Tải bản đầy đủ

Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên (Khóa luận tốt nghiệp)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN THỊ HẠNH

Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRONG PHÕNG VÀ TRỊ
MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI SINH
SẢN NUÔI TẠI TRẠI SẢN XUẤT CỦA TRUNG TÂM PHÁT
TRIỂN CHĂN NUÔI TỈNH ĐIỆN BIÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Thú y
Chăn nuôi thú y

2013 – 2017

Thái Nguyên, 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN THỊ HẠNH
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRONG PHÕNG VÀ TRỊ
MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI SINH
SẢN NUÔI TẠI TRẠI SẢN XUẤT CỦA TRUNG TÂM PHÁT
TRIỂN CHĂN NUÔI TỈNH ĐIỆN BIÊN”.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Lớp:
Khoa:
Khóa học:
Giảng viên hƣớng dẫn:

Chính quy
Thú y
K45 – TY - N01
Chăn nuôi thú y
2013 - 2017
Th.S Nguyễn Mạnh Cƣờng

Thái Nguyên, 2017


i
LỜI CẢM ƠN
Lý thuyết, kiến thức trên sách vở chưa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ra
trường có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà những kiến
thức đó cần được vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống, sản xuất của xã hội.


Xuất phát từ lý do đó mà BGH nhà trường, cùng các thầy cô trong khoa CNTY đã
tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân em nói riêng được
tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tại cơ sở thực tập.
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới
toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho
em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Cường
đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình
thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Em xin chân thành cảm ơn tới các cô ( chú), anh (chị ) ở trung tâm phát triển
chăn nuôi tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập,
giúp em hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở.
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạt kết
quả tốt, tôi cũng đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình và
bạn bè. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào
kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót.
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của tôi
ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Hạnh


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Lịch sát trùng trại lợn nái ............................................................... 37
Bảng 3.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái .................................................... 39
Bảng 4.1. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại .................................... 47
Bảng 4.2. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại trong thời gian thực tập .. 48
Bảng 4.3: Kết quả điều trị cho đàn lợn tại trại ................................................ 49
Bảng 4.4. Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn...................................... 51
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái..... 52
Bảng 4.6. Tình hình chăn nuôi của trại năm 2016 và năm 2017 .................... 53
Bảng 4.7: Tình hình mắc bệnh sản khoa của đàn lợn nái nuôi tại trại ............ 53
Bảng 4.8:Tình hình mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái theo các tháng ....... 54
Bảng 4.9: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt sau đẻ tại cơ
sở thực tập ..................................................................................... 55


iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs

: Cộng sự

HTNC

: Huyết thanh ngựa chửa

MMA

: Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú,viêm tử
cung và mất sữa

Nxb
PRRS

: Nhà xuất bản
: Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội
chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

TT

: Thể trọng

VTM

: Vitamin

Kg

: Kilogram

Ml

: Mililit


iv
MỤC LỤC
Trang

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ......................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu .................................................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1.Điều kiện cơ sở thực tập.............................................................................. 3
2.1.1. Vị trí địa lý .............................................................................................. 3
2.1.2. Cơ sở vật chất của trại ............................................................................. 3
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trang trại .................................................................. 4
2.1.4. Thuận lợi và khó khăn ............................................................................. 5
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề ...................................................... 5
2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi .................................... 5
2.2.2. Đại cương về cơ quan sinh dục gia súc cái ............................................. 9
2.2.3. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái ................................................... 11
2.2.4. Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn ............................................... 13
2.2.5. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và nái
nuôi con ........................................................................................................... 23
2.2.6.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong chuyên đề . 27
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 29
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 29


