Tải bản đầy đủ

skkn tìm hiểu giáo dục học sinh cá biệt thông qua các giờ học thực hành môn giáo dục thể chất trong trường THPT trần phú nga sơn

MỤC LỤC

I
1
2
3
4
5
6
II
1
1.1
1.2

2
2.1
2.2

3
3.1
3.2


III
1
2

Nội dung

Trang

MỤC LỤC...............................................................................
MỞ ĐẦU.................................................................................
Lí do chọn đề tài.......................................................................
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..........................................
Đối tượng và khách thể nghiên cứu..........................................
Giả thiết khoa học...............................................................
Phạm vi đề tài .....................................................................
Phương pháp nghiên cứu đề tài...........................................
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1
2
2
3
3
3
4
4
5

..................................................
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu đề tài..............................
Lý luận về học sinh cá biệt ....................................................
Lý luận về nội dung, phương pháp.....................................
Thực trạng và nguyên nhân ..................................................
Thực trạng:............................................................................
Nguyên nhân ......................................................................
Các biện pháp tác động, giáo dục........................................
Các biện pháp tác động........................................................
Các biện pháp giáo dục.........................................................
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................


Kết luận....................................................................................
Kiến nghị..................................................................................

5
5
6
7
7
10
11
11
12
13
13
15

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Dưới những mái trường THPT, sự xuất hiện học sinh cá biệt là một vấn đề
nhức nhối và cấp thiết, mà các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô giáo - những
người ươm mầm xanh cho đất nước luôn luôn phải trăn trở và khắc khoải làm thế
nào để uốn nắn học sinh của mình từ cá biệt trở thành những học trò ngoan, giỏi,

1


có ý thức lành mạnh trong học tập cũng như hình thành nhân cách của mình. Và
đây cũng chính là vấn đề mà ngành giáo dục đang quan tâm.
Là một giáo viên đã 18 năm công tác, giảng dạy môn Giáo dục thể chất ở
nhà trường THPT Trần Phú – Nga Sơn, khi trực tiếp được giảng dạy và gần gũi các
em học sinh, cụ thể là các em học sinh của các lớp mà tôi đang trực tiếp giảng dạy
ở trường THPT Trần Phú - Nga Sơn, nhìn những gương mặt còn ngây thơ chưa
vướng phải những va đập của cuộc sống tôi luôn nghĩ rằng trong tâm hồn các em
bao giờ cũng trong sáng và lành mạnh, làm sao có thể có những học trò cá biệt, bởi
lứa tuổi học đường là lứa tuổi đẹp nhất. Vậy mà ẩn sau cái nhìn chung ấy, lại có
những em đang vô tình đánh mất đi những năm tháng đẹp nhất của tuổi học trò.
Nguyên nhân ấy từ đâu và dùng biện pháp gì cho phù hợp để khắc phục những học
sinh cá biệt là trách nhiệm của những người làm giáo dục nói chung và các giáo
viên đang trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục thể chất nói riêng.
Bản thân tôi qua 18 năm trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục thể chất luôn
được gần gũi yêu thương các em học sinh và được chứng kiến thực trạng hiện
tượng học sinh cá biệt, tôi thực sự day dứt và trăn trở. Tôi thấy mình phải có trách
nhiệm làm như thế nào để trả lại cho các em lứa tuổi đẹp nhất của mình và các tiết
học thực hành ngoài sân ấy luôn đem lại cho các em thích thú, rèn luyện tính kiên
nhẫn, chịu khó vươn lên. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này “ Tìm hiểu, giáo
dục học sinh cá biệt thông qua các giờ học thực hành môn Giáo dục thể chất
trong trường THPT Trần Phú - Nga Sơn”. Bằng sự nhiệt huyết của nghề nghiệp
cộng với tấm lòng yêu thương các em học sinh, tôi huy vọng rằng sẽ tìm ra được
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cá biệt ở các em học sinh, để từ đó rút ra cơ sở
thực tiễn cho giải pháp sư phạm trong công tác giảng dạy và giáo dục các em nhất
là giáo dục các em về kỹ năng sống, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục những
học sinh cá biệt, đưa các em trở về với tư tưởng lành mạnh trong tiến trình hoàn
thiện bản thân.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc giáo dục học sinh cá biệt
2


- Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt không
thích học các giờ học thực hành ở ngoài rân bãi.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu để tạo ra cơ sở thực tiễn trong việc giảng dạy và giáo dục học
sinh cá biệt trong các giờ học thực hành môn Giáo dục thể chất
- Nghiên cứu để xây dựng những phương pháp sư phạm phù hợp, nâng cao
hiệu qủa trong các giờ học thực hành của môn học.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng.
Tìm hiểu, giáo dục học sinh cá biệt trong các giờ học thực hành môn Giáo
dục thể chất cụ thể là:
- Em Nguyễn Minh Công lớp 10E nay là 12E
- Em Nguyễn Thị Giang 10D nay là 12D
- Em Trần Chí Kiên 10E nay là 12E
3.2. Khách thể nghiên cứu.
- Thông qua gia đình các em
- Thông qua thầy cô giáo chủ nhiệm
- Thông qua tập thể lớp
- Thông qua các giờ học thực hành môn Giáo dục thể chất
4. Giả thiết khoa học.
Hiện tượng học sinh cá biệt là những học sinh không lành mạnh về tư tưởng,
phẩm chất đạo đức, không có ý thức học tập thường xuyên quậy phá trong các giờ
học, bỏ học, bỏ tiết.... Đây là vấn đề luôn làm cho các nhà trường, thầy cô phải trăn
trở. Cho nên để giáo dục được những học sinh cá biệt cần phải tìm hiểu nguyên
nhân đẫn đến thực trạng cá biệt, không thích học các giờ học thực hành ngoài trời.
Vì vậy nếu tìm được nguyên nhân thì sẽ có cơ sở thực tiễn cho việc nâng cao
hiệu quả giáo dục và giảng dạy học sinh cá biệt thông qua các giờ học thực hành
môn Giáo dục thể chất.
5. Phạm vi đề tài.

3


Tìm hiểu, giáo dục “Học sinh cá biệt” là một quá trình tiếp cận tìm hiểu và
nghiên cứu đối tượng. Nhưng đề tài tập trung vào giải quyết 2 vấn đề chính:
Một là: Xây dựng cơ sở lý luận của việc giáo dục học sinh cá biệt thông qua
các giờ học thực hành môn Giáo dục thể chất
Hai là: Điều tra thực trạng, những nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt
không thích học các giờ thực hành
Phạm vi của đề tài này cũng chính là cấu trúc của đề tài, là nội dung chính
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt ở
các giờ học thực hành ngoài trời
Chương 3: Những giải pháp giáo dục
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Để hiểu và nghiên cứu học sinh cá biệt, chúng ta phải dùng những phương
pháp sau đây:
a. Phương pháp quan sát.
- Quan sát thực trạng của học sinh cá biệt
+ Biểu hiện trong học tập, các giờ học thực hành
+ Biểu hiện đối với bạn bè, thầy cô
+ Biểu hiện trong quan hệ gia đình, xã hội
b. Phương pháp hỏi đáp.
- Tiếp cận thật gần gũi rồi tìm cách hỏi thăm đối tượng
c. Phương pháp điều tra.
+ Thông qua chính bản thân đối tượng
+ Thông qua các thầy cô giáo chủ nhiệm
+ Thông qua các bạn thân trong lớp
+ Thông qua việc tiếp cận, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình
+ Thông qua các giờ học thực hành ngoài sân bãi
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu đề tài
4


1.1. Lý luận về học sinh cá biệt nói chung và học sinh cá biệt trong các giờ học
thực hành nói riêng.
a. Khái niệm hiện tượng học sinh cá biệt.
Nói đến hiện tượng học sinh cá biệt là một hiện tượng đặc biệt ở học sinh.
Hiện tượng học sinh cá biệt là học sinh vi phạm các chuẩn mực đạo đức và chuẩn
mực xã hội, biểu hiện ở phẩm chất đạo đức và học lực của học sinh
Nói đến học sinh cá biệt là thường liên hệ đến chuẩn mực chung, mức độ vi
phạm các chuẩn mực đó và nó là cái đặc biệt, là cái khác của cộng đồng học sinh.
b. Khái niệm học sinh cá biệt ở các giờ dạy thực hành.
Hiện tượng học sinh cá biệt ở các tiết dạy thực hành môn Giáo dục thể chất
là hiện tượng học sinh hư không phù hợp với chuẩn mực đạo đức và chẩn mực xã
hội, có biểu hiện như: Không chịu khó học, thường kiến tập hoặc gây gổ trong quá
trình học, trêu ngẹo các bạn, giao tiếp không lịch sự hoặc hay bỏ tiết...
Hiện tượng học sinh cá biệt trong các giờ học thực hành môn Giáo dục thể
chất là kết quả giáo dục rèn luyện 12 năm trên nghế nhà trường cũng như giáo dục
ở nhà trường, gia đình, cộng đồng, nơi ở và sự giáo dục, rèn luyện của bản thân
học sinh đó.
Hiện tượng học sinh cá biệt ở các giờ thực hành có 3 đặc trưng
+ Do sự quá nương chiều của gia đình
+ Mức độ hư hỏng chưa đến mức nghiêm trọng
+ Không thích học hoặc ngại các giờ thực hành
c. Lý luận về các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt.
Hiện tượng học sinh cá biệt chính là hiện tượng phát triển sai lệch về bản
chất, nhân cách của học sinh đối với chuẩn mực chung.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến làm cho học sinh trở thành cá biệt. Do
môi trường xã hội, do sự sai lầm của gia đình tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
hư ở trường và nguyên nhân do ảnh hưởng của những người phạm tội có tác động
qua lại tới học sinh
d. Sự cần thiết phải giáo dục học sinh cá biệt trong các giờ thực hành

