Tải bản đầy đủ

KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ
GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh doanh thƣơng mại

NGUYỄN NGỌC HUYỀN

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ


KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ
GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh doanh thƣơng mại
Mã số: 8340121

HỌ TÊN HỌC VIÊN: NGUYỄN NGỌC HUYỀN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: TS. VŨ THÀNH TOÀN

HÀ NỘI - 2018


MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC ............................................................................................................................ 5
1.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ giáo dục đại học ............................................ 5
1.1.1. Khái niệm .......................................................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm ........................................................................................................... 9
1.2. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học ................. 14
1.2.1. Xuất khẩu dịch vụ ......................................................................................... 14
1.2.2. Xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học ............................................................. 15
1.3. Vai trò của xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học đối với các quốc gia ............ 19
1.3.1. Vai trò đối quốc gia cung cấp dịch vụ ........................................................... 19
1.3.2. Vai trò đối với quốc gia tiếp nhận dịch vụ ................................................... 20
1.4. Tình hình xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học trên thế giới trong thời gian
vừa qua ..................................................................................................................... 22
CHƢƠNG 2. KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC CỦA
CÁC NƢỚC PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY .............................. 25
2.1. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục của Mỹ ........................................... 25
2.1.1. Vài nét chung về nền giáo dục đại học tại Mỹ ............................................. 25
2.1.2. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Mỹ............................. 27
2.1.3. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Mỹ.......................... 31
2.2. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Australia .................... 32
2.2.1. Vài nét chung về nền giáo dục đại học tại Australia ................................... 32
2.2.2. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Australia .................. 35
2.2.3. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Australia ............... 41
2.3. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Singapore .................. 43
2.3.1. Vài nét chung về nền giáo dục đại học tại Singapore ................................. 43
2.3.2. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Singapore ................. 45


2.3.3. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Singapore .............. 49


2.4. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Trung Quốc ............... 50
2.4.1. Vài nét chung về nền giáo dục đại học tại Trung Quốc .............................. 50
2.4.2. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Trung Quốc ............. 53
2.4.3. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Trung Quốc .......... 57
CHƢƠNG 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO
XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA VIỆT NAM ................. 59
3.1. Tổng quan về giáo dục đại học của Việt Nam ............................................... 59
3.1.1. Tổng quan về giáo dục đại học của Việt Nam ............................................. 59
3.1.2. Quy mô giáo dục đại học Việt Nam .............................................................. 61
3.2. Tình hình xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học ở Việt Nam.......................... 63
3.3. Những vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu giáo dục đại học của Việt Nam .... 67
3.3.1. Phương pháp giảng dạy tại đại học .............................................................. 68
3.3.2. Chất lượng đầu ra của đại học ..................................................................... 69
3.3.3. Chương trình đào tạo .................................................................................... 69
3.3.4. Chất lượng đội ngũ giảng viên ..................................................................... 70
3.4. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu giáo dục Việt Nam từ kinh nghiệm
các quốc gia .............................................................................................................. 71
3.4.1. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ............................................. 71
3.4.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ..................................................... 73
3.4.3. Tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học .................... 73
3.4.4. Thành lập tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo.................... 74
3.4.5. Nhóm giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu .......................................... 75


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Luận văn là có nguồn gốc và
được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan này.
Học viên

Nguyễn Ngọc Huyền


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân
thành nhất tới giáo viên hướng dẫn thầy giáo TS. Vũ Thành Toàn đã chỉ bảo em
trong suốt thời gian hoàn thành luận văn. Nhờ sự chỉ bảo nhiệt tình và tận tâm của
thầy, em không những có thể hoàn thành luận văn mà còn có thể hoàn thiện thêm về
hiểu biết của mình trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đặc biệt là xuất nhập khẩu dịch
vụ.
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên

Nguyễn Ngọc Huyền


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
DEEWR
AAS
AEI

AHEGS

AIEC

AQF

ARC

ASEAN

CPC

CRICOS
ĐH
DIAC

FDI

GATS

Giải thích
Department of Education, Employment and Workplace Relations
Bộ Giáo dục, Nhân dụng và Quan hệ công sở Australia
Australia Awards Scholarships Học bổng Chính phủ Australia
Australian Education International
Cơ quan Giáo dục Quốc tế Australia
Australian Higher Education Graduation Statement
Tuyên bố về Tốt nghiệp trong Giáo dục Đại học Australia
Australian International Education Conference
Hội nghị Giáo dục Quốc tế Australia
Australian Qualifications Framework
Hệ thống Văn bằng Australia
Australian Research Council
Hội đồng Nghiên cứu Australia
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Central Product Classification
Phân loại các sản phẩm chủ yếu
Commonwealth Register of Institutions and Courses for Overseas Students
Cục Đăng kiểm các Tổ chức đào tạo và Khóa học cho sinh viên nước ngoài
Đại học
Department of immigration and Citizenship
Cục quản lý xuất nhập cư và công dân Hoa Kỳ
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ


