Tải bản đầy đủ

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------

NGUYỄN ĐĂNG PHÖC
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG, PHÕNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH
XÃ BA TRẠI, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:


Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------

NGUYỄN ĐĂNG PHÖC
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG, PHÕNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH
XÃ BA TRẠI, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Lớp:

TY 45 N03

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017



Giảng viên hƣớng dẫn: PGS.TS. TỪ TRUNG KIÊN

Thái Nguyên - 2017


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên và thời gian học tập ở trại lợn Nguyễn Thanh Lịch xã Ba Trại,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
chủ trại, các công nhân, kỹ sư trong trại.
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô, gia đình và bạn bè. Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
Ban Giám hiệu nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa chăn
nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Em xin đặc biệt cảm ơn đến thầy giáo PGS.TS. Từ Trung Kiên, thầy đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo động viên giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình
tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn: Ban lãnh đạo UBND xã Ba Trại cùng gia
đình anh Nguyễn Thanh Lịch (chủ trại) nơi cơ sở em thực tập đã tạo điều kiện
và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng em xin được cám ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các
thầy cô, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học
tập, nghiên cứu của mình trong suốt quá trình học tập vừa qua.


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1. Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi con ....20
Bảng 2.2. Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung .............................. 26
Bảng 3.1. Lịch sát trùng trại lợn nái................................................................ 39
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn qua các năm ........................................................... 51
Bảng 4.2. Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng
thực tập ............................................................................................ 52
Bảng 4.3. Tình hình đẻ của đàn lợn nái .......................................................... 53
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu số lượng lợn con của các loại lợn nái .................... 55
Bảng 4.5. Lịch phòng bệnh của trại lợn .......... Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.6. Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái ...... 56
Bảng 4.7. Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn con ..... 57
Bảng 4.8. Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác......................................... 59


iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs

: Cộng sự

CP

: Charoen Pokphand

MMA

: Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú, viêm tử
cung và mất sữa

Nxb

: Nhà xuất bản

PRRS

: Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội chứng
rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

STT

: Số thứ tự

TT

: Thể trọng


iv

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .......................................................... 2
1.2.1. Mục đích của chuyên đề.......................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề............................................................................ 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3
2.1.1.Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu .............................................................. 3
2.1.2. Quá trình thành lập .................................................................................. 4
2.1.3. Cơ sở vật chất của trại ............................................................................. 4
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại ............................................................................ 5
2.1.5. Tình hình sản xuất của trại ...................................................................... 5
2.1.6. Thuận lợi, khó khăn ................................................................................ 7
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề ...................................................... 8
2.2.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ................................................... 8
2.2.2. Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái ............................................. 12
2.2.3. Đặc điềm sinh lý của lợn con theo mẹ .................................................. 16
2.2.4. Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con ....... 18
2.2.5. Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản ...................................... 21
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước ............................. 31
2.3.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước .................................................. 31
2.3.2. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài .............................................. 33


v

Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 36
3.1. Đối tượng ................................................................................................. 36
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 36
3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................... 36
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện .................................................... 36
3.4.1. Các chỉ tiêu thực hiện ............................................................................ 36
3.4.2. Phương pháp thực hiện.......................................................................... 36
3.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi ......................................... 37
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 51
4.1. Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại ........................................... 51
4.2. Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản ............ 51
4.3. Tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại ........................................................ 53
4.4. Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái ...................................... 54
4.5. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trạiError!

Bookmark

not

defined.
4.6. Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn
nái và lợn con tại trại ....................................................................................... 56
4.7. Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác .................................................. 59
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 60
5.1. Kết luận .................................................................................................... 60
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 62
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THUỐC TẠI TRẠI LỢN


