Tải bản đầy đủ

skkn một số ảnh hưởng tiêu cực của tin học tới xã hội

MỤC LỤC
NỘI DUNG

Trang

1. Mở đầu

1

1.1. Lí do chọn đề tài.

1

1.2. Mục đích nghiên cứu.

1

1.3. Đối tượng nghiên cứu.

2


1.4. Phương pháp nghiên cứu.

2

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

2

2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

3

2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải 4
quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, 16
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối với GV.

16

2.4.2. Đối với HS:

16

2.4.3. Kết quả vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn của 16
học sinh.
3. Kết luận, kiến nghị

17

3.1. Kết luận.

17

3.2. Kiến nghị.


18

Tài liệu tham khảo.

19

Danh mục các đề tài SKKN đã được Hội đồng Cấp Sở GD&ĐT đánh 19
giá đạt từ loại C trở lên.
------------------------------------------------------------------------Các từ viết tắt:
GV: giáo viên
HS: học sinh
CNTT: công nghệ thông tin.
0


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, thời đại phát triển rực rỡ của Tin
học. Tin học đến với từng người dân, người quản lý, nhà khoa học, người nông dân,
bà nội trợ, HS các cấp học…. gần như lĩnh vực nào cũng có mặt của Tin học.
Tin học càng phát triển mạnh mẽ, càng có nhiều ứng dụng trong đời sống xã hội
nhưng nếu con người chúng ta không nâng cao nhận thức, ý thức, tu dưỡng rèn
luyện bản thân thì nó cũng đưa đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như vấn nạn ô nhiễm
môi trường bởi rác thải có liên quan tới ngành Tin học; hay những vấn đề phát sinh
từ sự phát triển của internet và các dịch vụ giải trí như: nghiện Game, sống ảo,…
Tuy nhiên trong chương trình học của bộ giáo dục và chương trình học của nhà
trường thường chỉ đề cập đến những thành tựu của tin học, nhưng chưa có những
bài học đề cập sâu sắc những vấn đề như rác thải điện tử ngành Tin học, tác hại khi
lạm dụng các công cụ giải trí trên internet như Game online, mạng xã hôi,…
Để hạn chế được các mặt tiêu cực của tin học,không phải là sự cấm đoán của gia
đình hay nhà trường, cộng đồng mà điều cốt lõi là mỗi người, mỗi HS phải hiểu các
mối nguy hại từ đời sống, từ đó xây dựng cho mình lý tưởng sống, làm việc và học
tập có kế hoạch khoa học, tự tu dưỡng rèn luyện bản thân để đạt được lý tưởng, kế
hoạch, mục tiêu đã đặt ra.
Mục tiêu giáo dục đang đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết cần giải quyết:
 Giáo dục hóa toàn diện đối với HS.
 Giáo dục văn hóa kiến thức.
 Giáo dục tư tưởng, nhân cách đạo đức.
Trước những vấn đề này đã thúc đẩy trong tôi sự suy ngẫm nung nấu thời gian
rất nhiều và từ một số nội dung bài học trong sách giáo khoa Tin học 10 như bài 1,
bài 8, bài 9, bài 22 tôi đã chọn đề tài: “Một số ảnh hưởng tiêu cực của Tin học
với xã hội”, bằng phương pháp có sử dụng liên môn - tích hợp với các môn: Tin
học, Hóa học, Sinh học, GDCD và hiểu biết thực tế xã hội của HS để viết sáng kiến
kinh nghiệm xem đó là việc làm cần thiết, quan trọng thực tiễn khi đặt vào xã hội
hóa giáo dục hiện nay của đất nước.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này để thực hiện những mục đích sau:
 Giúp GV dạy môn Tin học có thêm phương pháp dạy học tư duy sáng tạo.
 Giúp HS biết:
+ Ảnh hưởng của rác thải điện tử ngành tin học.
+ Ảnh hưởng tiêu cực của Internet.
+ Một số biện pháp hạn chế các tiêu cực trên.
1