GD

Giáo dục

GD - ĐH

Giáo dục – đại học

HECS

HELP

HESA

IIE

IMF

IPRS
KT
OECD

Higher education contribution scheme
Kế hoạch Đóng góp cho Giáo dục Đại học
Higher Education Loan Program
Chương trình Cho vay cho Giáo dục Đại học
Higher Education Support Act 2003
Đạo luật Hỗ trợ Giáo dục Đại học năm 2003
Institute of International Education
Viện giáo dục Quốc tế Hoa Kỳ
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
The International Postgraduate Research Scholarships
Học bổng Nghiên cứu Quốc tế Sau đại học
Kinh tế
Organization for Economic Cooperation and Development
Tổ chức hơp tác và phát triển quốc tế


DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU
ảng 2.1. Số lượng sinh viên du học tại Mỹ từ 1954 - 2016 ........................... 26
ảng 2.2. Thống kê t lệ sinh viên du học tại Singapore năm 2015 ................ 44
iểu đồ 2.1. Cơ cấu ngành dịch vụ tại Mỹ trong năm 2015 ............................ 27
iểu đồ 2.2. Cơ cấu sinh viên đến du học tại Mỹ năm 2016 ........................... 28
iểu đồ 2.3. T lệ ngành sinh viên theo học tại đại học Mỹ năm 2016 ........... 29
iểu đồ 2.4. Trợ cấp cho giáo dục qua các năm theo từng nguồn tại Úc......... 34
iểu đồ 2.5. Mức chi ngân sách giáo dục qua các năm tại Singapore ............. 47
iểu đồ 2.6. Số lượng sinh viên du học tại Trung Quốc năm 2016 ................. 51
iểu đồ 2.7. T lệ sinh viên du học Trung Quốc năm 2014 ............................ 55
iểu đồ 3.1. Số lượng giảng viên phân theo trình độ chức danh ..................... 63


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Đề tài: “Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của một số quốc gia
trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
Những kết quả nghiên cứu đạt được:
Thứ nhất, luận văn đã khái quát rõ hơn những vấn đề lý luận cơ sở về xuất
khẩu dịch vụ đặc biệt là xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học. Đưa ra một số thực
trạng về tình hình giáo dục đại học trên thế giới qua giai đoạn vừa qua.
Thứ hai, thông qua việc phân tích về tình hình xuất khẩu dịch vụ giáo dục của
các nước Mỹ, Australia, Singapore và Trung Quốc, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng
quan hơn về tình hình xuất khẩu dịch vụ này trên thế giới đặc biệt là tại các quốc gia
có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới và dịch vụ xuất khẩu giáo dục đại học
đóng góp đáng kể đến thu nhập quốc gia. Từ đó có thể đánh giá được những ưu
điểm, nhược điểm mà các quốc gia trên đã đạt được cũng như còn phải đối mặt giải
quyết.
Thứ ba, luận văn nêu ra thực trạng hoạt động xuất khẩu dịch vụ giáo dục nói
riêng cũng như dịch vụ giáo dục nói chung tại Việt Nam. Từ đó, chúng ta sẽ có sự
so sánh và liên hệ thực tế giữa các quốc gia trên thế giới với nền giáo dục của Việt
Nam. Cũng từ đó đưa ra một số kiến nghị để cải tiến một số những nhược điểm mà
Việt Nam vẫn còn gặp phải
.


1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển của một quốc gia, giáo dục nói chung và giáo dục
đại học nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng. Giáo dục đại học đóng vai trò chủ
chốt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao, trở thành
nguồn sản xuất tri thức mới không thể thiếu cho xã hội. “Dịch vụ giáo dục đại học”
đem lại rất nhiều lợi ích cho các quốc gia, đóng góp đáng kể vào thu nhập quốc dân
của một đất nước.
Rất nhiều các quốc gia trên thế giới hiện nay đã đầu tư vào việc phát triển hệ
thống giáo dục đại học như là một ngành dịch vụ chính. Hiệp định chung về thương
mại và dịch vụ GATS ra đời đã tạo cơ sở thúc đẩy cung cấp dịch vụ giáo dục đại
học ra khỏi biên giới của một quốc gia hay còn gọi là “Xuất khẩu giáo dục đại học”.
Xuất khẩu giáo dục đại học đã trở thành lời giải cho rất nhiều khó khăn về mặt
tài chính trong giáo dục cũng như đảm bảo nguồn lực chất lượng cao ở nhiều nước.
Là một đất nước đang phát triển, tuy đi sau về nhiều mặt nhưng Việt Nam lại có cơ
hội học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ các nước đi trước để có thể hoàn thiện
loại hình xuất khẩu vô cùng mới mẻ này. Ở Việt Nam, xuất khẩu giáo dục đại học
vẫn là một khái niệm còn khá xa lạ. Cùng với nhiều nước trong khu vực Asean như
Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines… Việt Nam đã và đang thực hiện đổi
mới, cải cách giáo dục đại học theo hướng chuẩn hóa, hình thành hệ thống bảo đảm
chất lượng đại học với nhiều tiêu chí và chuẩn mực. Tuy mặt bằng chung giáo dục
Việt Nam còn chưa cao, song tiềm năng phát triển loại hình dịch vụ này rất lớn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về “KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU DỊCH VỤ
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM” là cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Xuất khẩu dịch vụ giáo dục là một trong những đề tài được khá nhiều những
nhà nghiên cứu về giáo dục trong nước và các quốc gia trên thế giới nghiên cứu.
Mặc dù vậy, các nghiên cứu thường hay hướng tới các vấn đề về định hướng xuất
khẩu giáo dục, những thành công trong xuất khẩu giáo dục và gợi ý để phát triển