v
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 32
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI ..... 34
3.1. Đối tượng và phạm vi theo dõi................................................................. 34
3.2. Địa điểm và thời gian thực hiện ............................................................... 34
3.3 Nội dung thực hiện và các chỉ tiêu theo dõi .............................................. 34
3.3.1. Nội dung thực hiện ................................................................................ 34
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 34
3.4. Phương pháp thực hiện............................................................................ 34
3.4.1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại ..................................................... 34
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 35
3.4.3. Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh cho đàn lợn nái nuôi tại trại .. 35
3.4.4. Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái
nuôi tại trại ...................................................................................................... 35
3.4.5.Công tác chẩ n đoán và điề u tri ̣bê ̣nh ...................................................... 41
3.4.6.Các công tác khác................................................................................... 45
PHẦN 4. KẾT QUẢ THEO DÕI VÀ THỰC HIỆN .................................. 47
4.1. Kết quả thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại ............. 47
4.1.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại ..................... 47
4.1.2. Kết quả phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vaccine ..... 48
4.2. Kết quả thực hiện biện pháp phẫu thuật trên đàn lợn tại trại ................... 51
4.3. Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn nái .......... 51
4.4. Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại .. 52
4.4.1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại ..................................................... 52
4.4.2. Tình hình mắc bệnh sản khoa trên lợn nái tại cơ sở thực tập ............... 53
4.4.3. Tình hình mắc bệnh sản khoa trên lợn nái theo tháng tại cơ sở trong thời
gian thực tập ..................................................................................................... 54
4.4.4. Kết quả điều trị bệnh sản khoa của lợn nái tại cơ sở thực tập .............. 55


vi
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 57
5.1. Kết luận .................................................................................................... 57
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 61
I. Tài liệu tiếng Việt ........................................................................................ 61
II. Tài liệu tiếng Anh ....................................................................................... 63
PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây để phục vụ nhu cầu thực phẩm cho xã hội đặc biệt
phục vụ cho việc xuất khẩu thịt lợn, phong trào nuôi lợn thịt hướng nạc đã và đang
phát triển mạnh mẽ theo hình thức trang trại ở nhiều địa phương và đem lại nguồn
thu đáng kể cho người chăn nuôi. Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của
các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần
thiết. Vì vậy chăn nuôi lợn nái từ trước đến nay luôn là chủ đề được rất nhiều người
quan tâm và chú trọng. Thành công của chăn nuôi lợn nái quyết định rất lớn tới
năng suất cũng như lợi nhuận của mỗi cơ sở chăn nuôi và nó cũng phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố khác nhau từ con giống, kỹ thuật, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
cho đến phòng và quản lý mầm bệnh.... Một số ít trong các yếu tố trên có vai trò
quyết định đến thành công của việc chăn nuôi lợn nái nói riêng và kết quả chăn nuôi
của toàn trại nói chung.
Tuy nhiên một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản,
là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các
trang trại, cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình. Đối với lợn nái, nhất là lợn
ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày
càng nhiều hơn, do khả năng thích nghi của đàn lợn nái với điều kiện ngoại cảnh
nước ta còn kém. Mặt khác trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn
như Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây nhiễm trùng. Đặc biệt là bệnh viêm tử
cung đây là loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ. Bệnh
tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợn nái: gây chết thai,
lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn, bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh
sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu
quả của toàn ngành chăn nuôi lợn. Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh
sản của đàn lợn nái ngoại tại trại sản xuất và chuyển giao khoa học kỹ thuật của