5


Xuất phát từ sự nhận thức quá trình hình thành và phát triển nhân cách của
học sinh ở giai đoạn trong nhà trường THPT là giai đoạn quan trọng nhất. Bởi vì ở
giai đoạn này tự hoàn thiện nhân cách của học sinh và vai trò trách nhiệm của giáo
viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn trong việc giáo dục học sinh cá biệt trở nên
cấp thiết trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt
1.2. Lý luận về nội dung, phương pháp và các con đường giáo dục học sinh cá
biệt.
a. Nội dung giáo dục học sinh cá biệt.
- Giáo dục học sinh cá biệt trong các giờ thực hành môn Giáo dục thể chất là
giáo viên phải có thái độ, tình cảm đúng đắn với những học sinh cá biệt trong giờ
học nhất là các giờ học như nhảy cao, nhày xa, chạy bền...
- Bằng lý luận thực tiễn người giáo viên cần cung cấp cho học sinh cá biệt
những cách thức biện pháp để học tập, rèn luyện có kết quả tốt
- Ngăn chặn những ảnh hưởng xấu, tách khỏi những học sinh hư, những tệ
nạn xã hội và những lối sống không lành mạnh
- Kết hợp đạo đức với dạy học và rèn luyện để nhằm giáo dục đạt chất lượng
cao.
b. Phương pháp và các con đường giáo dục học sinh cá biệt.
Phương pháp
Giáo dục học sinh cá biệt là nhiệm vụ luôn đặt ra cho người giáo viên trước
hết và quan trọng nhất là làm cho học sinh hiểu được quan điểm của mình là một
quan điểm giáo dục chứ không phải là quan điểm ngoài giáo dục. Điều quan trọng
nhất đối với việc giáo dục học sinh cá biệt là bằng cách khuyết phục. Phương pháp
trừng phạt là phương pháp bắt buộc cuối cùng, chúng ta cần phải sử dụng một số
phương pháp cơ bản sau:
+ Phương pháp tác động cá biệt
+ Phương pháp khen thưởng
+ Phương pháp tránh phạt
+ Phương pháp tác động song song ( Giáo dục tập thể)
+ Phương pháp “ Bùng nổ sư phạm”
6


Ngoài ra người giáo viên bộ môn cần phải tìm hiểu và sáng tạo, tạo ra những
phương pháp thích hợp và hiệu quả hơn trong việc giáo dục học sinh cá biệt, giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các giờ dạy thực hành
Giải pháp
Trong giáo dục học sinh cá biệt người giáo viên bộ môn cần sử dụng các giải
pháp sau:
+ Điều chỉnh hành vi cụ thể
+ Nêu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp
+ Thuyết phục và hạn chế giải pháp trừng phạt
+ Động viên, khen thưởng kịp thời
+ Tiến hành thường xuyên
2. Thực trạng và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cá biệt trong các giờ học
thực hành môn Giáo dục thể chất.
2.1. Thực trạng: Tôi rất vinh dự khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Vinh khoa Giáo
dục thể chất, ra trường tôi được phân công giảng dạy tại trường THPT Bán công
Trần Phú nay là Trường THPT Trần Phú - Nga Sơn. Đây là quê hương của tôi và
cũng là trường vừa mới được thành lập một trường Bán công đầu tiên trong huyện
Nga Sơn đây cũng là mô hình mới, buổi đầu thành lập trường chỉ có 10 phòng học
cấp 4 , 1 khu hiệu bộ với 8 giáo viên cơ hữu, 2 Đ/c lãnh đạo và 1 kế toán số còn lại
chủ yếu là các thầy cô bên trường THPT Ba Đình sang thỉnh giảng, buổi đầu chỉ có
hơn 4 trăm học sinh, chủ yếu là học sinh thi không đậu vào các trường như THPT
Ba Đình và trường THPT Mai Anh Tuấn, nên chất lượng không được cao dẫn tới ý
thức đạo đức của các em cũng kém. Song vài năm trở lại đây nhà trường đã từng
bước nâng cao chất lượng dạy và học, cơ sở vật chất ngày càng được trang bị hiện
đại, đáp ứng được nhu cầu dạy và học của các em học sinh. Trong 18 năm ra
trường tôi được phân công giảng dạy môn Giáo dục thể chất đây là môn đặc thù
hầu hết các em học sinh coi đây chỉ là môn phụ nên các giờ học thực hành ngoài
sân bãi các em đều không thích học mà chủ yếu học các môn văn hoá, đặc biệt là
các em học sinh cá biệt và một số học sinh nữ, song với tấm lòng yêu ngành, yêu
nghề nhất là các em học sinh, tôi thiết nghĩ rằng mình phải làm việc thật tốt để
7