2
giáo dục. Các nghiên cứu tổng hợp và đánh giá cụ thể để đưa ra những ưu điểm
nhược điểm về xuất khẩu giáo dục đại học còn khá ít.
Nghiên cứu của tác giả Đinh Văn Toàn (2016), Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội về “Hợp tác đại học trên thế giới và một số gợi ý cho Việt
Nam” đã chỉ ra việc liên kết với một số trường trên thế giới để xuất khẩu giáo dục là
một xu hướng của giáo dục thế giới và tác giả đưa ra một số biện pháp để đẩy mạnh
xuất khẩu giáo dục.
Bài viết “Nền giáo dục Mỹ và một số vấn đề gợi mở cho giáo dục đại học Việt
Nam” của tác giả Lê Hoàng Việt Lâm – Trường Đại học An ninh nhân dân TP. Hồ
Chí Minh tại Hội thảo khoa học “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại
học và cao đẳng Việt Nam” đã làm rõ được về hệ thống cấu trúc và một số định
hướng trong phát triển giáo dục đại học tại Mỹ. Cách thức mà Mỹ mở rộng ảnh
hưởng của giáo dục đại học của mình đến với các quốc gia trên thế giới. Từ đó đưa
ra một số gợi ý cho các trường đại học tại Việt Nam.
Nghiên cứu về “Một số kinh nghiệm trong xuất nhập khẩu giáo dục tại Cộng
hòa liên bang Đức” của TS. Nguyễn Văn Cường đã có khẳng định rằng, xuất khẩu
giáo dục là một trong những vấn đề khá được quan tâm, nghiên cứu đã đưa ra một
số những kinh nghiệm mà nước Đức đã làm để có thể phát triển giáo dục đại học
trong nước nói chung cũng như dịch vụ xuất khẩu đại học nói riêng.
Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác về xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học trên
thế giới khác, chủ yếu các nghiên cứu thường là phân tích về tình hình xuất khẩu dịch
vụ giáo dục và thực trạng của những quốc gia này như nghiên cứu “Analysis of
Australia’s Education exports” (2010) chỉ ra tình hình xuất khẩu giáo dục của họ
thông qua những con số về mức tăng trưởng cũng như đóng góp của xuất khẩu giáo
dục đại học trong tổng thu nhập quốc dân. Hay bài nghiên cứu “Chinese regulations
and education export of China” (2012) của Yuzhuo Cai, University of Tampere cũng
đưa ra thực trạng và những giải pháp trong việc xuất khẩu giáo dục đại học của Trung
Quốc.
Các nghiên cứu về xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học rất đa dạng về đối
tượng phạm vi cũng như mục đích nghiên cứu. Kế thừa những kết quả nghiên cứu


3
của các nhà nghiên cứu trước đó về cơ sử lý luận, phương pháp nghiên cứu, dựa vào
sự tổng hợp đánh giá các số liệu đã thu thập được, từ đó đưa ra một vài những giải
pháp có thể giúp dịch vụ xuất khẩu đại học tại Việt Nam được cải tiến hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu dịch vụ giáo dục của một số quốc gia
trên thế giới cụ thể là: Mỹ, Australia, Singapore và Trung Quốc.
Đánh giá những thành công và hạn chế của hoạt động xuất khẩu dịch vụ giáo
dục tại các quốc gia nêu trên.
Từ kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của một số quốc gia trên
thế giới, từ đó đưa ra những đề xuất và giải pháp cho Việt Nam để phát triển xuất
khẩu dịch vụ này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học ở Mỹ,
Australia, Singapore, Trung Quốc và Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Xuất khẩu dịch vụ giáo dục dựa trên các số liệu và
nghiên cứu qua các năm từ năm 1950 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính dựa trên cơ sở dữ liệu và thông tin
liên quan tới xuất khẩu dịch vụ giáo dục tại Mỹ, Australia, Singapore, Trung Quốc
và Việt Nam. Nguồn thông tin sử dụng chủ yếu là thông tin thứ cấp, từ đó dùng các
công cụ như so sánh, thống kê, phân tích… và từ đó đưa ra các nhận định và kết
luận có giá trị khoa học.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài các phần như lời cam đoan, lời mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu
hình vẽ, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài luận văn bao gồm 3
chương chính:
Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu dịch vụ giáo dục
Chương 2: Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục của các nước phát triển
trên thế giới hiện nay


4
Chương 3:

ài học kinh nghiệm và một số giải pháp cho xuất khẩu dịch vụ

giáo dục đại học của Việt Nam


5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC
1.1.

