Tải bản đầy đủ

ĐIỀU TRA GIỐNG, KỸ THUẬT TRỒNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY SẦU RIÊNG ( Durio zibethinus Murr.) TẠI XÃ BÌNH GIÁO HUYỆN CHUPRONG TỈNH GIA LAI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA GIỐNG, KỸ THUẬT TRỒNG VÀ HIỆU QUẢ
KINH TẾ CÂY SẦU RIÊNG ( Durio zibethinus Murr.)
TẠI XÃ BÌNH GIÁO HUYỆN CHUPRONG
TỈNH GIA LAI

Họ và tên sinh viên : Bùi Nữ Ly Na
Ngành
: Nông Học
Niên khóa
: 2005 - 2009

Tháng 07/2009


ĐIỀU TRA GIỐNG, KỸ THUẬT TRỒNG VÀ HIỆU QUẢ
KINH TẾ CÂY SẦU RIÊNG ( Durio zibethinus Murr.)

TẠI XÃ BÌNH GIÁO HUYỆN CHUPRONG
TỈNH GIA LAI

Tác giả
BÙI NỮ LY NA
Khóa luận được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng
kỹ sư nông nghiệp ngành Nông học

Giảng viên hướng dẫn
PGS-TS. NGUYỄN VĂN KẾ

Tháng 07/ 2009

i


LỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học trường
Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, cảm ơn văn phòng khoa nông lâm
phân hiệu Gia Lai, trường Cao Đẳng Sư Phạm Gia Lai cùng tất cả quý thầy cô đã
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập ở trường.
Chân thành biết ơn thầy Nguyễn Văn Kế, trưởng bộ môn cây Lương Thực Rau - Hoa - Quả trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này.
Chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo UBND xã Bình Giáo, huyện Chuprong,
tỉnh Gia Lai, cùng các hộ gia đình tại xã đã góp nhiều ý kiến xác đáng và cung cấp
đầy đủ các thông tin, số liệu để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Con xin chân tình gởi lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ kính yêu đã sinh thành,
nuôi dưỡng và giáo dục cho con nên người.
Cuối cùng xin cảm ơn tập thể lớp DH05NHGL và tất cả các bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Gialai.Tháng 07/2007
Sinh viên: Bùi Nữ Ly Na

ii


TÓM TẮT

Đề tài: “Điều tra giống, kĩ thuật trồng và hiệu quả kinh tế cây sầu riêng


(Durio zibethinus Merr.) tại xã Bình Giáo huyện Chuprong tỉnh Gia Lai” được thực
hiện từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2009.
Đề tài thực hiện nhằm mục đích ghi nhận một số giống sầu riêng có năng suất, chất
lượng cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp với điều kiện sinh thái, tập quán canh tác của
người dân. Đồng thời tìm hiểu nắm bắt được kĩ thuật cơ bản đang được áp dụng tại xã và tính
toán sơ bộ hiệu quả kinh tế của một số hộ để làm cơ sở cho việc đưa ra một số khuyến cáo
phát triển sầu riêng tại địa phương sau này.
Phương pháp điều tra ngẫu nhiên 40 hộ nông dân tại xã Bình Giáo, huyện
Chuprong, tỉnh Gia Lai, bằng bảng câu hỏi phỏng vấn. Khảo sát cây bằng cách chọn và
đánh dấu 9 cây của 4 giống sầu riêng phổ biến nhất ở độ tuổi 9 tuổi. Đo đạc các chỉ tiêu.
Đề tài đã thu được kết quả về các giống sầu riêng hiện đang được trồng của
vùng gồm 4 giống sầu riêng: Monthong, Ri 6, Cơm vàng hạt lép và Địa phương cùng
với các biện pháp kỹ thuật canh tác sầu riêng của các hộ nông dân.
Qua điều tra cho thấy quy mô vườn trồng sầu riêng ở các nông hộ còn nhỏ, số
hộ trồng ít hơn 20 cây chiếm 7,5%, từ 20 đến 40 cây chiếm 15%, từ 41 đến 60 cây
chiếm 17,5%, từ 61 đến 80 cây chiếm 22,5%, từ 80 đến 100 cây chiếm 30%, trên
100 cây chiếm 7,5%. Độ tuổi cây sầu riêng từ 7 đến 9 tuổi được trồng nhiều nhất
1305 cây chiếm 42,3%. Khi trồng còn sử dụng giống cây trôi nổi và giống tự sản
xuất, cây sầu riêng ít được chăm sóc từ đó cây thường cho năng suất thấp.
Có nhiều loại sâu bệnh hại sầu riêng như ruồi đục trái, sượng trái, bệnh thối trái, bệnh
thối gốc chảy mủ, bệnh đốm rong nhưng mức độ gây hại không cao nên người dân ít quan
tâm đến biện pháp phòng trừ.
Cây sầu riêng trồng từ năm nhất đến năm thứ tư chưa cho thu hoạch, đến năm
thứ năm cây bắt đầu cho thu hoạch, nhưng đến năm thứ sáu trở đi thì cây mới cho
trái ổn định. Hai giống sầu riêng Monthong và địa phương cho năng suất cao nhất.
Giống Monthong và Ri 6 là hai giống có giá bán cao nhất trung bình 18000 – 20000
đồng/kg. Trồng sầu riêng đem lại lợi tức cho nhà vườn.
iii