 Giúp HS có lí tưởng sống cao đẹp có mục tiêu lập trường kiên định rõ ràng, có
năng lực tự rèn luyện bản thân để tránh được những tác động tiêu cực của ngành tin
học nói riêng và xã hội nói chung; có năng lực lập sự nghiệp trong tương lai.
 Giúp HS có sự say mê khi học tập môn Tin học.
 Giúp HS hoàn thiện nhân cách đặc biệt là vấn đề yêu nước, tinh thần dân tộc,
gia đình, sự sáng tạo, sự cống hiến và sự hi sinh cho đất nước.
 Giúp các em hành động ứng xử văn minh, lịch sự, biết yêu thương mọi người,
yêu thương gia đình, bảo vệ quê hương đất nước, tuân thủ đúng pháp luật khi sử
dụng Internet.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
– Một số mặt trái của Tin học: rác thải điện tử ngành tin học, một số tiêu cực từ
internet; biện pháp hạn chế, khắc phục các tiêu cực trên.
– Định hướng hình thành năng lực: Tự học, giao tiếp, làm việc nhóm, phân tích,
tổng hợp, CNTT cho HS;
– Đối tượng trải nghiệm: phương pháp mới: HS lớp 10B5, phương pháp cũ HS
lớp 10B7 – trường THPT Trần Ân Chiêm.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
– Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: sắp xếp chủ đề theo từng chủ
đề nhỏ, mỗi tiểu chủ đề xây dựng một hệ thống khung câu hỏi, các môn học có thể
liên môn, tích hợp trong từng chủ đề nhỏ, hệ thống hóa lý thuyết theo từng chủ đề
nhỏ đã định ra.
– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Điều tra thực tiễn rác
thải điện tử Tin học, những người làm việc thuộc lĩnh vực Tin học, Tình trạng HS,
Thanh Thiếu niên ngồi tại các quán Internet trong giờ học, giờ làm việc, những HS,
Thanh thiếu niên mắc các bệnh trầm cảm, tự kỷ, tham gia đánh nhau, vi phạm pháp
luật…do sử dụng Internet quá độ và thiếu hiểu biết tại địa phương;
– Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: thống kê, xử lý số liệu từ việc điều
tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin và từ các nguồn tài liệu khác như sách,
báo, mạng...
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua các bài học của sách giáo khoa Tin học 10 như bài 1, bài 8, bài 9, bài 22
chúng ta được biết, hiện nay, thành tựu của Tin học được ứng dụng rộng rãi trong
hầu hết các lĩnh vực xã hội; máy tính là thành phần quan trọng trong hệ thống tin
học, các phương tiện kỹ thuật có hàm lượng tin học ngày càng nhiều, có giá thành
ngày càng rẻ, gọn nhẹ được sử dụng phổ biến rộng rãi…; văn hóa và pháp luật
trong xã hội tin học hóa; Vấn đề bảo mật thông tin trong thời đại internet.

2


Bên cạnh những thành tựu, Tin học phát triển cũng đưa tới những mặt trái ảnh
hưởng tiêu cực tới con người, tới gia đình, tới xã hội như: chúng ta chưa biết về tác
hại của rác thải điện tử trong đó có rác thải điện tử ngành Tin học, nhà nước ta cũng
chưa có chế tài, giải pháp thu gom, xử lý loại rác thải này. Từ một số tính chất của
các chất có trong rác thải điện tử Tin học liên hệ từ môn hóa học và các giải pháp
trong môn sinh học giúp HS biết thực trạng của rác thải điện tử hiện nay ở Việt
Nam chúng ta nói riêng và trên thế giới nói chung.
Hay vấn đề HS bỏ học, bỏ tiết vì nghiện Game Online, Nghiện mạng xã hội,…
Thảo luận tìm ra giải pháp thu hút HS trở lại với gia đình và trường lớp. Nhận thức
các hành vi vi phạm pháp luật như vi phạm quyền sở hữu thông tin, tung vi rút vào
mạng, kích động, nói xấu người khác, nói xấu Đảng, nói xấu Nhà nước…; các hành
vi vô cảm, không có văn hóa khi sử dụng mạng internet. Qua bài học HS hiểu được
thành công có được là nhờ lý tưởng sống cao đẹp, học tập và làm việc có kế hoạch,
và ý chí nghị lực trong tu dưỡng bản thân. Nhận thức rõ những điều này, từ chính
bản thân mỗi người họ sẽ tự điều chỉnh để mình không vướng vào mặt trái của
ngành Tin học.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Các sản phẩm vật lý hữu hình của tin học ngày càng nhiều. có thể kể đến nhiều
loại như máy vi tính, máy in, máy fax, máy photocopy, tivi internet, máy tính bảng,
điện thoại di động,các thiết bị kết nối mạng, và nhiều thiết bị điện tử tự động là sản
phẩm ứng dụng của tin học…. Vòng đời của các sản phẩm này thường sẽ không là
vĩnh viễn. Có thể hay hỏng, lỗi, có thể sẽ được thay thế trong một thời gian ngắn
khi có sản phẩm nâng cấp, hoặc sản phẩm mới tân tiến hơn… điều này đang và sẽ
tạo ra một lượng rác thải khổng lồ mà lượng rác thải này rất nguy hiểm có thể ảnh
hưởng tới an ninh thông tin, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sức khỏe của con người khi tiếp xúc với nó. Gây ra những bệnh
đặc biệt nguy hiểm như ung thư, vô sinh, suy giảm nhận thức hay hủy hoại các cơ
quan nội tạng.…; Chưa dừng lại ở đó, những thiệt hại về kinh tế liên quan đến sự
lãng phí các vật liệu quý như vàng, đồng hay bạch kim.
Ti vi đài báo nói nhiều về nạn rác thải và ô nhiệm môi trường. Tuy nhiên, đa số
những người dân chúng ta chưa nhận thức được rằng ngành tin học hằng năm cũng
đang thải ra một lượng rác thải khổng lồ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trương
và sức khỏe của nhân dân. Nhà nước và địa phương chưa có chính sách, cơ chế
thỏa đáng cho việc xử lý cũng như tuyên truyền cho người dân hiểu về rác thải, tác
hại của rác thải trong lĩnh vực Tin học này. Nhà trường, sở giáo dục chưa có bài
học nào đề cập riêng đến vấn đề rác thải trong lĩnh vực tin học. HS và có thể là rất
nhiều người dân chưa từng biết rằng trong lĩnh vực Tin học cũng có rác thải, và loại
rác thải này mức độ độc hại, mức độ ảnh hưởng tới môi trường, con người, vật nuôi
chỉ có hơn chứ không hề kém các loại rác thải khác;
Việc xả rác điện tử ngành Tin học không đúng quy định là một hành vi vi phạp
pháp luật và ảnh hưởng đến an toàn, an ninh thông tin.
3


