Tải bản đầy đủ

ĐỀ CƯƠNG hệ THỐNG sử DỤNG đất TRONG lâm NGHIỆP

ĐỀ CƯƠNG HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT
TRONG LÂM NGHIỆP
Câu 1: Các cách tiếp cận quản lý hệ thống với các mối liên hệ đất, nước
và hoa màu trong hệ thống sử dụng đất? (Chương 4).
Câu 2: Hiện trạng đất đai và các nguyên nhân, hậu quả, các quá trình
làm thoái hóa đất dốc ở Việt Nam? (Chương 1).
Hiện trạng đất đai:
- Các đặc điểm chính của đất đai:
+ Đất đồi núi tại các tỉnh miền núi Bắc Bộ có quy mô diện tích lớn nhất, sau
đó là Tây Nguyên và thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Vùng Tây Nguyên có diện tích đất mất khả năng sản xuất cao nhất 131,6
nghìn ha.
- Hiện trạng quản lý:
+ Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là cây rừng có chu kỳ sinh trưởng và phát
triển rất dài, có thể tới hàng chục có thể hàng trăm năm và sở hữu đất đai là của
chung. Địa bàn sản xuất rộng lớn, phức tạp, đi lại khó khăn, do đó việc quản lý tài
nguyên cũng như áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất
lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn trở ngại.
+ Sản xuất lâm nghiệp không những có ý nghĩa mang lại lợi ích kinh tế, mà
nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.
- Hiện trạng sử dụng:

+ Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 33.121.159 ha (theo báo cáo
số liệu kiểm kê đất đai Bộ TN&MT 2007).

Trang 1


+ Với quỹ đất như vậy, Việt Nam xếp thứ 55 trong số 200 nước, nhưng dân số
lại xếp thứ 12 trên Thế giới, cho nên chỉ số bình quân đất đai là 0,46 ha/người (bằng
1/6 mức bình quân của Thế giới) xếp thứ 120/200 nước.
+ Đất lâm nghiệp gắn với trung du miền núi với tổng diện tích được quy hoạch
khoảng 19,3 triệu ha, đất trung du miền núi là một phần quan trọng trong quỹ đất
Việt Nam, chiếm 60% diện tích toàn quốc.
- Xu hướng thay đổi:
+ Trong những thập kỷ qua, việc quản lý bảo vệ và xây dựng một chiến lược
phát triển lâm nghiệp ở các quốc gia trên thế giới có nhiều chuyển biến:
 Chuyển từ nền lâm nghiệp khai thác lợi dụng rừng là chính sang thực hiện
mục tiêu lợi dụng rừng kết hợp cả ba lợi ích: kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái,
chú trọng nhiều hơn mục tiêu phát huy tác dụng sinh thái của rừng.
 Phi tập trung hoá phân cấp quản lý Nhà nước về rừng chuyển giao dần trách
nhiệm quyền lực về quản lý rừng từ cấp trung ương xuống cấp địa phương và cơ sở.
 Đẩy mạnh giao đất giao rừng cho các hộ nông dân và cộng đồng giảm bớt
sự can thiệp của Nhà nước tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động hơn.
 Thu hút sự tham gia của các nhóm cộng đồng dân cư được hưởng lợi từ
rừng. Khuyến khích họ tham gia vào công tác quản lý rừng, phát huy rừng, các
chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các khu rừng bảo tồn thiên nhiên, làng, bản.
+ Giao đất giao rừng cho các chủ thể địa phương là một trong những xu
hướng chung của các nước trên thế giới, trong đó có nước ta. Tuy nhiên ở mỗi nước,
vấn đề này được triển khai thực hiện ở một mức độ khác nhau và đem lại những kết
quả khác nhau.
 Ở Thái Lan: Sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ
nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng. Người nông dân
có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng. Người nông
dân nhận đất được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đất rừng

