Tải bản đầy đủ

skkn vận DỤNG mô HÌNH lớp học đảo NGƯỢC GIẢNG dạy bài vật LIỆU POLIME NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực tự học và GIẢI QUYẾT vấn đề THỰC TIỄN CHO học SINH

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học ngành giáo dục đang ráo riết thực
hiện nội dung đổi mới giáo dục, với phương pháp chuyển từ tiếp cận nội dung (học
sinh học được gì) sang tiếp cận năng lực của người học (học sinh làm được gì
thông qua việc học), lấy học sinh là trung tâm và người thầy, cô giáo giữ vị trí quan
trọng trong triển khai phương pháp đổi mới đó. Điều này đã được Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã xác định cụ thể trong định hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo đến
năm 2020: “Cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục, tiếp tục
đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối
truyền thụ một chiều; Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian
giảng dạy lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh”
Để đạt được mục tiêu dạy học, thì việc đổi mới phương pháp dạy học của các
môn nói chung và môn hóa học nói riêng theo mô hình lớp học đảo ngược giúp học
sinh đạt được các phẩm chất năng lực cần thiết cho người học. Điều này đã được
khẳng định trong dự thảo chương trình giáo dục tổng thể mới nhất hiện nay.
Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học hiện nay ở các nhà trường, bộ môn hóa học
còn nhiều hạn chế: Giáo viên ngại đổi mới về phương pháp, vận dụng theo phương
pháp dạy học truyền thống, lấy người thầy làm trung tâm, cung cấp kiến thức, kỹ
năng đến học sinh theo cách áp đặt, một chiều, dẫn đến không hình thành được các
năng lực cần thiết cho người học

Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng mô hình lớp học
đảo ngược giảng dạy bài vật liệu polime nhằm phát triển năng lực tự học và giải
quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh "(Hóa học 12 chương trình cơ bản)
1.2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học bài vật liệu polime ( hóa
học 12cb) nhằm phát triển năng lực hợp tác, tích cực, chủ động, sáng tạo cho học
sinh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
1


1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Lý thuyết về mô hình lớp học đảo ngược
- Quá trình vận dụng phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường THPT
- Cơ sở lý thuyết của bài vật liệu polime
-Trong phạm vi của đề tài này, Tôi chỉ nghiên cứu vận dụng mô hình lớp học đảo
ngược vào soạn giảng tiến trình lên lớp cho một tiết dạy của bài vật liệu polime.
Cụ thể: tiết phân phối 21, bài 14: Vật liệu polime
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp sau:
1.4. 1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
•Thu thập, đọc và phân tích, tổng hợp các tài liệu về lí luận dạy học và các tài
liệu khoa học có liên quan đến đề tài.
•Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống
hóa, khái quát hóa,... trong nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới việc đổi mới
PPDH, PPDH và kĩ thuật dạy học hiện đại, mô hình lớp học đảo ngược.
•Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung bài vật liệu polime để vận dụng dạy
học theo mô hình lớp học đảo ngược phù hợp và hiệu quả.
1.4.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Quan sát hoạt động học tập của HS, trao đổi với GV, dự giờ…
+ Điều tra cơ bản thực trạng vận dụng các PPDH tích cực, PPDH theo mô
hình lớp học đảo ngược trong dạy học hóa học ở trường THPT trên địa bàn.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả việc sử dụng mô
hình lớp học đảo ngươc ở trường THPT trên địa bàn.
1.4.3. Phương pháp xử lí thông tin
Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lí phân
tích các kết quả thực nghiệm sư phạm.

