Tải bản đầy đủ

SKKN dạy học bài thơ chiều tối (mộ) trong tập nhật kí trong tù theo đặc trưng thi pháp thể loại, tích hợp giáo dục tư tưởng hồ chí

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.1.1. Nhật kí trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh chiếm một vị trí quan trọng
trong lịch sử văn học dân tộc, được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn
học ở THPT. Tác phẩm vừa là nhật kí vừa là một tập thơ, một văn kiện lịch sử
vô giá. Màu sắc đậm đà nhất của hồn thơ Hồ Chí Minh là màu sắc cổ điển một nét phong cách nghệ thuật của Nhật kí trong tù. Bài thơ Chiều tối (Mộ)
và phần lớn các bài thơ trong Nhật kí trong tù đều viết bằng chữ Hán theo thể
tứ tuyệt cổ điển. Tiếp nhận tập thơ nói chung và Chiều tối nói riêng cần thiết
phải nắm được đặc điểm thể thơ tứ tuyệt - một thể thơ hết sức hàm súc, có kết
cấu chặt chẽ, hình tượng thơ đa diện, ngôn ngữ thơ đa nghĩa. Hiện nay ở
trường THPT, chúng ta đã dạy và học Nhật kí trong tù trên tư cách một tác
phẩm văn học hiện đại. Tập thơ thuộc văn học từ đầu thế kỷ XX đến 1945.
Tuy nhiên, trong thực tế có một số bất cập là nhiều người đã từng sai lầm tán
dương bản dịch thơ ngay cả khi dịch không đúng nguyên tác hoặc non yếu so
với nguyên tác. Dạy học Nhật kí trong tù là dạy học thơ chữ Hán làm theo thể
thất ngôn tứ tuyệt cổ điển nên phải rất thận trọng khi giảng bình về thi đề, thi
tứ đặc biệt là phân tích từ ngữ và âm điệu. Như thế, vấn đề dạy học Chiều tối
với tư cách là một tác phẩm văn học dịch, một bài thơ cổ điển về hình thức
mà hiện đại trong nội dung tưởng chừng là vấn đề cũ hóa ra còn rất mới cần
được cập nhật.
1.1.2. Hiện nay, xã hội ta đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự suy giảm

đạo đức trong lớp trẻ đặc biệt ở một bộ phận học sinh. Đó không chỉ là vấn đề
nhức nhối của riêng gia đình, nhà trường mà của toàn xã hội. Đây là lứa tuổi
các em bắt đầu hình thành và phát triển nhân cách nhưng do sự hiểu biết còn
hạn chế, thiếu kinh nghiệm sống, các em thường xuyên chịu sự tác động của
các yếu tố tiêu cực, rất dễ bị lôi kéo vào các hành vi xấu, có lối sống ích kỉ,
thực dụng. Việc giáo dục tư tưởng cho các em, nhất là Học tập và làm theo tư
1


tưởng Hồ Chí Minh - tư tưởng được kết tinh, phát triển từ những phẩm chất
tốt đẹp của nhân dân ta từ xưa cho đến nay ngay khi còn ngồi trên ghế nhà
trường là rất cần thiết để giúp các em có định hướng đúng trong hình thành
nhân cách, có được những phẩm chất tốt đẹp, trở thành một công dân có ích
cho xã hội.
Bộ môn Ngữ văn có đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội
và nhân văn, rất phù hợp để tích hợp giáo dục cho học sinh kĩ năng sống, bồi
dưỡng tâm hồn, tinh thần yêu nước, tự hào về những truyền thống quý báu
của dân tộc, giáo dục, rèn luyện, hoàn thiện nhân cách thông qua bài học được
rút ra từ tác phẩm văn học.
Nhật kí trong tù với giọng điệu hồn nhiên, thoải mái, bình dị đã
chuyển tải thành công tư tưởng thẩm mĩ của một nhà cách mạng vô sản chân
chính, một bức chân dung tinh thần tự họa của một bậc đại trí, đại nhân, đại
dũng Hồ Chí Minh. Trong đó, Chiều tối được xem là bài thơ tiêu biểu cho vẻ
đẹp tâm hồn, ý chí nghị lực phi thường, tinh thần lạc quan yêu đời cùng
phong thái ung dung tự tại, bản lĩnh cách mạng kiên cường của Bác. Dạy bài
học này cũng là cách giúp các em có ý thức tự bồi dưỡng tâm hồn, tìm hiểu về
tấm gương của Bác và rút ra bài học thiết thực cho chính mình.[12] Qua đó,
giúp các em nhận thức được: tác phẩm của một nhà thơ cách mạng không hề
triết lí khô khan mà ở đó vẫn thấm đẫm một hồn thơ phóng khoáng cùng chất
Đường thi trữ tình sâu lắng, thiết tha.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài: Dạy - học bài thơ
Chiều tối trong tập Nhật kí trong tù theo đặc trưng thi pháp thể loại, tích
hợp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho học sinh THPT.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Giúp giáo viên, học sinh nắm chắc đặc trưng thi pháp thể loại của
bài thơ Chiều tối trong tập Nhật kí trong tù, thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Hồ
Chí Minh qua bài thơ. Từ đó, giáo dục cho học sinh học tập theo tấm gương
2



Hồ Chí Minh.
- Giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động trong giờ học Ngữ
Văn, đặc biệt là giờ đọc - hiểu văn bản.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Là học sinh lớp 11 học chương trình Ngữ văn cơ bản của
trường THPT Nông Cống 2.
Phạm vi nghiên cứu: Một số văn bản thơ luật Đường thuộc chương
trình cơ bản, tập thơ Nhật kí trong tù mà trung tâm thể nghiệm là bài thơ
Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu điều tra và khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp phân tích, đánh giá.