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới, nhằm
đưa kinh tế nước ta phát triển nhanh hơn mạnh hơn Đảng và Nhà nước đã đưa
ra nhiều chính sách mới trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt quan tâm
chú trọng cho phát triển ngành chăn nuôi. Với tiền đề là một nước nông
nghiệp đi lên cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng
như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chăn nuôi đang có những bước trở mình
mạnh mẽ. Không những giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn đang góp
phần vào công cuộc làm giàu của đất nước.
Đặc biệt là chăn nuôi lợn, hiện nay không chỉ còn là chăn nuôi theo
phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng con giống nội giá trị kinh tế thấp.
Mà còn nhờ có các chính sách mở cửa, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, sự tham gia của các công ty trong nước và ngoài nước trong việc chăn
nuôi đã được tăng cường mở rộng theo hướng công nghiệp tập trung, sử dụng
con giống ngoại nhập, công nghệ tự động. Chăn nuôi lợn hiện nay đã đem lại
một nguồn lợi kinh tế lớn và góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế.
Tuy nhiên, do đặc điểm về địa lý cũng như khí hậu nóng ẩm ở nước ta, mà
chăn nuôi cũng gặp không ít khó khăn. Từ những điều kiện trên ta cần thực
hiện một quy trình chăn nuôi có thể đáp ứng được các yêu cầu trong nước về
điều kiện ngoại cảnh cũng như cơ sở vật chất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, cũng như được sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng
với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực
hiện: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn
nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội ”.


2

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục đích của chuyên đề
- Nhằm nắm vững kiên thức về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái,
lợn con ở các giai đoạn.
- Rèn luyện và nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức đã học và tìm hiểu
thêm những kiến thức thực tế.
1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề
- Nắm bắt được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái và lợn con
tại trại Nguyễn Thanh Lịch, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh gặp trên đàn lợn tại trại


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1.Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu
Trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch thuộc địa bàn thôn 9 xã Ba Trại,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Về địa lý, Ba Trại là xã miền núi nằm dưới chân núi phía bắc Ba Vì,
với diện tích tự nhiên khoảng 36km2. Phía đông giáp Tản Lĩnh, phía bắc giáp
xã Cẩm Lĩnh, phía tây giáp xã Thuần Mỹ, cách trung tâm thành phố Hà Nội
60km. Xã nằm giữa hai con đường Tỉnh lộ, đường 87 Sơn Tây - Đá Chông và
đường 88 Sơn Tây - Bất Bạt. Đường 87 đi qua xã từ phía Đông - Nam qua các
xóm Chằm Mè - Trung Sơn tiếp giáp đường 89 tại Đá Chông. Đường 89 chạy
song song với sông Đà qua địa phận xã thuộc địa phận xã Thuần Mỹ. Đường
88 đi qua xã ở phía bắc và cũng là ranh giới giữa Ba Trại với Cẩm Lĩnh.
Dân số toàn xã tính đến năm 2011 là 3182 hộ gia đình với 12.929 nhân khẩu.
Về khí hậu, Ba Trại thuộc vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng
10 với nhiệt độ trung bình 23oC, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao
nhất là 28,6 oC. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt
độ xấp xỉ 20oC, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8oC.
Trại có diện tích đất là 12.068m2, được xây dựng cách xa với đường
lớn, xa trường học và nơi ít dân cư sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi
cây và cách xa trại là cánh đồng lúa. Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ
thoát nước vào mùa mưa nhiều. Xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây
tạo bóng râm mát cho mùa hè.


4

2.1.2. Quá trình thành lập
Trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch là trại lợn gia công cho công ty CP
Việt Nam, nằm tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Trại được
xây dựng năm 2008 với số vốn đầu tư lên tới 18 tỷ đồng và đi vào hoạt động
từ năm 2010 cho đến nay, với quy mô xây dựng cho tổng số nái là 1200 con.
Hoạt động theo phương thức chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thuê
công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật
chăn nuôi.
2.1.3. Cơ sở vật chất của trại
Trại được xây dựng trên diện tích 12.068m2 chia làm 2 khu vực chính
là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất.
Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào trại,
phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho
các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm. Ngoài ra trại còn thiết kế
thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân.
Khu chăn nuôi thì gồm 2 phần chính: chuồng đẻ và chuồng bầu:
Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 3 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng
gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng. Mỗi
ngăn chuồng lại gồm 64 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô là 2,4 m × 1,6
m/ô. Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 4 quạt
thông gió ở cuối chuồng. Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và
hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện.
Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 1 chuồng chính, trong mỗi chuồng
được lắp đặt 1120 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô. Cũng như chuồng đẻ
chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 10 quạt thông gió. Ngoài ra
trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước. Bên cạnh
chuồng chính còn có chuồng đực với sức chứa 20 lợn đực; 3 chuồng cách ly