xứng đáng không chỉ là một giáo viên giỏi mà còn giáo dục được nhiều học sinh cá
biệt, giáo dục kỹ năng sống cho các em học sinh, trong 18 năm qua tôi luôn trăn trở
tìm ra các biện pháp, làm sao để cho các em nhận thức đúng đắn về môn học,
không chỉ tập trung vào các môn văn hoá mà còn các môn khác đặc biệt là môn
Giáo dục thể chất để các em phát triển toàn diện cả về Đức, trí, thể, mỹ và nghề
nghiệp và vào năm 2010 nhà trường được chuyển đổi từ trường Bán công sang
trường công lập và cũng là năm mà tôi bắt đầu vào tìm hiểu học sinh cá biệt ở các
lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy, qua các buổi giảng dạy thực hành, thông qua giáo
viên chủ nhiệm lớp và cán sự lớp tôi đã thống kê được những học sinh cá biệt ở
các lớp như sau:
Năm học: 2015 - 2016
TT
1

Họ và tên HS

Lớp

Nguyễn Minh Công 10E

Thực trạng
Bỏ

học

Học
lực

kiểm
Trung

Bố bán

bình

thuốc tay,

với bạn bè, lười tập

2

Trần Chí Kiên

10E

Nguyễn Thị Giang

10D

5,3

gia đình

mẹ làm

thường

trong bệnh

xuyên đua đòi với

viện Đa

bạn bề...
Thường xuyên bỏ Điểm

Trung

khoa huyện
Bố làm nghề

học, hay gây gổ TB

bình

tự do, mẹ

với các bạn trong 5,1

làm nông

và ngoài lớp, trang

nghiệp

phục,
3

Hoàn cảnh

thường Điểm

xuyên, hay gây gổ TB
luyện,

Hạnh

nói

năng

không phù hợp ...
Hay gây gổ với Điểm

Trung

Bố làm

bạn bè, nói năng TB

bình

Thủy Lợi,

thô

tục,

xuyên

thường 5,7
bỏ học,

mẹlàm công
ty may

kiến tập...

Trong 3 em học sinh mà tôi đã thống kê trên, mỗi em có một hoàn cảnh và
thực trạng khác nhau đối với em Nguyễn Minh Công và em Nguyễn Thị Giang thì
8