3


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Thơ tứ tuyệt và lí luận dạy học thơ tứ tuyệt
a. Khái niệm:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán - Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi định nghĩa:
Thơ tứ tuyệt về nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu, mỗi câu có năm
chữ hoặc bẩy chữ. Loại câu năm chữ gọi là ngũ ngôn tuyệt cú hay là ngũ
tuyệt. Theo nghĩa hẹp là một dạng của thơ Đường luật, có quy định bằng
trắc, đối. Loại này còn gọi là luật tuyệt để phân biệt với cổ tuyệt là những bài
thơ tuyệt cú không làm theo thể thơ Đường luật.[13]
b. Lí luận về dạy học thơ tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt là một dạng của thơ Đường, là thơ nên khi dạy học thơ
tứ tuyệt chúng ta phải dựa trên cơ sở lý thuyết về dạy loại hình trữ tình. Đó là
tổ chức cho học sinh phân tích, cắt nghĩa, hoạt động vào chiều sâu tác phẩm
để chiếm lĩnh tác phẩm.
Theo quan niệm của Nguyễn Sỹ Cẩn trong Mấy vấn đề về phương
pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam, giảng thơ Đường theo đặc điểm thể tài cần
xuất phát từ kết cấu, từ ngôn ngữ và đặc trưng thẩm mĩ có tính tổng hợp trong
thơ cổ. Thơ cổ coi trọng yếu tố họa và nhạc nên trong giảng dạy yêu cầu đọc
cần được coi trọng đúng mức. Đọc rõ ràng, diễn cảm, ngắt giọng đúng tiết
tấu, nghỉ hơi sau mỗi dòng thơ.
Dạy học tác phẩm thơ chính là việc đi phân tích cắt nghĩa bài thơ, là
việc đi tìm hiểu hình thức nghệ thuật để khám phá nội dung toàn bài. Nghệ
thuật đó là hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ... được sử dụng trong bài thơ.
Giảng dạy thơ tứ tuyệt cũng cần tuân thủ theo quy luật ấy.[4] Ở đây, tôi xin
nêu các bước cơ bản tiến hành giảng dạy một bài thơ như sau:
Đọc: Sau khi tìm hiểu các yếu tố có liên quan đến bài thơ như hoàn
4


cảnh lớn, hoàn cảnh cảm hứng, chúng ta sẽ đi phân tích văn bản. Muốn thâm
nhập vào chiều sâu ấy, ta phải cho học sinh đọc nhiều lần để phá vỡ lớp vỏ
bọc ngôn ngữ. Đây là một hoạt động tinh thần cao cấp, một hoạt động sáng
tạo đi tới cái tận cùng, cái mà người sản sinh ra văn bản gửi gắm vào câu chữ,
hình ảnh. Qua đọc tác phẩm người đọc lĩnh hội được hiện thực cuộc sống, lịch
sử được phản ánh thông qua các hình tượng nghệ thuật, hiểu được các vấn đề
cuộc sống con người, lí tưởng đạo đức và bước đầu tiếp xúc với quan niệm
nghệ thuật của tác giả. Cũng qua việc đọc tác phẩm, học sinh phải nêu được
cảm nhận chung của mình về bài thơ. Những cảm nhận ấy trước hết là từ nhạc
điệu, âm thanh, sau là hình ảnh, ý tình tác phẩm thấm sâu vào chúng ta. Đọc
thơ để bước đầu cảm nhận được nội dung tư tưởng và cảm xúc của toàn bài.
Đồng thời qua đọc thơ để đối chiếu với phiên âm tìm ra chỗ dịch chưa sát
nghĩa trong bản dịch thơ (hoặc đối chiếu các bản dịch thơ khác nhau).
Cắt nghĩa và chú giải: Cắt nghĩa gồm: Cắt nghĩa từ (Nghĩa hiển ngôn
và nghĩa hàm ngôn); cắt nghĩa câu (cấu trúc ngữ pháp - từ hình thức biểu đạt
đến cái biểu đạt trong câu); cắt nghĩa hình ảnh (dụng ý của tác giả). Chú giải
sâu gồm: Chú giải từ, chú giải điển cố, điển tích…
Đưa ra hệ thống câu hỏi: Về phương diện lí luận, trong công việc
dạy văn cần có một hệ thống câu hỏi xuất phát từ đặc trưng bộ môn (đối với
thơ tứ tuyệt thì xuất phát từ đặc điểm riêng của chất Đường thi). Câu hỏi phải
xoay quanh giá trị hình thức và nội dung của bài. Đặt câu hỏi phải tùy theo
bản dịch và mức độ thành công của bản dịch so với nguyên tác mà tạo điều
kiện cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm. Hệ thống câu hỏi phải luôn ở ba dạng:
Câu hỏi phát hiện dành cho học sinh yếu và trung bình; Câu hỏi liên tưởng,
cảm xúc dành cho học sinh khá và câu hỏi sáng tạo dành cho học sinh giỏi.[4]
Ngoài ra còn có các thao tác: Tìm hiểu phân chia bố cục; Giải thích từ
ngữ, hình ảnh; Mở rộng liên hệ; Thẩm bình nội dung…Tuỳ từng văn bản cụ
thể mà người dạy có thể vận dụng một cách linh hoạt.
5