Trang 2


của Nhà nước ở những nơi phù hợp trồng cây nông nghiệp lưu niên, chính phủ Thái
Lan hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, trạm y tế... Việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp, đã làm tăng mức độ an toàn cho người thuê đất trong


thời gian sử dụng. Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và
tăng sức sản xuất của đất.
 Ở Nêpal: Nhà nước cho phép chuyển giao một số khu rừng có diện tích lớn
ở vùng núi trung du cho các cộng đồng, thông qua tổ chức chính quyền cấp cơ sở,
thành lập các thành viên uỷ ban về rừng cam kết bảo vệ các khu rừng ở địa phương.
 Ở Ấn Độ: Vào những năm 70 của thế kỷ 20 đã phát triển lâm nghiệp xã hội
(LNXH), năm 1986 Ấn Độ đã hoàn thành mục tiêu phát triển LNXH ở những bang
khác nhau. Ấn Độ coi trọng cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất
rừng của chính phủ.
 Ở Trung Quốc: Sau 20 năm thực hiện cải cách và mở cửa lâm nghiệp Trung
Quốc đã phát triển theo hướng chủ yếu sau: Chuyển dịch từ chế độ kinh doanh lâm
nghiệp chỉ dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể sang kinh doanh lâm
nghiệp dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần (Nhà nước, tập thể, cá nhân, hợp vốn
kinh doanh, hợp tác....) Phát triển nhiều ngành công nghiệp chế biến lâm sản, nâng
cao hiệu suất sử dụng tài nguyên rừng, chuyển từ giai đoạn lấy gỗ làm mục đích
sang coi trọng các mặt môi trường sinh thái hữu ích xã hội. Những chính sách đổi
mới về lâm nghiệp bao gồm: Cải cách và thay đổi chế độ sản quyền về rừng, từ
tháng 3/1981 Trung Quốc đã đề ra chính sách “tam định” nhằm xác định rõ ba vấn
đề : Xác định quyền sử dụng đất đồi núi (sơn quyền); xác định rừng (lâm quyền) và
hoạch định diện tích đất lâm nghiệp để lại cho các hộ nông dân sử dụng (tự lưu
sơn). Trong đó xác định đất đồi núi là hạt nhân căn bản.
Các nguyên nhân gây thoái hóa đất:
- Khách quan: Do tự nhiên:
+ Vận động địa chất của trái đất: động đất, sóng thần, sông suối thay đổi
dòng chảy, núi lở, nước biển xâm nhập,…
Trang 3


+ Do thay đổi khí hậu, thời tiết: Mưa, nắng, nhiệt độ, gió, bão,…
- Chủ quan: Do con người:
+ Chặt đốt rừng làm nương rẫy.
+ Trong quá trình trồng trọt, chế độ canh tác độc canh, bỏ hoang hóa, không
phun thuốc trừ sâu, trừ cỏ,…
+ Suy thoái do ô nhiễm đất từ nước thải, chất thải rắn, ô nhiễm dầu, hóa chất
độc hại, thuốc trừ sâu... Ô nhiễm đất do sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật nên
quần thể vi sinh vật trong đất thay đổi.
Các hậu quả của việc thoái hóa đất:
- Mất đất do xói mòn: Lượng đất mất do xói mòn là rất lơn và phụ thuộc vào
độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ trên mặt đất, dao động từ 100 đến
500 tấn đất/ha/năm.
- Mất dinh dưỡng: Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp, đất đồi núi miền Bắc
nước ta hàng năm mất khoảng 1cm tầng đất mặt (100m 3/ha), trong đó có khoảng 6
tấn mùn (tương đương khoảng 100 tấn phân chuồng) và 300kg N (tương
đương khoảng 1,5 tấn sunphat amon).
- Năng suất cây trồng: Giảm nhanh, có khi không thu hoạch. Như ở Nông
trường Mộc châu, Tây Bắc, năm 1959 mới khai phá, năng suất lúa 25 tạ/ha, đến
năm 1960 chỉ còn 18 tạ/ha, năm 1961 còn 5 tạ/ha và năm 1962 gieo ngô cũng không
thu hoạch được.
- Tàn phá môi trường: Do xói mòn đất, nương rẫy chỉ gieo trồng vài ba vụ rồi
bỏ, lại phá rừng đốt rẫy.
- Nhiễm phèn: pH không thích hợp cho cây trồng, Ion sắt, nhôm gây độc cho
cây, giảm động vật và vi sinh vật có lợi trong đất, giảm khả năng tự làm sạch của
đất.
- Nhiễm mặn: Năng suất cây trồng giảm mạnh khi nồng độ muối trên 4