gia đình đều khá giả, bố là công nhân viên chức nhà nước có điều kiện cả về kinh
tế lẫn tình cảm dành cho các em, nhưng các em lại vẫn là học sinh cá biệt.
Sở dĩ tôi thống kê như trên là để so sánh và làm nổi bật học sinh cá biệt em
Trần Chí Kiên bởi hoàn cảnh gia đình và bản thân em hết sức cá biệt, gia đình em
Kiên có 5 anh chị em và Kiên là đứa con trai duy nhất của gia đình, các chị Kiên
đều không có công ăn việc làm, chỉ tập trung vào vài sào ruộng.
Đặc điểm của em học sinh cá biệt Trần Chí Kiên là gia đình em rất khó khăn
so với các bạn trong lớp cả về kinh tế lẫn tình cảm, bản thân em là người con thứ út
trong gia đình.
Kiên là 1 đứa trẻ luôn được nuông chiều từ nhỏ, bà nội và bố mẹ của em chỉ
có một đứa cháu trai cho nên bao tình cảm yêu thương đều dành cả cho Kiên và
luôn mong Kiên sớm trở thành 1 người cháu, người con hiếu thảo của gia đình
cũng chính từ điều này mà ở Kiên đã xuất hiện tính ỷ lại, lười nhác. Điều quan
trọng nữa là bố của Kiên đã không có trách nhiệm với gia đình mà còn lao vào con
đường rượu chè, bài bạc bỏ bê vợ con, làm cho Kiên không còn niềm tin vào người
cha của mình và đã lao vào quan hệ với những bạn bè xấu.
Trong học tập thì lực học của em ngày càng sa sút nghiêm trọng. Trong
những năm học cấp 2, Kiên luôn đạt được học lực khá, không có những hành vi
xấu nhưng khi bước vào cấp 3 thì học lực ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đạo
đức thì xếp loại chỉ ở mức trung bình ngoài ra còn có những biểu hiện trốn học, bỏ
giờ, gây gổ đánh nhau... Có một lần cuối học kỳ I năm học lớp 11 Kiên đã bỏ gia
đình đi cùng một số bạn bè xấu ra Hà Nội nhưng do ra không chịu được công việc
em lại về và được các thầy cô, bạn bè trong lớp khuyên và động viên đi học tiếp,
có những buổi đến giờ chỉ ngồi nghịch, quậy phá bạn bè trong giờ học, không chịu
khó luyện tập, đặt biệt là các động tác khó, mới và môn chạy bền khi các bạn nhắc
thì nổi khùng, văng tục và còn hăm dọa bạn bè. Do được chiều chuộng nên Kiên
vẫn không nghe lời cô giáo chủ nhiệm. Giấy mời phụ huynh đến trường thì không
bao giờ mang về nhà, sổ liên lạc giữa nhà trường với gia đình thì luôn mượn người
viết hộ, thông tin trên edu thì cho cô giáo số khác. Vì vậy mà gia đình không nắm
bắt được thực trạng của em ở trường và ngoài xã hội như thế nào? Nhất là bố của
9


Kiên, sống trong một gia đình không có tình cảm nên không còn thời gian để theo
dõi việc làm hàng ngày của Kiên.
Trong lớp bạn bè không hiểu được hoàn cảnh của Kiên nên cố tình xa lánh
và còn có thái độ coi thường em, điều này càng làm em nhận thức rõ hơn bản thân
mình là người thừa. Trong khi ở lứa tuổi này tâm hồn các em rất dễ bị thổn thương,
tính tự ái của tuổi mới lớn nhất là đối với học sinh như Kiên dễ dẫn em đi đến
những điều nguy hiểm.
Đối với giáo viên chủ nhiệm thì chưa làm hết trách nhiệm đối với học sinh
của mình, tức là luôn cho qua hoặc quát nạt những biểu hiện xấu của các em.
Ở lứa tuổi này các em rất cần sự an ủi, vỗ về, uốn nắn mềm dẻo chứ không
ưa dùng những biện pháp khắc khe.
Tóm lại đối với hiện tượng học sinh cá biệt mà cụ thể là em Trần Chí Kiên
đáng trách rất nhiều nhưng chưa thể đi đến mức quá nghiêm trọng nếu như luôn
được các thầy cô và bạn bè quan tâm nhiều hơn.
2.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng học sinh cá biệt ở các giờ học thực hành
Xét về mặt chủ quan và khách quan thì có những nguyên nhân chính sau
đây:
a. Về phía gia đình.
Một đứa trẻ muốn có nhân cách tốt thì phải có sự giáo dục chặt chẽ của gia
đình.
Từ nhỏ Kiên là một đứa trẻ biết vưng lời bố mẹ, nhưng đến năm học cấp 3,
khi em bắt đầu hiểu về cuộc sống xã hội, thì cũng là lúc mà gia đình em rơi vào
hoàn cảnh éo le. Bố nghiện rượu chè, bài bạc, còn mẹ thì đứng giữa biến động của
gia đình. Sống trong hoàn cảnh gia đình bị đảo lộn, em đã nhận thức được rằng gia
đình không còn là chỗ dựa cho em nữa, và từ đó em bắt đầu lao vào cuộc giao lưu
với những bạn bè xấu ngoài xã hội, xuất hiện những hành vi không lành mạnh. Có
những buổi em trốn học đi tụ tập cùng một số bạn bè khác ngồi ngoài quán cho đến
tối mới về, có hôm em lên trường thấy mặt sưng hỏi em trả lời là do đánh nhau với
1 số thanh niên nam ở cùng xã, khi bạn bè nhìn thấy và muốn khuyên bảo thì em
cố tình lẩn tránh và coi như không có chuyện gì xảy ra. Mẹ của Kiên cũng nhiều
10