MỤC LỤC

Nội dung

Trang
Trang tựa

i

Lời cảm ơn

ii

Tóm tắt

iii

Danh sách các bảng

vii

Danh sách các hình

viii

Chương 1

Mở đầu

1.1

Đặt vấn đề

1

1.2

Mục đích

2

1.3

Yêu cầu

2

1.4

Giới hạn đề tài

2

Chương 2

Tổng quan tài liệu

3

2.1

Nguồn gốc cây sầu riêng

3

2.2

Đặc điểm thực vật học

3

2.2.1

Đặc điểm thân

3

2.2.2

Đặc điểm lá

4

2.2.3

Đặc điểm hoa

4

2.2.4

Đặc điểm quả

4

2.3

Yêu cầu sinh thái

5

2.3.1

Nhiệt độ ẩm độ không khí

5

2.3.2

Lượng mưa

5

2.3.3

Độ cao so với mặt biển

5

2.4

Các giống sầu riêng

5

2.5

Một số tiêu chuẩn để chọn giống sầu riêng

7

2.6

Kỹ thuật trồng

7
iv


2.6.1

Đất trồng

7

2.6.2

Khoảng cách trồng

7

2.6.3

Bón phân

8

2.6.4

Tưới nước

9

2.6.5

Tỉa cành tạo tán

9

2.6.6

Sâu bệnh hại chính

9

2.6.7

Thu hoạch và bảo quản

10

2.7

Tình hình sản xuất sầu riêng trên Thế giới

11

2.8

Tình hình sản xuất sầu riêng ở nước ta

12

2.9

Tổng quan điều kiện tự nhiên và xã hội tại xã Bình Giáo

14

2.9.1

Vị trí địa lý, diện tích

14

2.9.2

Khí hậu thủy văn

14

2.9.3

Thực trạng xã hội

14

Chương 3

Điều kiện và phương pháp điều tra

15

3.1

Điều kiện điều tra

15

3.1.1

Thời gian và địa điểm điều tra

15

3.1.2

Phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị điều tra

15

3.1.3

Điều kiện tự nhiên

15

3.1.3.1

Khí hậu

15

3.1.3.2

Đất đai

16

3.2

Phương pháp điều tra

16

3.2.1

Thu thập số liệu thông kê

16

3.2.2

Điêu tra nông hộ

16

3.2.3

Khảo sát điểm giống

17

3.2.4

Điều tra kỹ thuật canh tác

18

3.2.5

Hiệu quả kinh tế

18

3.2.6

Phân tích SWOT

19

Chương 4

Kết quả và thảo luận

20

4.1

Điều tra tổng quát vườn cây sầu riêng

20

4.1.1

Quy mô vườn sầu riêng

20

4.1.2

Tuổi cây sầu riêng

21
v


4.1.3

Phân bố loại hình vườn

21

4.1.4

Phân bố giống sầu riêng trong mẫu điều tra

22

4.2

Điều tra đặc điểm các giống sầu riêng

23

4.2.1

Đặc điểm cây sầu riêng

23

4.2.2

Đặc điểm lá sầu riêng

24

4.2.3

Đặc điểm hoa sầu riêng

25

4.2.4

Đặc điểm quả sầu riêng

27

4.2.4.1

Các đặc điểm bên ngoài quả

27

4.2.4.2

Các đặc điểm bên trong quả

29

4.2.5

Năng suất sầu riêng

32

4.3

Kỹ thuật trồng

32

4.3.1

Thiết kế vườn

32

4.3.2

Thời vụ trồng

32

4.3.3

Đào hố bón lót

33

4.3.4

Đặt cây

33

4.3.5

Bón phân

33

4.3.6

Chăm sóc

34

4.3.7

Thu hoạch

35

4.3.8

Mua bán

35

4.3.9

Sâu bệnh hại chính trên sầu riêng

35

4.4

Hiệu quả kinh tế

37

4.5

Phân tích SWOT

39

Chương 5

Kết luận và đề nghị

40

5.1

Kết luận

40

5.2

Đề nghị

40

Tài liệu tham khảo

41

Phụ lục 1

Mẫu phiếu điều tra

43

Phụ lục 2

Danh sách các hộ điều tra

47

Phụ lục 3

Xử lý số liệu khảo sát

48

Phụ lục 4

Dự tính chi phí sản xuất sầu riêng

58

Phụ lục 5

Bản đồ

63
vi


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng

Trang

2.1

Liều lượng và số lần bón phân theo tuổi cây

8

3.1

Trung bình các yếu tố khí hậu tại vùng khảo sát

15

4.1

Qui mô vườn sầu riêng trong mẫu điều tra

20

4.2

Phân bố tuổi cây sầu riêng trong mẫu điều tra

21

4.3

Loại hình canh tác sầu riêng theo phiếu điều tra

21

4.4

Phân bố số cây ở mỗi giống theo phiếu điều tra

22

4.5

Đặc điểm hình thái cây sầu riêng 9 tuổi theo phiếu điều tra

23

4.6

Đặc điểm hình thái lá sầu riêng 9 tuổi theo phiếu điều tra

24

4.7

Đặc điểm hoa sầu riêng 9 tuổi theo phiếu điều tra

25

4.8

Đặc điểm hình thái quả sầu riêng 9 tuổi theo phiếu điều tra

27

4.9

Trọng lượng thành phần quả sầu riêng theo phiếu điều tra

29

4.10

Đặc tính phẩm chất quả sầu riêng theo phiếu điều tra

29

4.11

Độ dày vỏ và dạng gai của sầu riêng trong mẫu điều tra

30

4.12

Đặc điểm hình thái hật sầu riêng theo phiếu điều tra

30

4.13

Năng suất cây sầu riêng 9 tuổi theo phiếu điều tra

32

4.14

Lượng phân bón cho sầu riêng trên 1 ha theo phiếu điều tra

34

4.15

Sâu bệnh hại chính trên sầu riêng theo phiếu điều tra

35

4.16

Chi phí cho 1 ha sầu riêng trong 9 năm đầu

37

4.17

Giá trị thu hoạch cho 1 ha sầu riêng năm 9 tuổi

37

4.18

Ước tính lời lỗ cho 1 ha sầu riêng từ năm thứ 1 đến năm thứ 9

38

vii


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình

Trang

4.1

Cây sầu riêng

22

4.2

Lá của các giống sầu riêng

24

4.3

Hoa của các giống sầu riêng

26

4.4

Quả của các giống sầu riêng

28

4.5

Màu thịt các giống sầu riêng

31

4.6

Sâu đục quả

36

4.7

Thối trái

36

4.8

Đốm rong

37

4.9

Thối gốc chảy mủ

37

viii


Chương 1
MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề
Sầu riêng ( Durio zibethinus Murr.), thuộc họ bông gòn ( Bombaceace ), là loại cây