Trang 4


g/l. Nồng độ muối từ 20 – 25 gây chết ở thực vật, đất trở nên nhão và ướt, nứt nẻ
khi khô.
- Về kinh tế, sinh thái và xã hội:...
Các quá trình làm thoái hóa đất:
- Xói mòn, xói lở: Lượng đất mất do xói mòn là rất lớn và phụ thuộc vào độ
dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ trên mặt đất, dao động từ 100 đến 500
tấn đất/ha/năm.
- Sa mạc hóa: Sa mạc hóa là sản phẩm cuối cùng của thoái hóa đất xảy ra ở
vùng khô hạn và bán khô hạn. Nguyên nhân do tác động qua lại giữa hạn hán và sử
dụng môi trường đất không hợp lý.
- Ô nhiễm đất: Môi trường đất có thể bị ô nhiễm dẫn đến thoái hóa do nhiều
tác nhân như: nhiễm mặn, nhiễm phèn, gley hóa, ô nhiễm dầu, thuốc bảo vệ thực
vật, kim loại nặng, chất hữu cơ, chất phóng xạ...
- Laterit hóa: Quá trình laterit hóa (hay đá ong hóa) là quá trình thổ nhưỡng địa chất chỉ xảy ra ở vùng khí hậu nhiệt đới, là quá trình rửa trôi và tích tụ tuyệt đối
các cation Fe3+, Fe2+ ; Al3+; Mn6+. Các cation này có sẵn trong môi trường đất nhiệt
đới, do sự tác động của nước mưa, dòng thấm, nước ngầm, chúng bị rửa trôi và tập
trung lại một chỗ trong đất với mật độ cao. Các cation này hấp thụ vào một nhóm
mang điện tích âm (hạt keo đất, oxit sắt…) hoặc hấp phụ vào một tác nhân khác để
có thể tạo sự kết dính giữa các cation đó nhằm tạo nên những liên kết tương đối bền
vững. Khi nhiệt độ môi trường lên cao, độ ẩm giảm thấp, các liên kết này mất nước,
sẽ tạo nên những oxit kim loại rất cứng chắc.
- Nhiễm mặn: Là quá trình xâm nhiễm mặn, tích tụ muối và các kim loại kiềm
trong môi trường đất, biến đất chưa mặn thành đất mặn. Nước mặn xâm nhập, sự di
chuyển của nước ngầm theo mao quản và sự bay hơi của nước bề mặt làm cho muối
tập trung với nồng độ cao, quá trình mặn hóa diễn ra thường xuyên...
- Nhiễm phèn: Những vùng đất ngập nước, vùng có trầm tích xác bã thực vật
nước mặn tích tụ 4000 - 5000 năm là môi trường thuận lợi hình thành phyrite (FeS 2)

Trang 5


là hoạt chất chủ yếu gây ra phèn hóa đất.Dạng phèn tiềm tàng:do đất chứa nhiều
FeS2 (khóang pyrite) do các vật liệu có S kết hợp với sắt từ oxyt sắt bị oxy hóa à
H+ làm đất rất chua.
Câu 3: Yêu cầu chung của các hệ thống sử dụng đất bền vững trên cả 3
khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường? (Chương 2).
Để phát triển bền vững, các công nghệ sáng tạo và bền vững áp dụng trong
nông nghiệp phải thúc đẩy sự cộng sinh hài hòa giữa con người và môi trường.
Để cho hệ thống nông nghiệp được cải thiện và hệ thống nông nghiệp mới
trở nên bền vững, cần phải có các đặc trưng sau:
- Dòng năng lượng cao:
+ Hiệu suất năng lượng của một hệ thống có nhập lượng cao có thể được cải
thiện bằng cách giảm những sự mất mát dưỡng liệu thông qua hạn chế có hiệu quả
sự rữa trôi và xói mòn, và tăng cường vốn dưỡng liệu qua sử dụng khôn ngoan các
nhập lượng phân bón hóa học và chất hữu cơ để cải tạo đất.
+ Gia tăng và duy trì sản xuất nông nghiệp bằng việc đưa thêm phân bón hóa
học mà không thiết lập những hệ thống quản lý đất, nước, cây gỗ, hoa màu và vật
nuôi, có hịu quả sẽ không thành công.
- Giảm cực nhọc và tăng phẩm giá của nông dân:
+ Nông nghiệp phải trở thành một nghề được tôn trọng, có phẩm giá và sung
túc, tránh sự cực nhọc và nghèo khó.
+ Sử dụng sức kéo động vật hay cơ giới.
+ Các nhà khoa học xã hội và nhân văn, phải xác định ưu tiên thay thế các
công cụ làm đất, làm cỏ hay thu hoạch thủ công nặng nhọc.
- Quản lý nước hữu hiệu: Quan tâm đến kết hợp các kĩ thuật quản lý đất và
hoa màu để bảo tồn tại chỗ tài nguyên nước trong đất.
- Phục hồi đất đai:

Trang 6


+ Bảo tồn tiềm năng sản xuất của tài nguyên thiên nhiên thông qua các biện
pháp phục hồi của quản lý đất và hoa màu.
+ Năng suất cao phải đạt được với một sự xuống cấp ít nhất có thể.
+ Chất lượng đất và khả năng sản xuất của nó phải được bảo tồn.
+ Thay thế dưỡng liệu đã bị lấy đi qua hoa màu thu hoạch và động vật thông
qua phân bón hóa học và chất hữu cơ.
+ Các hệ thống canh tác thích hợp là các hệ thống tăng cường được chất
lượng đất.
- Sự tương thích về sinh thái:
+ Mục tiêu của quản lý bền vững là tối thiểu hóa tính dễ bị tổn thương của
các hệ thống.
+ Trong khi đó, các hệ sinh thái nông nghiệp đơn giản hóa có sức sản xuất
cao hơn nhưng thường chịu những sư căng thẳng về môi trường so với các hệ sinh
thái tự nhiên. Xói mòn, sự cạn kiệt nhanh của chất hữu cơ và dự trữ dưỡng liệu của
đất. Các rủi ro của sự k ổn được tạo ra bởi sự đơn giản hóa 1 hệ sinh thái phải được
tối thiểu hóa thông qua quản lý đất và hoa màu thích hợp.
Câu 4: Thế nào là một hệ thống sử dụng đất bền vững? (Chương 2).
Các hệ thống bền vững là các hệ thống sản xuất liên tục thu nhập kinh tế mà
không gây ra những sự biến đổi lớn hay dài hạn đối với môi trường, hay không
được sự chấp nhận của xã hội về đạo đức hay thẩm mỹ.
Khái niệm “hệ thống nông nghiệp bền vững” bao hàm sự quản lý thành công
các tài nguyên cho nông nghiệp để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng và thay đổi của
con người trong khi vẫn duy trì hay tăng cường chất lượng của môi trường và bảo
tồn tài nguyên thiên nhiên.
Trong khái niệm này, sức sản xuất cao là một khía cạnh quan trọng. Tuy
nhiên, phần lớn các hệ thống sử dụng đất và các hệ thống nông nghiệp ưu thế trong

Trang 7


vùng nhiệt đới ẩm được đặc trưng bởi sức sản xuất hoa màu và gia súc thường thấp
và suy giảm nhanh khi sử dụng liên tục, mức độ xuống cấp của đất đai và môi
trường cao, ngoại trừ một số ít ngoại lệ đáng chú ý, như các hệ thống lâm sinh và
các hệ thống canh tác dựa trên cây lúa. Thực tế là các hệ thống sử dụng đất với nhập
lượng thấp, dựa trên sự khai thác độ phì của đất, thường không bền vững. Quản lý
của tài nguyên đất bền vững có nghĩa là sự duy trì sức sản xuất cao trên mỗi đơn vị
diện tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng cường chất lượng đất, và cải thiện các
đặc trưng của môi trường.
Chất lượng đất nói đến khả năng của đất trong việc sản xuất sản phẩm và
dịch vụ kinh tế, và duy trì các tiêu chuẫn chấp nhận được của chất lượng môi trường
cùng các chức năng trong phạm vi các tiềm năng và hạn chế của hệ sinh thái.
Mục tiêu của việc phát triển và sử dụng công nghệ cải tiến là tối thiểu hóa
cường độ và vận tốc của sự xuống cấp của đất được khởi sinh từ sự chuyển hóa
rừng sang đất sử dụng cho nông nghiệp, và tăng cường chất lượng cũng như sự
chống chịu của đất sao cho sức sản xuất có thể được duy trì với sự tối thiểu hóa các
tác động bất lợi lên đất đai và môi trường nói chung.
Câu 5: Tính tương đối của bền vững: Về không gian và thời gian, về mặt
xã hội?
Câu 6: Các yêu cầu và thuộc tính của hệ thống sử dụng đất bên vững?
(chương 4)
5 thuộc tính:
- Tính sản xuất hiệu quả: Trước hết việc quản lý sử dụng phải bảo đảm nuôi
dưỡng được người sử dụng trong thực tại.
- Tính an toàn: Tức là phương pháp quản lý đất phải thúc đẩy sự cân bằng
giữa việc sử dụng đất và các điều kiện môi trường, giảm rủi ro sản xuất.
- Tính bảo vệ: Các hoạt động sử dụng không phương hại cho việc sử dụng
trong tương lai, bảo vệ các tiềm năng và môi trường sống.

