Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu một số DI sản văn hóa PHI vật THỂ TỈNH PHÚ yên từ góc độ LỊCH sử

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN HẢI NGÂN GIANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ TỈNH PHÚ YÊN
TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Bình Định – Năm 2014


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Tố Uyên


Phản biện 1: PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ
Phản biện 2: TS. Trương Thị Dương

Luận văn sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Lịch sử Việt Nam họp tại Trường Đại học Quy Nhơn vào ngày 30
tháng 8 năm 2014

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin -Tư liệu, Trường Đại học Quy Nhơn
- Khoa Lịch sử


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, không một quốc gia nào
đứng biệt lập mà có thể tồn tại và phát triển ở các lĩnh vực khác
nhau. Trước tình hình đó, văn hoá đã thể hiện sâu sắc vai trò của
mình với tư cách vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội.
Những năm qua, đối diện với nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, đất nước ta vẫn đang trên tiến trình của công cuộc đổi
mới toàn diện các mặt của đời sống kinh tế, cũng như đời sống xã
hội; chính sách đối ngoại đã mở rộng cửa cho quá trình giao lưu tiếp
xúc với văn hoá bên ngoài, nhưng đồng thời kéo theo đó là những hệ
luỵ, những thách thức không thể nào tránh khỏi. Làm thế nào để vừa
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để hội nhập, vừa bảo tồn
được các giá trị văn hoá dân tộc, hoà nhập chứ không hoà tan đã trở
thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Có thể nhận thấy rằng trong những năm qua, cộng đồng các
dân tộc Việt Nam đã thể hiện được sự thống nhất trong đa dạng của
một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời chủ động hội
nhập, giao lưu tiếp xúc với nhiều nền văn hoá khác trên khắp thế
giới…Song song với việc hấp thụ cái hay cái đẹp, cái tiến bộ, cái gần
gũi, không thể phủ nhận rằng chúng ta đã phòng ngự, bài trừ được
những cái xấu, cái dở không phù hợp từ bên ngoài. Tuy nhiên, dòng
xoáy của nền kinh tế thị trường trên con đường hội nhập, ảnh hưởng
văn hoá bên ngoài, sức lan toả của internet là hết sức ghê gớm; nó
mang theo những loại hình, hình thức văn hoá không phù hợp, đồi
truỵ, đi ngược lại với văn hoá dân tộc, làm mai một các giá trị truyền


thống; lối sống cá nhân, hưởng thụ, thực dụng đã và đang từng bước
len lỏi đến bộ phận thế hệ trẻ nước ta. Sự xuống cấp về lối sống, văn


2
hoá trong một bộ phận xã hội là một vết hằn cho các thế hệ sau, là
vết thương của cơ chế thị trường.
Sự thật thì cái gì cũng có tính hai mặt của nó, thuận lợi khó
khăn, tiêu cực hay tích cực, đều là những nấc thang kinh nghiệm cho
chúng ta. Trong hành trình phát triển và hội nhập, Việt Nam đã nhận
thức rõ được điều này, chúng ta không tự cô lập mình trong mảnh đất
hình chữ S mà văn hoá Việt đã và đang hội nhập bằng sức mạnh,
bằng cách thức và con đường đi của riêng mình. Ngược dòng lịch sử,
Hội thảo quốc tế lần thứ nhất về Việt Nam học được tổ chức tại Hà
nội vào năm 1998 đã tập trung được nhiều nhà khoa học của 23 nước
và vùng lãnh thổ với 279 tham luận, như một cách khẳng định về
chúng ta đã sẵn sàng để cho thế giới hiểu đúng, hiểu rõ về Việt Nam
hơn. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được thể hiện rõ
trong nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị
quyết của Đảng đã chỉ ra rằng kế thừa và phát huy di sản văn hoá dân
tộc (vật thể và phi vật thể) là con đường trở về với cội nguồn và tiếp
nối cội nguồn, là thái độ trân trọng quá khứ, là nền tảng để tiếp sức
cho hiện tại và hướng tới tương lai.
Con đường di sản đi qua miền Trung không thể không kể
đến Phú Yên, một vùng đất sơn thuỷ hữu tình, là nơi có nhiều văn
hoá vật thể và phi vật thể, và ngày càng toả sáng qua thời gian. 400
năm hình thành và phát triển, vùng đất Phú Yên đã để lại nhiều di
sản văn hoá phong phú, trong đó có những di sản văn hoá phi vật thể,
và những di sản ấy đang tiếp sức cho Phú Yên trên con đường công
nghiệp hóa – hiện đại hóa tỉnh nhà.
Di sản văn hoá phi vật thể là một bộ phận không thể tách rời
của bản sắc văn hoá dân tộc, là bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân


3
cư, nó là cầu nối quá khứ với hiện tại, là chiếc chìa khoá giúp giải mã
phân tích mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người
với con người trong một thời kì lịch sử nhất định. Việc nhìn nhận,
đánh giá, chỉ ra những giá trị lịch sử của di sản văn hoá phi vật thể…
cũng như những thành công và hạn chế trong việc kế thừa và phát
huy di sản văn hoá ở Phú Yên là vô cùng cần thiết, nhằm bảo vệ
những giá trị đang dần bị mai một đồng thời tạo sức mạnh tổng hợp
phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị quốc phòng.
Xuất phát từ những lí do cơ bản trên, chúng tôi quyết định
chọn đề tài “Nghiên cứu một số di sản văn hoá phi vật thể tỉnh Phú
Yên từ góc độ lịch sử” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài, có những tài liệu được công bố, bao gồm:
+ Đoàn Việt Hùng (2003), Bài chòi Phú Yên, Hội văn nghệ
dân gian và văn hoá các dân tộc tỉnh Phú Yên. Tác phẩm là công
trình nghiên cứu về nguồn gốc, diện mạo và quá trình phát triển của
Bài chòi Phú Yên.
+ Bùi Tân (chủ biên) (2004), Văn hóa dân gian miền biển
Phú Yên, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Yên. Công trình đề
cập đến các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở các cộng đồng dân
cư ven biển tỉnh Phú Yên như tổ chức đời sống, các công trình lăng,
đình, miếu, các làng nghề, các lễ hội, các hình thức sinh hoạt văn hóa
dân gian…
+ Nguyễn Thị Kim Hoa (2007), Phú Yên trong chiều sâu cội
nguồn, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội. Đây là một công trình địa
chí văn hoá, có giá trị tư liệu đặc biệt cho nhiều đối tượng nghiên
cứu khác nhau. Tác phẩm thống kê một cách có hệ thống về các di


4
sản văn hoá vật thể, phi vật thể trên địa bàn tỉnh Phú Yên qua bề dày
thời gian và chiều sâu cội nguồn.Qua tác phẩm người đọc có thể thấy
được Phú Yên thời kỳ tiền sơ sử trong không gian văn hoá Sa
Huỳnh, một Phú Yên phát triển thời vương quốc Chăm Pa, một Phú
Yên khởi đầu công cuộc mở rộng lãnh thổ về phía nam của các chúa
Nguyễn với sự ra đời của phủ Phú Yên năm 1611, và cả chặng
đường phát triển sau này. Tác giả còn đưa ra quy hoạch bảo tồn, tôn
tạo và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Phú Yên trong giai đoạn
2007 - 2010.
+ Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên (2009), Lịch sử Phú Yên
(từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. Tác
phẩm viết về lịch sử Phú Yên từ trước năm 1611, thời kì các chúa
Nguyễn (1611-1772), thời kì 1773-1803, kinh tế văn hoá xã hội Phú
Yên từ thế kỉ XVII đến XVIII. Cuốn sách đi đến rút ra những đặc điểm
nổi bật trong quá trình củng cố và phát triển vùng đất phía Nam Tổ
quốc. Tác phẩm còn đề cập đến đời sống văn hóa tinh thần, phong tục
tập quán, tín ngưỡng của cư dân Phú Yên ở thế kỉ XVII – XVIII.
+ Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên (2009), Lịch sử Phú Yên
(thế kỉ XIX), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. Tác phẩm đề cập đến
tỉnh Phú Yên trong thế kỉ XIX về các mặt tự nhiên, tổ chức hoạt
động của bộ máy nhà nước thời kì tự chủ, chế độ ruộng đất và các
hoạt động kinh tế, văn hoá tín ngưỡng, giáo dục xã hội, về phong
trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX.
+ Nguyễn Đình Chúc (2010), Hò khoan Phú Yên, NXB Văn
hoá thông tin, Hà Nội. Tác phẩm khái quát bối cảnh lịch sử xã hội và
nguồn gốc hò khoan, diện mạo và đặc điểm của hò khoan Phú Yên.
+ Nguyễn Văn Thưởng (2011), Lương Văn Chánh- thân thế
và sự nghiệp, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội. Cuốn sách cung cấp


5
cho người đọc về bối cảch nước ta thế kỉ XVI-XVII, cho thấy được
thân thế và công lao của Lương Văn Chánh trong buổi đầu khai
hoang lập ấp, hình thành làng xã và những chính sách quản lý dân
cư… biến vùng đất biên thuỳ ở thế kỉ XVI trở nên đông đúc, trù phú.
Tác phẩm còn cung cấp những trang gia phả, những tờ sắc chỉ, sắc
phong có liên quan đến Lương Văn Chánh và gia tộc họ Lương ở
Phú Yên. Những di sản Hán Nôm được đề cập đến trong tác phẩm là
nguồn tư liệu quan trọng góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thành
vùng đất Phú Yên. Cuốn sách cũng cung cấp cho người đọc những
thông tin về quần thể di tích lịch sử mộ và đền thờ Lương Văn
Chánh, việc thờ cúng, tưởng nhớ của nhân dân với vị thành hoàng
đất Phú.
+ Lê Thế Vịnh (2011), Di sản văn hóa Phú Yên, Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch – Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Tác phẩm
trình bày một số di sản văn hóa tiêu biểu đang được các cộng đồng
dân cư Phú Yên gìn giữ, bảo tồn và phát huy.
Ngoài ra còn có các bài viết được đăng trên tập kỉ yếu kỉ niệm
395 hình thành và phát triển Phú Yên, Tạp chí Xưa và Nay, Tạp chí Trí
thức Phú Yên, Báo Phú Yên, các tài liệu lưu trữ tại Thư viện Hải Phú,
Bảo tàng tỉnh Phú Yên… cũng đề cập đến vùng đất Phú Yên trên các
mặt từ thời tiến sơ sử. Các bản sắc phong, liễn, câu đối được lưu giữ
tại các đình làng, lăng, miếu, nhà thờ họ, tư gia… cũng chứa đựng
trong nó một phần lịch sử của vùng đất Phú Yên.
Kế thừa những thành tựu trên, chúng tôi đi sâu tiếp cận
nghiên cứu một số di sản văn hoá phi vật thể ở tỉnh Phú Yên từ góc
độ lịch sử để thấy được rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển
của vùng đất Phú Yên, cũng như bản sắc văn hóa của vùng đất này.