2

Trung tâm phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
chuyên đề: “Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và trị một số bệnh sản khoa
trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại sản xuất của Trung tâm phát triển
chăn nuôi tỉnh Điện Biên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở.
-Xác định được quy trình phòng, trị bệnh sản khoa trên đàn lợn nái tại trại.
- Xác định được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở.
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại cơ sở
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn nái tại cơ sở.
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý
Trại sản xuất và chuyển giao khoa học kỹ thuật là trang trại của Trung tâm
phát triển chăn nuôi tỉnh Điện Biên, trang trại được thành lập từ năm 2002 với tổng
diện tích khoảng 10 ha, trong đó khoảng 3000 m2 là khu chăn nuôi lợn, 2400 m2 là
khu chăn nuôi bò, 1000 m2 là khu hành chính, ao hồ còn lại là đất trồng nông
nghiệp: cỏ voi, lúa, ngô, mía.....Trang trại nằm trải dài theo đường 12m của xã
Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách biệt với khu vực dân cư.
Xã Thanh yên là một xã thuộc vùng lòng chảo của tỉnh Điện Biên, với diện
tích đất tự nhiên là 19,89 km2,phía Bắc giáp hai huyện Mường Chà và Mường Ảng;
phía Nam và Tây giáp Lào, phía Đông giáp huyện Điện Biên Đông và tỉnh Sơn La.
Huyện Điện Biên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh,
ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió
Lào khô và nóng. Nhiệt độ trung bình khoảng 22,60C. Lượng mưa trung bình
khoảng 1.500 mm, độ ẩm trung bình 84 - 85%; số giờ nắng 1.900 - 2.000 giờ/năm.
2.1.2. Cơ sở vật chất của trại
* Về cơ sở vật chất trong chuồng trại đã được trung tâm chú trọng và đầu tư
cơ bản là đầy đủ:
- Trại được xây dựng sâu vào trong, cách mặt đường 200m xung quanh
chuồng trại trồng cỏ voi.
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và sàn nằm (đối
với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy.
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn.
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông.
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho
cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện.


4

*Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại xây dựng gồm 3 khu tách biệt : khu hành chính và nhà ở của công
nhân,nằm hai bên sâu vào trong là khu trại lợn và khu trại bò, bao quanh là cây
nông nghiệp.
+ Khu hành chính gói gọn trong một căn nhà sàn rộng với các phòng ban:
phòng phó giám đốc, phòng kế toán và phòng giành cho nhân viên kỹ thuật, bên
dưới là phòng tắm và phòng vệ sinh
+ Khu nhà ở cho công nhân rộng rãi, thoáng mát, có nhà vệ sinh và phòng
tắm riêng.
+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho gia súc và tủ thuốc nơi cất giữ
và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc,
điều trị cho đàn lợn của trại.
*Hệ thống chuồng nuôi:
Khu vực chuồng nuôi lợn được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát
nước gồm 2 dãy chuồng lớn: chuồng bầu và chuồng đẻ là một dãy, đầu chuồng là
80 ô chuồng bầu thiết kế theo kiểu chuồng cũi sắt và cuối chuồng là 20 ô chuồng
sàn đẻ với chiều dài 40m, chiều rộng 7,5m. Một dãy chuồng lớn khác là các ô
chuồng thịt với chiều rộng 14m, chiều dài 40m.
Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi
uống nước tự động ở mỗi ô chuồng. Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông
gió và dàn mát. Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống cho
lợn được lọc qua bể lọc vào tét nước lớn ở đầu dãy chuồng. Nước tắm, nước xả
gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bơm trực tiếp từ dưới giếng lên.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại sản xuất lợn bao gồm:
01 kỹ thuật chính làm tại trại
01 công nhân
01 sinh viên thực tập


5

2.1.4. Thuận lợi và khó khăn
2.1.4.1. Thuận lợi
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi đảm bảo không gây ồn cho dân cư ở
xung quanh, hạn chế bị ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi được đem bán
cho các hộ dân nuôi cá, trồng trọt, còn lại được tận dụng vào việc trồng trọt và sản
xuất khí biogas tại trại. Ngoài ra, trại chạy dài theo đường 12m là con đường lớn
liên thông với các tuyến đường giao thông trong tỉnh nên thuận tiện cho việc vận
chuyển gia súc.
Trại luôn được các kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng của Trung
tâm vào kiểm tra, thăm hỏi thường xuyên. Các công nhân tại trại luôn làm việc với
tinh thần tự giác, ý thức, chăm chỉ.
Ngoài ra, trại có con giống tốt, thức ăn và thuốc có chất lượng cao, quy trình chăn
nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại.
2.1.4.2. Khó khăn
Hệ thống chuồng chưa được xây dựng thành từng khu riêng biệt nên việc
kiểm soát mầm bệnh khi có dịch xảy ra là khó khăn hơn.
Trang thiết bị vật tư chưa được trang bị hiện đại, nên hạn chế đáp ứng khả
năng thực hiện kỹ thuật trên đàn lợn nhanh và hiệu quả.
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.1.1. Phòng bệnh
Như ta đã biế t „„Phòng bệnh hơn chữa bệnh‟‟‚ nên khâu phòng bệnh được đặt
lên hàng đầ u , nế u phòng bệnh tố t thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy
ra. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu , xoay quanh các yế u
tố môi trường, mầ m bệnh, vật chủ. Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải
kế t hợp nhiề u biện pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dƣỡng tố t:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [24], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn
thường do nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không