c. Đặc điểm thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
Nguyễn Đăng Mạnh trong Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu
phân tích thơ Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: Thơ trữ tình của Bác thường dùng thể tứ
tuyệt cổ điển...Mặt khác trong thơ luật, thể tuyệt cú vẫn tự do, phóng túng
hơn. Thơ ngắn nên đòi hỏi tính hàm súc cao. Đọc loại thơ này của Bác có
nghĩa là tìm hiểu một tâm hồn vĩ đại chứa đựng tập trung trong một khuôn
khổ rất hạn chế. Giải quyết mâu thuẫn này về mặt kết cấu không gian thơ Bác
phải xây dựng nên nhiều tầng ý nghĩa và hình tượng.[6]
Nhật kí trong tù phần lớn là những bài thơ đa nghĩa. Bài thơ Chiều
tối không phải là một trường hợp ngoại lệ. Tầng thứ nhất biểu hiện tâm hồn
nhạy cảm của nhà thơ trước vẻ đẹp thiên nhiên. Tầng thứ hai là tấm lòng kiên
cường, ý chí, bản lĩnh phi thường cùng tấm lòng hướng về Tổ quốc, hướng về
nhân dân của người chiến sĩ cách mạng, của một thi sĩ. Tứ thơ vận động từ cái
riêng đến cái chung, từ bộ phận đến toàn thể, từ bóng tối đến ánh sáng, từ
hiện tại đến tương lai. Trong sự vận động ấy mỗi bài thơ lại có vẻ đẹp bất
ngờ, độc đáo riêng.
Nhìn chung, thơ Bác uyển chuyển, linh hoạt, kết thúc đột ngột, vừa
khép lại lời thơ vừa mở ra một cách bất ngờ cả thế giới hình tượng và ý nghĩa
của nó mới khiến lời hết mà ý không cùng.
2.1.2. Lí luận về dạy học tích hợp và tích hợp giáo dục tư tưởng Hồ Chí
Minh
a. Tích hợp và dạy học tích hợp
Tích hợp: Theo Từ điển Tiếng Việt: Tích hợp là sự kết hợp những hoạt
động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức
năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, kết hợp. Theo từ điển
Giáo dục học: Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu,
giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong
cùng một kế hoạch dạy học.[14]
6


Dạy học tích hợp: Là lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội
dung vốn có của một môn học. Từ đó giúp cho học sinh phát triển khả năng
huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,…thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để
giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống; được thực
hiện ngay trong qúa trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển
được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề.
b. Mục đích, nguyên tắc tích hợp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
Mục đích: Trang bị cho học sinh những hiểu biết cần thiết cơ bản về tư
tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó các em có được nhận thức, thái độ hành vi
tích cực. Giáo dục ý thức quan tâm tới việc học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh. Phát triển kĩ năng thực hành, kĩ năng phát hiện và ứng
xử tích cực trong việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Từ
đó, góp phần giáo dục cho học sinh trở thành người công dân tốt, luôn có tinh
thần lạc quan tin tưởng, biết sống và làm việc có trách nhiệm với đất nước.
Nguyên tắc: Nội dung giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh phải trở thành
nội dung bắt buộc trong chương trình học của một số môn và hoạt động, phải
được thực hiện trong kế hoạch dạy học, giáo dục của nhà trường.
Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh được triển khai theo hướng tích hợp
với đặc trưng của môn học, không làm thay đổi mục tiêu và nội dung của môn
học. Tích hợp phải chọn lọc, phù hợp, vừa đủ. Chọn lọc những kiến thức thật
cần thiết để tích hợp nhằm giúp học sinh lấy đó làm phương tiện khám phá,
lĩnh hội kiến thức mới trong bài, góp phần vào việc tạo nên sự gắn bó nội
dung học tập với thưc tiễn cuộc sống.
Tích hợp phải phù hợp trình độ nhận thức, tâm sinh lí của học sinh;
giáo viên tránh biến giờ học thành phô diễn sự uyên bác của mình. Không vì
tích hợp mà làm bài học nặng nề kiến thức, quá tải cho học sinh hoặc giáo
viên tham tích hợp nên bỏ qua kiến thức cơ bản học sinh cần đạt trong chính
tiết học đó .
7


c. Tích hợp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong bộ môn Ngữ văn và bài
thơ Chiều tối trong tập thơ Nhật kí trong tù
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống. Mỗi tác phẩm văn chương
đến với chúng ta chứa đựng biết bao tình cảm mà các nhà thơ, nhà văn gửi
gắm. Mục đích của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường là người giáo viên
không chỉ giúp học sinh hiểu được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm văn chương mà quan trọng hơn là thông qua các tác phẩm để góp phần
giúp các em phát triển tư duy, hoàn thiện nhân cách.[9]
Ngữ văn là môn học có khả năng cao trong giáo dục tư tưởng Hồ Chí
Minh. Nội dung môn học có nhiều địa chỉ có thể giáo dục tư tưởng Hồ Chí
Minh (các bài học viết về Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh; các tác phẩm của
chính Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh; những tác phẩm có nội dung gần gũi
với tư tưởng Hồ Chí Minh...).
Nhật kí trong tù được Hồ Chí Minh sáng tác trong khoảng thời gian bị
chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam (29-8-1942 / 10-9-1943), hơn 70
năm sau, năng lượng tinh thần ngời sáng, tư tưởng đạo đức cách mạng cao cả
của bậc minh triết Hồ Chí Minh vẫn lan tỏa và có giá trị giáo dục cao. Tuy
đứng ở nhiều góc độ khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập
trung phân tích, đánh giá bài học về ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất,
chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn song vẫn thể hiện tinh thần lạc quan cánh
mạng, lòng yêu nước và tinh thần nhân đạo sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.[12] Bài thơ Chiều tối trong tập thơ Nhật kí trong tù là bài thơ tiêu biểu
cho thấy hình ảnh Hồ Chí Minh khác với những người tù, ngay cả trong cảnh
lao tù nguy nan nhất, vẫn là người tự do hơn mọi người. Bài thơ đã thể hiện rõ
nét tình yêu thiên nhiên, phong thái ung dung tự tại, bản lĩnh kiên cường……
của nhân cách nghệ sĩ - chiến sĩ Hồ Chí Minh. Từ đó giúp học sinh nhận thức:
Trong cuộc sống con người luôn là trung tâm, lạc quan trong mọi cảnh ngộ
đời sống; Con người cần gần gũi với thiên nhiên để cân bằng được cảm xúc,
8