6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cƣú
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển, giá trị
lịch sử của một số các di sản văn hoá phi vật thể ở tỉnh Phú Yên.
- Phân tích tác động của hệ thống di sản văn hoá phi vật thể
tỉnh Phú Yên với đời sống cư dân địa phương.
- Trình bày thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hoá phi vật thể để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài có những
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ các khái niệm văn hóa, di sản văn hóa, di sản văn
hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.
- Khát quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế
xã hội, Phú Yên từ khi hình thành đến nay và cơ sở hình thành các di
sản văn hóa tỉnh Phú Yên.
- Trình bày đầy đủ, có hệ thống về một số di sản văn hóa phi
vật thể tỉnh Phú Yên từ góc độ lịch sử.
- Làm rõ thực trạng các di sản và những thành tựu, hạn chế
cũng như định hướng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản
phi vật thể đó ở tỉnh Phú Yên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài
là tìm hiểu về một số di sản văn hoá phi vật thể tỉnh Phú Yên dưới
góc độ lịch sử.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở các mặt sau:


7
- Trên cơ sở khái quát về hệ thống văn hoá phi vật thể tỉnh
Phú Yên, đề tài đi sâu tìm hiểu một số di sản văn hoá phi vật thể tiêu
biểu của tỉnh Phú Yên qua các thời kì lịch sử
- Không gian nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các di sản văn
hoá phi vật thể và tác động của nó trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
- Thời gian nghiên cứu là quá trình hình thành, phát triển, tác
động của hệ thống di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Phú Yên từ khi
xuất hiện cho đến nay.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Những nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng, Nhà nước
về văn hoá nói chung. Đó là: Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)
về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành TW
Đảng (khoá IX); Quyết định 581/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá Việt Nam đến năm 2020;
Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ chính trị về tiếp tục xây dựng và
phát triển văn hoá, nghệ thuật trong thời kì mới;
- Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu, luận văn, sách
báo có liên quan đến đề tài đã được công bố.
- Các báo cáo, tài liệu, các quyết định được lưu trữ tại phòng
lưu trữ của: Tỉnh ủy; Uỷ ban nhân dân tỉnh, các huyện, thành phố, thị
xã; phòng kiểm kê bảo quản, Bảo tàng tỉnh Phú Yên; Sở Văn hóa thể
thao-du lịch, Sở Khoa học công nghệ, Thư viện Hải Phú…
- Các tài liệu sưu tầm, nghiên cứu riêng của một số cá nhân
và tư liệu thu thập được qua quá trình đi điền dã tại địa phương.


8
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài nghiên cứu là quan
điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và
di sản văn hoá phi vật thể.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp lịch sử,
phương pháp logic và sự kết hợp giữa hai phương pháp này.
- Bên cạnh đó còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, hệ
thống, so sánh, đối chiếu và giám định tư liệu, tiến hành thực địa,
điền dã để thu thập sự kiện, tài liệu; đồng thời sử dụng phương pháp
tổng hợp, phân tích, so sánh để xử lí và sử dụng các nguồn tài liệu
thu thập được.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ có những đóng góp chủ yếu sau:
- Đây là công trình đầu tiên trình bày một cách đầy đủ và hệ
thống về giá trị lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của
những di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Phú Yên.
- Phân tích sự tác động, ảnh hưởng của hệ thống di sản văn
hoá phi vật thể đối với tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
tỉnh Phú Yên.
- Góp phần giáo dục ý thức gìn giữ và phát huy giá trị di sản
văn hoá địa phương cho nhân dân Phú Yên nói chung và thế hệ trẻ
nói riêng.
- Là tài liệu tham khảo để dạy lịch sử địa phương ở các
trường phổ thông.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, Nội dung luận văn chia làm 3 chương gồm:


9
Chƣơng 1. Khái quát về các di sản văn hóa phi vật thể trên
địa bàn tỉnh Phú Yên
Chƣơng 2. Một số di sản văn hoá phi vật thể tỉnh Phú Yên
nhìn từ góc độ lịch sử
Chƣơng 3. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá
phi vật thể tỉnh Phú Yên
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ CÁC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN
1.1. Nhận thức và quan điểm tiếp cận
1.1.1. Khái niệm về văn hóa và di sản văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm về văn hóa
Ông Ferderico Mayor (Nguyên Tổng giám đốc UNESCO) đã
đưa ra quan niệm của mình về văn hóa và được Hội nghị liên chính
phủ về các chính sách văn hóa họp tại Áo năm 1970 chấp nhận: “Đối
với những người khác văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân
tộc này khác với dân tộc khác từ những sản phẩm tinh vi hiện đại
nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”
[6, tr.5].
Còn phó giáo sư Trần Ngọc Thêm thì cho rằng: Văn hóa là
một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội [51, tr.10].
1.1.1.2. Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể
a. Khái niệm về di sản văn hóa
Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về di sản văn hóa
đã được thể hiện đầy đủ trong Luật di sản văn hóa được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kì họp thứ 9