lần nhận thấy được ở con mình những biểu hiện không tốt, nhưng chính bà cũng
đang hoang mang trước hoàn cảnh của gia đình chính điều đó đã làm em trở thành
một đứa trẻ tự do hơn trong cuộc sống của mình mà đến cách sống hư hỏng này.
b. Hoàn cảnh xã hội.
Trong điều kiện xã hội phát triển cộng với sự giao lưu văn hoá rộng rãi đã
đem lại cả hai mặt tốt và xấu cho con người. Những tệ nạn xã hội đã lan tràn và len
lỏi vào học đường đặc biệt môi trường ở đây là trung gian của các tệ nạn xã hội.
Hoàn cảnh xã hội đó đã tác động một phần không nhỏ tới sự hình thành tới tính cá
biệt của các em.
c. Bản thân tự giáo dục kém.
Trong quá trình giáo dục, sự tự giáo dục ở mỗi học sinh đóng vai trò rất
quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của người học sinh tự giáo
dục khác hẳn với sự ảnh hưởng của môi trường cộng đồng xã hội.
Nếu như giáo dục không tích cực thì hiệu quả giáo dục cũng không đạt kết
quả khả quan.
Sự tự giáo dục được hiểu là một quá trình tích cực, chuyên cần, tự ý thức
được mình trong mọi lĩnh vực giáo dục, cũng như nhận thức của mỗi học sinh.
Người ta thường cho rằng những thói hư tật xấu của các em cá biệt là bắt nguồn
ông, bà. Công và Giang thì không phải như vậy bởi bố mẹ của các em đều là
những gia đình luôn quan tâm tới vấn đề giáo dục cho con cái, nhưng Công và
Giang vẫn là những học sinh cá biệt trong nhà trường. Riêng em Kiên nhà chỉ có
hai bố con là nam nên mẹ lại rất chiều Kiên, chứ không phải là do sống thờ ơ và
thiếu trách nhiệm với Kiên. Gia đình bao giờ cũng có tác động tới cuộc sống tư
tưởng của các em nhưng chính bản thân các em có ý thức được những việc làm của
bản thân mình không cũng là một điều rất quan trọng, nếu như tự bản thân các em
không ý thức được những hành động việc làm của mình thì dẫn đến hư hỏng là
điều tất nhiên.
3. Các biện pháp tác động, giáo dục
3.1. Các biện pháp tác động.

11


Để tác động tốt tới học sinh cá biệt, thì người giáo viên bộ môn phải sử dụng
nhiều phương pháp kết hợp với nhau, cụ thể là:
- Điều chỉnh hành vi cụ thể: uốn nắn từng bước một, không điều chỉnh một
cách chung chung mà lấy cụ thể mỗi hành vi rồi tìm cách phân tích làm cho em đó
hiểu hành vi mình vừa làm là không tốt.
- Nêu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp: thuyết phục một cách nhẹ nhàng,
không được dùng những hành vi quát mắng, phạt nặng.
- Có khen thưởng nhẹ nhàng: để các em cá biệt hiểu được mình đang được
sự quan tâm của gia đình, thầy cô và bạn bè
- Tiến hành thường xuyên: đây là một biện pháp sẽ tác động đến học sinh cá
biệt. Vì nếu giáo viên bộ môn không thường xuyên quan tâm theo dõi thì các em cá
biệt sẽ càng sa chân hơn. Cho nên phải liên tục kiểm tra sát sao từng hành vi của
các em để đưa ra biện pháp kịp thời.
3.2. Các biện pháp giáo dục.
- Để giáo dục học sinh cá biệt đạt kết quả cao, qua việc tìm hiểu và nghiên
cứu một số em học sinh cá biệt của các lớp tôi dạy thì tôi có một số phương pháp
giáo dục thông qua các giờ thực hành ngoài sân bãi như sau:
+ Phương pháp tác động cá biệt: đây là phương pháp mà giáo viên phải có
sự tìm hiểu kỹ học sinh rồi sau đó theo dõi trong quá trình luyện tập, nếu học sinh
có biểu hiện khác thì giáo viên đến động viên hoặc trong lúc giải lao có thể đến nói
chuyện, hỏi về gia đình em như tâm sự xem học sinh đó đang có vấn đề gì, hỏi
thăm về gia đình, bè bạn, hay trong chuyện tình cảm giữa em và gia đình, hoặc
chuyện tình cảm bạn bè...để cho em đó biết được mình đang quan tâm tới em để
em có suy nghĩ khác về mình, từ đó có các biện pháp động viên, khuyên bảo em...
+ Phương pháp khen thưởng: Trong các giờ thực hành giáo viên phải
thường xuyên tổ chức các trò chơi nhằm giải toả sự căng thẳng trong quá trình tập
luyện, trong lúc tổ chức cần cho các em đó làm tổ trưởng, hay đội trưởng trong lúc
chơi để em đó có trách nhiệm với toàn đội, từ đó tham gia cùng đồng đội nếu thắng
thì giáo viên có thể khen thưởng động viên kịp thời như khen vào trong sổ đầu bài
để em đó biết được mình cũng được khen, hoặc thực hiện các động tác khó mặc dù
12