5

dùng để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh; 1 phòng tinh.
Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh
này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung.
Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng
khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hóa chất. Sau đó
được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ
thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc
vệ sinh.
Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và
kho cám.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
- Chủ trại: 1 người
- Quản lý trại: 1 người
- Kỹ sư chăn nuôi: 2 người
- Tổ trưởng: 2 người (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu).
- Sinh viên thực tập: 8 người
- Công nhân: 6 người
- Cấp dưỡng: 1 người
2.1.5. Tình hình sản xuất của trại
* Công tác chăn nuôi
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho công ty cổ phần thức ăn chăn
nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp giống lợn
con của cái Landrace - Yorkshire với đực Pietrain - Duroc và cái Landrace Yorkshire với đực Duroc.
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2 – 2,5 lứa/năm. Số
con sơ sinh trung bình là 11,95 con/đàn, trung bình số con cai sữa: 10,7


6

con/đàn. Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000
lợn con.
Tại trại, lợn con sẽ được nuôi theo mẹ cho đến khoảng 19 đến 21 ngày
tuổi, những lợn con chưa đủ khối lượng sẽ được ghép đàn nuôi với những đàn
có số ngày tuổi nhỏ hơn, còn những lợn con đã quá ngày xuất bán nhưng chưa
có đợt sẽ được nhốt sang chuồng cai sữa. Những lợn con này sau đó sẽ được
chuyển tới các trang trại nuôi lợn thịt.
Trong trại có 18 lợn đực khai thác, 6 lợn đực hậu bị (số liệu tháng
5/2017) được công ty cung cấp theo nhiều đợt đã được huấn huyện nhằm mục
đích khai thác tinh và kích thích sự lên giống của lợn nái. Tinh dịch sau khi
được pha loãng trong môi trường sẽ được bảo quản lạnh, mỗi lợn nái sau khi
được phát hiện lên giống sẽ được đưa đi phối 3 lần.
Thức ăn phục vụ trong trại do công ty CP cung cấp, là loại thức ăn hỗn
hợp với các loại khác nhau dành cho lợn ở các lứa tuổi và các chu kỳ khác nhau.
* Công tác thú y:
Đàn lợn tại trại luôn được chăm sóc và phòng bệnh theo kỹ thuật của
công ty CP, được giám sát một cách chặt chẽ về mọi mặt.
- Công tác vệ sinh: Công nhân trước khi vào chuồng sẽ được tắm và
thay đồng phục tại nhà tắm sát trùng. Mọi dụng cụ khi đưa vào khu vực sản
xuất đều được cách lý, phun sát trùng. Định kỳ sẽ có các công nhân làm
nhiệm vụ vệ sinh, sát trùng trong chuồng và ngoài chuồng. Các chuồng sau
khi xuất hết lợn con sẽ được vệ sinh ngâm tẩy bằng hóa chất, được cách ly
trước khi cho lợn nái mới lên đẻ.
- Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được
tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn. Từ đó tăng
sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng
các loại vắc xin theo ngày tuổi.


7

- Công tác trị bệnh: Lợn luôn được theo dõi dám sát của 2 kỹ sư và 2 tổ
trưởng, mọi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly
theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời.
2.1.6. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn
của UBND xã Ba Trại, Trạm thú y huyện Ba Vì.
Được Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống,
thức ăn, thuốc thú y có chất lượng tốt.
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường
giao thông.
Chuồng trại được trang thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước
sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân
nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do đó
đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
* Khó khăn:
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hưởng đến tiến độ
công việc.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất.
Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch
bệnh xảy ra khó kiểm soát gây khó khăn cho chăn nuôi. Do đó đòi hỏi phải
đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn
lợn tại trại.