Các GV chủ nhiệm, GV bộ môn, nhà trường và gia đình HS rất đau đầu với tình
trạng HS, con em mình sống ảo, bỏ học để lên mạng, chơi Game, nghe theo các đối
tượng xấu, hoặc vì tò mò có thể làm những việc vi phạm pháp luật, không có văn
hóa: tung virut vào mạng internet, hack các hệ thống thông tin bất hợp pháp, đăng
ảnh, thông tin xấu, kích động… tuy nhiên chính bản thân các vị phụ huynh hay các
GV lại cũng chưa hiểu biết nhiều về những tác động có hại của Tin học đối với xã
hội. Có người chỉ nhìn được những mặt tốt của các ứng dụng Tin học nên không
tiếc tiền của đầu tư các thiết bị máy vi tính, điện thoại thông minh, nối mạng
Internet… cho con em mình nhưng lại không giáo dục định hướng các em vào sử
dụng những thiết bị này đúng đắn có lợi cho học tập, cho cuộc sống làm cho các em
có thể chìm đắm với game, mạng xã hội,…. Có những trường hợp người lớn chúng
ta lại chỉ nhìn thấy những tác hại của các ứng dụng tin học nên cấm đoán không
cho các em tiếp xúc sử dụng bất kỳ một ứng dụng nào làm cho các em mất đi một
kênh tham khảo học hỏi, vui chơi, giải trí hữu ích, hoặc có thể làm cho các em càng
tò mò muốn biết, muốn tìm hiểu những thứ chúng ta cấm đoán, các em sẽ sinh ra
nói dối, nói dối để có tiền ra quán net, nói dối để có thể ra khỏi nhà, nói dối để thầy
cô giáo cho nghỉ giờ học… một khi đã bị phát hiện có thể bất cần, không quan tâm
tới ý kiến của ai, công khai bỏ nhà, bỏ học chơi điện tử, lên mạng…biết làm cho
các em mất ngủ, chểnh mảng học tập, lầm lỳ ít nói, hay cáu gắt, không giao tiếp với
người thân, bạn bè, thầy cô giáo…ảnh hưởng tới sức khỏe, học tập, tâm lý của các
em.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
vấn đề.
Chủ đề : MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TIN HỌC TỚI XÃ HỘI.
Hoạt động 1: Bảo vệ môi trường trước nguy cơ rác thải điện tử ngành Tin học.
Nội dung:
Hoạt động này nhằm giúp HS biết tác hại của rác thải điện tử, Những hành động có
văn hóa, tuân thủ pháp luật trong việc loại bỏ rác thải điện tử và những cách thu
gom, phân loại, xử lý rác thải đúng đắn.
Phương pháp:
GV dùng tích hợp liên môn:
 Môn Tin học: Trình chiếu hình ảnh và video trực quan.
 Môn hóa học (Bài 45 – hóa học 12), sinh học (Bài 54 – sinh học 9): Biết một số
chất trong các thiết bị điện tử, mức độ độc hại và ảnh hưởng, con đường phát tán
của các chất đó với môi trường, sức khỏe; xác định được những chất có hại có thể
có khi đốt nhựa từ rác thải điện tử như carbon monoxide (CO), dioxin và cả furan những hoá chất được xem là độc nhất hiện nay, có tiềm năng gây ung thư cao.
 Môn GDCD: Công dân với các vấn đề cấp thiết của nhân loại (bài 15 – GDCD
lớp 10).
4


 Kỹ năng sống: Rèn luyện các kỹ năng sống như cẩn thận, gọn gàng, trung thực,
trách nhiệm, ...
Tiến trình cơ bản:
GV: Trong gia đình các em có gia đình nào không có điện thoại di động không?
Sau khi HS trả lời GV chốt ý: Không chỉ điện thoại di động, nhiều gia đình trong
số các em ở đây có thể mỗi người trong nhà còn có nhiều hơn một chiếc điện thoại
di động, còn có cả máy tính bảng, máy laptop, máy vi tính để bàn, máy in, máy
photo, tivi internet, các thiết bị giúp kết nối internet, các thiết bị có thể kết nối
internet… và rất nhiều các thiết bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có hàm lượng tin
học như máy giặt, điều hòa, các thiết bị âm thanh,... hoạt động theo các chương
trình điều khiển.
GV: Cứ vài tháng, người dùng lại "lên đời" với những thiết bị mới nhất, mạnh mẽ
nhất, thông minh nhất. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi chúng trở nên lỗi thời, bị hư
hỏng, hoặc một lý
do nào đó không sử
dụng nữa?
Sau khi HS trả lời,
GV dẫn dựa trên ý
kiến HS: Vậy cúng
ta có nên vứt các sản
phẩm điện tử ngành
tin học khi không sử
dụng nữa ra môi
trường, hay cho con,
em chúng ta làm đồ
chơi, hoặc tự ý bóc
tách các để lấy các
phần nhỏ sử dụng,
… hay không?
GV: chiếu video và các hình ảnh minh họa về tác hại của rác thải điện tử.
GV chốt ý: Hành vi vứt các sản phẩm điện tử ngành tin học ra ngoài môi trường,
mua bán, tái chế các sản phẩm này không đúng quy định là nhưng hành vi không có
văn hóa, thiếu đạo đức và vi phạm pháp luật.
GV: qua các hình ảnh và video trên, các em cho cô biết đồ điện tử có thể chứa
những chất có hại nào?
Sau khi các HS trả lời, GV tổng hợp chốt ý: Theo thống kê của Chương trình
Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), trong rác thải điện tử có chứa hơn 1.000
hợp chất khác nhau, chủ yếu là thành phần kim loại nặng, kim loại quý, các chất
hữu cơ cao phân tử khác như Chì và Thuỷ ngân, người ta còn tìm thấy Asen, Berili,
5


