bù trừ hoặc TTLKCK chỉ nên là người hỗ trợ chứ không
nên cho vay từ tài khoản của riêng mình để tránh rủi ro và duy trì tính khách quan và
trong sạch của thị trường. Như vậy, TTLKCK chỉ đơn thuần làm trung gian cho các
giao dịch trong hệ thống trên cơ sở ghi sổ). Bên vay và cho vay là các nhà đầu tư, các
CTCK, quỹ đầu tư chứng khoán, các tổ chức tín dụng, NHTM... Bên đối tác trung gian
là Công ty tài chính chứng khoán được UBCKNN cấp phép thực hiện hoạt động vay và
cho vay chứng khoán. Bên cạnh đó chứng khoán được phép vay và cho vay chỉ nên
hạn chế ở những chứng khoán niêm yết tại TTGDCK, SGDCK. Ngoài ra, chứng khoán
phải đáp ứng được các điều kiện là không thuộc diện chứng khoán đang bị kiểm soát
hoặc bị cấm giao dịch.
Ngoài ra, tài sản bảo đảm được sử dụng trong giao dịch vay và cho vay chứng
khoán là các chứng khoán niêm yết trên TTGDCK, SGDCK hoặc là tiền mặt. Nếu
chứng khoán được sử dụng làm tài sản bảo đảm, các chứng khoán này cũng phải đáp
ứng được các điều kiện như chứng khoán được phép vay và cho vay. Tài sản bảo đảm
thường được định giá thấp hơn giá trị thực tế được xác định vào thời điểm thực hiện
giao dịch.
Cuối cùng, theo thông lệ quốc tế cần quy định rõ giao dịch vay và cho vay chứng
khoán phải thực hiện trên cơ sở Hợp đồng mẫu và phải làm thành văn bản, trong đó
bao gồm các nội dung chính về:
-

Tư cách các bên tham gia giao dịch


Trang 18

-

Quyền sở hữu đối với chứng khoán và tài sản bảo đảm

-

Loại tài sản bảo đảm, tỷ lệ tài sản bảo đảm được chấp thuận

-

Những thỏa thuận về việc giao tài sản bảo đảm và duy trì một tỷ lệ tài sản bảo

đảm phù hợp khi việc định giá theo giá thị trường có biến động lớn. Các quy định cụ
thể hóa quyền của các bên đối tác về việc thay thế tài sản bảo đảm (nếu có).
-

Cách xử lý số cổ tức được thanh toán và các quyền khác liên quan tới chứng

khoán vay và tài sản đảm bảo, trong đó bao gồm cả thời điểm thực hiện thanh toán.
-

Các thỏa thuận về việc xử lý những sự kiện phát sinh liên quan đến quyền đối với

công ty.
-

Các bước thu hồi chứng khoán và cách xử lý nếu chứng khoán đó không được

giao.
- Trường hợp mất khả năng thanh toán, quyền và trách nhiệm sau đó của các bên đối
tác.
- Khiếu nại giữa các bên trong trường hợp mất khả năng thanh toán.
Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy việc áp dụng Hợp đồng mẫu (đã được kiểm
soát) là phương án có thể giảm thiểu rủi ro và là đảm bảo chắc chắn về mặt pháp lý cho
các bên trong trường hợp có sự xung đột pháp luật với các văn bản pháp lý khác có liên
quan (ví dụ như các quy định của luật dân sự về vấn đề vay tài sản).


Trang 19

Kết luận chương I:
Chương I đã trình bày những vấn đề về sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng
khoán cũng như vai trò của giao dịch kỹ quỹ chứng khoán đối với từng loại thị trường.
Đồng thời rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên cứu nghiệp vụ
giao dịch ký quỹ ở hầu hết các nước trên thế giới. Qua phân tích trên cho thấy vai trò
của giao dịch ký quỹ không thể thiếu ở bất kỳ thị trường nào nhưng để thị trường hoạt
động hiệu quả và giảm thiểu rủi ro thì nó đòi hỏi sự vận dụng khéo léo và khoa học.