10
khóa X (ngày 29/6/2001). Theo đó, di sản văn hóa Việt Nam (bao
gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể ) là một bộ
phận của di sản văn hóa nhân loại; là sản phẩm tinh thần, vật chất có
giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác ở nước ta, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
của nhân dân ta.
b. Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể
Được thông qua lần đầu tại kì họp thứ 9, Quốc hội khóa X,
đến năm 2009 Luật di sản được sửa đổi bổ sung đã đưa ra khái niệm
mới về “di sản văn hóa phi vật thể” như sau:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn
với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn
hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể
hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo
và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức
khác [47, tr.5].
c. Các loại di sản văn hóa phi vật thể
1.1.2. Tầm quan trọng của công tác bảo tồn, kế thừa và
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Ngày nay, vấn đề bảo vệ và kế thừa, phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể đã và đang trở thành mối quan tâm có tính chất
toàn cầu.
Tại phiên họp Đại hội đồng thứ 25, ngày 15/11/1989, Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc đã công bố
một khuyến nghị cho các nước thành viên, trong đó có Việt Nam, về
việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.


11
Quyết định số 25/TTg ngày 19/1/1993 của Thủ tướng Chính
phủ về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn
hóa nghệ thuật đã xác định đầu tư 100% cho việc sưu tầm, chỉnh lý,
biên soạn, bảo quản lâu dài, phổ biến các sản phẩm văn hóa tinh thần
như văn học dân gian, các làn điệu âm nhạc, nghề truyền thống…
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1998) về xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã
đưa ra nhận định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội [2].
1.2. Các di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn tỉnh Phú Yên
1.2.1. Phú Yên, vùng đất và con người
1.2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.2.1.2. Cơ sở kinh tế - xã hội, hạ tầng
1.2.1.3. Lịch sử, văn hóa vùng đất Phú Yên
1.2.2. Hệ thống di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Phú Yên
Hệ thống di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Phú Yên có thể phân
loại như sau:
1.2.2.1. Di sản tiếng nói, chữ viết
1.2.2.2. Ngữ văn dân gian
1.2.2.3. Nghệ thuật diễn xướng dân gian
1.2.2.4. Lễ hội truyền thống
1.2.2.5. Nghề thủ công truyền thống
1.2.2.6. Tập quán xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo
1.2.2.7. Tri thức dân gian.
Tiểu kết chƣơng 1
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển hơn 400 năm
trên vùng đất mới, cư dân Phú Yên bên cạnh đời sống vật chất, còn


12
có đời sống tinh thần phong phú, đa dạng gắn với các giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể. Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa,
kinh tế xã hội đã tạo nên sự giao thoa nhiều chiều, khiến cho văn hóa
Phú Yên mang những nét đặc sắc riêng, trong đó, di sản văn hóa phi
vật thể được phân ra làm nhiều loại hình khác nhau, với một số di
sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu đã góp phần tô điểm thêm cho vùng
đất, con người nơi đây. Ở Chương Hai chúng tôi sẽ lần lượt giới
thiệu lịch sử hình thành, phát triển của một số di sản văn hóa phi vật
thể tiêu biểu này.
Chƣơng 2
MỘT SỐ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
TỈNH PHÚ YÊN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ
Như đã trình bày ở Chương một, trên vùng đất Phú Yên, di
sản văn hóa phi vật thể hết sức phong phú và đa dạng, gồm nhiều
loại hình khác nhau. Trong Chương này, chúng tôi chỉ trình bày một
số di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của tỉnh Phú Yên, đó là: hò
khoan, nghệ thuật bài chòi, di sản văn hóa Hán – Nôm và lễ hội.
2.1. Di sản nghệ thuật diễn xƣớng dân gian tỉnh Phú Yên
2.1.1. Hò khoan Phú Yên
2.1.1.1. Khái lược về nguồn gốc và sự phát triển của hò
khoan Phú Yên
* Nguồn gốc hò khoan Phú Yên
Ở Phú Yên, dựa vào các hình thức lao động và nghề nghiệp,
ta thấy vùng đất này có khá nhiều loại hò như hò đi cấy, hò giã gạo,
hò kéo lưới, hò chèo thuyền, hò kéo sợi, hò đạp mía, hò xẻ gỗ…song
tất cả đều được gọi chung là “hò khoan”. Sở dĩ có tên gọi này là vì
trước khi vào hò, tất cả các bài hò đều được mở đầu bằng cụm