Cadmium cũng như Polyvinyl Clorua,... Đây toàn là những chất (hợp chất) cực
độc, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây rò rỉ hóa chất và kim loại nặng ra
không khí, đất, nước và thực phẩm, tổn hại đến sức khoẻ của những người tiếp xúc
trực tiếp hoặc xử lý
chúng. Thậm chí, có
thể để lại di chứng
cho thế hệ sau…
PCB là một chất gây
ngưng tụ, biến áp
dẫn đến ung làm
giảm chức năng hệ
miễn dịch, hệ nội
tiết, hệ thần kinh,,…
CFC đây lầ chất tải
lạnh, chất này khi
cháy tạo ra rất nhiều
chất độc hại, chất
này chính là nguyên
nhân gây nên thủng
tầng ozone.
Theo Trung tâm Phát triển và Hội nhập, trung bình mỗi năm, một người Việt
thải ra môi trường 1 kg rác thải điện tử. Rác thải điện tử hiện có lượng thải cao nhất
trong đô thị, tăng từ 20 đến 25%/năm.
GV: Trình chiếu, thuyết minh một số tính chất, mức độ độ hại, mức độ ảnh hưởng
của một số chất cơ bản như Chì và Thuỷ ngân, Asen, Berili, Cadmium Polyvinyl
Clorua,... đối với môi trường và sức khỏe con người cũng như sinh vật sống trong
môi trường để HS biết.
GV: Sử dụng hình ảnh, video minh họa, hỏi - đáp và thuyết minh làm rõ một số nội
dung sau:
– Các chất độc có trong đồ điện tử cũ khi bị phát tán ra môi trường sẽ khó có thể
nhận biết, dễ gây tâm lý chủ quan với những tác hại mà các chất độc này có thể gây
ra, những hóa chất này tiềm ẩn nguy cơ gây ra các chứng bệnh rất khó chữa trị và
ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người như bệnh ung thư, bệnh về đường hô
hấp, bệnh tim mạch và thần kinh…
– Rác thải điện tử ảnh hưởng đến sức khoẻ con người qua các con đường ô nhiễm
đất, nước, không khí, lao động có tiếp xúc trực tiếp với rác thải và bên cạnh đó còn
tiềm tàng nguy cơ rò rỉ thông tin từ các chất thải
– Tự ý bóc tách, đốt dây cáp máy tính vì sẽ giải phóng hydrocarbon, carbon
monoxide (CO), dioxin và cả furan - những hoá chất được xem là độc nhất hiện
nay, có tiềm năng gây ung thư cao vào không khí (Cho HS viết phương trình hóa
học phản ứng cháy cua một số loại nhựa.)
6


– Quy trình hoá học để bóc tách lấy vàng từ con chip máy tính bóc vàng sẽ dẫn
đến việc tạo ra các chất thải dioxin và kim loại nặng.
– Ống tia âm cực, thường được tìm thấy trong các Ti vi, camera video và màn hình
máy tính cũ trong tình trạng gãy vỡ, và vỏ bọc đã bị phá huỷ. “Nội thất” bên trong lớp
vỏ bọc, như chì và baric có thể rò rỉ vào đất và nước ngầm mà người dân đang sinh
sống và sử dụng. Điều này không chỉ nguy hiểm cho người uống và tắm bằng nguồn
nước này mà còn cho cả nhiều loại động thực vật sinh sống dựa vào nguồn nước đó.
– Nếu một ổ cứng không được xoá đi đúng cách trước khi bị bỏ đi, nó có thể bị
xâm nhập và lấy đi các thông tin nhạy cảm. Số thẻ tín dụng, dữ liệu tài chính và
thông tin tài khoản có thể bị lấy đi từ các ổ đĩa máy tính bị vứt bỏ
GV: Chúng ta có những biện pháp nào để bảo vệ môi trường, sức khỏe con người,
vật nuôi,... trước ảnh hưởng của rác thải điện tử?
Sau khi HS trả lời, GV chiếu các hình ảnh minh họa và kết hợp thuyết trình, giảng
giải và chốt:
Các biện pháp bảo vệ môi trường:
* Người sử dụng:
– Không vứt các sản phẩm, thiết bị điện tử hỏng ra ngoài môi trường, chôn xuống
đất, vứt chung với rác thải sinh hoạt; tham gia các hoạt động làm sạch môi trường;
– Quy tập rác thải điện tử về đúng địa điểm xử lý rác thải điện tử để tái chế.
– Lựa chọn các sản phẩm, thân thiện với môi trường, tuổi thọ cao, dễ dàng tái sữa
chữa, dễ dàng tái sử dụng...
– Không tự ý bóc tách, đốt, tiếp xúc thường xuyên vơi rác thải điện tử mà không
có bảo hộ và các thiết bị hỗ trợ xử lý loại rác thải này.
– Không nhập khẩu cũng như tiếp tay cho việc nhâp khẩu các sản phẩm thiết bị
điện tử cũ, hỏng... về Việt Nam.
– Mỗi người hãy nâng cao nhận thức của mình, tuyên truyền giúp đỡ những người
xung quanh mình hiểu biết về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và những hành vi
phá hoại, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
– ...