2



1.4.4. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lớp học đảo ngược cùng với sử dụng hợp lí một số phương pháp và
kỹ thuật dạy học cũng như kỹ thuật đánh giá vào soạn bài vật liệu polime thì sẽ
phát triển được năng lực hợp tác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm
góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học hóa
học ở trường THPT.
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
. Sơ lược về lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược.
* Lớp học truyền thống:
Ở lớp học truyền thống, học sinh đến trường ngồi nghe giảng bài thụ động và
hình thức này được giới chuyên môn gọi là Low thinking (suy nghĩ thấp). Sau đó
các em về nhà làm bài tập và quá trình làm bài tập sẽ khó khăn nếu học sinh không
hiểu bài. Lúc này cha mẹ các em sẽ phải đóng vai người thầy bất đắc dĩ để giúp con
mình làm bài và hầu hết đều không thành công trong vai trò này, hoặc rất vất vả vì
phụ huynh không có chuyên môn.
* Lớp học đảo ngược:
Theo mô hình lớp học đảo ngược, học sinh xem các bài giảng ở nhà qua
mạng, hoặc băng đĩa... Giờ học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng
cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu.
Học sinh sẽ chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết hơn, các em có
thể tiếp cận bài học bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại
nếu cần (điều này là không thể nếu nghe giáo viên giảng dạy trên lớp). Công nghệ
E-Learning giúp học sinh hiểu kỹ hơn về lý thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các
buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp. Điều này giúp việc học tập
hiệu quả hơn, giúp người học tự tin hơn.
Lớp học đảo ngược khiến việc giảng dạy phải lấy người học làm trung tâm.
Thời gian ở lớp được dành để khám phá các chủ đề sâu hơn và tạo ra những cơ hội
3


học tập thú vị. Những video giáo dục trực tuyến được thiết kế để truyền tải nội
dung tập trung vào lý thuyết. Ngoài ra, nội dung của lớp học đảo ngược có thể xây
dựng ở nhiều hình thức khác nhau (thậm chí có thể sử dụng nội dung của đơn vị
cung cấp phía ngoài).
Lớp học đảo ngược cho phép giáo viên dành thời gian nhiều hơn với từng cá
nhân học sinh chưa hiểu kỹ bài giảng . Và tại lớp học, học sinh có thể chủ động làm
chủ các cuộc thảo luận.
Phương pháp lớp học đảo ngược này có tính khả thi cao đối với học sinh có khả
năng tự học, có kỷ luật và ý chí.
Với lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người
thầy (thông qua những giáo trình đã được giáo viên chuẩn bị trước cùng thông tin
do học sinh tự tìm kiếm), nhiệm vụ của học sinh là tự học kiến thức mới này và làm
bài tập mức thấp ở nhà. Sau đó vào lớp các em được giáo viên tổ chức các hoạt
động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập ở mức độ cao cũng được thực
hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của giáo viên và các bạn cùng nhóm.
Cách học này đòi hỏi học sinh phải dùng nhiều đến hoạt động trí não nên được
gọi là "Suy nghĩ cao". Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được
thực hiện bởi cả thầy và trò.
Phương pháp này không cho phép học sinh ngồi nghe thụ động nên giảm được
sự nhàm chán. Mặc dù vậy, muốn quá trình đảo ngược thành công thì những giáo
trình E-Learning phải rất bài bản và hấp dẫn để lôi cuốn được học sinh không xao
nhãng mà tập trung vào việc học. Vì lý do đó, phương pháp này phải gắn chặt với
phương pháp E-Learning. Giáo viên phải quản lý và đánh giá được việc tiếp thu
kiến thức thông qua các bài tập nhỏ đi kèm với giáo trình.
+ Ưu điểm
- Thứ nhất: Ưu điểm vượt trội nhất là học sinh có thời gian và môi trường để
tìm hiểu những kiến thức mà các em quan tâm, đồng thời khối lượng kiến thức các
em thu được nhiều hơn so với mô hình truyền thống.
4


- Thứ hai là: Học sinh chủ động tiếp thu bài theo thời gian thích hợp của từng
em và tăng tính tự lập, tự giác của học sinh lên. Bài giảng được tải lên gmail chung
của lớp, hoặc gmail của học sinh trước một tuần, em nào rảnh giờ nào thì học thời
gian đó.
- Thứ ba là: Học sinh trao đổi và hỏi nhiều hơn. Với mô hình lớp truyền
thống, học sinh thường lo cặm cụi chép bài vì sợ trong bài kiểm tra sẽ có thông tin
đó; còn với “lớp học đảo ngược”, do các em đã bỏ công sức ra tìm hiểu bài trước
nên có nhiều kiến thức khiến các em tò mò, thắc mắc, đào sâu hơn.
- Thứ tư: Tăng cường kỹ năng làm việc nhóm. Khi cô phân bài cho từng tổ,
các học sinh của tổ đó sẽ phải làm việc với nhau và tự học rất nhiều.
- Thứ năm là: Giáo viên có thể hỗ trợ học sinh , hoặc theo nhóm khi trao đổi
với các em qua mạng.
- Thứ sáu là: Học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi và với mọi thiết bị chỉ cần
thiết bị đó có thể online được như smartphone, máy tính bảng, máy tính bàn kết nối
Internet…
+Nhược điểm:
-Thứ nhất: Giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị bài giảng điện
tử để đưa lên mạng, cũng như trình độ sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên.
Tuy nhiên, về lâu dài, giáo viên có thể tiết kiệm thời gian khi sử dụng bài giảng
nhiều lần, nhưng cũng phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, cập nhật các thông
tin mới.
- Thứ hai: Sự bình đẳng về công nghệ giữa người học với nhau, có thể là rào
cản đối với việc học tập của học sinh thiếu cơ hội tiếp cận với công nghệ.
- Thứ ba: Nhiều học sinh không có tính tự giác cao, chưa có thói quen học
tập theo mô hình này, nên sẽ gặp khó khăn và thậm chí lơ là không chịu chuẩn bị
bài trước khi đến lớp.
- Thứ tư: Việc chuyển đổi vai trò từ truyền thụ sang hướng dẫn có lẽ rào cản
lớn nhất đối với bản thân của mỗi người Thầy.
5