Trang 20

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NHU
CẦU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TÀI CHÍNH GIAO DỊCH KÝ QUỸ
CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1/. Thực trạng hoạt động của một số công ty chứng khoán tiêu biểu trên thị
trường chứng khoán Việt Nam từ 2008 đến nay
2.1.1/. Giới thiệu sơ lược về một số công ty chứng khoán Việt Nam tiêu biểu.
Trong hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán, CTCK có thể cung cấp nhiều loại
sản phẩm tài chính, nhưng tùy theo từng thị trường, để đảm bảo sự an toàn, phát triển
bền vững của TTCK, nhiều nước cho phép áp dụng từng loại sản phẩm với các mức độ
quản lý khác nhau.
Tại Việt Nam, tính đến tháng 9.2011, đã có 102 CTCK được cấp phép hoạt động
với tổng vốn điều lệ trên 33.000 tỷ đồng và đang cung cấp dịch vụ chứng khoán cho
gần 1,1 triệu nhà đầu tư. Thị trường càng phát triển thì càng cần phải có các nghiệp vụ
để đáp ứng nhu cầu của thị trường, trong đó có giao dịch ký quỹ. Tuy nhiên, nghiệp vụ
mới nào được áp dụng cũng có những lợi ích và rủi ro nhất định.
2.1.2/. Phân tích tình hình hoạt động của một số công ty chứng khoán Việt Nam
tiêu biểu trong giai đoạn 2008- 2010
2.1.2.1/ Tình hình hoạt động của một số công ty chứng khoán Việt Nam tiêu biểu
trong năm 2008
Năm 2008 là một năm đầy thăng trầm của TTCK Việt Nam. Có thể nói, đây là năm
có nhiều biến động nhất trong suốt hơn 8 năm phát triển của thị trường. Trong năm
này, hầu hết các CTCK đều làm ăn thua lỗ. Từ nhiều năm qua, nổi bật trong khối các
CTCK là CTCK Sài Gòn vẫn ghi nhận mức lãi sau thuế là 250 tỷ đồng. Tuy nhiên
khoản lãi này có được cũng là nhờ vào việc mua bán trái phiếu, chứ không phải lợi
nhuận từ mua bán cổ phiếu trên TTCK.


Trang 21

Bảng 2.1 : Tổng hợp lợi nhuận của các CTCK năm 2008
Đơn vị tính: tỷ đồng
CTCK

Vốn

Doanh

Lợi nhuận

điều lệ

thu

sau thuế

CTCK Ngân hàng BIDV
700
CTCK Bảo Việt
451.50
CTCK Kim Long
503.63
CTCK Âu Việt
300
CTCK Hải Phòng
239.40
CTCK An Bình
397
CTCK VN-Direct
300
CTCK Eurocapital
150
CTCK Nam An
140
CTCK Phú Hưng
100
CTCK Gia Quyền
135
CTCK VNS
161
CTCK Artex
135
CTCK Tràng An
139
CTCK Đông Dương
125
CTCK Tầm Nhìn
25
CTCK Nam Việt
46
CTCK Anpha
58.62
CTCK Việt Tín
71.43
CTCK Vincom
300
CTCK Beta
300
CTCK Nhấp và Gọi
135
CTCK Habubank
150
CTCK TP.HCM
394.63
CTCK Sài Gòn
1366.67
CTCK Quốc Gia
50

478.923
162.841
302.017
47.077
56.199
103.838
204.781
17.373
6.945
19.569
13.227
22.210
13.113
28,265
1,810
2,038
0.277
22.124
18.596
54.584
46.238
26.469
107.696
231.374
1135.99
0

Lợi nhuận

Trích lập

trên Vốn

dự

điều lệ
phòng
-554.088
-79.16%
633.497
-452.401
-100.20% 445.187
-347.443
-68.99%
0
-172.504
-57.50%
6.356
-119.801
-50.04%
87.746
-94.417
-23.78%
1.935
-86.167
-28.72%
105.772
-58.219
-38.81%
30.845
-57.931
-41.38%
3.969
-38.131
-38.13%
12.97
-35.489
-26.29%
0
-29.490
-18.32%
6.349
-21.854
-16.19%
9.29
-19.368
-13.93%
8.11
-13.397
-10.72%
1.296
-8.025
-32.10%
0
-3.845
-8.36%
0
0.048
0.08%
8.308
0.082
0.11%
3.989
0.083
0.03%
4.386
0.573
0.19%
7.606
7.107
5.26%
0
10.540
7.03%
52.172
10.540
5.97%
200.638
23.543
18.33%
25.703
250.517
0.00%
23.781
Nguồn: Tổng hợp từ HOSE, HASTC

Kinh doanh thua lỗ khiến nhiều công ty chứng khoán tiến hành cắt giảm nhân lực,
thu gọn công sở, giảm tối đa chi phí duy trì hoạt động của công ty. Một điều may mắn
đó là các công ty chứng khoán không sử dụng tất cả tiền của mình để đầu tư. Tuy nhiên