6

truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp
dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn. Phần lớn các biện
pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng
cao sức đề kháng của đàn lợn.
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [32], vi khuẩ n E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩ n tồ n tại tron g môi trường , đường tiêu hoá của vật chủ . Khi môi trường quá ô
nhiễm do vê ̣sinh chuồ ng trại kém , nước uố ng thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn , điề u kiện
ngoại cảnh thay đổi , lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E. coli, bệnh sẽ nổ ra
vì vậy mà khâu vê ̣sinh , chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh . Trong
chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điề u rấ t cầ n thiế t , chăm sóc nuôi
dưỡng tố t sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh , có khả năng chống đỡ bệnh tật tố t và
ngược lại. Ô chuồ ng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ . Nhiệt độ
trong chuồ ng phải đảm bảo 27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai
sữa. Chuồ ng phải luôn khô ráo , không thấ m ướt . Việc giữ gin
̀ ch uồ ng trại sạch sẽ
kín, ấm áp vào mùa đông và đầ u xuân , nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn
hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân
trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô
chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5%
hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ.
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát
mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh. Tẩy uế
chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát
trùng bằng các loại thuốc sát trùng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi
thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản. Với những chuồng nuôi lưu cữu
hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và
triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y,
cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống


7

dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô
và dọn, rửa. Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học,
chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi
trường. Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất
trong 30 ngày. Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và
đưa vào kho bảo quản. Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi.
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất.
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [10] vắc xin là một chế
phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền
nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền
như ARN, AND…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý,
hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin
công nghệ gen). Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử
dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho
động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng.
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà
phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.
2.2.1.2. Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [10] nguyên tắc để điều
trị bệnh là:
+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc.
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế
lây lan.
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể,
làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và
biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.


8

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa
lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá
trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không
nên chữa.
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [10] các biện pháp chữa
bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh
tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh). Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân,
nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó. Cho gia
súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh.
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường
được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh. Chữa bệnh bằng kháng
huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa
mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố).
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số
hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh. Dùng hóa
dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng
với liều lượng nhỏ. Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được
truyền cho những thế hệ sau. Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng
hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại
thuốc khác tác dụng tốt hơn.
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn
cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên sử dụng kháng sinh
có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu
diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn
dịch của cơ thể. Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc,
làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo
những nguyên tắc sau đây:


9

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa
không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn.
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định.
Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng.
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát
huy tác dụng của kháng sinh.
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc
tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị
và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng
thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.2. Đại cương về cơ quan sinh dục gia súc cái
Cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm:
- Bộ phận sinh dục ngoài gồm:
+ Âm môn: Hay còn gọi là âm hộ (vuhvae) nằm dưới hậu môn. Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudenda). Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima
vulae). Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như
tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi).
+ Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn, giống như
dương vật của con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hồng
như con đực.
+ Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo.
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu
đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một
nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng
có chức năng tiết dịch nhầy, (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [9].
- Bộ phận sinh dục bên trong:
+ Âm đạo: Âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối,
đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ là ống thải các chất