13
“khoan hố, khoan hò, hố (hố) khoan hò…hò…hơ…hoặc khoan,
khoan, khoan hố…” [66, tr.307].
Nói về nguồn gốc hò khoan Phú Yên, nhà nghiên cứu
Nguyễn Đình Chúc nhận định: “Dân ca hò khoan ở đây đã là vốn
dân ca có từ Bắc Bộ, Thanh Nghệ, Thuận Quảng mà khi di dân lập
ấp, lập làng người ta đã mang theo…” [12, tr.32].
Sâu hơn nữa, tác giả cho rằng: “Hò khoan Phú Yên có cội
nguồn sâu xa từ văn minh sông Hồng, phát sinh từ những câu hò lao
động, một nhu cầu không thể thiếu của nhân dân Thanh Hóa ngày
xưa” [12, tr.30].
* Hò khoan là loại hình nghệ thuật diễn xướng đi từ môi
trường lao động đến hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian phổ biến
trong đời sống sinh hoạt của người dân Phú Yên.
* Hò khoan là một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian vô
cùng sôi nổi trước Cách mạng tháng Tám.
Thời gian gần đây, cũng như nhiều loại hình văn hóa truyền
thống khác, hò khoan đang đứng trước nguy cơ mai một, chúng ta
chỉ còn có thể tiếp xúc với hò khoan qua sách vở, tài liệu, các buổi
trình diễn nghệ thuật dân gian.
2.1.1.2. Diện mạo hò khoan trên địa bàn tỉnh Phú Yên
Cũng như các loại hình dân ca khác, hò khoan gồm có các
yếu tố cơ bản là làn điệu, ca từ và môi trường diễn xướng.
2.1.2. Bài chòi Phú Yên
2.1.2.1. Nguồn gốc và tiến trình phát triển bài chòi Phú Yên
Tuy không thể xác định chính xác bài chòi xuất hiện từ lúc
nào và đâu là cái nôi của bài chòi nhưng căn cứ vào công trình Hò
khoan Phú Yên [29], Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam [44], Sưu
tầm, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể bài chòi Phú Yên [68] thì có


14
thể khẳng định bài chòi được hình thành theo cách rất đặc biệt, cùng
với sự quần cư của cộng đồng người trong một khu vực nhất định.
Tại đây, những cư dân mới đã tiến hành dựng những ngôi nhà sàn
mang đặc điểm kiến trúc từ quê cũ, đây là kiểu nhà vừa thích hợp với
môi trường sông nước, vừa thích hợp với việc chống thú dữ, phù hợp
với điều kiện ăn ở, sinh sống của những lưu dân mới lập làng. Trong
quá trình sinh sống, nhu cầu liên lạc, trao đổi thông tin, vui chơi giải
trí họ đã nghĩ ra cách hò hát, đối đáp giữa chòi này với chòi khác; lúc
vui chơi, nhàn rỗi như vậy, khó có thể tránh khỏi việc “bài bạc”, từ
đó nảy sinh ra đánh bài trên chòi và giữa các chòi với nhau. Dần dần,
theo thời gian, nó được đông đảo nhân dân tiếp nhận, hưởng ứng.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945 tại Phú Yên có nhiều
gánh bài chòi tồn tại từ Sông Cầu đến Tuy Hòa
Qua quá trình giao lưu phát triển, Phú Yên có ba làn điệu bài
chòi là Xàng xê, Hò quảng, Cổ bản; tất cả đều được “bài chòi hóa”
bằng thơ lục bát và đây là những làn điệu cơ bản của sân khấu bài
chòi ngày nay.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, bài chòi phát
triển ở khắp các địa phương từ Quảng Nam đến Khánh Hòa. Ở Phú
Yên các huyện đều có Đội văn nghệ nghiệp dư, Đội Ca kịch kháng
chiến thể hiện những sáng tác tự biên bằng làn điệu dân ca, bài chòi,
hò, vè hoặc các tác phẩm kịch. Những tiết mục này đều gắn với
những yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp phần
cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Phú Yên trong cuộc
kháng chiến, kiến quốc.
Sang đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giống như
các tỉnh trong khu vực, Phú Yên cũng có các Đoàn Văn công Giải


15
phóng phục vụ chiến trường, trong cơ cấu tổ chức đều có các đội,
nhóm chuyên hát bài chòi.
Ngày nay, tuy có nhiều loại hình giải trí khác phát triển
nhưng bài chòi vẫn là một món ăn tinh thần có sức hút mạnh mẽ,
hình thức nghệ thuật này giữ một vị trí nhất định trong đời sống
sinh hoạt cộng đồng của nhân dân Phú Yên.
2.1.2.2. Hội đánh bài chòi – Nét văn hóa đặc trưng của nông
thôn Phú Yên
Cũng như các tỉnh Duyên hải miền Trung, hội đánh bài chòi
ở Phú Yên mang những nét tương đồng. Thời gian tổ chức thường
là vào dịp Tết Nguyên đán. Hội đánh bài chòi Tết thường bắt đầu
vào ngày mùng một và chấm dứt vào mùng bảy. Nhưng trước đó, từ
khoảng 25 tháng Chạp bà con đã tập hợp lại bể chuẩn bị nhân lực và
vật liệu dựng chòi. Ngoài ra, hội bài chòi còn được tổ chức trong
các lễ hội, các dịp nông nhàn ở địa phương.
2.2. Di sản văn hoá Hán – Nôm tỉnh Phú Yên
2.2.1. Các bản sắc phong trong hệ thống di sản văn hóa
Hán – Nôm tỉnh Phú Yên
2.2.1.1. Khái lược về hệ thống di sản văn hóa Hán – Nôm
tỉnh Phú Yên
Di sản văn hóa Hán Nôm là một bộ phận của hệ thống di sản
văn hóa phi vật thể có mặt trên vùng đất Phú Yên qua hơn 400 năm
lịch sử.
Đây là nguồn tư liệu chứa đựng nhiều thông tin quan trọng
về lịch sử, văn hóa mà thông qua đó các nhà nghiên cứu có thể hiểu
được về lịch sử hình thành một vùng đất, công lao của một số danh
nhân đối với lịch sử dân tộc, phong tục, tín ngưỡng của một cộng
đồng dân cư. Tuy nhiên, thời gian và chiến tranh đã và đang gây hư