7


* Đối với nhà nước, doanh nghiệp:
– Xây dựng các nhà máy xử lý rác thải
điện tử sử dụng công nghệ cao, quy
trình khép kín, sử dụng robot, máy móc
tự động thay cho con người...
– Có chính sách thu gom rác thải điện
tử trong dân. Quy tập rác thải điện tử về
đúng địa điểm xử lý rác thải điện tử để
tái chế. Không xử lý rác thải điện tử
bằng cách chôn lấp, đốt cháy.
– Các công ty sản xuất cần tìm kiếm,
sử dụng các loại vật liệu ít độc hại hơn,
thậm chí là vô hại… để thay thế các nguyên liệu và các chất độc hại cao khi làm ra
sản phẩm điện tử;
– Các công ty cần có chính sách, biện pháp thu gom, tái chế, xử lý các sản phẩm
cũ, hỏng của công ty mình khi vòng đời các sản phẩm này kết thúc.
– Tuyên truyền cho nhân dân biết tác hại của rác thải nói chung và rác thải điện
tử Tin học
nói riêng,
biết sự cần
thiết
phải
bảo vệ môi
trường, xả

8


rác đúng nơi quy định. Xây dựng các quy chuẩn luật bảo vệ môi trường sát thực tế,
rõ ràng...
– ...
Hoạt động 2: Mặt trái của Internet.
Nội dung:
HS nắm được một số tác hại của internet. Biết những hành vi nào là có văn hóa,
tuân thủ pháp luật khi sử dụng internet, những hành vi nào là không có văn hóa, vi
phạm pháp luật khi sử dụng internet. Liên hệ bài học GDCD cho HS rút ra được
mỗi người phải sống, học tập và làm việc như thế nào để không bị ảnh hưởng bởi
mặt trái của internet và vận dụng cho chính bản thân mình.
Phương pháp:
GV dùng tích hợp liên môn:
 Môn Tin học: Hình ảnh, các video minh họa, bài giảng được trình chiếu qua hệ
thống máy tính, máy chiếu projecter.
 Môn giáo dục công dân:
Tích hợp nội dung giáo dục công dân vào bài giảng trên lớp gồm các nội dung sau:
+ Tích hợp nội dung Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,
điện tín (Bài 18 – GDCD lớp 6). Qua đó HS hiểu được quyền được bảo đảm an
toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. HS liên hệ với mhững hành vi không tôn
trọng quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín khi chúng
ta sử dụng mạng Internet.
+ Tích hợp nội dung Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng
họ (bài 10 – GDCD lớp 7), công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình (bài 12 –
GDCD lớp 10), công dân với cộng đồng (bài 13 – GDCD lớp 10), công dân với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (bài 14 – GDCD lớp 10). Qua đó HS biết xác
định giá trị về truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ, trách nhiệm, nghĩa vụ,
quyền lợi của mỗi công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình và cộng đồng, sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, những vấn đề cấp thiết của xã hội. Phân biệt
những hành động thể hiện truyền thống tốt đẹp của gia đình dòng họ, những hành
động bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của gia đình dòng họ trên internet. Những hành
động thể hiện trách nhiệm, quyền lợi và những vấn đề nên hay không nên đưa lên
mạng, làm sao để bảo vệ được tình yêu, hôn nhân, gia đình, cộng đồng, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc khi thể hiện các thông tin trên mạng.
+ Tích hợp nội dung Làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả (bài 9 –GDCD
lớp 9). Qua đó HS biết làm như thế nào gọi là làm việc có năng suất, hiệu quả. HS
liên hệ thực tế bài học và bản thân các em.
+ Tích hợp nội dung Lý tưởng sống của thanh niên (bài 10 – GDCD lớp 9). Biết
xác định giá trị của sống có lý tưởng. Có kỹ năng tự nhận thức về lí tưởng sống của
9