giúp lí trí tỉnh táo…; Con người cần gắn bó với đời sống lao động để hướng
tới tương lai…đó là những nội dung quan trọng cần được tích hợp giáo dục
cho học sinh.
Định hướng về yêu cầu, nguyên tắc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
trong môn Ngữ văn: Bám sát mục tiêu giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng
không thể lấy việc dạy học nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh hay kể chuyện Hồ
Chí Minh thay thế cho nội dung bài học Ngữ văn. Đưa nội dung giáo dục tư
tưởng Hồ Chí Minh vào giờ học Ngữ văn tùy theo nội dung từng bài học trên
nguyên tắc đảm bảo mạch kiến thức, kĩ năng của giờ dạy Ngữ văn.
2.2. Thực trạng của bài học
2.2.1. Thuận lợi
Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại đã rất được
chú ý trong nội dung chương trình bộ môn Ngữ văn. Điều đó được thể hiện
trong SGK, đặc biệt ở phần cung cấp tri thức đọc hiểu các loại văn bản.
Nhật kí trong tù rất tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh, là tập
thơ phong phú, đa dạng, độc đáo từ nội dung đến hình thức, có nhiều bài viết
của các nhà nghiên cứu về tập thơ này. Đây chính là những nguồn tài liệu hỗ
trợ hữu ích cho việc nghiên cứu đề tài. Bài thơ Chiều tối được giới thiệu trong
chương trình đọc hiểu văn bản lớp 11 chính là cơ sở thuận lợi để thực hành
làm sáng rõ những sáng kiến đã nghiên cứu trong đề tài.
2.2.2. Khó khăn
Nhật kí trong tù là tập nhật kí bằng thơ viết bằng chữ Hán theo thể tứ
tuyệt vốn hàm súc. Hơn nữa học sinh lại được tiếp cận thông qua bản dịch thơ
nên đây là một khó khăn lớn trong việc định hướng làm thế nào để hướng dẫn
học sinh nắm chắc được đặc điểm và phân tích đúng theo đặc trưng thi pháp
thể loại.
Khó khăn về điều kiện cập nhật thông tin hiện đại. Giáo viên chưa nắm
được những thành tựu lí luận về đặc trưng thi pháp thể loại, về lý thuyết tiếp
9


nhận, về phương pháp đổi mới dạy học văn. Mặt khác, thực tế lâu nay khi
giảng dạy các tác phẩm văn thơ Hồ Chí Minh, giáo viên chỉ chú trọng kiến
thức về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Tâm lí và suy nghĩ của học sinh
khi học chỉ cần nắm vững nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đã là quá đủ.
Khó khăn ở môi trường giáo dục nơi tôi đang công tác: các phương tiện
dạy học hiện đại vừa thiếu vừa lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu dạy và
học; Thư viện trường chưa đủ những tư liệu về tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh….
Từ thực trạng ấy, thiết nghĩ mỗi giáo viên của chúng ta trong quá trình
hoà nhập vào sự nghiệp giáo dục mới cần trang bị cho bản thân nguồn kiến
thức phong phú, phương pháp linh hoạt, sáng tạo và chiêm nghiệm, đúc kết
những giải pháp thật sự phù hợp; giúp học sinh dễ dàng lĩnh hội tri thức đầy
đủ, sâu sắc; Đồng thời giáo dục các kĩ năng sống, nâng cao khả năng vận
dụng đời sống xã hội vào văn học, giải quyết tốt các tình huống đặt ra.
2.3. Giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Giải pháp
Qua trải nghiệm trong thực tế giảng dạy, tôi nhận ra rằng với bài
Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh nên khai thác theo đặc trưng thi pháp thể
loại kết hợp sử dụng kỹ thuật dạy học hiện đại (như hoạt động nhóm, kỹ thuật
mảnh ghép..); tích hợp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh thì sẽ thành công hơn.
2.3.2. Thiết kế tiến trình dạy học
Tiết 89

CHIỀU TỐI
(MỘ)
- Hồ Chí Minh -

I. Mức độ cần đạt
- Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh: dù hoàn cảnh khắc
nghiệt đến đâu vẫn luôn hướng về sự sống và ánh sáng.