8

2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1. Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là: tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và
khả năng sinh sản. Khi gia súc đã hoàn thiện về tính, bộ máy sinh dục đã phát
triển hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh và nội tiết con vật bắt đầu có
những phản xạ về sinh dục. Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản
xạ giao phối.
Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng có thể sinh
sản của lợn cái.
* Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính:
- Cơ thể đã phát triển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện,
con cái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh. Lúc này, tinh
trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai.
- Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: bẹ vú phát triển và lộ rõ hai
hàng vú, âm hộ to lên hồng hào.
- Xuất hiện các phản xạ sinh dục: lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con
cái động dục, con đực có phản xạ giao phối.
- Thời điểm thành thục về tính: lợn cái bắt đầu khoảng 6 tháng tuổi (từ
4 - 8 tháng tuổi).
- Đối với các giống gia súc khác nhau thời gian thành thục về tính là
khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng (120 - 150 ngày), lợn ngoại 6 - 7
tháng (180 - 210 ngày).


9

* Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục về tính
- Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau:
những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống
thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn
những giống có tầm vóc lớn.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu
tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 2025kg. Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở
lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng
cơ thể đạt 50-55kg. Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc
động dục 6-7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg. Tuỳ theo giống, điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau. Lợn
ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi)
các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn
hơn từ 7-8 tháng tuổi.
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý:
Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái. Thường
những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm
hơn những lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém.
Nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần chú ý đến cách thức
nuôi dưỡng. Cho ăn tự do đến khi khối lượng đạt 80 - 90 kg, sau đó cho ăn
hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ngày
(14% protein thô). Điều chỉnh mức ăn hợp lý để khối lượng đạt 120 - 140 kg
ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống. Trước phối giống 14 ngày, cho
ăn chế độ kích dục, tăng từ từ lượng thức ăn (1 - 2,5 kg), bổ sung thêm
khoáng và chất điện giải sẽ kích thích lợn cái ăn nhiều hơn và tăng số trứng
rụng từ 2 -2,1 trứng/ lợn cái.


10

Trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc cần điều chỉnh chế độ ăn hợp lý
để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho lợn cái. Sau khi phối giống cần chuyển
chế độ ăn hạn chế và thay thế bằng mức năng lượng trung bình để hạn chế tối
thiểu tỷ lệ chết phôi, chết thai làm giảm số con sinh ra/ổ.
- Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính gia
súc, những giống lợn nội nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường
thành thục về tính sớm.
Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng
ảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái. Theo Paul Highes và
Tilton (1996) [39], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với
thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái ngoài 90kg động dục là 165 ngày tuổi.
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài
hơn lợn nuôi chăn thả. Vì lợn nuôi chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng
hợp được sinh tố và được tiếp xúc với lợn đực nhiều hơn nên có tuổi động dục
lần đầu sớm hơn.
- Tuổi thành thục về tính của gia súc
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,
nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn
lên. Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi. Theo Phạm Hữu Doanh và cs
(2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở
thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh
dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh. Để đạt được hiệu quả
sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần
đầu rồi mới cho phối giống.
- Mùa vụ và thời gian chiếu sáng
Sự khác biệt về mùa vụ cũng ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục. Mùa
hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể


11

do ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp
trong các tháng nóng bức. Mùa đông có thời gian chiếu sáng ngắn và mùa hè
thì ngược lại. Nếu lợn cái được chiếu sáng 12 giờ/ngày sẽ động dục sớm hơn
những con được chiếu sáng trong ngày ngắn.
- Mật độ nuôi nhốt
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt với mật độ cao trên 1 đơn vị diện tích
trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Tuy nhiên, nếu
nuôi tách biệt từng cá thể cũng sẽ làm chậm sự thành thục về tính so với nuôi
nhốt theo nhóm. Bên cạnh đó, đực giống cũng ảnh hưởng tới sự động dục của
lợn cái.
- Sự thành thục về thể vóc
Thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc
đạt mức độ hoàn chỉnh, xương cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định. Thời gian
thành thục về thể vóc thường chậm hơn thành thục về tính, nghĩa là sau khi
sinh, con vật được thành thục về tính thì vẫn tiếp tục lớn lên. Đây là đặc điểm
cần chú ý trong chăn nuôi không nên cho gia súc sinh sản quá sớm vì khi đó
cơ thể mẹ chưa phát triển đầy đủ về thể vóc sẽ gây ảnh hưởng xấu như: trong
thời gian mang thai có sự phân tán chất dinh dưỡng, ưu tiên phát triển cho bào
thai ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cơ thể mẹ và cũng ảnh hưởng đến sự
phát triển của bào thai. Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ.
Mặt khác khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm
con vật khó đẻ. Cho nên việc quy định tuổi và khối lượng phối giống lần đầu
rất có ý nghĩa trong chăn nuôi. Các nhà khoa học khuyến cáo với lợn ngoại
nên bỏ qua 1 đến 2 chu kỳ động dục đầu, nên phối ở chu kỳ động dục thứ 2
hoặc thứ 3 tùy thuộc vào khối lượng đạt được. Với lợn ngoại khoảng 8 - 9
tháng tuổi và đạt 110 - 120 kg, lợn nội 6 - 7 tháng tuổi đạt 40 - 50 kg (Lê
Xuân Cương (1986) [2] .


12

Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về
thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất. Việc xác
định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu
ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu) không làm ảnh
hưởng đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau.
2.2.2. Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái

 Sự thành thục về tính
Chu kỳ sinh dục được bắt đầu khi gia súc đã thành thục về tính, nó tiếp
tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu. Sau khi thành thục
về tính gia súc cái bắt đầu hoạt động sinh sản. Dưới sự điều hòa của hormon
tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục, trứng chín và rụng. Mỗi lần
xuất hiện trạng thái rụng trứng như trên thì toàn bộ cơ thể cũng như cơ quan
sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo, chức năng sinh
lý. Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ động
dục (chu kỳ tính).
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [29], chu kỳ tính của lợn nái thường
diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày. Thời gian động dục thường kéo dài
khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia
làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực
(phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc).
- Giai đoạn động dục :
Thời gian của giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi, giống, chế độ chăm sóc
quản lý, thông thường chỉ kéo dài 2 - 3 ngày, là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng
tới tỷ lệ thụ thai. Trong giai đoạn này những biến đổi bên ngoài cơ thể càng thể
hiện rõ ràng hơn. Âm hộ xung huyết, niêm mạc trong suốt, niêm dịch chảy
nhiều. Cuối giai đoạn này lợn hưng phấn cao độ, ở trạng thái không yên tĩnh,
giảm khả năng thu nhận thức ăn, chạy, kêu phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên


13

lưng con khác. Thích gần con đực, có các phản xạ giao phối: hai chân sau dạng
ra, đuôi cong về một bên (biểu hiện ở lợn nội rõ hơn lợn ngoại).
Ở giai đoạn này nếu được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại do sự tồn tại
của thể vàng và chu kỳ sẽ xuất hiện trở lại sau một thời gian con vật đẻ xong.
Nếu con cái không thụ thai thì sẽ chuyển sang giai đoạn kế tiếp. Giai đoạn
này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực.
Sau khi động dục khoảng 24 - 30 giờ lợn cái bắt đầu rụng trứng, trứng
rụng kéo dài 10 - 15 giờ. Vì vậy nên phối cho lợn cái 2 lần để đạt kết quả cao
(Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6]).
- Giai đoạn sau động dục:
Giai đoạn sau động dục kéo dài 3 - 4 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và
cơ quan sinh dục nói riêng dần dần được khôi phục về trạng thái sinh lý bình
thường. Tất cả mọi phản xạ động dục, tính hưng phấn mất hẳn và chuyển sang
giai đoạn yên tĩnh.
- Giai đoạn yên tĩnh:
Giai đoạn này kéo dài khoảng 10 - 12 ngày, đây là giai đoạn dài nhất và
tùy thuộc vào sự tồn tại của thể vàng, khi thể vàng tiêu biến thì chu kỳ động
dục mới lại bắt đầu.
Trong thực tế còn gặp trường hợp lợn cái động dục bất thường như
động dục ngầm và hiện tượng lưỡng tính. Động dục thầm lặng là hiện tượng
lợn đến chu kỳ động dục nhưng không có các biểu hiện động dục rõ ràng làm
cho người nuôi khó nhận biết (chu kỳ này thường kéo dài 36 - 45 ngày). Hiện
tượng lưỡng tính, cơ quan sinh dục bên ngoài của lợn cái bình thường nhưng
có những hành động giới tính thường xuyên do con vật bị rối loạn hormone
hoặc con cái ít cho con đực nhảy lên (trường hợp này phải loại bỏ sớm).
 Thời điểm phối giống thích hợp
Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3h.
Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48h. Thời điểm phối giống thích hợp