Trang 22

số tiền lỗ từ việc thị trường sụt giảm năm qua đã làm giảm đến 30 - 40% vốn chủ sở
hữu của các công ty.
Phân tích sơ bộ Báo cáo tài chính năm 2008 tóm tắt cho thấy, các CTCK thua lỗ
chủ yếu do hoạt động tự doanh. CTCK Bảo Việt phải trích lập các khoản đầu tư lên tới
hơn 445 tỷ đồng, CTCK VNDirect trích 105,8 tỷ đồng, CTCK Hải Phòng trích 87,7 tỷ
đồng… Chỉ có hai CTCK có khoản trích lập tương đối lớn, nhưng vẫn duy trì được kết
quả kinh doanh có lãi là CTCK TP. HCM (trích lập 200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế
23,54 tỷ đồng) và CTCK Sài Gòn (trích lập 25,7 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 250,5 tỷ
đồng). Riêng CTCK Kim Long, dù đã cắt lỗ các khoản đầu tư từ quý IV/2008 nên
không phải trích lập dự phòng, nhưng Kim Long cũng có khoản lỗ lên tới 347,44 tỷ
đồng, tương đương 70% vốn điều lệ. Sự thua lỗ của CTCK là do diễn biến TTCK suy
giảm và kém thanh khoản trong năm 2008. Những CTCK có nghiệp vụ chính là môi
giới và tư vấn cũng thua lỗ.
2.1.2.2/ Tình hình hoạt động của một số công ty chứng khoán Việt Nam tiêu biểu
trong năm 2009
Năm 2009 là năm nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do tác động của khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam đã có dấu hiệu hồi phục, tạo đà
cho các bước tăng trưởng của những năm tiếp theo. Trong năm 2009 hoạt động của các
CTCK tiêu biểu được thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, mạng lưới, quy mô hoạt động của CTCK ngày càng được mở rộng, với 80
chi nhánh, 42 phòng giao dịch đang hoạt động tập trung ở nhiều tỉnh, thành phố lớn
như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Hải Phòng. Cùng với sự phát
triển mạng lưới hoạt động, số lượng tài khoản giao dịch tại các CTCK cũng tăng mạnh
với tổng số tài khoản trên 800.000 tài khoản, tăng 1,5 lần so với năm 2008.
Thứ hai, cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, các CTCK đã thực hiện trên
5.000 hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành. Tính đến cuối năm 2009 đã có gần 80
CTCK hoạt động có lãi trong năm 2009. Quy mô vốn hoạt động của các CTCK ngày


Trang 23

càng được nâng cao. Tính đến cuối năm 2009, tổng số vốn điều lệ của các CTCK là
24.855 tỷ đồng, tăng 9,4% so với năm 2008.
Thứ ba, số lượng người hành nghề kinh doanh chứng khoán ngày càng tăng. Tính
đến nay, UBCKNN đã cấp chứng chỉ người hành nghề chứng khoán cho 2.744 nhân
viên.
Năm 2009, các công ty chứng khoán này đạt 12.280 tỷ đồng doanh thu. Tổng lợi
nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế lần lượt là 5.559 tỷ và 5.061 tỷ đồng.
2.1.2.3/ Tình hình hoạt động của một số công ty chứng khoán Việt Nam tiêu biểu
trong năm 2010
Theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2010 của các CTCK, tổng doanh thu của 101
CTCK đạt xấp xỉ 15.800 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 2.374 tỷ đồng và lợi nhuận
sau thuế đạt 1.805 tỷ đồng. Bốn công ty có doanh thu trên 1.000 tỷ đồng là Agriseco
(1.657 tỷ đồng), SSI (1.504 tỷ), SBS (1.377 tỷ) và TLS (1.312 tỷ). Trong số 4 công ty
này, chỉ có SBS có doanh thu chủ yếu từ hoạt động tự doanh với 1.131 tỷ đồng, chiếm
82% doanh thu. Doanh thu khác chiếm tới 65% doanh thu của TLS và 59% của AGR.
Đối với SSI, tỷ trọng doanh thu tự doanh là 47% và doanh thu khác là 31%.
Bảng 2.2: 10 CTCK có doanh thu lớn nhất năm 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
CTCK
viết tắt
AGR
SSI
SBS
TLS
ACBS
VND
VCBS
HCM
BSC
VCSC

CTCK
Agriseco
Sài gòn
Sacombank
Thăng long
ACB
VNDirect
Vietcombank
TP.HCM
BIDV
Bản Việt

Doanh

Môi

Tự



thu
1656,6
1503,6
1377,2
1311,8
503,9
470,7
466,4
426,2
423,4
383,8

giới doanh vấn
48,25 625
0,2
176,0 710
108,2
116,5 1131
19
234,5 207,9
64
96,7 318,1
4,5
105,2 128,1
4,3
67,60 26,6
1,1
151,5 59,4
4
42,9 124,5 19,2
37,8 269,1 24,7