10


- Nhận thức được đặc sắc của bút pháp thơ tứ tuyệt Đường luật thể hiện
trong bài thơ.
II. Trọng tâm kiến thức - kĩ năng
1. Kiến thức
- Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh: Tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống;
nghị lực kiên cường vượt lên hoàn cảnh; phong thái ung dung, tự do, tự tại và
niềm lạc quan cách mạng.
- Vẻ đẹp của thơ trữ tình Hồ Chí Minh: Sự kết hợp hài hoà giữa màu
sắc cổ điển và tinh thần hiện đại, giữa chất thép và chất tình.
2. Kĩ năng
Đọc hiểu một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt luật Đường theo đặc trưng thể
loại.
3. Thái độ
Tự nhận thức bài học cho bản thân về tinh thần lạc quan, tấm lòng yêu
thương, chia sẻ giữa con người với thiên nhiên; giữa con người với con người
trong cuộc sống.
III. Phương pháp
Phương pháp đọc hiểu - đọc diễn cảm, phân tích, bình giảng; kết hợp
so sánh, tái hiện, đàm thoại nêu vấn đề bằng hệ thống câu hỏi thảo luận nhóm.
IV. Thiết kế tiến trình giờ dạy – giáo dục
*Ổn định tổ chức (1 phút)
* Kiểm tra bài cũ (4 phút)
? Em hãy đọc lại một bài thơ trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
mà em đã được học.
- Yêu cầu: Đọc thuộc, diễn cảm bài thơ.
? Qua bài thơ em có hiểu biết gì về vẻ đẹp con người Hồ Chí Minh?

11


-Yêu cầu: Học sinh phát biểu được cảm nhận của mình về vẻ đẹp con người
Hồ Chí Minh qua tác phẩm đã đọc: Tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan, ý
chí cách mạng kiên cường; tấm lòng nhân đạo bao la....
*Bài mới:
Trong thời gian bị tù ở Quảng Châu (Trung Quốc), Hồ Chí Minh bị giải
qua nhiều nhà lao. Không thể nói hết những nỗi gian khổ dọc đường giải tù,
nhưng Bác ít nhắc đến nỗi khổ ải đó mà nếu có nhắc thì Người pha giọng
châm biếm, hài hước, tự trào. Bài thơ Chiều tối (Mộ) là một bài thơ đặc sắc,
tưởng như không phải là thơ của tù nhân Hồ Chí Minh mà là một bài thơ của
thời thịnh Đường.
Hoạt động của GV và HS
Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1: Tìm hiểu chung (5 phút).
GV yêu cầu 01 đến 02 HS đọc kĩ I. Tìm hiểu chung
phần Tiểu dẫn trong SGK. GV cho HS 1. Tập thơ Nhật kí trong tù
thảo luận bổ sung.
- Hoàn cảnh sáng tác: được Bác sáng tác
- HS thuyết trình giới thiệu tập thơ trong thời gian bị chính quyền Tưởng
NKTT

Giới Thạch bắt giam từ mùa thu 1942 -

- GV chuẩn xác kiến thức.

1943 tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).

- Cho HS quan sát tranh bìa tập thơ

- Giá trị cơ bản: Là tập nhật kí viết bằng
thơ. Tập thơ gồm 134 bài bằng chữ Hán:
là bức tranh hiện thực nhà tù và xã hội
Trung quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch;
vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh; phong cách

?Nêu hoàn cảnh sáng tác và vị trí

nghệ thuật Hồ Chí Minh.

bài thơ? Xác định thể thơ?
2. Bài thơ Chiều tối
- Hoàn cảnh sáng tác: Là bài thơ thứ 31
trong tập thơ, được sáng tác mùa thu 1942
trên đường Bác đi đày từ Tĩnh Tây đến
12


Thiên Bảo.
- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- GV hướng dẫn HS đọc diễn cảm
toàn văn phần phiên âm, dịch nghĩa,
dịch thơ. Yêu cầu HS phát hiện những
chỗ dịch đạt và chưa đạt. Giải thích vì a. Đối chiếu bản phiên âm và bản dịch
sao chưa đạt.
thơ
- Câu 2: Chưa dịch được chữ "cô", "mạn
mạn"
- Câu 3: dịch thừa từ "tối", làm mất đi ý
vị "ý tại ngôn ngoại", hàm súc của thơ cổ.
- Từ các bài thơ luật Đường đã học,
GV cho HS tìm hiểu hướng tiếp cận
bài thơ. HS thảo luận tự do theo từng
bàn, sau đó đề xuất ý kiến. GV tổng
hợp và có thể phải định hướng để HS
cảm nhận chung về bài thơ từ đó xác
định đúng bố cục văn bản.

b. Bố cục
- Hai câu đầu : Bức tranh thiên nhiên.

- Hai câu cuối : Bức tranh cuộc sống.
Hoạt động 2: Đọc hiểu văn bản (25 phút)
?Bức tranh thiên nhiên ở 2 câu thơ II. Đọc hiểu văn bản
đầu được miêu tả ntn?

1. Bức tranh thiên nhiên

- HS phân tích, cắt nghĩa các yếu tố về a. Bức tranh thiên nhiên:
thời gian, không gian, hình ảnh.
- Thời gian: Chiều tối
- Không gian: Vùng rừng núi trên đường
chuyển lao.
-> Miêu tả từ xa, cao, tầm nhìn bao quát,
13


rộng lớn.
- Hình ảnh :
+ Quyện điểu: chim mỏi
-> Cánh chim sau một ngày rong ruổi,
trong giờ khắc của ngày tàn đang về rừng
tìm nơi tổ ấm.
+ Cô vân: chòm mây cô đơn
-> Áng mây cô đơn, lẻ loi đang trôi chầm
chậm giữa bầu trời cao rộng.
-> Đây là chòm mây mang tâm trạng, có
hồn người, cô đơn, lẻ loi và lặng lẽ.
+ Mạn mạn: chậm chậm, trôi nổi, lững
lờ.
-> Giữa bầu trời mênh mông, cánh chim
và chòm mây càng cô đơn lẻ loi. Vẽ theo
? So sánh sự tương đồng và khác
biệt giữa thiên nhiên và con người?

lối “chấm phá”, vẻ đẹp cổ điển mang
phong vị Đường thi.