Khái niệm và đặc điểm dịch vụ giáo dục đại học

1.1.1. Khái niệm
Ngày nay, trong cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại tại hầu hết các quốc gia
thì ngành dịch vụ đóng một vai trò rất quan trọng. Khu vực dịch vụ đã trở thành
trọng tâm chiến lược đầu tư phát triển của hầu hết các quốc gia. Chính vì vây, dịch
vụ và những vấn đề liên quan đã thu hút sự chú ý của không chỉ những nhà hoạch
định chính sách, những nhà kinh tế học và nhà kinh doanh, mà gần như tất cả mọi
người. Cụm từ “dịch vụ” tuy xuất hiện rất nhiều và vô cùng quen thuộc trong cuộc
sống thường ngày, nhưng cho đến nay, dường như vẫn chưa có một khái niệm
chung thống nhất về dịch vụ. Đối với mỗi quốc gia với trình độ phát triển kinh tế
khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau, mỗi nguồn nghiên cứu khác nhau từ
đó đem lại những cách hiểu và phân loại khác nhau.
Adam Smith đã định nghĩa về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là những nghề hoang
phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sỹ opera, vũ
công… Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Từ định
nghĩa trên, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith muốn nhấn mạnh đến khía cạnh
“không lưu giữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng
thời.
Theo quan điểm của nhà kinh tế Allan Fisher và Colia Clark dịch vụ được coi
là ngành kinh tế thứ ba, tức là các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công
nghiệp và nông nghiệp. Clark đưa ra khái niệm dịch vụ là “các dạng hoạt động kinh
tế không được liệt kê vào ngành thứ nhất và ngành thứ hai (công nghiệp và nông
nghiệp)”. Tuy nhiên khái niệm này không có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành
nên có những hoạt động không thống nhất được phải xếp vào ngành nào, ví dụ hoạt
động xây dựng từ trước người ta vẫn xếp vào ngành công nghiệp nhưng đến nay
người ta lại chuyển chúng sang ngành dịch vụ.


6
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những
nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” [Từ điển Tiếng Việt,
2004, NX Đà Nẵng, tr.256]
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như
hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là
sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức
khoẻ...và mang lại lợi nhuận.
Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam lại căn cứ vào những đặc điểm nổi bật
và những khác biệt giữa dịch vụ với hàng hoá để đưa ra khái niệm về dịch vụ như
sau: “Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm
vô hình và không thể cầm nắm được” (Nguyễn Thị Mơ, 2005). Theo cách tiếp cận
tương tự, Hồ Văn Vĩnh (2006) cho rằng: “Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm
đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái
phi vật thể”. Hai cách hiểu trên về cơ bản là giống nhau, bởi cả hai đều đưa ra
những đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết
quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con
người. Quá trình cung cấp dịch vụ gắn liền với sự tiếp xúc giữa người sản xuất và
người tiêu dùng dịch vụ. Thứ hai, khác với hàng hoá là vật hữu hình, dịch vụ có tính
vô hình, phi vật thể.
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO không đưa ra một
khái niệm cụ thể mà liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành; trong
khi Liên hợp quốc lại điều chỉnh lĩnh vực này thông qua Hệ thống phân loại theo
ngành tiêu chuẩn quốc tế và phân loại các sản phẩm chủ yếu.
Như vậy, mặc dù khái niệm về dịch vụ chưa được thống nhất một cách rộng
rãi, nhưng với ý nghĩa kinh tế và thương mại, trong nghiên cứu này, chúng ta có thể
hiểu về dịch vụ như sau:
Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới hình thái vật thể, được
tiêu dùng đồng thời với quá trình cung cấp, nhằm thỏa mãn nhu cầu của sản xuất,
tiêu dùng và sức khỏe con người.


7
Trong các ngành dịch vụ hiện đang phát triển trên thế giới thì dịch vụ giáo dục
là một trong những ngành khá quan trọng. Dịch vụ giáo dục tác động khá nhiều đến
một quốc gia không chỉ về kinh tế mà còn là về sự phát triển trình độ và nhận thức
của quốc gia đó. Giáo dục là một ngành không giống với các ngành dịch vụ thông
thường khác. Các tổ chức kinh tế thế giới cũng coi giáo dục là loại hình dịch vụ đặc
biệt, một loại dịch vụ vừa có đảm bảo phải có lãi, vừa phi lợi nhuận, vừa phân khúc
thị trường, vừa mang tính đại chúng.
“Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết
định, bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản
xuất gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài”. (Đặng Huỳnh
Mai, 2010)
Hiện nay, vẫn có những quan điểm cho rằng giáo dục chỉ nên là một dịch vụ
công cộng do Nhà nước cung cấp, không nên đưa vào buôn bán, trao đổi. Khi tính
thương mại của giáo dục càng cao, những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục có xu
hướng chạy đua theo lợi nhuận mà xem nhẹ chất lượng đầu ra. Điều này sẽ gây ảnh
hưởng tiêu cực đến một bộ phận không nhỏ giới trẻ theo học tại các cơ sở này. Mặc
dù vậy trên thực tế, quan niệm đó không hoàn toàn đúng đắn. Trên thị trường giáo
dục mở cửa hiện nay, trường học muốn thu hút sinh viên, thu về lợi nhuận thì phải
không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Chất lượng giáo dục được coi là yếu tố
quan trọng nhất, quyết định danh tiếng và khả năng cạnh tranh của các cơ sở giáo
dục trên thị trường. Đây có thể được xem là hiệu ứng tích cực của thương mại hóa
giáo dục. Thêm vào đó, dịch vụ giáo dục cũng đóng góp một khoản không nhỏ vào
thu nhập quốc dân. Chính những quan niệm tiêu cực, không đúng đắn về thương
mại hóa giáo dục khiến rất nhiều quốc gia bỏ lỡ một lĩnh vực đầu tư tiềm năng. Tính
thương mại trong giáo dục vừa tạo môi trường cạnh tranh từ đó có thể nâng cao chất
lượng giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, vừa tạo nguồn thu đáng kể trong thu nhập
quốc dân của một quốc gia.