- Thứ năm: Mô hình “Lớp học đảo ngược” không phải có thể vận dụng cho
tất cả nội dung dạy học, vì vậy giáo viên cần phải có sự chọn lọc khi sử dụng mô
hình này.
*Quy trình thực hiện
Giáo viên cần soạn bài giảng lý thuyết và bài giảng đánh giá nhanh ở mức độ
nhớ, hiểu bằng hình thức trắc nghiệm.
Điều quan trọng khi soạn bộ công cụ đánh giá là phải đảm bảo học sinh học chắc
kiến thức cơ bản thì mới trả lời được.
Giáo viên nên soạn nhiều bộ câu hỏi đính kèm và yêu cầu học sinh phải hoàn
thành. Trong mổi đề cần thiết lập chế độ học sinh phải hoàn thành đúng tối thiểu
80% lượng câu thì mới được chuyển sang bộ đề thứ hai, nếu chưa hoàn thành thì
quay lại học phần lý thuyết.
Thiết lập chế độ đăng nhập và sau khi hoàn thành bài thì tự động chuyển về
mail của giáo viên.
+. Gửi bài giảng cho học sinh:
Bài giảng cần gửi cho học sinh trước 1 tuần để nghiên cứu.
Đưa bài giảng lên hệ thống quản lý học tập gmail chug của lớp.
* Tổ chức trao đổi, thảo luận, theo dõi quá trình học tập của học sinh theo các
kênh nêu trên và đánh giá ban đầu về kết quả sự tương tác của học sinh
*Tổ chức học tại lớp.
Bước 1: Nhận xét, đánh giá việc tự học ở nhà thông qua các kênh tương tác.
Giáo viên kiểm tra lại những kiến thức học sinh học ở nhà bằng việc lấy ngẫu nhiên
các câu hỏi ở các bộ đề khác nhau đã tạo cho học sinh học ở nhà và yêu cầu một số
học sinh trả lời nhanh tại lớp.
Bước 2: Tổ chức thảo luận, trao đổi
Yêu cầu học sinh nêu những thắc mắc, đặt một số câu hỏi trong bài giảng mà mình
chưa hiểu.
6


