Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU CÁCH XỬ LÝ LUỘC, TRỮ LẠNH NHỘNG RUỒI NHÀ ĐỂ NHÂN SINH KHỐI ONG KÝ SINH Spalangia nigroaenea Curtis (HYMENOPTERA: PTEROMALIDAE)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU CÁCH XỬ LÝ LUỘC, TRỮ LẠNH NHỘNG
RUỒI NHÀ ĐỂ NHÂN SINH KHỐI ONG
KÝ SINH Spalangia nigroaenea Curtis
(HYMENOPTERA: PTEROMALIDAE)

Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ THANH MAI
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Niên khoá: 2005-2009

Tháng 08/2009


NGHIÊN CỨU CÁCH XỬ LÝ LUỘC, TRỮ LẠNH NHỘNG RUỒI NHÀ
ĐỂ NHÂN SINH KHỐI ONG KÝ SINH Spalangia nigroaenea Curtis
(HYMENOPTERA: PTEROMALIDAE)


Tác giả

LÊ THỊ THANH MAI

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành
Bảo Vệ Thực Vật

Giáo viên hướng dẫn:
TS. TRẦN TẤN VIỆT

Tháng 08 năm 2009
i


LỜI CẢM TẠ
Con xin thành kính ghi ơn cha mẹ đã nuôi dưỡng, dạy dỗ và giáo dục con nên
người. Gia đình luôn là điểm tựa cho con trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:
Thầy Trần Tấn Việt đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
™ Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.
™ Ban chủ nhiệm khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh.
™ Các thầy cô trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật.
™ Cùng quí thầy cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình
giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
™ Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả các bạn lớp DH05BV, các anh, chị tại chức và
cao học đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi và động viên tôi hoàn thành luận
văn này.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2009
LÊ THỊ THANH MAI

ii


TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu cách xử lý luộc, trữ lạnh nhộng ruồi nhà để nhân sinh khối
ong kí sinh Spalangia nigroaenea Curtis (Hymenoptera: Pteromalidae)” được tiến
hành tại phòng Nghiên Cứu và Kiểm Dịch Côn Trùng, khoa Nông học, Đại học Nông


Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh. Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01 năm 2009 đến
tháng 06 năm 2009.
Giáo viên hướng dẫn: TS. TRẦN TẤN VIỆT
Mục đích nhằm nghiên cứu tiềm năng xử lý và tồn trữ nhộng ruồi nhà làm
nguồn để nhân nuôi S. nigroaenea tác nhân phòng trị sinh học đối với ruồi nhà.
Nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm với các nội dung: quan sát,
mô tả hành vi và thời gian kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng một ngày tuổi chưa và
đã xử lý; khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian xử lý đến số nhộng chết;
hiệu quả kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng đã xử lý; sự lựa chọn kí chủ của ong
trên nhộng chưa và đã xử lý (luộc ở 500C, 12 phút); khả năng tồn trữ sinh khối của
nhộng ruồi nhà M. domestica và hiệu quả kí sinh của ong trên nhộng đã tồn trữ.
Kết quả: hành vi và thời gian kí sinh trên nhộng ruồi chưa và đã xử lý có thể
chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn thăm dò và giai đoạn kí sinh. Thời gian thăm dò và kí
sinh ở nhộng chưa xử lý lần lượt là: 16 phút và 9 phút. Ở nhộng đã xử lý luộc ở 500C
trong 12 phút là: 14 phút và 6 phút. Giữa nhộng đã xử lý và chưa xử lý ong thường lựa
chọn nhộng luộc hơn.
Nhộng ruồi có tỷ lệ chết 100% khi được xử lý ở nhiệt độ và thời gian luộc sau:
500 C (12 phút); 600C (6 phút); 700C (6 phút); ở 400C với thời gian 6 phút, 9 phút, 12
phút không có thời gian nào cho tỷ lệ nhộng chết 100 %.
Hiệu quả kí sinh nhộng đã xử lí (luộc ở 500C, 12 phút) đạt 9%. Nhộng ruồi nhà
có thể tồn trữ đến 25 ngày ở 50C với tỷ lệ kí sinh là 9,7 %, cao nhất là 10 ngày với tỷ
lệ đạt 14,7 % . Đối với nhộng ruồi đã bị xử lý bởi các yếu tố: nhiệt độ và thời gian xử
lý, thời gian tồn trữ đều cho tỉ lệ kí sinh thấp hơn so với nhộng không xử lý. Có thể
nhân nuôi S. nigroaenea đối với nhộng ruồi đã được xử lý.
iii


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Trang tựa...........................................................................................................................i
Lời cảm tạ ........................................................................................................................ii
Tóm tắt............................................................................................................................iii
Mục lục .......................................................................................................................... iv
Danh sách các bảng .......................................................................................................vii
Danh sách các hình ...................................................................................................... viii
Chương 1 ........................................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................................2
1.4. Yêu cầu .................................................................................................................2
1.5. Giới hạn của đề tài ................................................................................................2
Chương 2 ........................................................................................................................3
2.1. Một số nghiên cứu về M. domestica .....................................................................3
2.1.1. Đặc điểm hình thái và sinh học......................................................................3
2.1.2. Tác hại của ruồi nhà ......................................................................................5
Hình 2.2 Tác hại của ruồi nhà. .................................................................................7
3. Người dân phải giăng mùng ăn cơm để tránh ruồi. .............................................7
2.1.3. Biện pháp phòng trừ......................................................................................8
2.1.3.1. Vệ sinh môi trường..................................................................................8
2.1.3.2. Phương pháp vật lý..................................................................................8
2.1.3.3. Phương pháp dân gian .............................................................................8
2.1.3.4. Phương pháp hóa học ..............................................................................8
2.2. Thiên địch của ruồi nhà ........................................................................................9
2.3. Tổng quan về ong kí sinh....................................................................................10
2.3.1. Khái niệm về thiên địch kí sinh ...................................................................11
iv