? Qua đó, em cảm nhận được điều gì
về tâm hồn, con người Hồ Chí Minh
ở 2 câu thơ đầu?
- HS suy nghĩ trả lời, GV nhận xét bổ
sung để hoàn thiện kiến thức.

b. So sánh thiên nhiên và con người:
- Tương đồng về hình thức: đều cô đơn,
mệt mỏi, mong muốn tìm được tổ ấm.
- Khác biệt về bản chất: thiên nhiên tự do
còn con người mất tự do, đang bị áp giải
và không biết đâu là chốn nghỉ ngơi…
=> Tiểu kết phần 1: Hai câu thơ mang
vẻ đẹp cổ điển, tả ít mà gợi nhiều; chỉ hai
nét phác họa mà gợi lên linh hồn cảnh
vật. Qua đó, thể hiện bản lĩnh kiên cường
14


của người chiến sĩ. Bởi vì nếu không có ý
chí và nghị lực, không có phong thái ung
dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh
thần thì không thể có những câu thơ cảm
nhận thiên nhiên thật sâu sắc và tinh tế
như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của
tù đày.
- GV tổ chức giờ học theo kỹ thuật 2. Bức tranh cuộc sống của con người.
mảnh ghép: chia lớp thành 4 nhóm - Hình ảnh : Cô em…xay ngô: Cảnh
chuyên sâu, mỗi nhóm một nhiệm vụ con người lao động đời thường bình dị,
tìm hiểu:
quen thuộc
Nhóm 1: Bức tranh cuộc sống con -> Hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ
người được nhà thơ tái hiện qua trung, khoẻ mạnh, đầy sức sống. Ta thấy
những hình ảnh nào và có gì đặc trong thơ Bác con người là trung tâm của
biệt ? (HS trả lời, GV bổ sung, chốt ý) bức tranh thiên nhiên.
Nhóm 2: So sánh với khổ thơ tả - Điệp ngữ vòng ma bao túc – bao túc ma
cảnh chiều hôm trong bài thơ “Qua hoàn: sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng…
đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh lao động liên tục.
Quan với bức tranh đời sống con -> Cần mẫn, chăm chỉ: vòng quay không
người trong bài thơ có gì khác? Từ dứt của động tác xay ngô. Từ đó diễn tả
đó ta phát hiện gì về cái nhìn, tâm dòng lưu chuyển của thời gian một cách
hồn của nhà thơ? (HS trả lời, GV bổ tự nhiên.
sung, chốt ý)
Nhóm 3: Trong nguyên tác không hề
có chữ “tối”, không nói tối mà tự
nhiên người đọc vẫn cảm nhận được
trời tối và thời gian đang trôi dần từ
chiều tà đến đêm khuya? Hãy lí giải
vì sao có thể cảm nhận như vậy?
(GV giải thích rõ thêm: Chữ “hồng”Bác tiếp thu tinh hoa thơ Đường

- Hình ảnh :“Lò than…rực hồng”: ấm
cúng và hạnh phúc, “hồng” là điểm sáng
thẩm mĩ, là nhãn tự của bài thơ.
15


nhưng cũng đổi mới thơ Đường)
Nhóm 4: Từ hai câu đầu đến hai câu
cuối, mạch thơ vận động, chuyển đổi
như thế nào? (HS trả lời, GV bổ - Hình ảnh thơ không tĩnh tại mà hướng
sung, chốt ý)
đến ánh sáng, sự sống; gợi cuộc sống sum
vầy, ấm áp, làm vơi đi ít nhiều nỗi đau
khổ của người đi đày, mang lại niềm vui,
sức mạnh, sưởi ấm lòng người tù.
=>Hình tượng thơ, mạch thơ, tư tưởng
Hồ Chí Minh đã vận động

từ nỗi buồn

đến niềm vui, từ bóng tối đến ánh sáng.
- Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai

Ánh sáng của niềm tin, niềm lạc quan.

đoạn 1, một nửa số học sinh của mỗi
nhóm sẽ tập hợp thành hai nhóm mới
là nhóm mảnh ghép. Các thành viên ở
nhóm mới sẽ thảo luận về các vấn đề
đã tìm hiểu ở nhóm chuyên sâu.
Nhóm mới thành lập sẽ xoay quanh
nội dung về: Bức tranh cuộc sống
của con người.
- GV nhận xét kết quả làm việc của ⇒ Tiểu kết phần 2: Hai câu thơ cuối cho
các nhóm chuyên sâu và nhóm mảnh ta thấy vẻ đẹp của con người trong lao
ghép tổng hợp kiến thức.
động đã khơi dậy sức sống khoẻ khoắn và
làm bừng sáng cho cả bức tranh. Con
người trong lao động là vẻ đẹp trung tâm,
là cái thần thái chân dung về vẻ đẹp cuộc
sống giản dị đời thường.
Hoạt động 3: Tổng kết (5 phút)

16


- GV chia lớp thành 3 nhóm. Các III. Tổng kết
nhóm thảo luận, trình bày, GV chuẩn 1. Về nội dung:
xác kiến thức.