Bước 3: Giáo viên hoặc học sinh đặt ra các vấn đề nổi cộm của bài học để thảo
luận và các bài tập mức độ vận dụng và vận dụng cao để thảo luận, các vấn đề thực
tiễn liên quan đến bài học. Trong quá trình thảo luận giáo viên có thể giải đáp và
làm rõ một số vấn đề mà học sinh chưa hiểu bài ở bước 3.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thực trạng vận dụng phương pháp mới dạy học tích cực ở trường
THPT trên địa bàn.
Qua quá trình thăm lớp, dự giờ, thao giảng, hội giảng và trao đổi đúc rút kinh
nghiệm, tôi nhận thấy: Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học việc giáo viên
vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bộ môn hóa học còn
nhiều hạn chế. Giáo viên thường vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống
(thuyết trình) là chủ đạo. Xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Đa số giáo viên ngại tìm hiểu các phương pháp dạy học mới.
Thứ hai: Là về mặt nhận thức. một số thầy cô giáo, nhất là đối tượng lớn
tuổi vẫn còn thể hiện rõ sự bảo thủ, trì trệ
Thứ ba: Thầy cô giáo thiếu kiên trì với cái mới. Dạy học theo phương pháp
truyền thống có phần nhẹ nhàng, đơn giản, chủ yếu giảng bài và đọc- chép. Còn
thực hiện theo phương pháp dạy học mới, như bài học minh họa, theo chủ đề, tích
hợp, liên môn…được triển khai đại trà mấy năm nay, thì bắt buộc, yêu cầu người
giáo viên phải tốn nhiều thời gian, phải vất vả, tìm tòi, sáng tạo rất nhiều trong
khâu thiết kế, soạn bài, chuẩn bị, sử dụng nhiều phương án, tình huống sự phạm,
chuyên môn để dẫn dắt, gợi mở học sinh tìm hiểu, suy nghĩ, tư duy...
Từ đó làm cho bài giảng kém sinh động, không kích thích được tinh thần,
thái độ học tập của học sinh, làm cho học sinh không hứng thú bộ môn hóa học.
2.2.2. Đặc điểm học sinh của trường.
- Thường rụt rè, thiếu tự tin, kỹ năng nói và hợp tác nhóm trong học tập hạn chế.
- Đa số học sinh nhà ở xa trung tâm huyện,Không có nhà sách trường nên các tài
liệu, sách vở tham khảo còn hạn chế, các em thường phải đặt mua ở xa
7


- Khả năng tự học của các em còn hạn chế.
2.2.3. Cơ sở vật chất.
Do đặc thù là trường được chuyển từ trường bán côngsang công lập nên cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa thực sự được đầu tư, đây là một trở ngại lớn
cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều bài dạy, giáo viên muốn có thêm
một số phương tiện, vật dụng, đồ dùng khác thì chưa đáp ứng được, trong điều kiện
áp lực công việc tại trường học ngày càng nhiều, đồng lương, chế độ còn ít ỏi, kinh
phí hỗ trợ của nhà trường rất hạn chế.
2.2.4. Cấu trúc bài học.
Nội dung trong bài vật liệu polime chủ yếu viết theo hướng cung cấp kiến
thức, hạn chế hình ảnh, câu hỏi, tình huống thực tiễn đòi hỏi học sinh phải vận
dung tư duy, hợp tác để làm việc
Từ những thực trạng nêu trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : “Vận dụng lớp học
đảo ngược giảng dạy bài vật liệu polime nhằm phát triển năng lực tự học và giải
quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh”.
2.3. Vận dụng phương pháp lớp học đảo ngược giảng dạy bài : Vật liệu
polime
Tiết phân phối 21: Bài 14: VẬT LIỆU POLIME
I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Nêu được khái niệm chất dẻo, vật liệu compozit, tơ, cao su.
- Phân tích và trình bày được thành phần phân tử và phản ứng điều chế polietilen,
poli(vinyl clorua), poli(metylmatacrylat) , nilon-6,6, tơ olon, cao su Buna…
- Trình bày được phân loại về tơ.
- Trình bày được cách phân loại cao su.
- Thực hiện được thí nghiệm thử phản ứng của một số vật liệu polime thường gặp,
- phân biệt các loại polime bằng tính chất vật lí và hóa học
- Trình bày được các ứng dụng phổ biến của chất dẻo, tơ, cao su
8


2. Kỹ năng:
- Viết công thức của monome, polime của chất dẻo, tơ, cao su.
- Viết các phương trình hóa học tổng hợp chất dẻo, tơ, cao su.
- Phân biệt polime thiên nhiên, polime tổng hợp và polime nhân tạo
- Quan sát, phân biệt được các vật dụng thuộc loại vật liệu gì?
- Vận dụng kiến thức liên môn ( vật lí, hóa học) để giải quyết vấn đề thực tiễn.
- Giải các bài tập liên quan.
3. Năng lực cần phát triển:
- Năng lực nhận thức kiến thức hoá học
- Năng lực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn
- Năng lực hợp tác
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
II. PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC.
1. Phương pháp:
Phương pháp chủ đạo: mô hình lớp học đảo ngược .
Kết hợp với các phương pháp khác như: Thuyết trình, đảm thoại, phương pháp
góc…
2. Kỹ thuật dạy học:
- Kỹ thuật khăn trải bàn.
- Kỹ thuật hỏi ý kiến chuyên gia.
III. CHUẨN BỊ.
1. Chuẩn bị của giáo viên:
Giáo án soạn giảng trên các phần mềm: Microsoft Word, Microsoft Power Point.
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Điện thoại hoặc máy tính có kết nối internet
- Có các địa chỉ gmail để tương tác.
- Sắp xếp thời gian thích hợp để tương tác trong quá trình học bài.
9