2.3.2. Đặc tính sinh vật học của côn trùng kí sinh .................................................11
2.3.2.1. Tìm nơi ở của vật chủ............................................................................11
2.3.2.2. Tìm vật chủ............................................................................................12
2.3.2.3. Tiếp thu vật chủ.....................................................................................12
2.3.2.4. Tập tính đẻ trứng và bổ sung dinh dưỡng của côn trùng kí sinh...........13
2.3.2.5. Giao phối, sinh sản và tỉ lệ đực, cái.......................................................14
2.3. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về xử lí và tồn trữ côn trùng ...........14
2.3.1. Cơ sở lí thuyết của quá trình tồn trữ ............................................................14
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước ..........................................................................15
2.3.3. Các nghiên cứu ngoài nước..........................................................................16
2.4. Ứng dụng của ong kí sinh trong phòng trị ruồi nhà............................................20
Chương 3 ......................................................................................................................22
3.1. Thời gian .............................................................................................................22
3.2. Địa điểm..............................................................................................................22
3.3. Vật liệu thí nghiệm .............................................................................................22
3.4. Nhân nuôi ruồi nhà làm vật liệu thí nghiệm .......................................................23
3.4.1. Thu thập ruồi nhà .........................................................................................23
3.4.1.1. Dụng cụ nuôi ruồi, cho ăn và thu thập nhộng .......................................23
3.4.1.2. Vật liệu và phương pháp nuôi ấu trùng và thu thập nhộng ruồi nhà.....24
3.5. Ong kí sinh làm vật liệu thí nghiệm....................................................................25
3.6. Phương pháp bố trí thí nghiệm, phân tích thống kê và xử lí số liệu...................25
3.7. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................25
3.7.1. Quan sát, mô tả hành vi và thời gian kí sinh của S. nigroaenea..................25
3.7.2. Ảnh hưởng nhiệt độ và thời gian luộc đến số nhộng chết ...........................27
3.7.3. Mô tả hành vi và thời gian kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng ruồi nhà đã
xử lí luộc ở 500C, 12 phút ......................................................................................27
3.7.4. Hiệu quả kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng đã được xử lí (luộc ở 500C ,
12 phút) ..................................................................................................................28
3.7.5. Sự lựa chọn kí chủ của ong S. nigroaenea trên nhộng đã xử lí (luộc ở 500C,
12 phút) ..................................................................................................................29

v


3.7.6. Khả năng tồn trữ sinh khối của nhộng ruồi nhà M. domestica và hiệu quả kí
sinh của ong trên nhộng đã tồn trữ.........................................................................29
3.7.6.1. Khả năng tồn trữ sinh khối của M. domestica.......................................29
3.7.6.2. Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ ở 50C đến khả năng kí sinh của S.
nigroaenea..........................................................................................................30
Chương 4 ......................................................................................................................32
4.1. Quan sát, mô tả hành vi và thời gian kí sinh của S. nigroaenea.........................32
4.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian luộc đến số nhộng chết............................37
4.3. Hành vi kí sinh và thời gian kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng ruồi nhà M.
domestica đã được xử lí (luộc ở 500C, 12 phút) .......................................................39
4.4. Hiệu quả kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng đã xử lí.....................................41
4.5. Sự lựa chọn kí chủ của S. nigroaenea trên nhộng đã xử lí và chưa xử lí ...........42
4.6. Khả năng tồn trữ sinh khối của nhộng ruồi nhà M. domestica và hiệu quả kí sinh
của ong trên nhộng đã tồn trữ ....................................................................................43
4.6.1 Khả năng tồn trữ sinh khối của nhộng ruồi nhà M. domestica .....................43
4.6.1.1. Ảnh hưởng nhiệt độ trữ lạnh (5 ngày sau trữ) đến khả năng vũ hóa ruồi
............................................................................................................................43
4.6.1.2. Ảnh hưởng thời gian trữ lạnh đến khả năng vũ hóa ruồi ......................45
4.6.2. Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ nhiệt độ thấp (trữ lạnh ở 50C) đến hiệu quả
kí sinh của S. nigroaenea .......................................................................................46
Chương 5 ......................................................................................................................50
5.1. Kết luận...............................................................................................................50
5.1. 1. Hành vi, thời gian kí sinh và sự lựa chọn kí chủ của S. nigroaenea trên
nhộng chưa và đã xử lí (luộc ở 500C, 12 phút) ......................................................50
5.1.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian xử lí; nhiệt độ và thời gian tồn trữ đến
số nhộng chết..........................................................................................................50
5.1.3. Khả năng kí sinh của ong trên nhộng đã được xử lí (luộc ở 500C, 12 phút)
và tồn trữ ................................................................................................................50
5.2. Đề nghị................................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................... 52
PHỤ LỤC ................................................................................................................................ 58
vi


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng

Trang

Bảng 4.1 Thời gian kí sinh của ong S. nigroaenea trên nhộng ruồi nhà chưa xử lý ....36
Bảng 4.2 Ảnh hưởng nhiệt độ và thời gian luộc đến số nhộng chết .............................38
Bảng 4.3 Thời gian kí sinh của ong S. nigroaenea trên nhộng ruồi nhà M. domestica
đã được xử lý (luộc ở 500C, 12 phút) ............................................................................39
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của nhộng đã xử lý lên khả năng kí sinh của S. nigroaenea ......41
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhộng không vũ hóa thành ruồi ở các nhiệt độ khác nhau (5 ngày sau
trữ) .................................................................................................................................44
Bảng 4.6 So sánh tỷ lệ ong S. nigroaenea không vũ hóa ở các cặp nhiệt độ khác nhau
.......................................................................................................................................45
Bảng 4.7 Tỷ lệ nhộng không vũ hóa ở các thời gian trữ lạnh khác nhau .....................46
Bảng 4.8 Tỷ lệ ong S. nigroaenea vũ hóa sau thời gian tồn trữ khác nhau ..................46
Bảng 4.9 So sánh tỷ lệ ong S. nigroaenea vũ hóa sau thời gian tồn trữ khác nhau......47

vii


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình

Trang

Hình 2.1 Vòng đời của ruồi nhà M. domestica ...............................................................4
Hình 2.2 Tác hại của ruồi nhà.........................................................................................7
Hình 3.1 Lồng nuôi ruồi ...............................................................................................23
Hình 3.2 Hộp plastic đậy vải lưới nuôi ấu trùng...........................................................24
Hình 3.3 Không gian kí sinh của ong S. nigroaenea ....................................................26
Hình 3.4 Bố trí thí nghiệm lựa chọn kí chủ của S. nigroaenea ....................................29
Hình 3.5 Thí nghiệm bố trí tồn trữ nhộng trong tủ lạnh ...............................................31
Hình 4.1 Mô tả quá trình kí sinh của S. nigroaenea ............................................. 34 - 35
Hình 4.2 Ong S. nigroaenea hút dịch chảy ra từ nhộng ...............................................36
Hình 4.3 Sự lựa chọn kí chủ của ong S. nigroaenea trên nhộng đã xử lí (luộc ở 500C,
12 phút) và chưa xử lí....................................................................................................43