ăn quả nhiệt đới khá đặc biệt, được mệnh danh là vua các loại quả cây ( king fruit ), là một
trong những loại cây quý nay. Ngoài hương vị thơm ngon, đặc trưng hấp dẫn, nó còn cung
cấp cho cơ thể chúng ta một nguồn dinh dưỡng vô cùng quí giá.
Phân tích trong 100g cơm sầu riêng có chứa: 37,14% nước, 6,38% chất đạm,
2,7% chất béo, 16,2% chất đường và nhiều chất khác (theo Đỗ Tất Lợi, 2007)
Ngoài công dụng dùng để ăn tươi rất ngon, sầu riêng còn có thể dùng làm
mức, bánh, kẹo, kem …Trong lĩnh vực y học : sầu riêng được dùng để chữa bệnh,
cơm sầu riêng được cho là có tính tráng dương, lọc máu và trừ giun sán …Hạt
sầu riêng chứa nhiều tinh bột có thể rang nướng hay luộc ăn. Lá và rễ dùng để trị
bệnh vàng da, cảm sốt, viêm gan. vỏ quả phơi khô làm chất đốt (Trần Thế Tục,
Chu Doãn Thành, 2008).
Ở nước ta sầu riêng được trồng tập trung ở một số tỉnh vùng Đồng bằng sông
Cửu Long (Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long …), Đông Nam Bộ (Bình Dương, Đồng
Nai, Bình Phước …) và rải rác ở Tây Nguyên (Đắc Lăk, Lâm Đồng) và Trung Bộ.
Tại xã Bình Giáo, huyện Chưprong, tỉnh Gia Lai cây sầu riêng đã được đưa vào
trồng từ rất lâu, tuy nhiên nó vẫn chưa được chú trọng phát triển, không phải do các yêu tố
về địa hình, khí hậu, đất đai không phù hợp mà chính là do các vấn đề về giống, kỹ thuật
trồng cũng như những khó khăn trong công tác bảo vệ thực vật cho cây sầu riêng.
Để có thể đi sâu vào tìm hiểu đặc tính giống thể hiện tại xã, kỹ thuật trồng nhằm
góp phần xác định những giống tốt phẩm chất ngon, cho năng suất cao đem lại hiệu quả
kinh tế cao cho người làm vườn.
Trước tình hình trên, được sự phân công của Khoa Nông Học Trường Đại Học
Nông Lâm và được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Văn Kế với sự giúp đỡ
1


của phòng Nông Nghiệp Huyện Chưprong, các hộ nông dân xã Bình Giáo huyện
Chưprong , đề tài “ Điều tra giống, kỹ thuật canh tác, hiệu quả kinh tế cây sầu riêng
tại xã Bình Giáo, Huyện Chưprong, tỉnh Gia Lai ’’ đã được thực hiện.
1.2 Mục đích
Thu thập các thông tin về giống, kỹ thuật trồng và dự đoán hiệu quả kinh tế giúp
hiểu biết thêm về ngành trồng cây sầu riêng tại địa phương làm cơ sở cho công tác
khuyến nông sau này.
1.3 Yêu cầu
Nghiên cứu một số chỉ tiêu về đặc điểm hình thái, năng suất, chất lượng quả, ghi
nhận sự sinh trưởng phát triển, theo dõi sự nhiễm sâu bệnh hại chính của các giống sầu
riêng tại xã Bình Giáo.
Thu thập các thông tin về điều kiện kinh tế xã hội, tình hình sản xuất nông
nghiệp của xã.
Thu thập các thông tin về kỹ thuật canh tác và hiệu quả kinh tế của cây.
1.4 Giới hạn đề tài
Cây sầu riêng là loại cây ăn quả lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài, nhưng do thời
gian thực hiện đề tài ngắn (tháng 3 – 8 năm 2009), phương tiện và kinh phí có giới hạn,
nên chỉ điều tra 40 hộ nông dân tại xã xã Bình Giáo huyện Chưprong tỉnh Gia Lai nên
số liệu thu thập được chỉ có ý nghĩa thời điểm và còn nhiều thiếu xót.

2


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc cây sầu riêng
Sầu riêng có nguồn gốc phát sinh từ Malaysia và Bornéo. Sau đó được phát triển
sang một số nước trong vùng nhiệt đới như: Indônesia, Thái Lan, Philippines, Hawaii,
Brunei, Việt nam (Nguyễn Danh Vàn, 2006).
Sầu riêng du nhập vào Việt Nam từ Thái Lan và được trồng đầu tiên ở vùng Tân
Quy (Biên Hoà) (Lê Thanh Phong, Võ Thanh Hoàng, Dương Minh ,1994).
Theo Nguyễn Đình Khang (1992) trong bài “xuất xứ vài loại trái cây ở Việt
Nam thì sầu do cha cố Gernet lấy giống ở quần đảo Inđônêxia sang, trái Sabôchê do cha
Gernet đưa từ Mỹ đến năm 1890 …”
Sầu riêng là loại cây ăn quả nhiệt đới có nguồn gốc từ Đông Nam Á và mọc hoang
dại trong rừng Malaysia. Người ta cho rằng sầu riêng đã đựơc thuần hóa từ đây. Nhưng ở
nước ta có nhiều giống có nguồn gốc từ Thái Lan và Malaysia (Nguyễn Văn Kế, 2000 ).
Sầu riêng có tên khoa học là: Durio zibethinus Murr. thuộc họ Bombacaceae
(Phạm Hoàng Hộ, 1993).
Theo Cục Trồng trọt, 2006 thì diện tích sầu riêng ở Việt Nam đến năm 2005 là
17.000 ha sản lượng ở mức 87.000 tấn (trích Nguyễn Văn Kế, 2008).
Theo Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam thì sầu riêng đựơc trồng ở các tỉnh
miền Tây và Miền Đông Nam Bộ, là nơi đã có sự hiện diện của cây sầu riêng từ rất lâu.
2.2 Đặc điểm thực vật học
2.2.1 Đặc điểm thân
Sầu riêng có thân gỗ lớn, cao 15 – 20 m hoặc hơn nếu trồng bằng hạt, thân thẳng
đứng, dạng cột. Khi còn nhỏ chúng có tán hình chóp, phân nhánh thấp. Khi lớn tán rộng
tới 10 m võ màu nâu xám, xù xì, có thể tróc ra bất thường (Nguyễn Văn Kế, 2000).