- Qua bài thơ, người đọc cảm nhận rõ tình

Nhóm 1: Tổng kết về giá trị nội dung. yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống; tinh thần
Nhóm 2: Tổng kết về giá trị nghệ lạc quan yêu đời, ý chí nghị lực phi
thuật.
thường vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt
Nhóm 3: Tích hợp tư tưởng Hồ Chí của nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh.Vì
Minh. (Qua bài thơ, em học tập được vậy Nhật kí trong tù là nhật kí tâm sự,
điều gì ở vị lãnh tụ kính yêu của nhật kí trữ tình, có tính hướng ngoại
chúng ta? Em sẽ vận dụng như thế nhưng chủ yếu là hướng nội.
nào trong cuộc sống để có hiệu quả - Tinh thần dân chủ được thể hiện sâu sắc
thiết thực?)
ở đề tài, tư tưởng (hướng về sinh hoạt
- Từ nội dung bài học, giáo viên định bình dị); nhân vật trữ tình: khiêm tốn, hòa
hướng để học sinh thấy được tư tưởng hợp, không đặt mình lên trên những con
nhân sinh quan tích cực của Hồ Chí
Minh:
Trong hoàn cảnh của Bác, ta không
hề thấy sự trói buộc về tinh thần. Dẫu
bước đường giải lao đầy gian khổ

người bình thường; hình ảnh ngôn từ:
không cao giọng, lên gân, không ưa đại
ngôn tráng ngữ.
2. Về đặc sắc nghệ thuật: Chiều tối là

nhưng vẫn nổi bật lên tư thế ung dung bài thơ trữ tình tứ tuyệt tiêu biểu cho
tự tại, tự chủ, tự do. Những phẩm chất phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh:
cao đẹp của Bác là kết tinh những vẻ - Dùng ngoại cảnh để nói tâm cảnh.
đẹp tâm hồn người Việt Nam cho - Kết hợp bút pháp cổ điển (Đề tài; Thể
chúng ta những bài học quý báu: Đó thơ; Bút pháp chấm phá, ước lệ; Những
là tinh thần lạc quan yêu đời, luôn có thi liệu xưa cũ; Nghệ thuật điểm nhãn, vẽ
niềm tin vào cuộc sống, chủ động mây, nảy trăng…Sự tương giao giữa con
trong mọi tình huống để vượt qua khó người và thiên nhiên…) và tinh thần hiện
khăn thử thách, có ý thức rèn luyện đại (Bút pháp tả thực sinh động; Sự vận
bản lĩnh và nghị lực cuộc sống để động của tứ thơ, hình ảnh thơ: bóng tối ra
thấy được cuộc sống có giá trị và ý ánh sáng; Con người là trung tâm bức
17


nghĩa biết bao. Chúng ta còn học tranh; Chủ thể trữ tình với tâm hồn tư duy
được ở Bác bài học trân trọng, yêu nghị lực mới mẻ, khỏe khoắn….)
thương những vẻ đẹp bình dị của - Ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh, sáng
thiên nhiên và cuộc sống con người. tạo, giàu sức gợi tả…Thủ pháp đối lập,
điệp liên hoàn…
Hoạt động 4 : Củng cố (3 phút)
Em hãy chọn câu trả lời đúng nhất:
Câu 1: Từ nào dưới đây được coi là nhãn tự của bài thơ ?
A. Thiếu nữ

C. Hồng

B. Ma bao túc

D. Sơn thôn

Câu 2: Tại sao nói bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp cổ điển?
A.Vì được viết theo thể thơ tứ tuyệt đường luật, hàm súc, cô đọng.
B.Vì tác giả sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng.
C.Vì cảnh thiên nhiên được gợi tả bằng vài nét chấm phá, cốt ghi lấy linh hồn của
tạo vật.
D. Tất cả các ý trên đều đúng.
Câu 3: Căn cứ vào đâu để khẳng định bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh mang
tính hiện đại?
A. Mạch thơ vận động hướng về sự sống và ánh sáng.
B. Tứ thơ, hình ảnh thơ thể hiện tâm hồn, nhân cách, tinh thần lạc quan của người
chiến sĩ cách mạng.
C. Hình ảnh con người chiếm vị trí trung tâm của bức tranh.
D. Tất cả các ý trên đều đúng.
Câu 4: Vẻ đẹp của người chiến sĩ cộng sản thể hiện như thế nào trong bài thơ?
A. Chứa chan tình yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, tinh thần lạc
quan cách mạng và bản lĩnh phi thường của người tù cộng sản.
B. Phong thái ung dung, tự chủ, bình thản trong hoàn cảnh khắc nghiệt.
C. Tấm lòng nhân đạo bao la đến quên mình, mọi vui buồn đều gắn với vui buồn
nhân loại.
18


D. Cả 3 ý kiến trên.
Đáp án: 1C, 2D, 3D, 4D
Hoạt động 5: Hướng dẫn tự học (2 phút)
- Học thuộc lòng phần phiên âm và bản dịch thơ SGK.
- Làm bài tập: Phân tích bài thơ Chiều tối để làm rõ đặc điểm thơ trữ tình của
Hồ Chí Minh.
- Bài mới: Soạn bài thơ Từ ấy – Tố Hữu, chuẩn bị phần tác giả, học thuộc bài thơ.