viii


Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Ruồi nhà (Musca domestic L.) là một loài dịch hại khá nguy hiểm. Chúng phân
bố khắp nơi trên thế giới (Black và Krasur, 1985) có thể bắt gặp ruồi nhà ở khắp mọi
nơi từ trong nhà cho đến ngoài phố, từ nông thôn cho đến thành thị. Do nguồn thức ăn
ưa thích của ruồi nhà là chất bài tiết của vật nuôi và các chất bị thối rửa cho nên chúng
thường hiện diện ở những nơi có điều kiện vệ sinh chưa tốt. Keiding (1974) cho rằng
ruồi nhà có thể xuất hiện với số lượng lớn xung quanh phân của vật nuôi để sinh sản
và duy trì nòi giống.
Ruồi có khả năng lan truyền nhiều bệnh nguy hiểm cho con người và động vật.
Chúng gây khó chịu cho con người với thói quen bu đậu trong các hố rác, hố phân, đồ
ăn, vật phẩm, trong nhà, trong kho. Cộng với việc vừa liếm hút thức ăn vừa thải các
chất dơ bẩn, điều này đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền nhiều bệnh truyền
nhiễm và kí sinh như: tả, lỵ, thương hàn và giun sán cho người và động vật. Ruồi là
vectơ để truyền các tác nhân sinh bệnh như: Samonella (gây bệnh trên gia cầm),
Shigella, Campylobacter, Escherichia, Entorococcus, Chlamydia. Đặc biệt khi có
những trận dịch tả lớn, ruồi được xem như là tác nhân lan truyền dịch bệnh phát tán đi
mọi nơi. Do vậy, việc phòng trừ ruồi nhà là rất cần thiết. Có nhiều biện pháp diệt ruồi
đã được sử dụng, từ phương pháp truyền thống như dùng bẫy, đập bằng tay; các biện
pháp cơ học như dọn dẹp sạch những nơi được xem là môi trường cho sự sinh trưởng
và phát triển của ruồi nhà, cho đến biện pháp hoá học là dùng thuốc để phun diệt ruồi.
Trước mắt, biện pháp hóa học thì khá hiệu quả, tuy nhiên về lâu dài nó lại bộc lộ nhiều
khuyết điểm: phun nhiều dẫn đến tình trạng kháng thuốc (Keiding, 1976), chi phí cao,
gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến an toàn sức khoẻ con người. Vấn đề ô nhiễm
môi trường hiện nay là một vấn đề nhạy cảm rất được quan tâm. Do đó, yêu cầu được
đặt ra là làm sao phòng trừ ruồi hiệu quả mà vẫn đảm bảo thân thiện với môi trường?
1


Giải pháp cho vấn đề này là áp dụng biện pháp đấu tranh sinh học dựa vào nguồn thiên
địch của ruồi có sẵn trong tự nhiên mà tiêu biểu là nguồn ong kí sinh nhộng để khống
chế mật số ruồi. Biện pháp này đã đem lại nhiều kết quả rất khả quan, ít ảnh hưởng
đến môi trường và hệ sinh thái. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất nhân nuôi sinh
khối đôi khi số nhộng ruồi sản xuất ra không được sử dụng hết mà cứ để như vậy
không xử lí thì số nhộng đó sẽ vũ hóa thành ruồi, gây hại cho môi trường và hao tốn
tài chính để xử lí hậu quả. Vấn đề đặt ra trong sản xuất ong kí sinh là làm sao có thể
tồn trữ được nhộng ruồi để cung cấp cho sản xuất khi cần. Tuy nhiên, ở Việt Nam
công trình nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn đó, vấn đề
xử lí và tồn trữ nhộng ruồi để làm nguồn nhân sinh khối ong kí sinh đang được quan
tâm. Vì thế, đề tài “Nghiên cứu cách xử lý luộc, trữ lạnh nhộng ruồi nhà để nhân sinh
khối ong kí sinh Spalangia nigroaenea Curtis (Hymenoptera: Pteromalidae)” được
thực hiện.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tiềm năng của các phương pháp xử lí nhộng: luộc và trữ lạnh để
ứng dụng trong nhân nuôi sinh khối, từ đó sử dụng trong công tác phòng trừ sinh học
đối với ruồi nhà và thương mại hóa.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Ong kí sinh Spalangia nigroaenea của ruồi nhà Musca domestica L.
1.4. Yêu cầu
Mô tả hành vi kí sinh của ong để làm cơ sở cho các thí nghiệm được tiến hành
của đề tài.
Xác định tiềm năng của các phương pháp xử lí: xử lí nhiệt và tồn trữ lạnh lên
hiệu quả kí sinh của ong.
1.5. Giới hạn của đề tài
Đề tài được tiến hành từ ngày 12/1/2009 đến ngày 12/6/2009, chỉ xác định khả
năng kí sinh của S. nigroaenea trên nhộng xử lí, chưa thí nghiệm trên đối tượng khác.

2


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số nghiên cứu về M. domestica
2.1.1. Đặc điểm hình thái và sinh học
Ruồi thuộc hệ côn trùng có 6 chân. Ngón cuối của mỗi chân mang một cặp
vuốt, hai mảnh tuyến có thể tiết một chất dính giúp ruồi đi đứng vững vàng trên các
mặt phẳng trơn và thẳng đứng. Trên đầu ruồi có 2 mắt kép có khoảng 4.000 mắt đơn,
và 3 mắt đơn trên đỉnh đầu. Ruồi có một đôi cánh, bờ cánh dày thành gờ cứng nên bay
rất khỏe. Ruồi ưa sống ở nơi có ánh sáng và ấm áp. Tuổi thọ của ruồi khoảng 3 – 4
tuần. Đa số ruồi chết trong những tháng khi trời trở rét, nhưng một số qua đông nhờ
chui vào ẩn trong các khe tường, chuyển sang trạng thái tiềm sinh và sử dụng thức ăn
dự trữ trong cơ thể. Khi thời tiết ấm áp trở lại, ruồi sẽ chui ra kiếm ăn và lặp lại vòng
đời bằng cách đẻ trứng (Vũ Hướng Văn, 2008).
™ Trứng
Trứng màu trắng, dài khoảng 1,2 mm, được sắp đặt từng cái tạo thành những
cụm nhỏ. Mỗi ruồi cái có thể đẻ khoảng 500 trứng và chia thành nhiều đợt, mỗi đợt
khoảng 75 – 150 trứng, mỗi lần đẻ cách nhau 3 – 4 ngày. Số lượng trứng phụ thuộc
vào kích thước con cái, và điều này quyết định bởi dinh dưỡng trong giai đoạn ấu
trùng (Black và Krafsur, 1985).
™ Ấu trùng
Ấu trùng đẫy sức cơ thể dài 3 – 9 mm, có màu kem hơi trắng đặc trưng, hình trụ
nhưng thon nhỏ về phía đầu. Đầu chứa một đôi móc màu đen. Phía sau lỗ thở được nâng
lên. Ấu trùng không chân, trong điều kiện thời tiết ấm trứng có thể nở thành ấu trùng trong
vòng 8 – 12 giờ, ấu trùng ăn ngay sau khi nở và phát triển ngay trên môi trường chúng được
đẻ ra. Cơ thể ấu trùng khi đẫy sức béo, có màu kem và dài 8 – 12 mm. Ấu trùng trải qua 3
tuổi. Khi ấu trùng đẫy sức, chúng trườn lên nơi khô ráo để hoá nhộng. Phân có ẩm độ cao
thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ruồi nhà (Black và Krafsur, 1985).
3


™ Nhộng
Dài khoảng 8 mm, có màu nâu tối. Nhộng trải qua các giai đoạn từ tiền nhộng
đến trước khi vũ hoá với các màu vàng, đỏ, nâu đến đen. Ruồi vũ hoá từ nhộng, bên
trong nhộng chúng phồng lên và co lại bên trong vỏ, vỏ này gọi là ptilinum. Khi vũ
hoá đầu thành trùng sẽ đục thủng vỏ nhộng và chui ra ngoài (Black và Krafsur, 1985).
™ Thành trùng
Thành trùng có chiều dài khoảng 6 – 7 mm, con cái thường có kích thước lớn
hơn con đực. Mắt có màu hơi đỏ và phần miệng chứa nước bọt. Phần ngực có 4 sọc
màu trắng và nó hướng lên 4 mạch cánh. Phần bụng có màu tro hoặc có màu hơi vàng
với đường giữa tối và không đều trên mặt phẳng. Mặt bụng dưới của con đực hơi vàng.
Thành trùng sống từ 15 – 25 ngày. Khả năng sinh sản của ruồi nhà rất lớn, tuy nhiên tỷ
lệ thành công không phải là hoàn toàn (Black và Krafsur, 1985).