em đó làm chưa tốt nhưng giáo viên động viên cho thêm điểm vì hôm nay em tích
cực luyện tập...
+ Phương pháp tránh phạt: Đây có thể là phương pháp nhạy cảm nếu giáo
viên không để ý tới em đó mà cứ nghịch hay làm 1 việc gì đó sai trái là phạt hoặc
ghi vào sổ đầu bài thì sự giáo dục học sinh lại càng khó khăn hơn, đây chỉ là biện
pháp cuối cùng bởi vì phương pháp phạt các em trong hoàn cảnh nào trong lúc nào
để cho có hiệu quả thì đấy quả là một quá trình sư phạm của các thầy cô giáo, nếu
lúc nào cũng thấy tức dận rồi lại phạt tôi nghĩ chắc chắn sẽ không mang lại hiệu
quả cao trong giáo dục các em nhất là với các em cá biệt hoặc các em học sinh nữ.
+ Phương pháp tác động song song ( Giáo dục tập thể) phương pháp này
cũng rất phù hợp trong các giờ dạy thực hành vì các giờ thực hành rất cần những
phương pháp tác động song song thông qua các trò chơi tập thể để giáo viên giáo
dục học sinh cá biệt hay còn gọi là học sinh (hư)
Giải pháp:
+ Điều chỉnh hành vi cụ thể
+ Nêu yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp
+ Thuyết phục và hạn chế giải pháp trừng phạt
+ Động viên, khen thưởng kịp thời
+ Tiến hành thường xuyên
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Sau ba năm tìm hiểu và nghiên cứu đề tà này tôi cũng được sự ủng hộ giúp
đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, sự phối hợp với các thầy cô giáo chủ nhiệm lớp,
các thầy cô giáo bộ môn, các cán bộ lớp. Kết quả qua ba năm tìm hiểu giáo dục các
em như sau:
Kết quả học tập của các em trong năm học: 2017 - 2018
TT

Họ và tên học sinh

Lớp

Điểm TB Số ngày
cả năm

Học lực

Hạnh kiểm

TB
Khá

Khá
Tốt

nghỉ học
trong năm

1
2

Nguyễn Minh Công
Trần Chí Kiên

12E
12E

6,3
6,7

13
9

13


3

Nguyễn Thị Giang
12D
6,5
11
Khá
Tốt
- Như vậy hiện tượng học sinh cá biệt ở trong các giờ học thực hành chưa

hẳn là do di truyền hay sự không thích học của các em đối với môn học, mà do chủ
yếu là do sự giáo dục của gia đình và môi trường xã hội.
Vấn đề giáo dục học sinh là một vấn đề cấp thiết với nhà trường và trong
nền giáo dục nói chung, nhất là ở các trường THPT. Bởi vì các em ở lứa tuổi này
đang là những mầm non của đất nước vì vậy gia đình, thầy cô luôn luôn gửi gắm
vào các em niềm tin và huy vọng cho ngày mai.
Hiện tượng như Công, Giang và Kiên mà tôi đi sau vào em Kiên mặc dù
hành vi chưa đến mức nghiêm trọng nhưng cần phải thường xuyên quan tâm giúp
đỡ kịp thời để các em tiến bộ.
Sự tiến bộ của các em học sinh cá biệt là tiêu chuẩn đánh giá trình độ giáo
dục của nhà giáo dục. Là sự đánh giá “ Giáo dục chỉ có thể đóng vai trò chủ đạo
khi biết kết hợp chặt chẽ các ảnh hưởng của sự tác động giáo dục”
Để có sự tiến bộ của các em học sinh cá biệt trên tôi nghĩ các em rất cần sự
quan tâm của nhà trường, các thầy cô giáo, bạn bè trong và ngoài lớp, quan tâm
giúp đỡ các em thường xuyên hơn. Kết hợp với gia đình, bạn bè trong và ngoài
lớp, mà đặc biệt là gia đình có biện pháp “sư phạm” để giáo dục các em tốt hơn.
2. Kiến nghị:
Để giáo dục học sinh cá biệt đạt kết quả cao, qua việc tìm hiểu và nghiên
cứu 3 em học sinh cá biệt trên của các lớp tôi dạy, thì tôi có một số kiến nghị sau:
- Để giáo dục tốt học sinh cá biệt ở trong các giờ học thực hành ngoài sân
bãi, trước hết người giáo viên bộ môn phải là người có tấm lòng rộng mở, yêu trò,
yêu nghề, gương mẫu để học sinh học tập và noi theo. Biết sử dụng những phương
pháp cũng như biện pháp một cách hợp lý đúng lúc, đúng đối tượng để có một
cách tác động kịp thời.
- Cần phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ môn,
giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng xã hội và luôn luôn có một đường dây liên
lạc tốt. Bởi vì vấn đề giáo dục học sinh cá biệt là một vấn đề bức xúc trong nền
giáo dục cho nên cần phải được coi trọng và quan tâm.
14