Sau đây tôi xin trình bày giáo án dạy học ( 1 tiết)
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi chỉ trình bày giáo án tiến trình lên lớp của
mô hình lớp học đảo ngược khi dạy bài vật liệu polime. Các nội dung còn lại tôi
trình bày tại phụ lục
Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Hoạt động 1: Nhận xét, đánh giá việc tự học ở nhà qua bài giảng Elerning đã được đưa lên gmail nhóm
GV: Nhận xét đánh giá sơ bộ về HS: - Nghe nhận xét.
- Trình bày một số vấn đề khó khăn
kết quả tự học của học sinh thông
trong quá trình học tập:
qua phần điểm số, sự tương tác + Thời gian.
+ Kiến thức.
mà hệ thống học tập trực tuyến đã
+ Hình thức bài giảng.
đánh giá.

Thời
gian
5
phút.

GV: Giải đáp các vướng mắc mà
học sinh yêu cầu.
Hoạt động 2: Bài mới
GV: Đặt vấn đề

40
phút

HS: Lắng nghe, quan sát.

- Tầm quan trọng của vật liệu
polime và ứng dụng trong cuộc sống - Liệt kê các vật dụng trong gia
đình làm từ vật liệu polime
- Biết nhận biết các vật liệu dùng
làm đồ dùng trong gia đình được
làm từ chất dẻo, tơ hay cao su
GV: Tổ chức hoạt động nghiên cứu
bài mới.
GV: Chia lớp học thành 3 nhóm với
HS: Nghe giáo viên phân công và
các các vai trò và nội dung cần tìm
thành lập nhóm.
hiểu:
Nhóm 1: Đóng vai trò các nhà sản
xuất
Nhóm 2: Tổ chức bảo vệ môi
trường
Nhóm 3: cơ quan quản lí nhà nước
NỘI DUNG CÁC NHÓM CẦN TÌM HIỂU VÀ THẢO LUẬN
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
10


- Phát triển kinh tế,
phải gắn liền với
- Trên cơ sở tính chất vật
- Khái niệm polime
- Một số chất dẻo thường
dùng , tính chất và ứng
dụng
- Một số tơ thường dùng,
tính chất và ứng dụng
- Một số cao su thường
dùng, tính chất và ứng
dụng

lí, hóa học nêu được ảnh
hưởng

của

vật

liệu

polime ảnh hưởng đến :
- Môi trường nước
- Môi trường đất
- Môi trường không khí.
- Những đối tượng bị
ảnh hưởng bởi vật liệu
polime:
+ Thực vật
+ Động vật

phát triển bền vững,
đảm bảo môi trường
an toàn.
- Có phương án tái
chế vật liệu polime
sau khi sử dụng.
- Tìm các vật liệu có
tính chất tương tự
thay thế nhưng thân
thiện với môi trường
- Cần có sự cam kết
giữa các bên liên
quan trong việc ứng
dụng phát triển với
bảo vệ môi trường

HS: Phân công nhiệm vụ các
thành viên trong nhóm:
thảo luận là 10 phút
- Thư ký ghi chép.
- Sử dụng SGK, sách tham
- Trình bày trên giấy A0.
khảo, bài giảng E-lerning, mạng
- Sắp xếp bàn ghế thành hình chữ internet tìm kiếm thông tin.
U.
- Thảo luận thống nhất thông
tin cần sử dụng.
- Kiểm soát thời gian.
HS: Nhóm 1 và nhóm 2 cử đại
diện lên thuyết trình, các thành
viên khác nghe và ghi chép
thông tin cần thiết và chẩn bị
các câu hỏi vướng mắc, cũng
như câu hỏi phản biện liên quan
GV: - Thời gian chuẩn bị nội dung

11


GV: Tổ chức cho HS trao đổi thảo
luận và phản biện giữa các nhóm
với nhau, ghi chú những nội dung
thảo thuận của học sinh
GV: Nhận xét nội dung báo cáo,
phản biện và nội dung kết luận
của ba nhóm
GV: Cần nhận mạnh thông điệp:
“ Nâng cao ý thức người dân,
thay đổi ý thức người tiêu dùng
trong việc sử dụng vật liệu
polime để bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững”

đến vấn đề cần quan tâm.
HS: Tiến hành thảo luận, phản
biện giữa các nhóm với nhau.
HS: Nghe giáo viên nhận xét.