2.4. Kết quả vận dụng SKKN đối với hoạt động giáo dục của bản thân,
đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1. Tiêu chí đánh giá
Đối chiếu, so sánh với kết quả sau khi vận dụng các giải pháp đã nêu vào
thực tế giảng dạy với kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài nghiên cứu.
Đánh giá kết quả dựa trên nhận thức của học sinh trong quá trình giảng dạy,
kết quả học tập bộ môn và kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh.
2.4.2. Kết quả sau khi đánh giá
Qua thực tế giảng dạy, với tư cách là người tổ chức, hướng dẫn và phát
huy vai trò chủ động tích cực sáng tạo của học sinh, tôi thấy các em rất hào
hứng trong học tập, không khí giờ học sinh động hơn. Chính vì có sự chuẩn bị
ở nhà nên các em chủ động, thảo luận sôi nổi, hăng hái phát biểu, mạnh dạn
trình bày những suy nghĩ của mình, có sự tìm tòi sáng tạo.
Kết quả: Tiết học khá sinh động, nhịp nhàng, ăn khớp, rèn luyện được
khả năng tư duy cho học sinh, không áp đặt kiến thức. Quan trọng hơn cả là
các em bước đầu có kĩ năng học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại.
Qua tác phẩm văn học, các em hiểu hơn về Bác - một người vĩ đại nhưng
cũng rất đơn sơ, giản dị từ đó rèn luyện kĩ năng sống, học tập theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh.
Sau tiết học, tôi tiến hành kiểm tra, đánh giá với 2 nội dung:
19


Câu 1: Vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh trong bài thơ “Chiều
tối”?
Câu 2: Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của bút pháp cổ điển hòa quyện
với tinh thần hiên đại trong bài thơ?
Kết quả đạt được như sau:
Điểm
11A2/48
11A1/39

0-2
0
0

3-4
2
4

5-6
18
17

7-8
25
24

9
5
3

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Dạy học theo đặc trưng thể loại và đặc trưng thi pháp thể loại đã và
đang là một hướng đi đúng đắn đạt được nhiều thành công. Tuy nhiên,
phương pháp cần gắn liền với nội dung, không có phương pháp nào là vạn
năng. Giáo viên phải nắm vững các nội dung kiến thức đặc biệt là thi pháp thể
20


loại mới mong khám phá được hết vẻ đẹp của tác phẩm.
Bài thơ Chiều tối nói riêng và tập Nhật kí trong tù nói chung, thể hiện
một tầm tư tưởng lớn của người chiến sĩ cộng sản. Vì vậy, việc tích hợp giáo
dục tư tưởng Hồ Chí Minh là rất cần thiết. Đặc biệt, trong hoàn cảnh xã hội
đang xuất hiện lối sống buông thả, ăn chơi, không có mơ ước lí tưởng của một
bộ phận học sinh thì yêu cầu tích hợp là một nội dung bắt buộc của bài học.
Việc tích hợp nên tuân theo nguyên tắc để đạt được mục tiêu đã đặt ra, tránh
sa đà mà không truyền tải được kiến thức trọng tâm. Quá trình tích hợp giáo
dục tư tưởng Hồ Chí Minh phải diễn ra thường xuyên có hệ thống, không chỉ
ở một bài thơ Chiều tối mà ở cả các bài thơ khác (của Hồ Chí Minh và của
các tác giả khác viết về Hồ Chí Minh) giúp học sinh thấm nhuần tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh và có ý thức học tập làm theo.
3.2. Kiến nghị
Đối với nhà trường: Cần khuyến khích động viên mỗi giáo viên nghiên
cứu, thực hiện và áp dụng những sáng kiến hay để đẩy mạnh, nâng cao chất
lượng chuyên môn trong nhà trường. Tổ chuyên môn cần tổ chức nhiều các
hoạt động ngoại khóa văn học để tăng thêm sự hứng thú niềm đam mê đối với
môn học.
Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo: Duy trì việc tổ chức hội thảo chuyên
đề cho giáo viên bộ môn Văn trong từng năm để giáo viên có dịp trao đổi kinh
nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy
học môn Văn.
3.3. Lời kết
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm tôi đúc rút được trong quá trình
giảng dạy ở trường THPT Nông Cống 2. Do điều kiện về năng lực và thời
gian nên đề tài chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự
ủng hộ, góp ý của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn và có thể áp

21


dụng rộng rãi trong giảng dạy ở các trường THPT; góp phần nâng cao chất
lượng giờ dạy môn Ngữ văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG

Thanh Hoá ngày 20/5/2018

ĐƠN VỊ

Người viết
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do
mình tự viết, không sao chép nội dung
của người khác.

TRẦN VĂN THÀNH

Lê Thị Huyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, Cơ bản, tập II. Nxb Giáo dục, 2010.
2. Sách giáo viên Ngữ Văn 11, Cơ bản, tập II. Nxb Giáo dục, 2010
3. Phạm Thị Hải Anh, Bút pháp chấm phá trong cấu tứ thơ Đường. Nxb Giáo
dục, 1999.
22


4. Nguyễn Sỹ Cẩn, Mấy vấn đề về phương pháp dạy thơ văn cổ. Nxb Giáo
dục, 2009.
5. Trần Thanh Đạm, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học. Nxb Giáo dục 2011.
6. Nguyễn Đăng Mạnh, Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu phân tích thơ
Hồ Chủ Tịch. Nxb Giáo dục, 1999.
7. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học. Nxb Giáo dục HN, 2001.
8. Nguyễn Khắc Phi, Về thi pháp thơ Đường. Nxb Đà Nẵng, 1997.
9. Vũ Dương Quỹ, Tác phẩm văn chương, những con đường khám phá. Nxb
Giáo dục, 2004.
10. Nhiều tác giả, Tài liệu giáo dục kĩ năng sống trong môn ngữ văn ở trường
THPT, Nxb Giáo dục Việt Nam 2010.
11. Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam. Nxb Văn học 2005.
12. Nhiều tác giả, Nhật kí trong tù và những lời bình. NxbVHTT, 2001.
13. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học.
Nxb Giáo dục 2007.
14. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt. Nxb Từ điển Bách Khoa, 2010.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×