8
Theo hệ thống phân loại dịch vụ của GATS1, dịch vụ giáo dục là ngành dịch
vụ thứ 5 và được chia làm 4 phân ngành: dịch vụ giáo dục phổ thông cơ sở, giáo
dục bậc cao, giáo dục cho người lớn, các dịch vụ giáo dục khác.
Ta có thể thấy rằng, giáo dục đại học là một bậc học trong hệ thống giáo dục
nói chung. Ngân hàng Thế giới (World ank) đã đưa ra khái niệm về dịch vụ giáo
dục đại học như sau: “Giáo dục đại học là dịch vụ giáo dục bậc cao, được tiêu dùng
sau khi đã hoàn thành bậc học giáo dục trung học”.
Theo Phân loại Giáo dục Chuẩn Quốc tế (ISCED) 2011 của UNESCO, giáo
dục đại học thuộc cấp 5, 6, 7 và 8.
ISCED Cấp 5: Giáo dục đại học ngắn hạn (Short-cycle tertiary education):
Đây là giai đoạn thứ nhất của giáo dục đại học, bao gồm những chương trình có thời
gian ít nhất 2 năm. Chương trình giáo dục cấp 5 thường cung cấp kiến thức nghề
nghiệp thực hành cụ thể, đồng thời tạo tiền đề học lên các cấp độ khác cao hơn.
ISCED Cấp 6: Đại học (cử nhân và tương đương) ( achelor’s or equivalent
level): Chương trình ở cấp độ này có thời gian 3-4 năm; thường dựa trên lý thuyết
và hướng tới kiến thức khoa học cấp độ trung bình hoặc kỹ năng nghề nghiệp
chuyên môn căn bản. Cơ sở giáo dục cấp 6 thường là trường đại học và học viện.
ISCED Cấp 7: Cao học (Master’s or equivalent level) Giai đoạn hai của giáo
dục đại học, cung cấp kiến thức chuyên môn sâu hoặc kỹ năng nghề nghiệp bậc cao
và được cấp chứng chỉ cấp độ hai. Chương trình học có thể yêu cầu tiến hành
nghiên cứu nhưng nghiên cứu ở cấp độ này chưa đủ để cấp bằng tiến sĩ.
ISCED Cấp 8: Tiến sĩ (Doctoral or equivalent level): Các chương trình tiến sĩ
tập trung vào các nghiên cứu chuyên ngành nâng cao chứ không chú trọng bồi
dưỡng kiến thức như những khóa học thông thường. ISCED cấp 8 bao gồm việc
nộp và phản biện một luận văn chất lượng, có ý nghĩa quan trọng cho một ngành
nào đó.
Như vậy, giáo dục đại học bao gồm tất cả những chương trình học thuật sau
khi hoàn thành chương trình phổ thông, thường được diễn ra tại các trường đại học,

1

GATS và biểu cam kết dịch vụ [tr9. an pháp chế - Phòng thương mại và Công nghiệp dịch vụ]


9
viện đại học, viện công nghệ và cao đẳng. Giáo dục đại học bao gồm nhiều cấp học
khác nhau, trang bị cho học viên kiến thức và kỹ năng nâng cao cần thiết để bước
vào thị trường lao động. Trong nền kinh tế tri thức hiện đại, trình độ đại học là một
trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển giáo dục của một quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm
Để hiểu rõ hơn nữa về dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ giáo dục, ta sẽ tìm hiểu về
những đặc điểm chung của dịch vụ và dịch vụ giáo dục đại học nói riêng, từ đó sẽ
có cái nhìn và sự hiểu biết rõ hơn nữa.
1.1.2.1. Đặc điểm chung của ngành dịch vụ
Ta có thể thấy rằng, dịch vụ là kết quả của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người và dùng để trao đổi với nhau. Tuy nhiên, khác với hàng hóa
có tính vật chất, dịch vụ là vô hình và phi vật chất. Sự khác biệt này được thể hiện
cụ thể ở một số những đặc điểm quan trọng sau:
- Tính chất vô hình (Intangibility):
Khác với sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể dùng các giác quan thông
thường để nhận biết được chúng. Cung cấp dịch vụ thường hay gắn với cơ sở vật
chất hoặc hàng hóa hữu hình như việc trả tiền cho sự phục vụ chứ không phải cho
các yếu tố hữu hình. Ví dụ khi khách thanh toán dịch vụ là thanh toán cho sự phục
vụ của nhà hàng, còn đồ ăn trong bữa ăn đó chỉ là cơ sở vật chất phục vụ cho việc
cung cấp dịch vụ ấy của nhà hàng. Khách hàng không thể biết được chất lượng dịch
vụ trước khi tiêu dùng nó.
Để có thể tìm được những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của mình,
người tiêu dùng chỉ có thể tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng dịch vụ cung
ứng đó, như thương hiệu, giá cả hay sự mô tả về cảm nhận dịch vụ đó của các khách
hàng đã tiêu dùng dịch vụ hoặc qua thông tin quảng cáo.
- Tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng (Inconsistency):
Tính không đồng nhất có thể hiểu là tính dễ thay đổi trong chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng và
tình trạng của người tiêu dùng dịch vụ. Cùng một người cung ứng nhưng tâm lý,