Trang 8


- Tính lâu bền: hệ thống sử dụng phải tồn tại và phát triển được trong môi
trường chung thay đổi.
- Tính chấp nhận (thích hợp): quản lý sử dụng đất chấp nhận được về mặt xã
hội, phù hợp với lợi ích của các bên tham gia quản lý, lợi ích quốc gia, cộng đồng
và người sử dụng.
Câu 7: Phân tích các chiến lược duy trì chất lượng đất: Chống xói mòn,
quản lý dưỡng liệu và chất hữu cơ của đất ở Việt Nam? (Chương 2)
7.1. Quản lý dưỡng liệu:
Quản lý dưỡng liệu là thành phần thiết yếu để sản xuất bền vững. Các loại
đất nhiệt đới phong hóa mạnh thuộc nhóm Oxisols/Ultisols và Alfisols, vốn có dự
trữ dưỡng liệu thấp, phải được cung cấp dưỡng liệu bổ sung thường xuyên để thúc
đẩy thâm canh nhằm gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm.
Việc sử dụng đất thâm canh và có năng suất cao trên các loại đất vốn có độ
phì nội tại thấp chỉ có thể đạt được bằng cách gia tăng các mức dưỡng liệu thông
qua sử dụng phân bón hóa học, chất hữu cơ cải thiện đất, và chu chuyển dưỡng liệu.
Tăng cường dưỡng liệu cho các loại đất này là cần thiết.
7.2. Quản lý sự xói mòn đất:
Sự lựa chọn một phương án phù hợp phải được tiến hành thận trọng, với sự
xem xét đầy đủ các yếu tố như loại đất, dạng đất và các đặc trưng địa hình, chế độ
mưa và thủy văn, hệ thống canh tác/hoa màu, và các yếu tố xã hội-kinh tế.
Các biện pháp phòng ngừa xói mòn bao gồm tăng cường cấu trúc của đất,
giảm tác động của các giọt nước mưa, cải thiện sự thấm nước, và giảm vận tốc và số
lượng nước chảy mặt.
Các kỹ thuật này là các hệ thống quản lý đất và hoa màu thận trọng.
7.3. Quản lý phế liệu hữu cơ:

Trang 9


Sự thích hợp của 1 phương thức canh tác phụ thuộc vào môi trường tư nhiên
và bối cảnh kinh tế - xã hội của địa phương.
Bổ sung chất hữu cơ đều đặn với số lượng đáng kể là cần thiết để duy trì một
mức hàm lượng chất hữu cơ của đất thuận lợi và kích thích hoạt động sinh học của
hệ sinh vật đất (ví dụ, trùn đất và mối).
Che tủ mặt đất bằng phế liệu hoa màu là một yếu tố quan trọng của mọi hệ
thống canh tác/hoa màu được cải thiện.
Che tủ mặt đất sẽ có lợi cho việc:
- Bảo tồn đất và nước;
- Điều hòa độ ẩm của đất và chế độ nhiệt độ;
- Cải thiện cấu trúc của đất;
- Hạn chế cỏ dại;
- Tăng cường hoạt động sinh học của hệ sinh vật đất, và bảo vệ đất tránh tác
động của mưa với cường độ cao và sự làm khô quá mức.
Các phương thức che tủ đất bằng thực vật sống, canh tác theo băng, luân
canh, trồng cây trong thời gian bỏ hóa, và sử dụng các phế liệu công nghiệp là một
số phương thức canh tác đặc biệt được chấp nhận để giải quyết vấn đề vật liệu che
tủ đất.

Trang 10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×