14

nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và
sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục.
Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ
3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn. Thời điểm phối giống có ảnh
hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con. Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả
kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.
(Nguyễn Thiện và cs, 1993 [29]).
- Mang thai: Thời gian mang thái của lợn trung bình là 114 ngày (113 115 ngày). Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên.
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
 Sự điều hòa chu kỳ động dục
Chu kỳ tính của lợn được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch theo cơ
chế điều hòa ngược.
Hoạt động của chu kỳ này phụ thuộc vào sự điều tiết của các hormone
quan trọng nhất là FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Lutrinizing
Hormone). FSH kích thích sự phát triển của buồng trứng còn LH kích thích
quá trình rụng trứng. Hai hormone này phải có một tỷ lệ nhất định mới có thể
đảm bảo được cho quá trình chín và rụng trứng diễn ra tốt nhất. Trong quá
trình bao noãn phát dục và thành thục, tế bào thượng bì bao noãn tiết ra
oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn. Hàm lượng này trong máu kích
thích con vật gây hiện tượng động dục. Đồng thời dưới tác động của
hormone, cơ quan sinh dục dần biến đổi, tử cung, âm đạo hé mở, sừng tử
cung, ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này.
Cuối chu kỳ động dục, oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết LH, giảm FSH.
Khi LH được tiết ra nó kích thích trứng chín và rụng. Tại vị trí rụng trứng,
mạch quản và tế bào sắc tố vàng phát triển tạo thể vàng. Thể vàng tiết


15

progesterone giúp cho quá trình tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung, đồng thời
ức chế tiết FSH và LH của tuyến yên cho trứng không phát triển được.
Thời gian mỗi lần trứng rụng thông thường kéo dài 4 - 6 giờ, ở lợn hậu
bị kéo dài tới 10 giờ. Trứng rụng không được thụ tinh đến ngày thứ 15 thì thể
vàng bị tiêu biến chuyển sang thể bạch, lúc này không tiết progesterone nữa
và một chu kỳ mới bắt đầu.
 Sinh lý đẻ
- Quá trình sinh đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006)[7], gia súc cái mang thai trong một
thời gian ngắn tùy từng loại gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác
động của hệ thống thần kinh- thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ,
đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi
là quá trình sinh đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 tuần, nút
niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục, lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài.
Trước đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bắt đầu có những thay đổi, âm môn phù
to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu căng to, sữa bắt đầu tiết.
- Giai đoạn tiết sữa
Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức
ăn giống lợn và số lượng lợn con, lợn nái thường tiết sữa nhiều nhất vào tuần
thứ 2-3. Ở những giống lợn khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau. Sự tiết
sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào đầu vú gây
nên, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra
sau. Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa, khi lợn con thúc
bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại chuyển xuống vùng
hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên và tuyến