Hoạt động 3: Tổ chức học sinh thảo luận đề xuất ý kiến và Giải
đáp thắc mắc.

20 phút

GV: Yêu cầu HS thảo luận làm rỏ HS: Chia nhóm để thảo luận và
thêm các nội dung sau:

hoàn thành nội dung yêu cầu.

+ Những chất có tính dẻo như kim
loại có phải là vật liệu polime
không, những ưu điểm vượt trội
của compozit so với polime là gì?
+ Xác định các PE, PVC, PMM ,
nilon-6,6; nilon-6, tơ olon, cao su
Buna, Buna-N, Buna-S… được
tổng hợp bằng phương pháp nào
GV: Xác định bản chất của các
loại tơ như bông, len, đay, tơ tằm,
tơ nhên….và các tơ tổng hợp như
nilon-6,6, tơ nitron.
+ Đề xuất cách phân biệt các vật
liệu polime thiên nhiên với polime
tổng hợp
12


+ Tiến hành thí nghiệm chứng
minh tính chất hóa học của các vật
liệu polime ở trên.
Hoạt động 4: Tổng kết những kiến thức cốt lõi học sinh phải nhớ
và hiểu thông qua việc tự học ở nhà
GV: yêu cầu học sinh nắm vững

17 phút

các kiến thức trọng tâm,
- Các chất dẻo thường gặp, tính
chất và ứng dụng
- Phân loại tơ và các loại thuộc tơ
thiên nhiên, tơ hóa học và bản
chất của tơ.
- Các chất cao su thường gặp
- Cách xác định monome, hệ số
polime hóa, xác định số lượng số
mắt xích.
Chú ý điều kiện thực hiện phản
ứng
HS: chia nhóm để thảo luận tìm
GV: Đặt vấn đề: Viết sơ đồ tư duy phương án thể hiện sơ đồ dễ
về các loại vật liệu polime

hiểu, dễ nhớ nhất
HS: Sử dụng kiến thức đã biết

GV: Yêu cầu HS thảo luận và làm

để tương tác trực tiếp với bài

hai bài tập trắc nghiệm:

tập trắc nghiệm trên máy tính

Bài số 1: Dạng trắc nghiệm nhiều
lựa chọn.
Bài 2: Dạng trắc nghiệm nối hình
ảnh
Hoạt động 5: Mở rộng kiến thức:

5 phút
13


GV: Ngoài những nội dung các HS: Lắng nghe, ghi chép
bạn đã được tiếp cận từ bài giảng Sau buổi học sử dụng kỹ năng
và buổi học hôm nay về nhà các khai thác thông tin từ sách giáo
bạn cần tìm hiểu một số nội dung khoa, từ internet, phân tích,
sau

đánh giá, so sánh để viết bài và

GV: Trình chiếu các nội dung:

nộp bài trực tuyến

- Một số chất dẻo thường gặp
khác
- Một tơ thường gặp khác
- Một số cao su thường gặp khác.
- Cấu tạo của cao su thiên nhiên,
cao su lưu hóa.
- Cấu tạo điều hòa, không điều
hòa
- Tính chất hóa học của polime
- Cơ chế điều chế polime
GV: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu
thông qua sách giáo khoa, mạng
internet.
Yêu cầu học sinh về nhà viết bài
và nộp lại thông qua các kênh
tương tác đã đăng kí ( thời gian
nộp sau 3 ngày)
Hoạt động 6: Cũng cố kiến thức và kết thúc bài học
- Thuyết trình
- Trình chiếu sơ đồ tư duy cho cả
lớp xem ( Có thể gửi lên phần
mềm tương tác để học sinh tải về)