Hình 2.1 Vòng đời của ruồi nhà M. domestica.
(Nguồn: http://www.apolimantikiltd.gr/english/Pests/House%20fly/)

Ruồi nhà hút những chất lỏng có vị ngọt hay những chất bị thối rữa. Ấu trùng
ăn những chất hữu cơ có độ ẩm cao. Mặc dù chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn
4


có độ ẩm khác nhau, nhưng bộ phận miệng hút của ruồi nhà chỉ cho phép chúng hút
vào những chất lỏng. Các chất rắn làm mềm bằng nước bọt trước khi chúng hút vào
(Black và Krafsur, 1985).
Cả ruồi đực và cái đều ăn tất cả thức ăn, rác rưởi, chất thải của người và cả
phân động vật. Nước là chất thường ngày không thể thiếu của ruồi, ruồi sẽ chết nếu
sau 48 giờ không hút nước. Một ngày ruồi cần ăn 2 – 3 lần (Nguyễn Xuân Quang,
2006).
Ruồi chủ yếu họat động vào ban ngày: ăn và giao phối, khi không tìm thức ăn,
ruồi thường trú đậu ở sàn nhà, tường, trần nhà, cũng như ngoài bờ rào, hầm nhà xí,
thùng rác, dây phơi quần áo, thảm cây thấp. Ban đêm ruồi ưa đậu ở trần nhà và những
cấu trúc treo cao khác, những vị trí này thường gần với nơi kiếm ăn, nơi đẻ và tránh
được gió (Nguyễn Xuân Quang, 2006).
2.1.2. Tác hại của ruồi nhà
Ruồi nhà có tập tính thường tập trung tìm kiếm thức ăn, chỗ có thể giao phối,
đẻ trứng và trú đậu ở nhiều nơi khác nhau vào ban ngày. Chính vì những hoạt động
này, nếu ở đâu có nhiều ruồi, chúng sẽ gây phiền hà rất lớn cho con người khi làm
việc, ăn uống cũng như nghỉ ngơi. Sự hiện diện của ruồi là dấu hiệu của điều kiện sống
và sinh hoạt mất vệ sinh vì nó mang nhiều chất bẩn, mầm bệnh ở trên thân mình, chân,
vòi. Con người có thể bị nhiễm bệnh do ăn phải thức ăn, đồ uống nhiễm bẩn do ruồi có
mang mầm bệnh vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm, bay đến đậu nghỉ hoặc bu bám để ăn
uống (Nguyễn Võ Hinh, 2007).
Ruồi nhà là côn trùng trung gian truyền một số bệnh cho người vì chúng tự do
kiếm ăn trên tất cả các loại thức ăn, đồ uống của con người và các nơi dơ bẩn khác.
Khi ruồi đậu, bu bám, bò đi tìm kiếm thức ăn ở những nơi bẩn thỉu có mầm bệnh thì cơ
thể của chúng có thể mang mầm gây bệnh. Nếu mầm bệnh chỉ dính vào bề mặt ngoài
của cơ thể thì chỉ sống một vài giờ. Khi mầm bệnh cùng với thức ăn được ruồi nuốt
vào dạ dày hoặc ruột thì có thể tồn tại sau vài ngày. Khi ruồi tiếp xúc với người và các
loại thức ăn của người, mầm bệnh từ ruồi sẽ xâm nhập và gây bệnh. Đa số mầm bệnh
do ruồi truyền đều bị nhiễm trực tiếp qua đường thức ăn, đồ uống, không khí, bàn tay,
sự tiếp xúc giữa người với người. Những bệnh do ruồi truyền thường là các bệnh
truyền nhiễm qua đường tiêu hóa như tiêu chảy, lỵ trực trùng, lỵ amíp, tả, thương hàn,
5


giun, sán. Ngoài ra còn bị một số các bệnh khác như nhiễm trùng mắt, mắt hột, mụt
cóc, bệnh ngoài da cấp tính, nấm, phong. Vì vậy trong đời sống và sinh hoạt của con
người, nhất là sau các đợt lũ lụt, môi trường bị ô nhiễm nặng, cần có các biện pháp
truyền thông giáo dục, vận động người dân ở cộng đồng nâng cao nhận thức trong việc
phòng bệnh bằng cách hạn chế các mối liên quan, tiếp xúc với ruồi. Từ đó ngăn chặn
việc lây lan và phát tán mầm bệnh trong cộng đồng (Nguyễn Võ Hinh, 2007).
Người ta đã thí nghiệm chấm một dấu sơn trên bụng ruồi khi nó mới chui dưới
đất lên và thấy ruồi có thể bay xa nơi ở cũ chừng 1.600 m. Nếu lại có chỗ đậu là các
phương tiện giao thông thì ruồi còn di chuyển rất xa. Về vận chuyển theo đường không
có thể ví ruồi như chiếc máy bay vận tải siêu nặng; do mình, chân, cánh có nhiều lông,
là chỗ bám rất tốt cho vi sinh vật. Vi sinh vật còn qua được hệ tiêu hóa của ruồi mà
không chết, và theo phân ruồi làm ô nhiễm thức ăn, nước uống. Người ta đã tính toán
một con ruồi có thể mang tới 28 vạn vi khuẩn và nhiều trứng giun, sán. Nguy hiểm
nhất là khi ruồi đậu xuống để kiếm ăn trên phân của người mắc bệnh đường ruột như
tả, thương hàn, hay bại liệt. Mầm bệnh của các bệnh đó có thể được ruồi mang đến
thức ăn của người khác, làm cho người ăn thức ăn đó bị mắc bệnh (Vũ Hướng Văn,
2008).

6


1

2

(Nguồn: http://khoahoc.com.vn)

(Nguồn: http://www.3c.com.vn)

3
(Nguồn: http://tintuc.timnhanh.com)

Hình 2.2 Tác hại của ruồi nhà.
1 – 2. Ruồi đậu vào thực phẩm làm thực phẩm bị nhiễm bẩn.