bản thân. Biết lập kế hoạch học tập, rèn luyện theo lý tưởng sống đã lựa chọn. HS
liên hệ thực tế bản thân.
+ Tích hợp nội dung Sống và làm việc có kế hoạch (bài 12 – GDCD lớp 7). Qua
đó HS biết quản lý thời gian, có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm để xây dựng kế
hoạch và thực hiện sống và làm việc có kế hoạch. HS liên hệ thực tế bản thân.
+ Tích hợp nội dung Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật (bài 18 – GDCD lớp
9). Qua đó HS biết sống có nhân cách, có đạo đức và tuân theo pháp luật. HS liên
hệ những hành vi sống phản nhân cách, trái đạo đức và vi phạm pháp luật khi sử
dụng internet.
+ Tích hợp nội dung Tự hoàn thiện bản thân (bài 16 – GDCD lớp 10). HS biết
như thế nào là tự hoàn thiện bản thân, vì sao phải tự hoàn thiện bản thân. Mỗi
người trong chúng ta hành động như thế nào để tự hoàn thiện bản thân mình.
 Kỹ năng sống, hiểu biết thực tiễn xã hội:
Những thực tế những trào lưu thịnh hành đã và đang diễn ra trong xã hội; qua các
bài học về kỹ năng sống giúp các em HS hiểu, nhận biết vấn đề, biết vận kiến thức
để xử lý tình huống trong thực tiễn cuộc sống, rèn luyện các kỹ năng sống như tôn
trọng, trung thực, giản dị, tự do, đoàn kết, hợp tác, khoan dung, khiêm tốn, trách
nhiệm, yêu thương, hạnh phúc và hòa bình.
(GV đặt ra các câu hỏi, phân công, hỗ trợ cho các nhóm HS tìm hiểu ở nhà và cử
đại diện trình bày trong giờ học các câu hỏi từ câu 1 đến câu 10. (nội dung câu hỏi
trong phần tiến trình cơ bản)
Tiến trình cơ bản:
GV: Một ngày các em dùng bao nhiêu thời gian để lên mạng? Khi lên mạng thì các
em thường làm gì? (hỏi thêm một số HS sử dụng internet nhiều có cảm nhận như
thế nào về đầu óc, sức khỏe, giao tiếp...).
HS: trả lời theo thực tế sử dụng internet và cảm nhận của bản thân.
GV: Bên cạnh những lợi ích to lớn không thể phủ nhận thì xã hội tin học hoá cũng
có những mặt trái của nó. Kể tên các ảnh hưởng tiêu cực của internet có tác động
đến bản thân, bạn bè và những người xung quanh các em? Những hành vi nào là vi
phạm pháp luật hoặc không có văn hóa?
Sau khi HS trả lời GV dùng máy chiếu minh họa thêm một số mặt tiêu cực của
Tin học?

10


11


GV: Vậy chúng ta phải làm gì?
Sau khi HS trả lời GV chốt:
Mỗi chúng ta cần:
– Có ý thức bảo vệ thông tin và các nguồn tài nguyên mang thông tin.
– Có trách nhiệm với mỗi thông tin đưa lên mạng internet.
– Không: phá hoại thông tin trên mạng, tung virut vào mạng, hack các trang thông
tin không được cấp quyền truy cập, vi phạm quyền sở hữu thông tin.
– Cảnh giác với các hiện tượng lừa đảo trên Internet, có biện pháp bảo mật bảo vệ
các thông tin và tài khoản của mình khi tham gia internet.

12


– Xây dựng phong cách sống khoa học, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu
quả; Sống và làm việc có kế hoạch, sống có lý tưởng, có đạo đức và văn hóa ứng
xử trên internet, có ý thức tuân thủ pháp luật, có ý thức tự hoàn thiện bản thân.
* Tích hợp môn giáo dục công dân cho HS tìm hiểu, vận dụng, liên hệ kiến
thức để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
GV: Nhằm giúp các em hiểu thêm những hành vi nào là không có văn hóa, vi phạm
pháp luật. Những hành vi nào là hành vi có văn hóa, hành vi đẹp. Chúng ta liên hệ
với các bài học GDCD để biết được mỗi người chúng ta nói chung và mỗi HS nói
riêng cần sống, học tập và làm việc như thế nào để có thể trở thành một người ứng
xử có văn hóa và không vi
phạm pháp luật trong xã hội tin
học hóa? (Phần này GV giao
cho các nhóm tự tìm hiểu trước
đến tiết học GV giới thiệu các
câu hỏi và gọi HS trình bày
nhiệm vụ của mình, Cho các
HS khác nhận xét,bổ sung,
hoặc phản biện ý kiến của bạn.)
GV: Câu 1: Sống có đạo đức và
tuân theo pháp luật? Những
hành động nào khi sử dụng
internet vi phạm quyền được
tôn trọng, bảo vệ bí mật, an toàn thư, điện thoại, điện tín của bản thân và người
khác. Các em cần làm gì để phòng ngừa, ngăn chặn và không vi phạm vào những
điều cấm trên?
Sau khi HS trả lời GV trình chiếu một số hình ảnh minh họa vi phạm quyền tôn
trọng, bảo vệ bí mật, an toàn thư, điện thoại, điện tín khi tham gia internet, chốt:
Mỗi chúng ta cần:
– Học tập nắm vững các quy định của pháp luật về quyền được đảm bảo an toàn
và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín.
– Tôn trọng quyền trên của người khác.
– Biết tự bảo vệ quyền trên của mình.
– Phê phán, tố cáo những hành vi sai trái.
GV: Câu 2.1: Truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ là những truyền thống gì?
Sau khi HS trả lời GV chốt ý: Truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ về các
mặt như học tập, lao động, văn hóa, đạo đức...
GV: Giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ và dân tộc là trân
trọng, bảo vệ, tích cực tìm hiểu, học tập, thực hành theo những chuẩn mực giá trị
truyền thống để cái hay, cái đẹp của truyền thống dân tộc ta tiếp tục phát triển.
13


GV: Câu 2.2: Trách nhiệm của HS trong việc giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp
của gia đình, dòng họ? Liên hệ khi sử dụng Internet?
Sau khi HS trả lời GV minh họa thêm bằng hình ảnh trực quan những hành vi làm
tổn hại đến thanh danh của gia đình, dòng họ; những hành vi đẹp khi sử dụng
internet thể hiện tiếp nối
truyền thống tốt đẹp của
gia đình dòng họ.
(GV củng cố, bổ sung
phần liên hệ của HS)
GV: Câu 3: Những hành
động sai trái làm rạn nứt,
ảnh hưởng tới tình yêu,
hôn nhân, gia đình khi sử
dụng thành tựu của Tin
học trong xã hội hiện
nay? (cho HS lấy ví dụ
chủ yếu về việc nghiện
các thiết bị điện thoại,
máy tính thông minh;
nghiện game; nghiện
facebook).
Sau khi HS trả lời GV
minh họa thêm bằng hình ảnh trực quan những hành vi làm tổn hại đến tình yêu,
hôn nhân, gia đình khi sử dụng internet.
GV: Câu 4: Trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng? Một số hành vi làm tổn
hại tới cộng đồng khi sử dụng internet?
Sau khi HS trả lời GV chốt ý: Trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng là
nhân nghĩa, sống hòa nhập, biết hợp tác (trình chiếu minh họa).
GV: Minh họa thêm bằng hình ảnh trực quan những hành vi làm tổn hại tới cộng
đồng khi sử dụng internet.