10

dịch từ tử cung. Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, phía trước âm đạo
là cổ tử cung, phía sau là tiền đình, có màng trinh che lỗ âm đạo, âm đạo có cấu tạo
gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong. Trên bề
mặt niêm mạc có nhiều thượng bì gấp nếp dọc. Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm.
+ Tử cung (dạ con): Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên
bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trước xoang
chậu, tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ
bởi các dây chằng. Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép. Gồm hai sừng thông
với 1 thân và cổ tử cung.
Sừng tử cung: Dài 50 - 100 cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng.
Thân tử cung: Dài 3 - 5 cm.
Cổ tử cung: Dài 10 - 18 cm, có thành dày hình trụ, có các thớ cơ xếp theo
kiểu cài răng lược thông với âm đạo.
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơ trơn và
lớp nội mạc.
+ Buồng trứng: Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện
cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh dục cái).
Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và kích thước của
buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của
tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi. Phía
trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy. Miền vỏ đảm
bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng.
+ Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng gồm có phễu phần rộng và phần eo. Phễu
mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc
với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng chiếm 1/2
chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp
gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành
dầy hơn phần rộng và ít gấp nếp hơn. Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận


11

chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống
dẫn trứng) tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn duy trì sự sống và gia tăng khả năng
thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi
đi vào tử cung, nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di
chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi
vào tử cung.
2.2.3. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
Sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho
loài, có tính ổn định với từng giống của vật nuôi. Nó được duy trì qua các thế hệ và
luôn củng cố và hoàn thiện qua quá trình chọn lọc để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh
dục của của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu theo dõi các chỉ tiêu sau
đây: tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống
lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại...
- Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục.
Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6], tuổi động dục lần đầu ở lợn nội (Ỉ,
Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái là F1
lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg. Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt
65- 80 kg.
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn cái hậu bị sinh vào mùa thu
sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tuấn Anh và cs, 1998) [1].
Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [31], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau
cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục.
- Tuổi phối giống lần đầu: Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [6] cho rằng,
không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát
triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách
hoàn chỉnh. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua
1- 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống.


12

Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40
- 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào
lúc 9 tháng tuổi.
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn mẹ.
Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn.
-Tuổi đẻ lứa đầu: Lê Hồng Mận (2004) [19] cho biết, Lợn Ỉ, Móng Cái đẻ
lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi.
- Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ: Theo Nguyễn
Thiện và Nguyễn Tấn Anh, (1993) [30], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra
trong phạm vi 19 - 21 ngày. Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày
(lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai
đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau
chịu đực (kết thúc).
Theo Lê Hồng Mận (2004) [17], thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ
động dục trở lại.
- Đặc điểm động dục của lợn nái: Ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3
giai đoạn: trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực.
Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác
nhảy lên lưng. Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn lại, 25 - 30
giờ ở lợn nội.
Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm
sưng, dịch nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy.
Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội. Nếu được phối
giống lợn sẽ thụ thai.
Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không
cho con đực đến gần và nhảy lên lưng.
- Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho
phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục. Đối với
lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3. Nguyễn


13

Hữu Ninh và cs (2002) [21] cho biết, thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu
thai và sai con. Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép
hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.
- Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày. Thời gian
chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên.
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ.
- Năng suất sinh sản của lợn: Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ
1,8 - 2,2 lứa/ năm. Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh
hưởng đến năng suất sinh sản của lợn. Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
thông qua các chỉ tiêu: số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và
cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm...
2.2.4. Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn
 Bệnh viêm tử cung
* Nguyên nhân bê ̣nh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý
thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ
chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh
hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác g iả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002)
[14], Nguyễn Hữu Phước (1986) [23], bê ̣nh viêm tử cung ở lơ ̣n nái thường do các
nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương
pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được
vô trùng khi phối giống có thể gây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, bị viêm tử cung có thể do lợn đực mắc bệnh
viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử
cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử


14

cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó
thương hàn, bệnh lao… gây viêm.
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ
không sạch sẽ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm.
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thi Ta
̣ ̀i
cung là do vi khuẩ n tu ̣ cầ u vàng

(2002) [7], nguyên nhân gây viêm tử

(Staphylococcus aureus), Liên cầ u dung huyế t

(streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli….
Lê Văn Năm và cs (1999) [20] cho rằ ng, có nhiề u nguyên nhân gây bệnh từ
ngoại cảnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằ ng du ̣ng cu ̣ sản
khoa sai kỹ thuâ ̣t , dẫn đế n Muxin của ch ất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy
hoă ̣c kế t tủa, kế t hơ ̣p với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bấ t hơ ̣p lý và thiế u vâ ̣n đô ̣ng , đã
làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điề u kiê ̣n cai sữa bin
̀ h thường
dạ con trở về khố i lươ ̣ng kích thước ban đầ u khoảng

3 tuầ n sau đẻ ). Đây là điề u

kiê ̣n tố t để vi khuẩ n xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh. Biế n chứng nhiễm trùng do vi
khuẩn xâm nhập vào dạ con gây

nên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử c ung

mở), và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật.
* Hâ ̣u quả của bê ̣nh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục
của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất
lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ, và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], Trần Thị Dân (2004) [4], khi lợn nái
bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Dễ dẫn tới sảy thai: Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi
mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ
vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết
nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng


15

cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá
các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng. Thể vàng bị phá
huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ
giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị
sảy thai.
- Bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu: Lớp nội mạc của tử cung có
nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội
mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch
của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được
dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu.
- Lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi
khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo
sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa. Lượng sữa giảm,
thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc.
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn
tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone. Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra
LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không
thể động dục trở lại được và không thải trứng được.
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh
đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên
nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân
dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp. Đặc biệt, nếu
viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của
buồng trứng.
* Các thể viêm tử cung
Theo Đă ̣ng Điǹ h Tiń (1986) [26], Trầ n Tiế n Dũng và cs

(2002) [8], bê ̣nh

viêm tử cung đươ ̣c chia làm 3 thể : viêm nô ̣i ma ̣c tử cung , viêm cơ tử cung và viêm
tương ma ̣c tử cung.


16

- Viêm nội mạc tử cung
Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp
bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, vi khuẩn xâm
nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung. Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm
như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… thường gây ra viêm nội
mạc tử cung. Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử
cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp có mủ và viêm
nội mạc tử cung có màng giả.
+ Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ
Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn. Sau
khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây xát, nhiễm khuẩn,
nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp.
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi
cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm. Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong
lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh. Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm
dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những mảnh tổ chức chết,…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn. Xung quanh âm
môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, khi khô lại hình thành từng đám
vẩy, màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều. Cổ
tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung. Niêm mạc âm đạo bình thường
(Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1].
+ Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử. Những vết thường đã ăn
sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử.Trường hợp này, con vật xuất
hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có
khi hoàn toàn mất sữa. Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi
cong lên. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch; dịch viêm, máu, mủ,
những mảnh tổ chức hoại tử và niêm dịch… (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Duy
Hoan, 1998) [1].


17

- Viêm cơ tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2000) [21], viêm cơ tử cung
thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm
dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị
phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ
và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử. Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có
thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ. Có khi
do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử
cung bị hoại tử từng đám to.
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt
tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn. Mép âm đạo
tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm. Gia súc biểu hiện trạng thái
đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu,
mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối. Con vật thường kế phát
viêm vú, có khi viêm phúc mạc. Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ
thai và sinh đẻ lần sau. Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh.
- Viêm tương mạc tử cung
Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung. Bệnh này
thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng.
Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển màu đỏ sẫm, mất
tính trơn bóng. Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm
cho lớp tương mạc bị xù xì. Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp
tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình
trạng viêm thể Parametritis và dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch
nhanh. Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn. Con
vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục. Từ
âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm.
Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối,


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×