3


2.2.2 Đặc điểm lá
Lá sầu riêng thuộc dạng lá đơn, mọc cách, bìa nhẵn, dài 12-20 cm, rộng 4-6 cm
màu xanh sáng, mặc dưới có lông mịn màu nâu óng ánh. cuống lá dày dài từ 1,5-3 cm
đường kính từ 0,15-0,35 cm. Mầm lá dẹt và những lá non đầu tiên xếp lại ở gân chính.
Mỗi năm cây mọc ra từ 3-5 đợt đọt non (trích Lê Thị Kim Hằng, 2007).
2.2.3 Đặc điểm hoa
Hoa sầu riêng mọc thành từng chùm trên nhánh hoặc thân, mỗi chùm có từ 1 45 hoa. Hoa thuộc loại hoa hoàn toàn, nghĩa là có đủ hai bộ phận đực (nhị) và cái
(nhụy) nhưng hai bộ phận này không chín cùng lúc khi hoa nở. Thông thường, nuốm
nhụy cái bắt đầu nhận phấn trước khi hạt phấn được phóng thích ra khỏi bao phấn.
Hạt phấn sầu riêng hình cầu, dính và được phóng thích thành từng khối nên sự thụ
phấn nhờ gió không thể xảy ra. Hạt phấn sầu riêng có hình cầu, dính và phóng thích
thành từng khối nên rất ít di chuyển nhờ gió. Do đó, hoa sầu riêng thụ phấn chủ yếu
nhờ dơi tìm mật hoa làm thức ăn và các loại bướm đêm. Mùa ra hoa tự nhiên của sầu
riêng thay đổi tùy theo giống và điều kiện khí hậu của từng nơi. Ở vùng nhiệt đới ẩm
như ở Indonesia và Malaysia, sầu riêng có thể ra hoa 2 lần/năm vào tháng 3 - 4 và
tháng 8 - 9. Do ảnh hưởng của thời tiết nên mùa ra hoa của sầu riêng thay đổi từ năm
này đến năm khác ( Trần Văn Hâu, 2007).
2.2.4 Đặc điểm Quả
Quả sầu riêng thuộc dạng quả nang, to, có dạng hình trứng, tròn, bầu dục, dài
có gai dài và cứng. Quả có 5 múi (ngăn) to nhỏ không đều, mỗi múi có từ 1 - 7 hột.
Bên ngoài hột bao bọc bởi một lớp cùi (thịt quả). Thịt quả màu trắng ngà, màu vàng,
vàng nhạt hay vàng cam giống như bơ, ăn có vị ngọt, béo và thơm. Hột sầu riêng to,
màu vàng sáng, vỏ mềm, bên trong chứa nhiều tinh bột, dầu và protein có thể luộc
chín hay rang ăn, song chú ý không nên ăn nhiều vì hột có tính độc. Từ khi hoa nở
đến khi quả lớn tối đa là 12 - 13 tuần lễ, 15 - 16 tuần lễ thì quả chín. Thời gian nở hoa,
đậu quả, quả phát triển và chín chiếm một thời gian khá dài trong năm và lúc này hầu
như không có các đợt cành mới. Lúc này các sản phẩm đồng hóa được do quá trình
quan hợp tích lũy ở lá là nguồn cung cấp nguyên liệu, chất dinh dưỡng để quả phát
triển (Trần Thế Tục, Chu Doãn Thành, 2008).
4


2.3 Yêu cầu sinh thái
2.3.1 Nhiệt độ ẩm độ không khí
Sầu riêng ưa khí hậu nóng và ẩm, ẩm độ cao và ổn định. Những nơi có khí hậu khô
hanh không thích hợp với cây sầu riêng, cây sầu riêng có thể sinh trưởng, phát triển ở nhiệt
độ từ 24oC đến 30oC , ẩm độ không khí vào khoảng 75 - 80% (Bùi Xuân Khôi, 2000).
2.3.2 Lượng mưa
Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.800 – 2.000 mm và phân bố đều trong
năm. Nếu khô hạn kéo dài sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây
sầu riêng nhất là ở giai đoạn cây đang ra hoa kết trái. Sầu riêng là cây ưa ẩm nhưng
không chịu ngập úng. Khi còn nhỏ cây thích hợp trong điều kiện râm mát, khi lớn cây
rất cần ánh sáng để quang hợp. Do cây mọc yếu, gỗ dòn dễ gãy và dễ bị bật gốc nên
không thích hợp ở những nơi có gió (Khoa Học Công Nghệ về nông nghiệp, 2009)
2.3.3 Độ cao so với mặt biển
Cây sầu riêng không đòi hỏi khắt khe về độ cao so với mặt biển. Có thể trồng từ vùng
đồng bằng đến độ cao 1000 m (như: Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng …) tuy nhiên thời gian
thu hoạch ở vàng cao có chậm hơn ở đồng bằng khoảng 2 tháng (Bùi Xuân Khôi, 2000).
Ngoài ra, sầu riêng là loại cây không chịu được gió mạnh vì thân cây thuộc loại
thân gỗ yếu, dòn. Nếu gặp gió mạnh dễ gãy hoặc đổ cây. Nếu gió thổi thường xuyên
lá sầu riêng sẽ nhả nước nhanh chóng làm cho lá khô héo và rụng đi. Nếu có gió mạnh
hoặc bão làm cho hoa trái rụng nhiều gây thiệt hại. Do đó, trước khi lập vườn trồng
sầu riêng phải trồng cây chắn gió trước (trích Lê Thị Kim Hằng, 2007).
2.4 Các giống sầu riêng
Điều tra nghiên cứu ở Nam Bộ cho thấy có 59 giống/dòng (Nguyễn Minh
Châu,1999), ở Đắk Lắk có 24 dòng (Trần Vinh, 1996).
Sau đây là một số giống ngon được thị trường ưa chuộng và có triển vọng phát triển
( Trích Kinh nghiệm và kỹ thuật nông nghiệp, 2009).

5


a-Sầu Riêng cơm vàng hạt lép
Tán khá tròn đều, năng suất cao hơn 100 trái/cây /năm, phân bố trái đều, ít
nhiễm sâu bệnh nguy hiểm, trọng lượng trái trung bình từ 3 - 3, 5 kg, dạng trái cân
đối, cơm vàng đều, tỷ lệ cơm 29, 6%, tỷ lệ hạt lép 60%, vị béo, ngọt, thơm. Giống này
có nguồn gốc ở Cái Mơn- Chợ Lách- Bến Tre.
b-Sầu Riêng RI- 6
Tán cây tròn đều, năng suất cao khoảng 150 trái/cây/năm và ổn định liên tục
trong nhiều năm. Trái phân bố đều trên cây, ít nhiễm sâu bệnh nguy hiểm. Trọng
lượng trái trung bình 3 - 3, 5 kg, dạng trái dài hơi nhọn cân đối thon đầu. Cơm có màu
vàng rất hấp dẫn, ráo, tỷ lệ cơm trên trái khoảng trên 30%. Giống này có nguồn gốc
ngoài nước, được trồng nhiều ở Vỉnh Long và Cái Mơn, Chợ Lách Bến Tre.
c-Sầu riêng Monthong
Đây là giống được thị trường Thế Giới chấp nhận, Cây trồng ở Việt Nam sinh
trưởng phát triển khá mạnh, tán thoáng, cành thưa và vuông gốc với thân, trái có mũi
hơi nhọn, cơm rất dày màu vàng, bảo quản được lâu. Tuy nhiên hơi ít trái. Đặt biệt khi
trồng ở miền Đông Nam Bộ và ĐBSCL nếu quy trình chăm sóc không đúng thì phẩm
chất trái không đạt.
d-Sầu riêng Kanyao
Cũng như giống Monthong, Kanyao là giống của Thái Lan được du nhập vào
Việt Nam bằng con đường phi mậu dịch, trồng nhiều ở huyện Chợ Lách, đạt giải nhì
ở Hội Thi trái ngon do huyện Chợ Lách phối hợp với Sở Nông nghiệp- PTNT Bến Tre
và viện NCCAQ Miền Nam tổ chức vào tháng 7 năm 2002. Trái có hình tròn, cuống
dài, rất dày cơm và có màu vàng sáng, hột lép trên 80%, chưa thấy hiện tượng bị
sượng khi trồng ở Bến Tre.
Ngoài ra, còn rất nhiều giống được nông dân trồng lâu đời như: Sầu Riêng Khổ
qua xanh, Khổ qua vàng ( làm gốc ghép), Bí rợ….