3

HS: Lắng nghe, ghi chép

14


2.4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Thực nghiệm sư phạm là để kiểm tra tính hiệu quả của giả thiết khoa học nêu ra
trong đề tài, từ đó có những biện pháp hiệu chỉnh nhằm mang lại hiệu quả thiết
thực hơn.
. Phương pháp
+ Điều tra số liệu về kết quả học tập của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng.
+ Xử lí và phân tích kết quả và đánh giá các tiêu chí; từ đó nhận xét và rút ra
kết luận về tính hiệu quả của đề tài.
. Đối tượng
Tôi lựa chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm là học sinh lớp 12C1 và 12C2 tại
trường tôi dạy trong năm 2016-2017
+ Lớp 12C2 năm 2016-2017 với 40 em học sinh làm lớp đối chứng (ĐC).
+ Lớp 12C1 năm 2016-2017 với 42 em học sinh làm lớp thực nghiệm (TN).
Về mặt trình độ hai lớp này có trình độ tương đương nhau, đều là lớp học
theo tổ hợp khoa học tự nhiên của trường.
. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
.Về mặt định tính
Tôi dựa trên sự quan sát những biểu hiện tích cực của học sinh quá trình
học tập; các căn cứ cụ thể là:
- Học sinh tích cực, tự giác tham gia thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà
và đặc biệt có hứng thú , tích cực trong giờ học tại lớp
- Học sinh giải quyết được các vấn đề kiến thức trong bài giảng và vận dụng
lý thuyết để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Học sinh nêu đựợc các kiến thức áp dụng giải bài tập.
. Về mặt định lượng
Từ kết quả kiểm tra của học sinh, sử dụng phương pháp thống kê để xử lí và
phân tích kết quả thực nghiệm.
15


Dựa trên kết quả thu được cả về mặt định tính và định lượng sẽ cho phép
đánh giá chất lượng, hiệu quả của việc dạy học; qua đó kiểm tra giả thuyết khoa
học đã nêu.
. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
. Về mặt định tính
Từ sự quan sát, ghi chép trong quá trình thực nghiệm sư phạm chúng tôi
nhận thấy trong hai lớp mà tôi thiết kế tiến trình dạy học, ở lớp đối chứng giáo viên
dạy không thực hiện theo phương án phát triển bài tập; còn lớp thực nghiệm giáo
viên dạy theo phương án phát triển bài tập thì tôi nhận thấy mức độ tích cực ở lớp
thực nghiệm có hiệu quả rõ rệt, không khí học tập trong lớp cởi mở hơn, giáo viên
và học sinh có thể trao đổi và tranh luận thoải mái, học sinh có cơ hội thể hiện bản
thân mình nhiều hơn.
. Về mặt định lượng
Để đánh giá mức độ hiệu quả chúng tôi tiến hành khảo sát kết quả của 2 lớp
(lớp ĐC ; lớp TN ) trước và sau khi thực hiện đề tài bằng các phiếu điều tra và bài
kiểm tra.
Kết quả cụ thể theo bài kiểm tra ở lớp đối chứng và thực nghiệm được thống
kê cụ thể theo bảng sau:
Nhóm

Điểm các bài kiểm tra của học sinh
0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

ĐC

0

0

1

7

4

11

15

1

1

0

0

TN

0

0

0

0

3

9

6

4

10

10

0

-Giá trị trung bình của lớp đối chứng (40 HS):

X =4,975

-Giá trị trung bình của lớp thực nghiệm (42 HS):

Y =6,9

16


. Đánh giá mức độ hiệu quả việc áp dụng sáng kiến kinh ghiệm đối với hoạt
động giáo dục.
Qua việc tổ chức, theo dõi và phân tích diễn biến các giờ học thực nghiệm,
trao đổi với học sinh trong quá trình thực nghiệm, thu thập, phân tích và xử lí số
liệu qua các bài kiểm tra, tôi có những nhận định sau đây:
- Mức độ tích cực, tự lực trong hoạt động học tập của học sinh trong nhóm
thực nghiệm luôn cao hơn nhóm đối chứng; càng ở các tiết học sau, sự tập trung
chú ý và tính tích cực của học sinh trong nhóm thực nghiệm càng tăng.
- Giá trị điểm trung bình của lớp thực nghiệm lớn hơn điểm trung bình ở lớp
đối chứng. Đồng thời phổ điểm của học sinh cũng được nâng lên rõ rệt.
- Đối với lớp thực nghiệm, số học sinh đạt mức điểm khá giỏi luôn nhiều hơn
so với số học sinh đạt mức điểm này ở lớp đối chứng.
- Học sinh ở nhóm thực nghiệm chủ động hơn trong việc học tập, biểu hiện
về nhà các em hoàn thành được các phần lý thuyết mở rộng và đặt ra các vấn đề
mới nảy sinh
3. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
3.1. Kết quả quá trình nghiên cứu
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Vận dụng lớp học đảo ngược giảng dạy bài
vật liệu polime” .Tôi đã thực hiện được các nhiệm vụ đề ra, cụ thể là:
- Đã nghiên cứu hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
- Điều tra thực trạng việc vận dụng phương pháp lớp học đảo ngược giảng dạy
chương: Polime và vật liệu polime của giáo viên và học sinh của các trường THPT
trên địa bàn.
- Xây dựng quy trình thiết kế bài dạy sử dụng phương pháp lớp học đảo ngược
giảng dạy bài vật liệu polime.
- Đã tiến hành thực nghiệm sư phạm ở hai lớp 12C1 và 12C2 của trường và đã đánh
giá hiệu quả của giờ học của lớp thực nghiệm, lớp đối chứng và phân tích kết quả
thu được. Kết quả thu được đã xác nhận việc vận dụng phương pháp trên đã có hiệu
17