10
sức khỏe, kiến thức xã hội vào thời điểm khác nhau thì chất lượng cũng sẽ khác
nhau.
- Tính không thể tách rời (Insaparability): Tính không thể tách rời của dịch vụ
có thể hiểu là sự không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ. Đây là
điểm khác biệt căn bản giữa dịch vụ và hàng hóa. Việc sản xuất dịch vụ chỉ được
thực hiện khi khách hàng có mặt tại nơi cung cấp dịch vụ, tiếp nhận, tiêu dùng sản
phẩm.
- Tính không lưu trữ được (Inventory): Phần lớn dịch vụ không thể lưu kho
cũng không thể cất trữ. Nếu cầu vượt quá cung thì không thể bù đắp phần thiếu hụt
như trong thương mại hàng hóa là lấy hàng dự trữ trong kho ra tiêu thụ. Ngược lại
khi cầu giảm thì không thể cất trữ dịch vụ phòng cho lúc cao điểm.
Nếu căn cứ vào tính chất của dịch vụ khi cung cấp, ta có thể phân dịch vụ
thành 2 loại:
- Dịch vụ gắn với hoạt động sản xuất, phục vụ sản xuất, dịch vụ mang tính
trung gian như dịch vụ vận tải hàng hóa, dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ tài
chính, dịch vụ phân phối, dịch vụ kinh doanh.
- Dịch vụ gắn với tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng
như dịch vụ du lịch, dịch vụ y tế, dịch vụ sức khỏe, dịch vụ giải trí, dịch vụ thể dục,
thể thao…
Ngoài ra, ta có thể căn cứ vào mục đích cung cấp dịch vụ, có thể phân loại
dịch vụ thành:
- Dịch vụ mang tính thương mại: là dịch vụ được cung cấp trên cơ sở cạnh
tranh giữa các nhà cung cấp khác nhau, nhằm vào mục đích thương mại và kinh
doanh.
- Dịch vụ công hay dịch vụ của chính phủ: là những dịch vụ được cung cấp
trên cơ sở độc quyền, có tính chất phục vụ của chính phủ, không dựa trên cơ sở
cạnh tranh và không nhằm vào mục đích thương mại và kinh doanh.
Theo Ủy ban Thống kê của Liên hợp quốc thì dịch vụ được phân loại theo 2
cách: Hệ thống phân loại theo ngành tiêu chuẩn quốc tế (International
Standardindustrial Classification –ISIC) và Phân loại các sản phẩm chủ yếu (Central


11
Products Classification – CPC). Hai cách phân loại này được các quốc gia và các tổ
chức quốc tế trên thế giới thừa nhận và sử dụng.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng có cách phân loại giao dịch dịch vụ quốc tế
khác biệt. Cách phân loại giao dịch dịch vụ quốc tế của IMF được coi là cơ sở để
thống kê thương mại dịch vụ quốc tế. Mức độ chi tiết về phân loại dịch vụ giữa các
nước cũng khác nhau chủ yếu dựa vào thu nhập và chi tiết hóa số liệu.
Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) phân loại dịch vụ theo Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS). Cách phân loại này khá đơn giản, dễ theo dõi và
phục vụ tốt cho đàm phán thương mại dịch vụ quốc tế.
Hệ thống phân loại theo GATS được đưa ra trong Vòng đàm phán Uruguay
nhằm hỗ trợ tốt nhất cho đàm phán tự do hóa lĩnh vực thương mại dịch vụ. Toàn bộ
lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12 ngành và 155 phân ngành.
- Dịch vụ kinh doanh
- Dịch vụ thông tin
- Dịch vụ xây dựng
- Dịch vụ phân phối
- Dịch vụ giáo dục
- Dịch vụ môi trường
- Dịch vụ tài chính
- Dịch vụ y tế
- Dịch vụ du lịch
- Dịch vụ văn hóa, giải trí và thể thao
- Dịch vụ vận tải
- Các dịch vụ khác
Hiện nay, hệ thống phân loại dịch vụ của Việt Nam dựa trên Nghị định số
75/CP của Chính phủ ngày 27/10/1993 gồm có từ phân ngành thứ 7 đến phân ngành
thứ 20 trong tổng số 20 phân ngành cấp 1. Tuy nhiên, sự phân loại này đã không
tính đến các ngành tiện ích và ngành xây dựng vốn được xếp vào nhóm dịch vụ
thương mại theo tiêu chí GATS.