6


2.5 Một số tiêu chuẩn để chọn giống sầu riêng
Theo Trần Thế Tục, Chu Doãn Thành, 2008 thì một số tiêu chuẩn để chọn giống
sầu riêng là:
+ Có quả sớm, sai quả, ổn định qua các năm, năng suất cao: 150 kg/cây trên 10
năm tuổi/năm.
+ Quả thơm ngon, ngọt, hấp dẫn, chất lượng tốt dùng để ăn tươi và có thể đông
lạnh, trọng lượng quả trung bình > 2 kg/quả.
+ Tỉ lệ cơm phải trên 25% trọng lượng quả, màu vàng mịn, không xơ, ráo và có
mùi thơm dễ chịu.
+ Ít đến không nhiễm sâu bệnh hại chính: thối gốc,chảy mủ (Phytophthora), chết
ngọn, (Rhizoctonia), thán thư và sâu đục quả, rầy phấn.
+ Dễ nhân giống và thích nghi với đồng ruộng.
2.6 Kỹ thuật trồng
2.6.1 Đất trồng
Sầu Riêng có thể sinh trưởng, phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích
hợp nhất là các loại đất có tầng canh tác dày, dễ thoát nước như đất thịt, đất phù sa, đất đỏ
Bazan. Không nên trồng Sầu Riêng trên đất cát, đất sét ngặng. Đất đỏ Đông Nam Bộ, Tây
Nguyên, đất phù sa, đất cao ven sông Tiền, sông Hậu là vùng đất thích hợp cho Sầu Riêng
phát triển, nhưng phải chú ý bồi đất lên líp nếu đất thấp (Trích “Báo Khoa học và đời sống,
Số 60, 29/7/2005, tr. 10”).
Độ pH lý tưởng từ 6 - 6,5, một số vùng có độ pH từ 5 - 5,5, sầu riêng vẩn phát
triển khá tốt (Nguyễn Văn Kế, 2000).
2.6.2 Khoảng cách trồng
Nên trồng thưa để vườn được thông thoáng, cây khoẻ mạnh. Có thể trồng với
mật độ 70- 100 cây/ha, khoảng cách trồng 10 -12m/cây (Phan Văn Phúc, 2005)

7


2.6.3 Bón phân
Lượng phân bón nhiều hay ít tùy thuộc vào tuổi cây đã lớn hay còn nhỏ, mức độ
sinh trưởng của cây tốt hay xấu, đất đai màu mỡ hay cằn cỗi. Theo Viện Nghiên Cứu Cây
Ăn quả Miền Nam việc bón phân cho cây sầu riêng có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn cây con và những năm đầu cho trái bón 5 - 10 kg phân gà /gốc kết hợp
với phân vô cơ theo công thức N:P:k:Mg = 18:11:5:3 hoặc = 15:15:6:4. Theo liều lượng
và số lần bón như sau:
Bảng 2.1 Liều lượng và số lần bón phân theo tuổi cây
Tuổi cây

Liềulượng(kg/cây/năm)

Số lần bón trong năm

1

0,3

4

2

0,6

4

3

1,0

3-4

4

2,0

3-4

5

2,5

3-4

6

4,0

3-4

7

5,0

3-4

8

5,0

3-4

9

6,0

3-4

Nguồn: Viện nguyên cứu cây ăn quả miền Nam, 2003
Giai đoạn cây cho trái ổn định: Đối với cây có đường kính tán 5 – 6 cm phát
triển bình thường có thể bón phân như sau:
Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch cần tiến hành tỉa cành, bón phân gà hoai mục
20 – 30 kg/cây kết hợp với phân vô cơ có hàm lượng đạm cao theo công thức
N:P:k:Mg = 18:11:5:3 hoặc 15:15:6:4 với liều lượng 2 - 3 kg/cây.
Lần 2: Trước ra hoa 30 - 40 ngày bón phân vô cơ có hàm lượng lân cao theo
công thức N:P:K = 10:50:17 với liều lượng 2 – 3 kg/cây để giúp quá trình ra hoa dễ
dàng.
Lần 3: Khi trái sầu riêng to bằng trái chôm chôm bón phân có hàm lượng kali
cao theo công thức N:P:K:Mg = 12:12:17:2 với liều lượng 2 - 3 kg/cây.

8


Lần 4: Trước khi trái chín một tháng bón 1 - 1,5 kg phân KNO3 hoặc K2SO4 cho
mỗi cây để tăng chất lượng trái. Không nên bón trễ hơn vì sẽ làm cho cơm trái bị sượng
hoặc bị nhão.
2.6.4 Tưới nước
Nước rất cần cho các giai đoạn sinh trưởng phát triển của sầu riêng. Giai đoạn
cây con cần tưới nước để giảm tỉ lệ cây chết , giúp cây khỏe, nhanh cho trái. Giai đoạn
cây ra hoa cần tưới cách ngày giúp hoa phát triển tốt, hạt phấn mạnh khỏe, nhưng cần
giảm khoảng 2/3 lượng nước ở mỗi lần tưới (chu kỳ tưới không thay đổi) vào thời điểm
một tuần trước khi hoa nở giúp hạt phấn khỏe có khả năng thụ phấn đậu trái tốt. Sau khi
đậu trái tiếp tục tưới, tăng dần lượng nước đến mức bình thường trở lại, giúp trái phát
triển và có chất lượng cao (Bùi Xuân Khôi, 2000).
2.6.5 Tỉa cành tạo tán
Mục đích: tạo cho cây sầu riêng có bộ khung tán cân đối, vững chắc, tận dụng được
tối đa năng lượng mặt trời và dinh dưỡng trong đất để có quả nhiều, quả to và ngon.
Công việc tạo cành tỉa tán phải làm từ sớm từ đầu khi cây còn nhỏ cho đến khi
cây đã định hình.
Theo Phan Văn Phúc, 2005 thì cần tỉa bỏ các cành (cành mọc đứng, cành ốm
yếu, cành mọc quá gần mặt đất, tỉa cành sao cho khi cho trái cành ở độ cao ít nhất
1m, cành sâu bệnh). Giữ lại các cành (mọc ngang, mạnh khoẻ, ở độ cao hợp lý).
2.6.6 Sâu bệnh hại chính
Sâu hại
Rầy nhảy (Allocaridara malayensis Crawford): Trưởng thành và sâu non thường
sống ở mặt dưới lá chích hút các lá non và lá vừa trưởng thành. Rầy hại làm lá non bị
mất màu, phát triển kém và rụng sớm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và phát triển
của quả. Rầy thường phát triển nhiều trong các tháng mùa khô. Ngoài việc vệ sinh đồng
ruộng, phát triển thiên địch như kiến vàng, có thể dùng các loại thuốc sâu: Trebon
0,2%, Applaud –Mip 0,2%, Sevin 0,2% (Nguyễn văn Kế, 2000).
Rệp sáp (Planococus sp.): Loại này khá phổ biến trên sầu riêng, chúng tấn công trên
trái từ khi trái còn non, rệp sáp trong quá trình gây hại còn tiết ra mật đường tạo điều kiện
9


thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển làm giảm giá trị thương phẩm của trái. Phòng trị bằng
cách phun nước vào trái có thể rửa trôi rệp sáp trên trái, tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng,
tránh trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như: mãng cầu (Bùi Xuân Khôi, 2000).
Sâu đục trái (Conogethes punctiferalí Guenee): Sâu có màu xanh nhạt, lưng màu
hồng nhạt với những đốm to, thường đục vào bên trong trái, đùn phân và mạt vỏ ra
ngoài. Cách phòng trị: Vệ sinh vườn, dọn sạch các dư thừa thực vật trong vườn. Phun
các loại thuốc trừ sâu như Cymbus 50 EC, Karate 2,5 EC Decis 2,5 ND, Fenbis 2,5 EC,
Baythroid 5 SL nồng độ 0,1 - 0,2% ở giai đoạn đang phát triển, phun định kỳ 10-15
ngày/lần (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000).
Bệnh hại
Bệnh chảy nhựa thân thối vỏ (Phytophthora sp.): Khi nấm xâm nhập sẽ làm vỏ
chuyển sang màu vàng xậm và chảy nhựa ra bên ngoài, có thể điều trị bằng các lọai thuốc
như Aliette 80wp, Ridomil MZ 50wp, Mexyl MZ. Các loại thuốc được sử dụng theo nồng
độ và khuyến cáo ghi trên bao bì. Nấm bệnh này còn gây hại trên trái làm vỏ trái trở nên
đen và lan dần đến cơm trái; trên lá làm cháy và rụng lá (Phan Văn Phúc, 2005).
Bệnh nấm hồng: Nấm hại tạo nên những mảng màu hồng trên vỏ cành, vỏ thân
làm cành bị khô và chết. Có thể phun Rovrral 50WP nồng độ 0,1-0,2% hoặc Copper-B,
Benomyl nồng độ lớn hơn 0,1% (trích: Báo khoa học và đời sống, 2009).
Các bệnh thán thư, đốm rông, có thể kiểm soát bằng Mancozeb 0,2%, Rovral 50
BHN 0,15% . Hạn chế việc trồng quá dày làm vườn ẩm thấp (trích Lê Thị Kim Hằng, 2007).
2.6.7 Thu hoạch và bảo quản
Theo Trần Thế Tục, Chu Doãn Thành, 2008 để xác định đúng thời điểm thu
hoạch cần kết hợp nhiều đặc điểm:
+ Màu sắc vỏ quả: sầu riêng khi chưa chín vỏ màu xanh hoặc nâu sáng. Khi quả
bắt đầu chín, ở rất nhiều giống đầu của gai của quả chuyển sang màu nâu đậm còn phần
vỏ màu nâu sáng.
+ Khi quả chín, khoảng cách giữa các gai rộng dần ra.
+ Đầu gai quả trở nên mềm dẻo hơn.
+ Tầng rời trên cuống quả phồng lên rõ rệt khi quả chín (nhận thấy rất rõ trên
một số giống như Monthong và Chanee).
10


+ Nhựa chảy từ cuống quả trong, lỏng và có vị ngọt khi chín. Nếu nhựa chảy ra
thường đặc, dính và không có vị ngọt thì quả còn xanh.
Ngoài ra còn có một số kinh nghiệm như nghe tiếng vỗ vào quả, khối lượng
riêng, độ cứng của cuống quả, độ sáng của đường viền ngoài vỏ…
Nên thu trái từ trên cây và không để trái rụng xuống đất, cần chú ý không cho sự
va chạm làm trầy xước trái, giữ trái nơi thoáng mát …để giảm sự thiệt hại ở giai đoạn
sau thu hoạch. Nên sử dụng thuốc Aliette 80WP 20g/8lit nước hoặc Agrifos 400
10ml/8lit nước phun trực tiếp vào trái sầu riêng trên cây ở thời điểm 1 tuần trước khi
thu hoạch (Bùi Xuân Khôi, 2000).
2.7 Tình hình sản xuất sầu riêng trên Thế giới
Chưa có thống kê hàng năm của FAO về cây sầu riêng trên thế giới. Sầu riêng
được xem như cây ăn quả nhiệt đới đặc sản của vùng Đông Nam Á. Những nước trồng
nhiều sầu riêng nhất là Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Việt Nam và Philippin.
Theo Trần Thế Tục, Chu Doãn Thành, 2008 thì hiện nay Thái Lan là nước xuất
khẩu sầu riêng lớn nhất trong vùng, bên cạnh đó là Inđônêxia, Malaixia và Việt Nam.
+ Thái Lan hiện có trên 125 ngàn ha trồng sầu riêng, có khoảng 200 dòng và theo
Boonyakome (1995) có 82 giống trồng xếp vào 6 nhóm chủ yếu. Trong số 82 giống
trồng có 4 giống chủ yếu, bao gồm: Monthong (chiếm 54%), tiếp theo Chanee (37%),
Kanyao (6%), Kradum Thong (3%). Các giống khác diện tích không đáng kể thường
dùng làm vật liệu khởi đầu trong công tác chọn giống.Có thể nói hiện nay Thái Lan là
nước có diện tích trồng sầu riêng lớn trong các số các nước Đông Nam Á, sản lượng cũng
lớn nhất và hàng năm có số lượng quả tươi và đông lạnh xuất khẩu lớn nhất trong
vùng.Thái Lan xuất khẩu 53869 tấn quả tươi và 2559 tấn đông lạnh có giá trị trên 50 triệu
đôla Úc (theo Lim T.K , 1998). Khách hàng chính là Trung Quốc, Hồng Kông. Ngoài ra,
Đài Loan cũng là thị trường nhập khẩu lớn đối với sầu riêng Thái Lan, Thái Lan đang
nghiên cứu thị trường Nhật Bản là nơi có tiềm năng nhập khẩu sầu riêng của họ.
+ Malaixia là quê hương của sầu riêng, có diện tích trồng lớn thứ hai trên thế
giới và sản lượng cao.Trong chương trình phát triển cây ăn quả Quốc gia ở Malaixia từ
1985-2000 sầu riêng được xếp vào nhóm cây ăn quả được ưu tiên để cung cấp cho nhu
cầu quả tươi trong nước và xuất khẩu (8 loại quả chủ lực: sầu riêng, mít, đu đủ, vú sữa,
dưa hấu, lòn bon, xoài, chôm chôm).Diện tích sầu riêng tăng khá nhanh.Năm 1985 có
11