3. Người dân phải giăng mùng ăn cơm để tránh ruồi.
.
7


2.1.3. Biện pháp phòng trừ
Có thể diệt ruồi trực tiếp bằng hóa chất diệt côn trùng hoặc bằng các biện pháp
vật lý như bẫy tấm dính, vỉ đập, vỉ điện. Dù bằng cách nào cũng cần phù hợp với điều
kiện vệ sinh môi trường.
2.1.3.1. Vệ sinh môi trường
Làm mất hoặc làm giảm nơi đẻ trứng của ruồi. Có rãnh thoát nước, phân, nền
sàn nên làm bê tông và xối sạch hàng ngày ở chuồng trại súc vật, gia cầm. Thu dọn
phân thành đống, đậy lại bằng tấm nhựa nếu có điều kiện nên làm khô phân trước khi
ruồi có thời gian đẻ và phát triển. Làm tấm đậy các hố xí hở, và nên xây dựng những
hố xí kín ở những khu dân cư. Rác rưởi và các chất thải hữu cơ cần làm sạch triệt để
bằng cách thu dọn vào vật chứa, chuyên chở và xử lý đúng cách.
Làm giảm những nguồn thu hút ruồi từ nơi khác đến: ruồi thường được thu hút
bởi mùi phát ra từ các ổ đẻ của chúng: mùi sinh ra từ thức ăn cá, xương, đường mía,
sữa, hoa quả lên men. Cần giảm và làm sạch những chất này.
Bảo vệ không cho ruồi tiếp xúc với thức ăn, đồ dùng nhà ăn và người, đậy kín
chạn bát, thức ăn. Làm lưới cửa ra vào và cửa sổ cũng như chụp màn để bảo vệ trẻ con
khi ngủ để không cho ruồi và các côn trùng khác bay vào.
2.1.3.2. Phương pháp vật lý
Chúng ta có thể sử dụng những lọai bẫy ruồi như: bẫy ruồi, bẫy dính, bẫy điện.
Sử dụng các chất hấp dẫn ruồi đến ăn và ruồi sẽ bị nhốt trong bẫy ruồi, bị dính vào các
chất dính hoặc bị điện giật chết.
2.1.3.3. Phương pháp dân gian
Ruồi thích ánh sáng ban ngày, nhưng do ruồi có mắt kép phản xạ nhanh với ánh
sáng phản chiếu bởi loại gương cầu. Vì vậy người ta cho nước sạch vào túi nylon, treo
trong nhà, ruồi bay qua bay lại gặp phải ánh sáng phản quang từ các túi nylon đựng
nước, sẽ sợ và bay xa. Đây là biện pháp các quán hàng ăn uống thường sử dụng rất có
hiệu quả.
2.1.3.4. Phương pháp hóa học
Một số biện pháp hóa học như sử dụng hộp dichlorvos bốc hơi, bả diệt ruồi,
phun tồn lưu, phun không gian, phun hóa chất diệt dòi vào ổ đẻ của ruồi. Những biện
pháp này diệt ruồi rất nhanh, được áp dụng khi có dịch tả, kiết lỵ, đau mắt, nhưng hạn
8


chế sử dụng bởi vì ruồi phát triển tính kháng hóa chất rất nhanh.
Một số hóa chất sử dụng làm bả diệt ruồi như các hợp chất phospho hữu cơ
(dichlovos, diazinon, malathion); hợp chất carbamat (propoxur, formaldehyd). Các hóa
chất sử dụng để phun tồn lưu hoặc phun không gian như các hóa chất nhóm
pyrethroid: alphacypermethrin, cyfluthrin, deltamethrin, permethrin.
Khả năng kháng thuốc của các loài ong ký sinh yếu hơn ruồi nhà. Trong nhiều
trường hợp thì thuốc diệt côn trùng hầu như không có ảnh hưởng gì đến ruồi nhà, trong
khi đó lại gần như diệt hết ong kí sinh, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nếu sử
dụng thuốc diệt ruồi bằng các phương pháp như phun xịt, hay dùng bẫy bả thì nên
chọn những loại thuốc không quá ảnh hưởng đến ong kí sinh. Với việc sử dụng theo
định kì thì ruồi nhà trở nên kháng lại những loại thuốc trên (Doutt và Smith, 1971;
Keiding, 1974).
Đến năm 1971, có khoảng 105 loại côn trùng đã kháng lại nhiều loại thuốc diệt
côn trùng (Harwood và James, 1979). Hơn nữa, thuốc diệt côn trùng còn để lại dư
lượng trong sữa và thịt. Vì thế không nên dùng phương pháp hoá học trong kiểm soát
côn trùng ở các trại sản xuất bơ sữa và thịt (Pickens và ctv, 1967).
Do những hạn chế như vậy, nên biện pháp đấu tranh sinh học rất được quan tâm
sử dụng.
2.2. Thiên địch của ruồi nhà
Một số loài côn trùng có chu kỳ sinh sản bộc phát hay phát dịch trong một
khoảng thời gian nào đó. Chu kỳ này có thể được qui định do các yếu tố thức ăn, các
loài kí sinh chuyên hóa hay cơ chế điều chỉnh nào đó (Phạm Bình Quyền, 2007). Sự
bắt mồi và kí sinh thiên địch là tác nhân quan trọng trong điều chỉnh mật độ giữa các
loài côn trùng trong cộng đồng (Nguyễn Văn Huỳnh, tư liệu cá nhân).
Ong kí sinh, động vật ăn mồi và một số tác nhân đấu tranh sinh học hiện diện
trong phân và môi trường sống là yếu tố làm giới hạn sự sinh sản của ruồi nhà. Chúng
vô hại cho người và làm giảm 80% tổng lượng ruồi (Meat và Livestock Aus, 2006).
Nấm Beauveria bassiana là một tác nhân ảnh hưởng đến nhiều loại thuộc côn
trùng (Ferron và ctv, 1991), trong đó loài ruồi Diptera (Watson và ctv, 1995, 1996;
Darwish và Zayed, 2002 và Roberto, 2007). Metarhizium anisoplidae và B.bassiana
phân lập từ những con ruồi ở các vùng chăn nuôi gia súc đã cho thấy rằng đây cũng là
9