12
Từ những đặc điểm trên của ngành dịch vụ, ta có thể thấy rằng dịch vụ giáo
dục đại học cũng mang những đặc tính cơ bản của dịch vụ nói chung: tính vô hình,
tính không ổn định và tính không tách rời. Bên cạnh đó còn mang những đặc trưng
riêng của ngành như: tính xã hội, tính tích lũy, cung cấp bởi khu vực công và tư,
ngoại ứng tích cực, khó tăng năng suất lao động.
- Tính vô hình (intangibility):
Giáo dục là một hoạt động không thể hiện kết quả một cách hữu hình rõ ràng.
Chúng ta không thể lấy kết quả ra cầm nắm hay đem ra cân đo đong đếm được.
Đánh giá chất lượng giáo dục là đánh giá sự nhận thức, suy nghĩ của con người, do
vậy cần một quá trình nhất định. Thành công hay hạn chế lại tùy thuộc vào quan
điểm nhận xét của các bên.
- Tính không tách rời (inseperability):
Trong giáo dục theo phương pháp truyền thống, quá trình cung cấp và sử dụng
dịch vụ diễn ra đồng thời, ví dụ như khi giáo viên giảng bài (cung cấp dịch vụ) thì
học sinh tiếp nhận kiến thức (sử dụng dịch vụ). Chính vì vậy, muốn giáo dục đạt
hiệu quả cao cần sự tương tác và hỗ trợ của cả người dạy và người học.
- Tính không ổn định (inconsistency):
Cũng như những dịch vụ khác, chất lượng giáo dục cũng phụ thuộc vào nhà
cung ứng, thời gian và địa điểm tiến hành cung ứng. Ngay cả trong cùng một trường
đại học, chất lượng đào tạo các chuyên ngành khác nhau có thể không đồng nhất.
Thậm chí ở cùng một chuyên ngành khi nó được giảng dạy bởi những giáo viên với
kinh nghiệm, trình độ và cách thức truyền đạt khác nhau, chất lượng bài giảng cũng
rất khác nhau. Ngay cả khi cùng là một giảng viên thì không phải lúc nào họ cũng
trình bày một bài giảng với chất lượng như nhau, điều đó còn phụ thuộc vào tâm lí
của người dạy và người học tại những thời điểm khác nhau.
- Tính xã hội
Bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu cụ thể cho từng cá nhân, từng đối tượng
khách hàng thì dịch vụ giáo dục mang lại những giá trị văn hóa, đạo đức, duy trì sự
gắn kết và ổn định của xã hội. Vì vậy mà nhiều chính phủ đã thực hiện chương trình
phổ cập giáo dục, tối thiểu là cấp tiểu học để mọi công dân đều biết đọc, biết viết.


13
Đây chính là tính xã hội – mặt phi thương mại của dịch vụ giáo dục. Càng lên các
bậc học cao hơn, sự tham gia của xã hội càng giảm, càng ít người học. Tính xã hội
vẫn còn, tuy nhiên tính thương mại ngày càng thể hiện rõ và lấn át hơn.
- Tính tích lũy
Khi người học tiếp nhận dịch vụ từ người dạy, người học sau khi tiêu thụ xong
vẫn có thể lưu trữ được kiến thức, tích lũy sau nhiều năm và sử dụng trong tương
lai. Tri thức được bồi đắp, tích lũy trong nhiều năm sẽ trở thành kỹ năng lao động
cần thiết, góp phần nâng cao năng lực làm việc, bồi dưỡng tư cách, phẩm chất đạo
đức công dân.
- Cung cấp bởi cả khu vực công và tư
Giáo dục lâu nay vẫn được coi là một lợi ích công nhằm đảm bảo sự công
bằng cho toàn xã hội. Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càng tăng về giáo dục, hơn nữa,
Nhà nước không đủ điều kiện cung cấp nên rất nhiều trường tư đã ra đời. Hệ thống
trường tư tồn tại song song với trường công đã tạo nên một hệ thống giáo dục đa
dạng, tăng tính cạnh tranh trên thị trường giáo dục đại học. Chất lượng đào tạo và
trình độ giáo viên có thể khác nhau hoặc tương đương, tuy nhiên điểm nổi bật của
các trường tư là cơ sở vật chất cùng trang thiết bị khang trang, hiện đại, số lượng
sinh viên ít hơn, nhiều sự lựa chọn các dịch vụ đi kèm như: ăn uống, dã ngoại, đồng
phục…
- Ngoại ứng tích cực trong giáo dục
Ngoại ứng tích cực xuất hiện khi một người tiến hành một hoạt động gây ảnh
hưởng tốt đến người ngoài cuộc. Giáo dục tạo ra ngoại ứng tích cực vì giáo dục
không chỉ đem lại lợi ích cho công dân, mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội. Một
công dân được giáo dục tốt, có trình độ chuyên môn cao sẽ luôn sáng tạo, nâng cao
năng suất lao động, cải tiến sản phẩm. Những nghiên cứu của họ không chỉ có ích
cho một vài cá nhân, mà cho cả cộng đồng vì những nghiên cứu này sẽ đóng góp
vào kho tàng tri thức nhân loại. Đây chính là những ngoại ứng tích cực trong giáo
dục.
Ngoài những đặc điểm chung của dịch vụ giáo dục, dịch vụ giáo dục đại học
còn mang những đặc thù riêng. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa giáo dục đại học