14


GV: Câu 5: Trách nhiệm của công dân Việt Nam đối với việc xây dựng và bảo vệ
tổ quốc? Liên hệ những hành vi sai trái làm tổn hại tới sự phát triển của đất nước và
an ninh quốc gia khi sử dụng internet?
GV: Dẫn: Mỗi người chúng ta phải làm gì để càng ngày càng tiến bộ và có cuộc
sống tốt hơn, đóng góp được nhiều giá trị cho xã hôi nói chung và không sa đà vào
các tệ nạn thuộc mặt trái của internet nói riêng? (giải pháp)
Sau khi HS trả lời GV chốt ý: Luôn tự hoàn thiện bản thân, Làm việc có năng
suất, chất lượng, hiệu quả, Sống và làm việc có kế hoạch, sống có lý tưởng, Sống
có đạo đức và tuân theo pháp luật.
GV: Câu 6: Thế nào là tự hoàn thiện bản thân? Mỗi HS cần làm gì để tự hoàn thiện
bản thân? Liên hệ với việc kiểm soát những mặt trái của internet tác động tới bản
thân mình dựa trên tự hoàn thiện bản thân?
Sau khi HS trả lời GV chốt ý:
Thế nào là tự hoàn thiện bản thân?
 Tự hoàn thiện bản thân là vượt lên khó khăn, trở ngại, không ngừng lao động,
học tập, tư dưỡng rèn luyện.
 Phát huy ưu điểm, khắc phục sửa chữa khuyết điểm, học hỏi những điều hay
điểm tốt của người khác để bản thân ngày càng một tốt hơn, tiến bộ hơn.
Vì sao tự hoàn thiện bản thân?
 Mỗi người đều có điểm mạnh và điểm hạn chế riêng
 Xã hội ngày càng phát triển, do đó, việc bản thân tự hoàn thiện mình là tất yếu
để đáp ứng đòi hỏi của xã hội.
 Tự hoàn thiện mình là phẩm chất quan trọng của thanh thiếu niên giúp cho cá
nhân, gia đình và cộng đồng ngày càng tiến bộ.
 (GV dựa trên ý kiến HS bổ sung thêm phần liên hệ)
HS cần làm gì?
15


Tự nhận thức đúng bản thân; Có kế hoạch phấn đấu, rèn luyện; Xác định rõ những
biện pháp cần thực hiện; Xác định những thuận lợi, khó khăn, quyết tâm thực hiện;
Biết tìm sự giúp đỡ của những người tin cậy
GV: Câu 7: Khi chúng ta học tập luôn mong muốn mình học giỏi, trong lao động
luôn mong muốn sẽ đạt được năng suất, chất lượng, hiệu quả tốt. Vậy đối với bản
thân mỗi HS chúng ta cần phải học tập làm việc như thế nào để đạt được năng suất,
chất lượng, hiệu quả tốt? Những việc làm, hành động trái với làm việc có năng
suất, chất lượng, hiệu quả trong HS chúng ta?
Sau khi HS trả lời GV chốt:
Rèn luyện HS: Học tập và rèn luyện ý thức kỉ luật tốt; Tìm tòi sáng tạo trong học
tập; Có lối sống lành mạnh và văn minh; Vượt qua mọi khó khăn và cám dỗ trong
cuộc sống hàng ngày.
Trái với làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả trong HS:
Làm việc lười biếng, không tập trung, dễ làm khó bỏ; Ỷ lại, qua loa, đại khái,
thiếu trách nhiệm với sản phẩm mình làm ra; Làm việc năng suất thấp, sản phẩm
làm ra không đảm bảo chất lượng; Không năng động sáng tạo.
(GV cho HS liên hệ với việc học tập của mình)
GV: Câu 8: Để không bị cuốn vào những tác động tiêu cực của Tin học đến cuộc
sống mỗi HS chúng ta cần kế hoạch hoạt động, lý tưởng sống, mục đích học tập
như thế nào?
Sau khi HS trả lời GV chốt:
Sống và làm việc có kế hoạch là biết xác định nhiệm vụ, sắp xếp công việc hàng
ngày, hàng tuần hợp lý để mọi việc đươc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả và chất
lượng; có lý tưởng sống lành mạnh và mục đích học tập rõ ràng.
GV: Câu 9: Lợi ích khi sống và làm việc có kế hoạch? Làm việc không có kế
hoạch sẽ có hại như thế nào?
Sau khi HS trả lời GV chốt:
* Làm việc có kế hoạch có lợi: Rèn luyện ý chí nghị lực; Rèn luyện tính kỉ luật,
kiên trì; Kết quả học tập tốt; Cha mẹ, thầy cô yêu quí.
* Làm việc không có kế hoạch sẽ có hại như: Dẫn đến hiệu quả chất lượng không
cao; Kết quả học tập kém; Không hoàn thành công việc.
GV: Lý tưởng sống của em là gì? Em đã làm gì cho lý tưởng sống của bản thân?
Sau khi HS trả lời, GV dựa vào câu trả lời của các em để định hướng cho HS.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối với GV:
 Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, đạt hiệu quả tốt.
 Trong quá trình giảng dạy tôi thấy kiến thức vững vàng tiến bộ rõ rệt.
16