một tác nhân đấu tranh sinh học đầy hứa hẹn trong kiểm soát sinh học ruồi (Meat và
Livestock Aus, 2006).
Quần thể côn trùng ăn thịt cũng có khả năng giết chết trứng và ấu trùng của
ruồi. Tuy nhiên, quy luật phát sinh phát triển và khả năng kiểm soát ruồi của chúng
vẫn đang được theo dõi. Những côn trùng ăn thịt này vô hại cho người (Meat và
Livestock Aus, 2006).
Trên thế giới đã có nhiều báo cáo về thành phần ong kí sinh trên ruồi nhà. Ruồi
nhà có nhiều thiên địch là ong kí sinh, đặc biệt là giai đoạn nhộng. Theo Mann và ctv
(1990), có 4 loài; theo Rueda và ctv (1997) và Havron và Margalit (1991) có 5 loài;
theo báo cáo của Axtell (1986) có 7 loại ong kí sinh được tìm thấy trên nhộng ruồi
nhà. Một báo cáo khác về ong kí sinh trên ruồi nhà của Sulaiman và ctv (1990) và
Skovgard (2000) có 9 loài; theo Stevenson và Cocke (1997) có 10 loài.
Trong tự nhiên, thành phần thiên địch của ruồi nhà rất phong phú bao gồm
nhiều loài ong kí sinh như S. nigroaenea, Muscidifurax raptor, Nasonia vitripennis,
Muscidifurax zaraptor. Nhóm ăn mồi bao gồm các loại nhện, kiến, các loại nấm gây
bệnh như Beauveria bassiana và Mermis spp.. Tuy nhiên, việc sử dụng ong kí sinh mà
chủ yếu là kí sinh vào giai đoạn nhộng được áp dụng rất nhiều nơi trên thế giới, đặc
biệt là những nước có nền chăn nuôi phát triển.
2.3. Tổng quan về ong kí sinh
Trong mối quan hệ đối kháng giữa vật kí sinh và vật chủ, các loài côn trùng kí
sinh (chủ yếu ở pha sâu non là pha dinh dưỡng) thường có kích thước nhỏ hơn vật chủ
của chúng. Hoạt động kí sinh ở côn trùng rất hiếm khi bắt gặp kiểu sống bám bên
ngoài (ngoại kí sinh) mà chủ yếu là kiểu sống bám bên trong cơ thể vật chủ (nội kí
sinh). Tùy theo đặc tính dinh dưỡng của vật kí sinh, hoạt động kí sinh có thể xảy ra ở
các pha phát triển của vật chủ, song phổ biến nhất ở pha sâu non, tiếp đến là pha trứng
của côn trùng. Có nhiều họ ong chuyên kí sinh trứng như họ ong mắt đỏ
(Trichogramamatidae), họ ong đen kí sinh trứng (Scelionidae). Có những họ ong kí
sinh sâu non phổ biến như họ ong kén nhỏ (Braconidae), họ ong cự (Ichneumonidae),
họ ruồi kí sinh (Tachinidae). So với pha trứng và pha sâu non, pha nhộng và nhất là
pha trưởng thành ít bị kí sinh hơn nhiều. Điều cần lưu ý là khác với các loài sinh vật
kí sinh thông thường (Parasit) phải sống bám lâu dài trong cơ thể vật chủ, các loài côn
10


trùng kí sinh khi kết thúc giai đoạn dinh dưỡng (sâu non kí sinh đã đẫy sức) đều làm
chết vật chủ. Do đó, các loài côn trùng kí sinh trên sâu bọ được xếp vào nhóm kí sinh
giết vật chủ (Parasitoid). Chính nhờ đặc điểm này mà các loài côn trùng kí sinh có thể
làm giảm đáng kể số lượng sâu hại trong tự nhiên (Nguyễn Viết Tùng, 2006).
2.3.1. Khái niệm về thiên địch kí sinh
Trong côn trùng có một số loài sống nhờ bằng cách lấy thức ăn trên hoặc trong
cơ thể của động vật khác, những động vật như vậy được gọi là côn trùng kí sinh. Côn
trùng kí sinh trên sâu hại khi phát dục cá thể sẽ làm cho vật chủ chết. Chỉ kí sinh ở giai
đoạn sâu non, khi trưởng thành chúng sống độc lập. Độ lớn của chúng thường bằng
với vật chủ. Vì vậy, đặt nó tựa là côn trùng kí sinh (Parasitoid). Những loài thuộc bộ
cánh màng (Hymenoptera) đều gọi là ong kí sinh, thuộc bộ hai cánh (Diptera) gọi là
ruồi kí sinh (trích dẫn bởi Nguyễn Lê Đức Trọng, 2006).
2.3.2. Đặc tính sinh vật học của côn trùng kí sinh
Côn trùng kí sinh từ khi đẻ đến khi bay ra phải có một quá trình khác nhau về
tính chất và liên hệ với nhau. Chúng thường có 4 bước: tìm nơi ở của vật chủ; tìm vật
chủ; tiếp xúc vật chủ và kiểm tra vật chủ.
2.3.2.1. Tìm nơi ở của vật chủ
Một số côn trùng kí sinh, đặc biệt là những loài chưa thành thục khi vũ hóa liền
bay đến nơi khác tìm thức ăn, sau đó mới tìm vật chủ để đẻ trứng. Khi chuẩn bị đẻ
trứng, ong kí sinh không phải lập tức tìm vật chủ ngay mà trước hết tìm nơi ở nhất
định mặc dù môi trường đó có vật chủ hay không, đó là mối liên hệ sản sinh có tính
thích ứng lâu dài. Nói chung, thực vật hoặc mùi vị thức ăn của vật chủ, có sức hấp dẫn
đối với thiên địch kí sinh. Mùi vị thực vật hoặc nguồn thức ăn đó là nguồn thông tin
cho côn trùng kí sinh, trước hết tìm nơi sống của vật chủ, sau đó mới tìm vật chủ. Tác
dụng hấp dẫn côn trùng kí sinh của cây hoặc thức ăn là do tác dụng của hóa chất.
Ngoài ra, nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng, độ cao của cây cũng có ảnh hưởng đến
khả năng chọn sinh cảnh của côn trùng kí sinh. Ví dụ loài ong kén bụng cứng
(Chelonus texanus Cr.) kí sinh trên sâu xám lưới (Loxostege frustralis Walker) chỉ
hoạt động ở một độ cao nhất định mặc dù chúng được thả ở độ cao nào, chúng đều bay
xuống dưới ngang với độ cao cây bụi mới bắt đầu phát tán.