- Cần phải giáo dục học sinh cá biệt một cách từ từ, từng bước một bằng
cách thuyết phục là chính, hạn chế cách sử phạt hành chính, trừng phạt là cách giáo
dục cuối cùng.
Tôi mong rằng qua tìm hiểu đề tài này sẽ có một phần giúp đỡ những nhà
làm công tác giáo dục trong việc giáo dục học sinh cá biệt trong nhà trường thông
qua các giờ học thực hành ngoài trời, các buổi sinh hoạt tập thể đạt hiệu quả cao
hơn.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót rất mong dược
sự góp ý từ các thầy, các cô các đồng nghiệp để cho SKKN của tôi được hoàn thiện
hơn.
Xin chân thành cảm ơn/
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Nga sơn, ngày 27 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan trên đây là SKKN
của mình,không sao chép nội dung
người khác
Người viết

Trịnh Ngọc Phong

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kết quả đánh giá xếp loại học lực, hạnh kiểm năm học 2015 – 2016 và năm học
2017 – 2018 của lớp 10E; 10D và 12E và 12D của Trường THPT Trần Phú.
2. Tài liệu nghiên cứu tâm lý lứa tuổi học sinh THPT
(http://123doc.org/document/195528-tim-hieu-dac-diem-tam-ly-lua-tuoi-hocsinhtrung-hoc-pho-thong.htm)
3. Một số vấn đề về đạo đức, giảng dạy và giáo dục, đạo đức ở trường THPT. PTS.
Phạm Khắc Chương – Bộ Giáo dục và Đào tạo, vụ giáo viên 1995
4. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng – TS Nguyễn Ngọc ÂN, NXB Đại học
quốc gia Hà Nội 2011.
5. Tâm lý phát triển của học sinh và những bài học kinh nghiệm từ thực tế - Th.s
Nguyễn Thị Thơ, NXB Lao động 2012.
15


6. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm – Lê Văn Hồng, NXB Đại học quốc
gia Hà Nội 2009.
7. Thông tư 58/TT-BGDĐT, ngày 12/12/2011 về việc ban hành quy chế đánh giá,
xếp loại học sinh THCS và THPT
DANH MỤC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI C CẤP NGÀNH
STT
1

Tên đề tài
Kết hợp các phương pháp trong dạy học môn

Xếp loại
B

Năm
2006

2

TD ở trường THPT
Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nâng

B

2010

B

2015

B

2017

cao chất lượng bộ môn GDQP – AN trong
3

trường THPT
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của BCH Công đoàn Trường THPT Trần

4

Phú
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của công đoàn cơ sở mới thành lập

16


Lời giới thiệu
Tuổi học đường là lứa tuổi đẹp nhất, đối với mỗi học sinh ở lứa tuổi này tâm
hồn các em còn trong sáng, chưa phải chịu những va đập của cuộc sống. Nhưng
cũng chính vì thế mà tâm hồn các em rất dễ nhạy cảm với cuộc sống xung quanh.

17


Dưới những mái trường THPT, bên cạnh sự dạy dỗ của thầy cô, bè bạn, mỗi
em đang từng bước hoàn thiện về nhân cách, phẩm chất đạo đức cũng như cố gắng
về trí thức để khẳng định mình là một chủ nhân tương lai của đất nước.
Một người tốt trong gia đình cũng là một người tốt ngoài xã hội. Vì vậy lứa
tuổi này các em thường được gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm nhiều hơn,
Bởi xã hội ngày càng phát triển thì những tệ nạn cũng xảy ra không ít. Nó len lỏi
vào trong cuộc sống của mỗi con người mà nhất là trong những nhà trường THPT.
Vậy phải làm gì để giáo dục các em học sinh cá biệt ở lứa tuổi này trở thành
những học sinh ngoan, có ý thức sống lành mạnh có trách nhiệm với bản thân và
có ích cho xã hội, là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cấp quản lý giáo dục mà cụ
thể là những thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các nhà trường THPT.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×