Doanh thu

Lợi nhuận

khác
975,3
473
40,6
855,1
83,7
232,8
370,4
256,4
231,1
40,7

trước thuế
262,76
902,8
104,3
48,6
24,6
141
34,9
227,9
11,4
96,8


Trang 24

(Nguồn: HOSE, HASTC)
Qua bảng số liệu trên, tổng doanh thu môi giới của các CTCK trong năm 2010 là
2.692 tỷ đồng. Trong đó, đứng đầu là TLS với 234 tỷ đồng doanh thu môi giới chiếm
8,7%. SSI đứng thứ 2 với 176 tỷ đồng chiếm 6,5%... Doanh thu môi giới của các
CTCK này bao gồm các khoản thu nhập từ lãi tiền gửi, cung cấp các dịch vụ cho nhà
đầu tư như đòn bẩy, repo… Nếu không tính những công ty chứng khoán có tỷ trọng
hoạt động trái phiếu lớn, thì hầu hết các CTCK có thị phần môi giới cổ phiếu lớn cũng
thường có doanh khác lớn như SSI, TLS, HSC, FPTS… Những khoản doanh thu khác
này thường lớn hơn nhiều so với doanh thu môi giới.
Một số CTCK có doanh thu tư vấn rất lớn (đứng đầu là FPTS với 188 tỷ đồng), đây
có thể là do cách các công ty này ghi nhận doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ cho nhà
đầu tư vào “Doanh thu tư vấn” thay vì ghi nhận vào “Doanh thu khác” như phần lớn
các CTCK khác vẫn làm. SSI vẫn duy trì được mức lãi lớn hơn hẳn các công ty khác
với 903 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế và 690 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Sáu công ty
chứng khoán khác có mức lãi trước thuế trên 100 tỷ là Agriseco (263 tỷ), HSC (228
tỷ), FPTS (210 tỷ), VNDirect (141 tỷ), HBBS (127 tỷ) và SBS (104 tỷ).
Bảng 2.3: 10 CTCK có lợi nhuận lớn nhất năm 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
CTCK
Sài Gòn
Agriseco
TP.HCM
FPT
VNDirect
Habubank
Sacombank
Bản Việt
Dầu khí
Sài Gòn – Hà Nội

Doanh thu
1503,6
1656,6
426,2
368,3
470,7
175,8
1377,2
383,8
258,7
337,9

Lợi nhuận trước thuế
902,8
262,7
227,9
210,4
141
126
104,3
96,8
85,7
50

Lợi nhuận sau thuế
689,5
194
182,3
188,6
105,2
114
92,3
74,2
64,9
41,5
(Nguồn: HOSE, HASTC)


Trang 25

Bên cạnh, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tốt của các CTCK lớn thì có tổng
cộng 27 công ty chứng khoán khác ghi nhận lợi nhuận âm trong năm 2010 với tổng
mức lỗ là hơn 619 tỷ đồng. Trong đó có 12 công ty lỗ trên 10 tỷ đồng. Dẫn đầu là KLS
-172,8 tỷ), BVS (-92,7 tỷ), KIS Việt Nam (-57,6 tỷ), HPC (-48,7 tỷ)…
Bảng 2.4: 10 CTCK lỗ nhiều nhất năm 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
CTCK

Doanh thu
272,3
238,9
13,7
56,3
12,1
86,5
41,9
30,1
4,3
13

Kim Long
Bảo Việt
KIS Việt Nam
Hải Phòng
Vina Securities
Ngân hàng MHB
Sao Việt
Mirae Asset
Tầm Nhìn
Sen Vàng

Lợi nhuận trước thuế
-172,8
-92,7
-57,6
-48,7
-35,4
-26,4
-21,4
-18,1
-12,7
-12,2
(Nguồn : HOSE, HASTC)

Qua bảng số liệu bên dưới, tổng mức lỗ lũy kế của 7 công ty có mức lỗ trên 100 tỷ
đồng là 972 tỷ đồng. Dẫn đầu là BVS (-214 tỷ), KLS (-169 tỷ), HPC (-149 tỷ), Vina (126 tỷ)… Số lỗ này phần lớn xuất phát từ các năm trước, đặc biệt là năm 2008. Mức lỗ
quá lớn của năm 2008 khiến nhiều công ty dù có lãi trong năm 2009 và 2010 vẫn chưa
thể bù đắp được.
Bảng 2.5.: 10 CTCK có lỗ lũy kế lớn nhất đến cuối năm 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
CTCK
Bảo Việt
Kim Long
Hải Phòng
Vina
Đại Việt

Lỗ lũy kế

Vốn điều lệ

-214
-169
-149,1
-126,4
-112,4

722,3
2025
401,3
185
250

Lợi nhuận trước
thuế năm 2010
-92,7
-172,8
-48,7
-35,4
8,9


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x