11


2.3.2.2. Tìm vật chủ
Sau khi tìm nơi ở của vật chủ, côn trùng kí sinh nhờ thông tin mà tìm được vật
chủ. Thông tin hóa học có tác dụng quan trọng. Trước hết là hoạt chất hóa học ở xa, đó
là thức ăn của vật chủ, mùi vị của lá cây bay hơi. Ví dụ sâu đo mùa đông (Operophtera
brumata) ăn lá để lại dấu vết tiết ra loại đường hấp dẫn ruồi kí sinh (Cyzenis albicans).
Ngoài ra, chất vật chủ tạo ra thông tin vật chủ gần, cự li khoảng 2 – 20 cm mới có tác
dụng. Ví dụ ong kén đầu đen (Carsliochiles nigriceps Viereck) kí sinh lên ngài đêm
thuốc lá, khi tìm đến sinh cảnh thích hợp, bay đến dùng râu đầu thăm dò vết thương,
bò theo vết thương rồi tiếp tục tìm. Nếu đúng vết thương do vật chủ gây ra, chúng bò
nhanh hơn, râu đầu cọ vào nhau tìm vật chủ. Cuối cùng, hợp chất rất quan trọng là chất
tiếp xúc, nghĩa là khi cơ quan cảm giác của vật kí sinh tiếp xúc với chất đó mới phát
huy tác dụng. Cũng có trường hợp chúng sống tạm trên cơ thể sâu trưởng thành dựa
vào sự bay đi của chúng để tìm trứng sau khi chúng đẻ.
2.3.2.3. Tiếp thu vật chủ
Sau khi côn trùng tìm được vật chủ còn phải chọn vật chủ nếu điều kiện không
thích hợp vẫn không kí sinh, cho nên côn trùng kí sinh có tiếp thu vật chủ hay không
còn phụ thuộc vào mấy điều kiện sau:
Tình trạng vật lí bề mặt vật chủ: rất nhiều ong kí sinh có thể nhận biết những
trứng nào đã kí sinh và chưa kí sinh. Từ đó, có thể tránh sự cạnh tranh dinh dưỡng.
Chúng thường đánh dấu lên vật chủ khi đã kí sinh và về sau ong khác không đẻ vào đó
nữa.
Chất hóa học bề mặt vật chủ: ong mắt đỏ dùng râu đầu và ống đẻ trứng để phân
biệt dấu vết trứng đã đẻ (do chất tiết vào trên trứng vật chủ). Vinson (1981) cho rằng
những trứng sâu hại bông đã kí sinh trong vòng 24 giờ chỉ có 21% số trứng bị kí sinh
trở lại. Vậy có 79% ong kí sinh đã nhận biết trứng đã kí sinh rồi.
Chất dinh dưỡng trong vật chủ: nói chung côn trùng kí sinh sẽ không tìm sai địa
chỉ, bởi vì như thế nó sẽ ảnh hưởng đến thế hệ sau nhưng nếu con người biết tìm vật
chủ có dinh dưỡng nhân tạo thích hợp sẽ kích thích chúng đẻ trứng. Thông qua ống đẻ
trứng, ong kí sinh có thể nhận biết trứng khỏe hay trứng đã bị kí sinh rồi.
Sự vận động của kí sinh: sự vận động của vật chủ thường là những vật chủ lẩn
trốn lại kích thích sự đẻ trứng của côn trùng kí sinh, ví dụ ngài túi thường kích thích
12


các ong kí sinh đẻ trứng.
Tính thích ứng của vật chủ: có nghĩa là vật chủ có thích hợp cho sự phát dục
của vật kí sinh hay không. Vật kí sinh đã đẻ trứng vào vật chủ có nghĩa là hoàn toàn
phù hợp. Vật kí sinh luôn chọn đúng vật chủ để bảo tồn nòi giống. Những cá thể vật
chủ có độ lớn, độ dày của vỏ trứng khác nhau. Trứng quá to dinh dưỡng quá nhiều
hoặc quá nhỏ, dinh dưỡng quá ít chúng đều không có lợi cho sự phát dục của vật kí
sinh.
Tác dụng phòng vệ của vật chủ: khi vật kí sinh đẻ trứng vào vật chủ, giữa
chúng hình thành một khả năng đấu tranh kịch liệt, hiện tượng phổ biến nhất là dùng
bạch huyết bao vây lấy vật kí sinh, vật chủ chết ngay và làm cho vật kí sinh cũng
không phát triển được.
2.3.2.4. Tập tính đẻ trứng và bổ sung dinh dưỡng của côn trùng kí sinh
Hành vi đẻ trứng của côn trùng kí sinh.
Khi ong đẻ trứng, chúng thường có một loạt các động tác, hành vi đó là đặc thù
của chúng. Khi đẻ trứng thường có 5 giai đoạn:
- Thăm dò: khi gặp trứng vật chủ dùng râu đầu quét lên mặt trứng một lượt.
- Khảo sát: râu đầu múa vòng hẹp hơn, gõ nhẹ lên mặt trứng vật chủ để xác
định có bị kí sinh hay không. Nếu ong khảo sát thấy trứng đã bị kí sinh thì liền khảo
sát trứng khác.
- Giai đoạn xuyên vỏ trứng: chọc thủng trứng vật chủ bằng ống đẻ trứng
- Giai đoạn đẻ trứng: sau khi chọc thủng trứng, ong dừng lại và liền đẻ trứng
vào vật chủ.
- Giai đoạn đánh dấu: sau khi đẻ trứng, ong cái liền rút ống đẻ trứng và đánh
dấu hình “∞” lên vỏ trứng và vẽ đến 13 – 15 lần. Nếu đuổi ong không cho đánh dấu
thì trứng đó vẫn bị ong khác kí sinh vào.
Phương pháp lấy dịch thể của ong kí sinh
Sau khi đẻ trứng, chúng hút luôn dịch thể chảy ra. Nhiều loài ong kí sinh đều có
tập tính này. Ống đẻ trứng chọc thủng vật chủ hút luôn dịch thể chảy ra. Dùng miệng
cắn vỡ vật chủ để hút dinh dưỡng. Ong đất thường cắn da dế thậm chí cắn đứt chân sau
đó hút dịch thể. Họ ong nhỏ và ong kiến cũng có tập tính này. Có một số ong kí sinh
cần bổ sung dinh dưỡng, nếu dinh dưỡng không đủ hoặc rất lâu không tìm thấy vật chủ
13


để đẻ trứng, những trứng già trong buồng trứng đều bị vỡ và bị hút hết. Hiện tượng
này có lợi cho việc bảo tồn nòi giống của chúng.
2.3.2.5. Giao phối, sinh sản và tỉ lệ đực, cái
- Giao phối: Nói chung côn trùng kí sinh cái nhiều hơn đực, cho nên ong đực
thường phải giao phối nhiều lần. Ong đực vũ hóa sớm hơn bay đi tìm nhộng ong cái
sắp vũ hóa, chờ bay ra là giao phối ngay. Đối với ong cái thường chỉ giao phối một
lần, cũng có trường hợp như ong nhỏ ruồi nhà phải giao phối nhiều lần mới thụ tinh
nhiều. Sau khi giao phối, tinh dịch lưu lại trong buồng trứng ong cái rất lâu, lúc ong
cái đẻ trứng ra mới thụ tinh.
- Sinh sản: Có 3 hình thức
Hình thức thứ nhất là sinh sản lưỡng tính, phần lớn côn trùng thuộc loại này.
Hình thức sinh sản thứ hai là sinh sản đơn tính. Ong kí sinh thường sinh sản
lưỡng tính nhưng cũng có trường hợp đơn tính, những trứng không được thụ tinh
thường nở ra ong đực.
Hình thức sinh sản thứ ba là sinh sản đa phôi. Một côn trùng kí sinh từ trong
một trứng có nhiều côn trùng kí sinh. Đó là vì trứng côn trùng kí sinh có sự phân chia
mà phát dục thành phôi độc lập, mỗi phôi lại phát dục thành một cá thể độc lập.
- Tỷ lệ đực cái: Trong ong kí sinh nói chung ong cái nhiều hơn ong đực. Ong
cái đẻ trứng lên vật chủ thích hợp, lứa sau phần lớn là ong cái và ngược lại. Ánh sáng,
nhiệt độ, cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ đực cái (trích dẫn bởi Nguyễn Lê Đức Trọng,
2006).
2.3. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về xử lí và tồn trữ côn trùng
2.3.1. Cơ sở lí thuyết của quá trình tồn trữ
Khi nhiệt độ môi trường hạ thấp quá ngưỡng sinh học của một loài côn trùng
nào đó, sẽ làm cho các quá trình trao đổi chất trong cơ thể chúng bị ngừng trệ, côn
trùng sẽ rơi vào trạng thái đơ (anabiose). Nếu nhiệt độ môi trường tiếp tục hạ thấp hơn
nữa, nước tự do trong cơ thể bị đóng băng, làm tổn thương cơ giới các tế bào và gây
nên những biến đổi sinh lí hoàn toàn không phục hồi được, côn trùng sẽ bị chết. Từ
trạng thái đơ vì lạnh, côn trùng có thể phục hồi được các hoạt động sống của nó khi
nhiệt độ môi trường ấm dần lên, vượt quá ngưỡng sinh học. Tuy nhiên, khả năng này
chỉ có thể xảy ra ở những cá thể bị rơi vào trạng thái đơ chưa quá lâu. Những nhận xét
14