16
hỏng, thất thoát, hao mòn dần nguồn tư liệu cổ, quý hiếm này. Chính
vì vậy, giữ gìn và bảo tồn di sản văn hóa Hán – Nôm là một vấn đề
cấp thiết và cấp bách đang được đặt ra cho các nhà nghiên cứu, cơ
quan quản lý văn hóa.
Với lịch sử hình thành hơn 400 năm, hệ thống di sản văn hóa
Hán – Nôm hiện có ở Phú Yên đã góp phần quan trọng vào việc
nghiên cứu các lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hóa, lịch sử, tôn giáo tín
ngưỡng của địa phương.
Năm 2014, với kết quả khảo sát, nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu lịch sử, văn hóa trong tỉnh như công trình Điều tra, khảo
sát hệ thống di sản văn hóa lưu vực sông Ba – Phú Yên [63] có thể
thấy di sản văn hóa Hán – Nôm ở Phú Yên phong phú về số lượng và
đa dạng về thể loại, được lưu giữ chủ yếu trong các nhà thờ tộc,
chùa, đền, miếu, đình làng, lăng hoặc tư gia.
2.2.1.2. Các bản sắc phong
Trên địa bàn Phú Yên hiện có đủ ba loại sắc phong là sắc
phong chức tước, sắc chỉ và sắc phong thần.
* Sắc phong chức tước.
Phú Yên có các bản sắc phong tước các nhân vật như: Lương
Văn Chánh, Nguyễn Công Nhàn và bố mẹ ông, Dương Văn Khoa,
Lương Văn Thành, Lê Trung Khiết…
*Sắc chỉ.
* Sắc phong thần.
Các sắc phong được lưu giữ ở Phú Yên là các sắc phong thần
cho Lương Văn Chánh, Cao Các, Bạch Mã, Nam hải Ngự tộc Ngọc
lân tôn thần.
Như vậy, theo thống kê thì các bản sắc phong hiện có ở Phú
Yên có từ nhiều niên đại khác nhau, trong đó bản sắc phong sớm


17
nhất là vào năm Quang Hưng thứ 19 (1596), muộn nhất là sắc
phong vào năm Khải Định thứ 9 (1924).
2.2.2. Giá trị lịch sử trong các bản sắc phong
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Phú Yên, có đầy đủ 3 loại sắc
phong, và các bản sắc phong này đều có giá trị rất lớn trong việc
nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các địa danh, đơn vị
hành chính ở Phú Yên; thân thế, sự nghiệp của những người có
công đối với quê hương; phong tục, tập quán, tín ngưỡng của cư dân
địa phương.
2.3. Di sản lễ hội tỉnh Phú Yên
2.3.1. Hệ thống các lễ hội ở Phú Yên
2.3.1.1. Quan niệm về lễ hội
2.3.1.2. Hệ thống các lễ hội ở Phú Yên
Trải qua hơn 400 năm hình thành và phát triển, miền đất Phú
Yên từ lâu đã là địa bàn sinh sống của nhiều tộc người với sự tiếp
biến văn hóa đáng kể giữa các thành phần tộc người. Hơn nữa, với
đặc điểm dân cư sinh sống trên nhiều địa bàn khác nhau bao gồm
vùng núi, đồng bằng, ven biển , đã tạo nên những sắc thái riêng có
của Phú Yên, do vậy số lượng các lễ hội ở tỉnh là rất phong phú và
đa dạng.
Người xưa có câu “Tam niên thành lệ”, tại Phú Yên, bên
cạnh một số lễ hội truyền thống được phục dựng, nhiều lễ hội mới
được hình thành đã được đông đảo người dân đồng tình ủng hộ.
Các lễ hội ở Phú Yên tập trung diễn ra từ tháng Giêng đến
tháng Tám âm lịch.
Hiện nay, trên địa bàn Phú Yên có hơn 50 lễ hội, với 4 loại
hình lễ hội: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử, cách mạng, lễ hội tôn giáo,
lễ hội văn hóa.