31000 ha, thì đến năm 1989 là 56700 ha (nguồn:Bộ Nông nghiệp-Công nghiệp
Malaixia). Sản lượng 250000 tấn, trong đó có hơn 30000 tấn xuất chủ yếu cho
Singapore. Từ năm 1990 xuất khẩu sầu riêng đã đạt kim ngạch 15 triệu USD/năm (R.K
Arora, V. Ramanatha Rao,1995). Malaixia rất coi trọng công tác chọn giống. Từ những
năm 30 của thế kỹ XX Malaixia đã tuyển chọn có hệ thống được trên 200 dòng khác
nhau và đã tạo được những dòng sầu riêng tốt, có năng xuất cao, chín sớm, phẩm chất
tốt, dễ bảo quản như D10, D24, D99, D145, D2, MDVR78, MDUR79,
MDUR88.Trong đó D24 được trồng nhiều nhất trong sản xuất.
+ Indônesia có diện tích đứng thứ ba trên thế giới , vùng trồng tập trung nằm về
phía tây, chủ yếu ở Sumatra và Java, chiếm gần 75% diện tích cả nước. Theo thống kê
từ năm 1987 - 1993 năng suất bình quân đạt 4,2 - 5,6 tấn/ha và lượng xuất khẩu hàng
năm không quá 10000 tấn (theo cơ quan Thông tấn về Nghiên cứu và Phát triển Nông
nghiệp Inđônêxia, 1993). Indônesia những năm 80 thế kỷ 20 sầu riêng chỉ được trồng
trong vườn gần nhà hay bìa rừng ở gần nhà. Sang đầu những năm 90 quy mô vườn phát
triển lớn, có hàng ngàn hecta vườn cây, trong đó có những vườn trồng chuyên sầu riêng
rộng tới 50 ha. Một số giống chính là: Sunam, Sitoking, Petruk, Sukun…Ngoài ra,
Inđônêxia cũng đã nhập các giống sầu riêng của Thái Lan:Monthong và Chanee.
2.8 Tình hình sản xuất sầu riêng ở nước ta
Ở nước ta sầu riêng được trồng tập trung ở một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
(Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long), Đông Nam Bộ (Bình Dương, Đồng nai, Bình phước)
và rãi rác ở Tây Nguyên (Đắc Lắc, Lâm Đồng). (Chu Doãn Thành, Trần Thế Tục, 2008).
Mặc dù sầu riêng là loại trái cây giàu dinh dưỡng và mang lại hiệu quả kinh tế
cao cho người trồng, nhưng hiện nay diện tích trồng sầu riêng ở nước ta còn ít
(khoảng 10000 ha). Nam bộ là nơi có diện tích sầu riêng lớn nhất cũng chỉ mới đạt
2,3% trong tổng diện tích cây ăn quả của cả vùng (theo Hữu Tiến, SOFRI 2001).
Theo chương trình phát triển cây ăn quả (2000 - 2010) của Bộ Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn thì diện tích sầu riêng sẽ mở rộng tới 30000 ha (Nguyễn Minh Châu, 2000 ).
Hiện nay diện tích sầu riêng đang được mở rộng. Sự hình thành và phát triển
các trang trại trồng chuyên sầu riêng ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Bình Dương,
Đồng Nai, Bình Phước) và trồng xen sầu riêng trong các loại vườn cây ăn trái (Tiền
12


Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đăk Lắk, Lâm Đồng …) đã góp phần đưa diện tích sầu
riêng tăng nhanh.
Song song với việc mở rộng diện tích, các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống,
kỹ thuật canh tác, chăm sóc và quản lý vườn cây…đã có những bước đáng kể.
Cho đến nay chưa có số liệu thống kê quốc gia về về diện tích, năng xuất, sản
lượng sầu riêng cả nước. Theo tài liệu điều tra của viện nghiên cứu cây ăn quả miền
Nam thì riêng Nam Bộ (chưa tính Tây Nguyên) có 8000 ha sầu riêng với tổng sản
lượng 102 ngàn tấn ( Nguyễn Minh Châu, 2001).
Chương trình phát triển cây ăn quả đến năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, chỉ tiêu phát triển diện tích sầu riêng là 50000 ha và năng suất 10
tấn/ha. Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đề xuất phân vùng sản xuất sầu riêng
ở các tỉnh sau: Bình Dương, ĐồngNai, Tiền Giang, Bến Tre, Lâm Đồng, Đăk Lắk,
Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu…(Nguyễn Minh Châu, 2000).
Theo tình hình sản xuất hiện nay thì sầu riêng nước ta chưa cạnh tranh nổi với
sầu riêng của Thái Lan: vì chất lượng giống chưa cao, còn trồng xen kẽ quá nhiều
giống chưa tập trung xuất khẩu được vì chưa đủ số lượng và chất lượng để xuất tươi,
công nghệ sau thu hoạch chưa được đầu tư đúng mức nên sản phẩm đông lạnh và chế
biến khác còn hạn chế. Nhìn chung khả năng xuất khẩu sầu riêng ra thị trường là khả
năng đầy hứa hẹn và có thể thực hiện của Việt Nam.
Về giá cả thị trường ở nước ta biến động mạnh theo tháng trong năm và theo
giống. Trong năm 2001 giá bán lẻ bình quân của sầu riêng có chất lượng trung bình
như khổ qua xanh, một số giống có hạt to, cơm mỏng chỉ đạt 13000 đồng/kg, trong
khi đó các giống có chất lượng cao như sầu riêng sữa hạt lép Bến Tre, Ri-6,
Monthong… đạt trung bình 25000-30000 đồng/kg. Trong mấy năm gần đây việc sản
xuất sầu riêng nghịch vụ đã được nhiều nhà vườn áp dụng, song nhìn chung sầu riêng cung
cấp cho thị trường vào các tháng 9 - 4 rất hạn chế. Chính điều này đã làm cho giá cả sầu
riêng biến động mạnh và đạt cao trong các tháng trái vụ (trích Lê Thị Kim Hằng, 2007).