14
và các cấp học dưới đó. Mục đích của tính chuyên môn hóa cao trong giáo dục là
hướng nghiệp cho các sinh viên – lực lượng lao động tương lai. Nếu như chương
trình giáo dục tiểu học hay trung học tập trung cung cấp kiến thức cơ bản, nền tảng
cho mọi ngành nghề thì chương trình giáo dục đại học lại đào tạo theo chuyên
ngành. Sinh viên sẽ được học những kiến thức và kỹ năng cụ thể cần thiết cho công
việc sau này của mình. Chuyên ngành đào tạo rất đa dạng, từ tài chính ngân hàng,
xuất nhập khẩu, thuế, hải quan đến y học, kiến trúc Australia… Đại học là nơi tạo
nên nguồn lao động chất lượng, có trình độ chuyên môn cao, đóng góp vào sự phát
triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Từ những đặc điểm nêu trên, ta có thể thấy rằng, dịch vụ giáo dục là một bộ
phận nằm trong dịch vụ, là một thành phần cấu tạo nên cơ cấu ngành dịch vụ. Nó
mang tất cả những đặc điểm chung và cần thiết của dịch vụ. Bên cạnh đó dịch vụ
giáo dục cũng có những đặc điểm riêng của ngành để có thể phân biệt được với các
ngành khác. Ngành giáo dục mang những đặc tính rất riêng biệt và có một vị trí rất
đặc biệt trong xã hội vì nó không chỉ tác động đến hiện tại mà còn mang lại lợi ích
lâu dài trong tương lai của một quốc gia. Chính vì vậy việc tìm hiểu về dịch vụ giáo
dục là rất cần thiết.
1.2.

Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học

1.2.1. Xuất khẩu dịch vụ
Ngày nay, dịch vụ đã trở thành đối tượng của thương mại với t trọng ngày
càng tăng. Khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa, hoạt động trao đổi, mua
bán dịch vụ ngày càng trở nên sôi động, phổ biến. Gia nhập WTO cũng như các
cộng đồng chung trên thế giới đồng nghĩa với việc rất nhiều doanh nghiệp dịch vụ
nước ngoài sẽ tiếp cận thị trường trong nước và cạnh tranh mạnh mẽ với doanh
nghiệp nội địa. Đây là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cải tiến, đổi
mới và hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng.
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS không đưa ra khái niệm
thương mại dịch vụ mà chỉ đưa ra bốn phương thức cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, từ
khái niệm thương mại hàng hóa, có thể hiểu thương mại dịch vụ như sau:


15
“Thương mại dịch vụ là hành vi mua bán, cung cấp, trao đổi dịch vụ giữa các
cá nhân, tổ chức vì mục đích thương mại, trên cơ sở cạnh tranh” (Hoàng Văn Châu,
2011).
Sự trao đổi dịch vụ vì mục đích sinh lời khi vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia
sẽ trở thành thương mại dịch vụ quốc tế (International Tradein Service). Hiện nay,
cùng với quá trình toàn cầu hóa, thương mại dịch vụ quốc tế ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Trên cơ sở khái niệm về thương mại dịch vụ ở trên, ta có thể hiểu thương
mại dịch vụ quốc tế như sau: Thương mại dịch vụ quốc tế là sự trao đổi về dịch vụ
giữa pháp nhân hoặc thể nhân trong nước với pháp nhân hoặc thể nhân nước ngoài
vì mục đích thương mại. Thương mại dịch vụ quốc tế cũng là mối quan hệ được
nhắc tới trong Hiệp định GATS, bởi bản chất của GATS là để điều chỉnh hoạt động
mua bán, trao đổi dịch vụ giữa các quốc gia.
1.2.2. Xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học
Xuất khẩu là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động buôn bán hàng hóa, dịch vụ với
nước ngoài vì mục đích thương mại. Xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng với mỗi
quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khác với khái niệm xuất khẩu
hàng hóa thông thường, khái niệm xuất khẩu dịch vụ phức tạp hơn. Hệ thống tài
khoản quốc gia (SNA- System of Natural Accounts) do Liên Hợp Quốc xây dựng
và Bảng cán cân thanh toán BOP (Balance of Payment) do Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IMF đã có một sự thống nhất khá cao về khái niệm xuất khẩu dịch vụ. Khái niệm
này dựa trên khái niệm cơ bản về người cư trú và người phi cư trú “Xuất khẩu dịch
vụ là việc người cư trú cung cấp dịch vụ cho người phi cư trú vì mục đích thương
mại”. Trong đó, “một chủ thể được gọi là người cư trú ở một quốc gia nếu có lợi ích
kinh tế giao dịch với quy mô đáng kể trong thời gian một năm trở lên tại quốc gia
đó. Những chủ thể không phải người cư trú ở quốc gia đó là người phi cư trú”.
Ta có thể thấy rằng, xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học là một loại hình của
xuất khẩu dịch vụ. Tuy nhiên nếu định nghĩa xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học
trên cơ sở về người cư trú và người phi cư trú thì sẽ rất dễ lầm tưởng rằng xuất khẩu
giáo dục chỉ bao gồm phương thức xuất khẩu thứ hai (Tiêu dùng ngoài lãnh thổ) mà
bỏ sót ba phương thức còn lại.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×