18
2.3.2. Một số lễ hội tiêu biểu ở Phú Yên
2.3.2.1. Lễ hội cầu ngư
Lễ hội cầu ngư là lễ cúng quan trọng nhất của vạn chài, là
hiện tượng văn hóa tồn tại ở hầu khắp các làng ven biển Nam Trung
Bộ mà Phú Yên là một trong những tỉnh tiêu biểu. Ngày tổ chức lễ
hội cầu ngư có nơi lấy theo ngày Ông lụy, có nơi lấy theo ngày vua
ban sắc phong, có nơi theo phong tục làm ăn mà định ngày cúng.
Lễ hội cầu ngư thường được tổ chức vào trước mùa đánh bắt
mới, mang ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, ngư dân đánh bắt
được nhiều hải sản. Các lễ thức trong lễ cầu ngư là sự tri ân đối với
biển cả, với cá Ông, biểu tượng tôn sùng linh thiêng của những
người đi biển. Đây đồng thời cũng là dịp để các bậc cao niên giáo
dục con cháu nhận thức rõ hơn về sự gắn bó giữa biển với cư dân vạn
chài; đây cũng là khoảng thời gian những người lao động nghỉ ngơi,
vui chơi sau những tháng ngày làm việc vất vả.
* Nguồn gốc lễ hội cầu ngư:
Lễ hội cầu ngư có nguồn gốc từ tục thờ cúng cá Ông, một tín
ngưỡng dân gian của cư dân ven biển, là biểu hiện sự hỗn dung văn
hóa Chăm – Việt trong quá trình cộng cư của các lưu dân người Việt.
* Đám tang cá Ông và lễ thỉnh ngọc cốt
* Lễ hội cầu ngư:
Đây là lễ cúng quan trọng nhất của các lạch. Ngày tổ chức lễ
cầu ngư ở các địa phương không giống nhau, tùy từng địa phương,
có nơi lấy ngày Ông lụy, có nơi lấy ngày vua ban sắc phong, có nơi
tùy theo phong tục làm ăn mà định ngày.
Lễ hội cầu ngư là lễ hội tiêu biểu của cộng đồng cư dân ven
biển Phú Yên. Lễ hội này tổ chức đều đặn theo lệ tại các làng nghề


19
đánh bắt thuộc các huyện Tuy An, Đông Hòa, thị xã Sông Cầu và
thành phố Tuy Hòa.
Lễ hội cầu ngư ở Phú Yên thường tổ chức từ tháng Giêng
đến tháng Tám âm lịch. Dù thời gian tổ chức có khác nhau nhưng đa
phần đều tập trung vào mùa xuân và mùa thu, tuy nhiên cũng có nơi
tổ chức vào mùa hè
2.3.2.2. Lễ hội đua ngựa Gò Thì Thùng (xã An Xuân, huyện
Tuy An, tỉnh Phú Yên)
Hội đua ngựa diễn ra hàng năm vào ngày mùng 9 tháng
Giêng trên Gò Thì Thùng (xã An Xuân, huyện Tuy An), cách trung
tâm thị trấn Chí Thạnh về hướng tây 15km. Tại đây, có một mặt
bằng gò bãi rộng lớn và một hệ thống hầm địa đạo của quân và dân
Phú Yên trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Hệ thống hầm địa
đạo này đã góp nên nhiều trận đánh làm rúng động kẻ thù và làm nên
những chiến công vang dội của quân và dân ta.
Khác với ngựa đua chuyên nghiệp thường thấy, ngựa đua ở
đây chỉ là những con ngựa thồ hàng ngày của bà con, còn kị sĩ là
những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn. Gần đến ngày
hội, những chú ngựa này được chủ chăm chút hơn, được nghỉ ngơi,
bồi bổ để dưỡng sức, tập luyện chờ ngày tranh tài. Những người
nông dân quanh năm gắn bó với nương rẫy, ruộng đồng cũng tạm
quên đi những nhọc nhằn đời thường, hóa thân thành những “kị sĩ
chân đất” chính hiệu.
2.3.2.3. Lễ hội đua thuyền Đầm Ô Loan (huyện Tuy An, tỉnh
Phú Yên)
Lễ hội đua thuyền đầm Ô Loan diễn ra trong hai ngày mùng
6, mùng 7 tháng Giêng âm lịch tại đầm Ô Loan (huyện Tuy An). Đây
là một lễ hội mới được hình thành trên cơ sở các cuộc đua thuyền


20
trong lễ hội cầu ngư đã có từ rất lâu của ngư dân các thôn Phú Tân,
Tân Long (xã An Cư, huyện Tuy An). Trong suốt thời gian hai ngày
lễ hội, nơi đây diễn ra nhiều hoạt động vui chơi giải trí mang đậm
dấu ấn văn hóa sông nước.
Đầm Ô Loan thuộc địa phận huyện Tuy An, có diện tích toàn
mặt nước là 1.570ha. Đầm nằm trong và tiếp giáp các xã An Cư, An
Hiệp, An Thạnh, An Hoà, An Hải, An Ninh, thị trấn Chí Thạnh
(huyện Tuy An). Đầm có nguồn thuỷ sản phong phú, có giá trị.
Lễ hội xưa trên đầm Ô Loan chính là nguồn gốc, cơ sở để
năm 1991, Sở Văn hoá - Thông tin và Sở Thể dục - Thể thao Phú
Yên phối hợp với Uỷ ban nhân dân huyện Tuy An tổ chức lễ hội đua
thuyền đầm Ô Loan với quy mô cấp tỉnh.
Cùng với thời gian, bên cạnh những hoạt động truyền thống,
lễ hội đầm Ô Loan ngày nay có thêm nhiều hoạt động mới, mang
màu sắc hiện đại, thu hút đông đảo các đội đua và nhân dân ở các địa
phương trong và ngoài huyện về tham gia.
2.3.2.4. Lễ hội đền thờ Lương Văn Chánh (xã Hòa Trị, huyện
Phú Hòa, tỉnh Phú Yên)
Lương Văn Chánh là người có công lớn trong việc mở đất
Phú Yên. Năm 1558, cùng chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) vào Nam lập
nghiệp, ông ra sức chiêu tập lưu dân vào khai hoang vùng Thuận –
Quảng.
Đến năm 1578, sau khi đánh tan quân Chiêm Thành, nhận
lệnh chúa Nguyễn tập trung dân khẩn hoang vùng đất từ Cù Mông
đến Đà Diễn.
Năm 1597, nhận lệnh của Nguyễn Hoàng, Lương Văn Chánh
tiếp tục chiêu tập lưu dân khai hoang mở mang vùng Bà Đài, Đà
Diễn, Đà Nông để ổn định đời sống cho bà con lưu dân.