13


2.9 Tổng quan điều kiện tự nhiên và xã hội tại xã Bình Giáo
2.9.1 Vị trí địa lý, diện tích
Xã Bình Giáo cách trung tâm huyện Chưprong khoảng 20 km về phía Tây Bắc,
xã có con đường quốc lộ 19 đi qua và có vị trí địa lý khá thuận lợi trong việc giao thông
đi lại với các nơi khác, có ranh giới tiếp giáp với :
+ Phía Đông: giáp xã Thăng Hưng (Chưprong)
+ Phía Tây: giáp xã Iadin (Đức Cơ)
+ Phía Bắc: giáp xã Iapech (Iagrai)
+ Phía Nam: giáp xã Iadrang (Chưprong)
2.9.2 khí hậu thuỷ văn
Huyện Chuprong có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, lượng mưa trung
bình từ 2200 - 2500 mm/ năm, nhiệt độ trung bình năm là 22 - 25ºC, một năm có hai
mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau.
2.9.3 Thực trạng kinh tế xã hội
Hiện trạng sử dụng đất: Theo kết quả kiểm tra đất đai năm 2008 tổng diện tích đất
tự nhiên của xã là 4168,75 ha, bao gồm đất nông nghiệp là 3525,85 ha chiếm 84,6%, đất
phi nông nghiệp 347,51 ha chiếm 8,3%, đất chưa sử dụng 295,39 chiếm 7,1%.
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của Huyện, xã Bình Giáo đã đạt được
những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch
theo hướng " Thương Mại - Dịch Vụ, Nông Nghiệp, Tiểu Thủ Công Nghiệp". Trong
sản xuất đã phát huy được thế mạnh và nguồn lực trong nhân dân, đi sâu vào sản xuất
hàng hoá, từng bước làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần
cho nhân dân.
Những năm gần đây cơ sở hạ tầng của xã đã được quan tâm đầu tư xây dựng
ngày càng hoàn thiện. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất và
tinh thần, các chính sách xã hội được thực hiện tốt, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm so với
những năm trước, nguồn lao động nông nghiệp dồi dào.

14


Chương 3
ĐIỀU KIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
3.1 Điều kiện điều tra
3.1.1 Thời gian và địa điểm điều tra: Từ tháng 03 đến tháng 08 năm 2009 tại vườn
cây của 40 nông hộ xã Bình Giáo huyện Chuprong tỉnh Gia Lai.
3.1.2 Phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị điều tra :
+ Phiếu điều tra in sẵn 40 phiếu (kèm ở phần phụ lục).
+ Thước đo, cân, sổ sách, dao, máy ảnh, xe máy.
3.1.3 Điều kiện tự nhiên
3.1.3.1 Khí hậu
Bảng 3.1 Trung bình các yếu tố khí hậu tại vùng khảo sát

Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Năm
2008
2009
2008
2009
2008
2009
2008
2009
2008
2009
2008
2009
2008
2008
2008
2008
2008
2008

T tb
(0C)
20,98
19,17
20,60
22,93
23,08
24,54
25,55
24,87
24,15
24,52
24,65
24,54
23,98
23,56
23,32
23,42
22,12
20,24

T max
(0C)
22,70
21,40
24,10
25,50
25,90
26,60
27,10
26,60
27,50
26,50
26,10
26,30
26,00
25,40
25,00
25,10
24,40
22,20

Tmin
(0C)
17,70
15,80
18,20
18,90
19,10
21,70
23,40
23,00
21,10
22,60
22,00
22,60
21,90
21,50
21,60
21,00
19,40
18,00

R tb
(mm)
0,43
0,00
0,2
0,00
1,25
2,27
29,8
8,78
13,9
11,71
3,45
4,55
6,04
15,3
11,1
6,67
5,96
0,9

Utb
(%)
76,81
72,89
76,38
71,62
74,52
72,52
75,57
78,82
87,58
81,80
87,37
85,11
89,39
90,6
90,93
89,07
83,27
81,13

P tb
(hPa)
17,89
15,81
16,80
19,46
19,24
21,64
22,35
24,27
25,11
24,83
25,44
25,92
25,42
25,22
25,01
24,85
21,61
18,56

Bốc
hơi
(%)
2,68
3,09
2,83
3,43
3,22
3,64
3,61
2,83
1,89
2,05
2,01
2,13
1,59
1,44
1,23
1,33
1,75
1,9

Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn thành phố Pleiku, tỉnh Gialai

15


Ghi chú:
+ Ttb: Nhiệt độ không khí trung bình
+ Tx: Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối
+ Tm: Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối
+ Rtb: Lượng mưa trung bình tháng
+ Ptb: Áp suất trung bình tháng
+ Utb: Độ ẩm trung bình tháng
3.1.3.2 Đất đai: các hộ khảo sát cây sầu riêng trồng trên nền đất đỏ bazan thuộc xã
Bình Giáo huyện Chưprong tỉnh Gia Lai.
3.2 Phương pháp điều tra
3.2.1 Thu thập số liệu thống kê
Thu thập từ cán bộ địa phương, cán bộ khuyến nông, các cơ quan có chức năng ở
địa phương các tài liệu liên quan về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, khí tượng thuỷ
văn, tình hình sản xuất nông nghiệp và phương hướng phát triển cây trồng của huyện.
Thu thập, xử lý các thông tin số liệu dựa vào các phiếu điều tra, các câu hỏi
phỏng vấn, tiếp xúc trao đổi với nông dân, thương buôn.
Trực tiếp quan sát, đo đạc ghi nhận một số chỉ tiêu điều tra.
3.2.2 Điều tra nông hộ
Thông tin về nông hộ: Tên chủ hộ, địa chỉ, diện tích vườn.
Thông tin về cây sầu riêng: Số cây, tuổi cây, loại hình canh tác.
Tên giống, nguồn giống.
Thời gian cây cho thu hoạch, mùa thu hoạch.
Năng suất, chất lượng trái.
Ý kiến nông dân : Lý do, mục đích trồng sầu riêng
Thuận lợi và khó khăn.
Hướng phát triển cây sầu riêng.
Mong muốn, đề nghị.

16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×