quả rất tốt trong việc phát triển các năng lực và hứng thú cho học sinh. và khẳng
định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đưa ra.
3.2. Kết luận
Với việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược để giảng dạy bài vật liệu
polime, sau khi tiến hành dạy thử nghiệm đã được các giáo viên và học sinh đánh
giá cao về tính mới mẻ của mô hình và thay đổi được tư duy về đổi mới và vận
dụng phương pháp dạy học tích cực đối với môn học.
Đối với bản thân đã tích lũy thêm được một phương pháp dạy học tích cực
đáp ứng yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học của nghành, trau dồi được kỹ
năng sử dụng công nghệ thông tin, tạo sự tin tưởng trong học sinh và các đồng
nghiệp.
Đề tài này ghóp thêm động lực cho các đồng nghiệp trong nhà trường tích
cực thay đổi nhận thức về đổi mới phương pháp, tăng cường tiếp cận, tìm hiểu và
vận dụng những hình thức dạy học tiến bộ nhất để nâng cao chất lượng dạy học.
Đối với học sinh thì tạo ra sự hứng thú, đam mê môn học, ghóp phần hình
thành được các phẩm chất, năng lực cho người học
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được
các đồng nghiệp và của các em học sinh đóng góp ý kiến quý báu để cho đề tài có
chất lượng hơn và góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong giai đoạn hiện nay.
3.3 . Kiến nghị
Sau khi thực hiện đề tài, qua tham khảo ý kiến của giáo viên và học sinh, tôi có một
số kiến nghị như sau:
- Đối với nhà trường:
+ Tạo điều kiện xây dựng trường học có cơ sở vật chất tốt, đảm bảo các yêu cầu
cơ bản cho việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, hiệu quả vào dạy
học, trong đó có phương pháp lớp học đảo ngược.
+ Tổ chức các đợt hội thi hội giảng trong nhà trường, trong đó yêu cầu giáo viên
tham gia đầy đủ và coi trọng về đổi mới phương pháp.
- Đối với giáo viên:

18


+ GV dành thời gian tìm hiểu về phương pháp lớp học đảo ngược, thiết kế các giáo
án theo phương pháp này, thực hiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng đổi mới
phương pháp và tiếp tục hoàn thiện phương pháp.
+Tăng cường các biện pháp sư phạm khuyến khích học sinh tích cực, chủ động,
sáng tạo trong học tập, tổ chức môi trường học tập dân chủ.
+ Hướng cho học sinh phương pháp học đi đôi với hành, đồng thời xây dựng động
cơ, thái độ học tập đúng đắn để từ đó chủ động nâng cao tính tự giác trong học tập.
+ Tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khóa gắn lý thuyết vào thực tiễn trong các
dịp lễ, hội, hoặc xen kẽ trong các tiết chào cờ để học sinh có cơ hội phát triển các
kỹ năng cũng như các năng lực cơ bản, khắc phục tính nhút nhát, thụ động của
HS...
- Đối với học sinh:
+ Cần trang bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ học tập như laptop, điện thoại, mạng
internet
+ Hình thành năng lực tự học ở nhà
+ Hình thành năng lực tự mình giải quyết vấn đề liên quan
+ Tăng cường hợp tác nhóm, tương tác với thầy cô
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động đổi
mới giáo dục hiện nay. Chúng tôi mong rằng với một số đề xuất kiến nghị trong đề
tài này sẽ phần nào hữu ích trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thiệu Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết

Phạm Thị Quế

19


20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×