21
Với những công lao của ông với vùng đất Phú Yên, sau khi
mất, ông được nhân dân tôn làm Thành hoàng bổn xứ và cho xây
đền, tiến hành thờ tự.
Lễ hội hàng năm được tổ chức từ ngày 5 đến ngày 6 tháng
Hai âm lịch tại Di tích lịch sử mộ và đền thờ Lương Văn Chánh,
dưới sự phối hợp tổ chức của Sở Văn hóa – Thể thao du lịch, Bảo
tàng tỉnh, chính quyền địa phương huyện Phú Hòa và xã Hòa Trị.
Tiểu kết chƣơng 2
Di sản văn hóa phi vật thể chính là một bộ phận không thể
tách rời kho tàng di sản văn hóa của mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân
tộc. Trình bày một số di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của tỉnh
Phú Yên từ góc độ lịch sử giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, toàn
diện hơn về những giá trị, đóng góp của nó đối với đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội của địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Trên
cơ sở đó, ở Chương ba chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ công tác quản lý,
bảo tồn, khai thác, sử dụng di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Phú Yên
đã được thực hiện như thế nào, kết quả đạt được ra sao và định
hướng trong giai đoạn tới.
Chƣơng 3
CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TỈNH PHÚ YÊN
3.1. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hoá phi vật thể ở tỉnh Phú Yên
3.1.1. Tình hình công tác quản lý, khai thác và sử dụng di
sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Phú Yên
3.1.2. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Phú Yên
3.1.2.1. Những thành tựu


22
3.1.2.2. Những tồn tại, hạn chế
3.2. Những vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hoá phi vật thể ở tỉnh Phú Yên
3.2.1. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế
3.2.1.1. Nguyên nhân của những kết quả đạt được
3.2.1.2. Nguyên nhân của những hạn chế
3.2.2. Những vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hoá phi vật thể ở tỉnh Phú Yên hiện nay
Tiểu kết chƣơng 3
Di sản văn hoá phi vật thể là nền tảng tinh thần không thể
thiếu của xã hội. Công tác gìn giữ, phát huy các giá trị di sản văn hoá
phi vật thể có tác dụng vô cùng to lớn trong việc nâng cao đời sống
văn hoá tinh thần cho nguời dân, xây dựng con người thời đại mới có
đạo đức, tư tuởng lối sống lành mạnh.
Bảo tồn, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di sản văn
hoá phi vật thể sẽ tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương,
đồng thời góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đầm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy cần có sự phối hợp
đồng bộ giữa các cấp, các ngành để thực hiện công tác bảo tồn, phát
huy di sản một cách tốt nhất.
KẾT LUẬN
Căn cứ vào đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài đã xác
định; đồng thời dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nêu
lên các kết luận sau đây:
1. Cùng với quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt
Nam đều luôn chú trọng xây dựng các chủ trương, đường lối, chính
sách, pháp luật về vấn đề gìn giữ, kế thừa và phát huy các di sản văn


23
hoá vi vật thể để nhằm giáo dục về truyền thống văn hoá, lịch sử,
giáo dục ý thức tự chủ tự cường dân tộc, phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời đáp ứng thoả mãn
đời sống tinh thần cho người dân.
2. Di sản văn hoá phi vật thể là hiện hữu của kí ức văn hoá, nó
hàm chứa những nhân tố mang tính lịch sử, đồng thời mang hơi thở
của thời đại mà chủ thể văn hóa cũng như chủ sở hữu di sản văn hóa
phi vật thể đang sống, làm việc và sáng tạo. Vì vậy, nghiên cứu
những di sản văn hoá phi vật thể tỉnh Phú Yên từ góc độ lịch sử là
một trong nhiều cách tiếp cận di sản nhằm phát huy sức mạnh cộng
đồng, nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản
văn hoá phi vật thể trên địa bàn tỉnh.
3. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam, và sự bùng nổ công nghệ thông tin toàn cầu, sự giao thoa, ảnh
hưởng qua lại giữa các nền văn hoá thì việc giữ gìn và phát huy bản
sắc riêng của mỗi dân tộc là một vấn đề đặt ra cấp thiết. Bảo tồn và
phát huy tốt giá trị di sản văn hóa không chỉ là cách để khẳng định
truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời của Phú Yên nói riêng, Việt
Nam nói chung mà còn là nguồn tài nguyên quý để phát triển, thu hút
khách du lịch. Ngược lại, du lịch được phát triển mạnh sẽ là nguồn
lực đáng kể trong việc phát huy, quảng bá giá trị di sản văn hóa đến
với bạn bè, du khách trong nước và quốc tế.
4. Phú Yên có thể chưa giàu về kinh tế nhưng đây là một địa
chỉ văn hoá giàu bản sắc, là một điểm đến trên con đường di sản qua
miền Trung và nay thì nền văn hoá ấy đang được kế thừa và không
ngừng phát triển, làm đa dạng và phong phú thêm đời sống văn hoá
tinh thần của nhân dân trong tỉnh.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×