16

yên tiết ra kích tố oxytocin, kích tố oxytocin đến tuyến bào kích thích làm cho
lợn nái tiết sữa.
Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau
cũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất
tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn. Theo Trương Lăng (2000)[16] cho
biết: Vú phía trước lượng sữa tiết nhiều hơn (nên cố định cho lợn con sơ sinh
có khối lượng kém bú), vì oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm
hơn, kéo dài hơn lên vú trước nhiều sữa hơn.
Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn
vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinh
dưỡng. Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng không
những nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái.
Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa
mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con.
Theo Trương Lăng, (2003)[19], sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủ
chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thế
được. Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong
thời gian bú sữa.
2.2.3. Đặc điềm sinh lý của lợn con theo mẹ
 Đặc điềm bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ
Sau khi sinh, trong thời gian bú mẹ trọng lượng bộ máy tiêu hóa của
lợn con tăng từ 10 – 15 lần, chiều dài của ruột non tăng lên gấp 5 lần so với
lúc mới sinh. Dung tích của bộ máy tiêu hóa cũng tăng từ 40 đến 50 lần. Ở
ngày tuổi thứ 30 trọng lượng của tuyến tụy tăng lên 4 lần và gan tăng lên 3 lần
so với lúc mới sinh. Lúc mới sinh dạ dày của một lợn con trung bình nặng từ
6 – 8 gam và chứa được từ 35 – 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng lên gấp
4 lần.


17

Mặc dù bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn
thiện. Khả năng tiêu hóa của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực của
các men trong đường tiêu hóa còn hạn chế. Dịch vị của lợn con dưới một
tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng acid tiết ra ít và nó nhanh
tróng kết hợp với các niêm dịch làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc
hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa. Vì thiếu HCl tự do nên
hệ vi sinh vật lên men dễ phát triển gây hiện tượng tiêu chảy ở lợn con.
Trong dịch tụy của lợn trưởng thành có tới 15 loại men tiêu hóa song
lợn con chỉ có 2 men là kimozin và lipaza, sau một tuần tuổi có thêm một số
men như trypsin và amilase. Hoạt tính cả các men tăng dần theo tuổi, từ 1 đến
28 ngày tuổi hoạt tính của trypsin tăng 20 lần, amilase tăng 30 lần, các men
như kimotipxin, protease, amilase, elastase, carbuaxipolypeptidasa cũng tăng
dần theo tuổi của lợn con. Hàm lượng vật chất khô trong dịch tụy cũng tăng
dần. Dịch ruột do 2 tuyến bruner và liberkun tiết ra chưa đầy đủ các men tiêu
hóa như ở lợn con chưa có men lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng
rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo. Dịch mật của
lợn con trong những tuần tuổi đầu còn hạn chế, chưa có khả năng nhũ tương
hóa mỡ.
 Khả năng điều hòa thân nhiệt
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng lớn, nhiệt lượng liện tục tỏa ra
bên ngoài do sự chệnh lệch giữa nhiệt độ cơ thể với nhiệt độ môi trường.
Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới ra mỏng nên khả năng chống lạnh kém,
lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng
lượng chống lạnh bị hạn chế. Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt chưa hoàn
thiện. Trong thời gian này lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt do sự hoạt
động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn. Vì vậy,
cần phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không bị lạnh.


18

 Đặc diểm về khả năng miễn dịch
Lợn con sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể, song lượng
kháng thể trong máu lợn con tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu,
cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động. Nó phụ
thuộc vào lượng kháng thể hấp thu nhiều hay ít từ sữa mẹ. Quá trình hấp thu
nguyên vẹn γ-globulin bi giảm nhanh theo thời gian. Lợn con có thể hấp thu
nguyên vẹn phân tử γ-globulin vì trong sữa đầu có kháng men antitripsin nó
làm mất hoạt lực của men tripsin của tuyến tụy. Đồng thời khoảng cách giữa
các tế bào vách ruột của lợn con rất lớn nên phân tử γ-globulin được chuyển
qua bằng đường ẩm bào. Xuất phát từ đó chúng ta thấy rằng cho lợn con bú
sữa đầu là rất quan trong và việc cho bú càng sớm càng tốt (Nguyễn Thiện và
cs,(2005) [29].
2.2.4. Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con
2.2.4.1. Chế độ dinh dưỡng
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung
cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh
sản cao. Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng
protein, ảnh hưởng của khoáng chất, các nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng
của vitamin.
* Nhu cầu năng lượng
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết
sữa, nuôi con. Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn. Cần
phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí
thức ăn, giảm giá thành sản phẩm. Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình
thường của con vật. Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm
70 - 80 %, lipit 10 - 13 % tổng số năng lượng cung cấp.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×