trên đây là kết quả thực nghiệm của Bakhmetev (1899 – 1907) khi ông xử lý côn trùng
ở nhiệt độ thấp (Nguyễn Viết Tùng, 2006.)
Một số loài côn trùng có thể kéo dài sự sống khi bị tác động ở nhiệt độ thấp.
Côn trùng cải thiện sinh lý và hành vi thích nghi để vượt qua nhiệt độ thấp và điều
kiện lạnh (Block, 1996). Hai cơ chế sinh lí chính để côn trùng chịu được nhiệt độ lạnh
là khả năng chịu lạnh và tránh lạnh (Trần Tấn Việt, 2000).
Mức chịu lạnh của côn trùng hay điểm lạnh cực đại của côn trùng phụ thuộc
vào lượng nước chứa trong cơ thể chúng. Lượng nước này được xác định bằng tỷ số
của toàn bộ khối lượng nước và trọng lượng khô của cơ thể.
Mức chịu lạnh của côn trùng phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Trong nhiều thí
nghiệm, mức chịu lạnh của côn trùng không đơn thuần là xác định bằng lượng nước
trong cơ thể.
Lượng nước liên kết chiếm khoảng 50% hoặc hơn so với tất cả lượng nước
trong cơ thể và có khả năng chịu lạnh rất tốt. Lượng nước tự do dễ bị mất vì nó không
có cơ chế lý hóa nào giữ nó cả, nước liên kết ngược lại có một lực rất lớn chống lại sự
băng hóa ở nhiệt độ thấp.
Mức chịu lạnh của côn trùng còn phụ thuộc vào lượng nước chứa trong ống
mao dẫn nhỏ trong nguyên sinh chất. Lượng nước này cũng như nước liên kết có khả
năng liên kết lớn do có lực vật lý chống lại hiện tượng lạnh cóng (Nguyễn Thị Chắt,
2000).
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước về việc tồn trữ côn trùng còn khá ít do tiềm năng
của việc nghiên cứu tồn trữ này chưa được đánh giá cao và giá trị kinh tế còn thấp.
Những năm gần đây, vấn đề môi trường đang được quan tâm do đó xu hướng phòng
trừ côn trùng gây hại theo hướng phòng trừ sinh học rất được chú ý nghiên cứu. Ong
kí sinh tác nhân phòng trừ sinh học của nhiều loại côn trùng gây hại hiện đang trở
thành đối tượng phòng trừ các loại côn trùng gây hại trong các chương trình phòng trừ
sinh học. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh học của ong kí sinh được tiến
hành nghiên cứu rất nhiều. Trong đó vấn đề nghiên cứu xử lí tồn trữ cũng chiếm một
phần trong bức tranh nghiên cứu chung tuy nhiên còn khá hạn chế.

15


Việc sử dụng kí chủ đã xử lí dùng trong nhân nuôi ong kí sinh đã được đánh giá
qua một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Theo Phương Thị Lụa (2008), nhộng
ruồi có tỷ lệ chết 100% ở thời gian và thời gian luộc như sau 500C (9 phút), 600C (1
phút), 700C (1 phút). Ở 400C với thời gian xử lí 1 phút, 3 phút, 5 phút, 7 phút, 9 phút,
11 phút, 13 phút, 15 phút , 17 phút, 19 phút thì không có khoảng thời gian nào cho tỷ
lệ nhộng chết 100%. Đối với nhộng ruồi đã được xử lí bởi nhiệt độ và thời gian xử lí
thời gian tồn trữ cho thấy giữa nhộng xử lí (luộc, tồn trữ) đều cho tỷ lệ vũ hóa cao nhất
ở tuổi 2 và tỷ lệ vũ hóa thấp hơn so với nhộng không xử lí. Có thể nhân nuôi S. endius
đối với nhộng ruồi đã được xử lí và sử dụng nhộng ruồi 2 ngày tuổi cho các thí nghiệm
nhân nuôi.
Theo Nguyễn Lê Đức Trọng (2006), khả năng kí sinh của ong Ooencyrtus sp.
đối với trứng bọ xít nhãn khi bảo quản ở nhiệt độ -20C trong 30 ngày. Kết quả tỉ lệ kí
sinh đạt tỉ lệ cao 34,64%, tỷ lệ vũ hóa cũng ở mức cao 93,23% và tỷ lệ ong cái/tổng số
ong vũ hóa là 83,45%. Như vậy, so với kí chủ là những bọ xít mới đẻ thì kí chủ là
trứng được bảo quản trong thời gian 30 ngày vẫn cho kết quả rất tốt.
Kết quả nghiên cứu của Trần Minh Tôn (2004) cho thấy, giai đoạn phát dục
dạng nhộng của Cotesia plutellae có thể trải qua nhiệt độ thấp 50C. Khả năng sống sót
và kí sinh của ong trưởng thành vũ hóa từ nhộng chịu đựng nhiệt độ thấp được duy trì
đến 28 ngày.
Thời gian phát triển của ong kí sinh phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ. Trong
khoảng nhiệt độ khảo sát, nhiệt độ càng cao thì thời gian phát triển của ong kí sinh bị
rút ngắn lại. Thời gian phát triển của ong thấp nhất là 15 ngày (ở 280C), và cao nhất là
44 ngày (ở 230C) (Lê Tuấn Khả, 2006).
Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước chỉ mới dừng lại ở qui mô trong phòng
thí nghiệm nhằm giải quyết một số nhu cầu: giữ nguồn ong khi kí chủ khan hiếm, nhu
cầu về số lượng phục vụ cho những đợt phóng thích vào một thời điểm nhất định trong
công tác phòng trừ. Vấn đề thương mại hóa các sản phẩm tồn trữ thì vẫn còn hạn chế
và chưa được nghiên cứu nhiều.
2.3.3. Các nghiên cứu ngoài nước
Ở nước ngoài, nghiên cứu xử lí tồn trữ côn trùng đã thực hiện từ lâu và đã có
nhiều ứng dụng thực tiễn thực sự hiệu quả. Đặc biệt, trong lĩnh vực tồn trữ nhộng kí
16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×