 Có thêm tư liêu cho hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục các HS cá
biệt nghiện game, mạng xã hội...
2.4.2. Đối với HS:
HS tiếp thu kiến thức: HS hiểu bài: 100 %.
Đa số HS say mê, hứng thú tìm hiểu bài học, nhiệt tình trong trao đổi, thảo luận và
đóng góp ý kiến cho bài học. Sau bài học đa phần các em hiểu, nắm, vận dụng đựơc
các kiến thức, kỹ năng, thái độ:
– Tầm quan trọng và ảnh hưởng của ngành Tin học đối với xã hội;
– Biết các ngành nghề và điều kiện cần để được học và làm việc với các ngành
nghề thuộc ngành Tin học;
– Biết và vận dụng các kiến thức đã học vào việc bảo vệ môi trường trước nguy
cơ rác thải điện tử ngành Tin học tại địa phương đang sống;
– Hiểu, nhận biết các hành vi không có văn hóa và vi phạm pháp luật khi sử dụng
internet. Vận dụng đối chiếu và điều chỉnh các hành vi này nếu chính bản thân
mình mắc phải. Tuyên truyền, vận động bạn bè, người thân hãy là những người có
văn hóa, không vi phạm pháp luật khi sử dụng internet;
– Đa phần các em nhận thức được để không sa ngã vào những tác dộng xấu do
internet mạng lại điều kiện cần thiết nhất là mỗi người hãy xây dựng, rèn luyện cho
mình thành một con người có lý tưởng sống cao đẹp, sống có kế hoạch, sống có
đạo đức, chú trọng năng suất và hiệu quả khi làm việc, học tập, tuân thủ pháp luật
và luôn rèn luyện và tu dưỡng bản thân để bản thân ngày một tốt hơn.
 HS có lí tưởng đúng đắn cao đẹp, có sự nghiệp trong tương lai.
 HS nhận nhận thức đúng khi ứng dụng công nghệ thông tin vào học tập, vui
chơi và giải trí đúng mức.
 Có sự chăm chỉ trong học tập say mê, sáng tạo khi học Tin học.
 Hướng tới cái thiện, cái cao cả, cái cao thượng GV dạy HS để tránh xa cái ác,
cái xấu cái ích kỉ, sự đố kị, sự thấp hèn tầm thường, sự sa hoa phù phiếm, ảo tưởng
không có thực.
2.4.3. Kết quả vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh:
 HS vận dụng kiến thức thực hành: 100%.
 Trong quá trình giảng dạy đối chiếu so sánh giữa phương pháp cũ (áp dụng với
lớp 10B7, sĩ số 42 HS) và phương pháp mới (áp dụng với lớp 10B5, sĩ số 42 HS),
trong năm học 2017- 2018 đạt kết quả như sau:
Phương
Lớp
pháp
Cũ
10B7
Mới
10B5

Tổng
SL
42
42

Giỏi
3
10

%

Khá

7,1% 24
23,8% 27

%

TB

%

57,1%
64,3%

15
5

35,7%
11,9%

Yếu %
0
0

0
0
17


 Sau bài học này cùng với sự vận dụng bài học để giáo dục HS của các GV bộ
môn và GV chủ nhiệm, tỉ lệ HS bỏ học đi chơi game, số HS sử dụng điện thoại
thông minh để chơi game, lướt mạng xã hội trong giờ học không còn tái phạm.
 Tôi tiến hành 2 cuộc khảo sát trước khi HS được tiếp cận bài học và sau khi
được tiếp cận bài học này và các hoạt động giáo dục dựa trên bài học này của GV
chủ nhiệm và các GV bộ môn đối với lớp 10B5, sĩ số 42 HS; Lớp 10B7, sĩ số 42
học sinh, không được tiếp cận bài học kết quả thu được cuối năm học 2017 – 2018,
như sau:
Nội dung khảo sát

10B5

10B7

Trước

Sau

Trước

Sau

Số HS thường bỏ học, bỏ giờ chơi game:

5 HS

1HS 5 HS

Số HS 1 ngày lên mạng xã hội từ 2 tiếng trở lên:

25 HS 3 HS 27 HS 16 HS

4HS

Như vậy thông qua việc kiểm chứng hiểu biết về nhận thức và tiến bộ về hành
vi, năng lực vận dụng giải quyết vấn đề của HS ở trên, chúng ta đã thấy rõ hiệu quả
và khả năng ứng dụng rộng rãi mà đề tài mang lại. Đồng thời qua chủ đề này cũng
giúp cho HS yêu thích say mê khám phá, học tập môn tin học hơn, đồng thời giáo
dục kỹ năng sống giúp HS tự rèn luyện bản thân mình, biết bảo vệ môi trường
sống, sức khỏe bản thân và cộng đồng; thắng được các cám dỗ từ internet, chuyên
tâm vào học tập, rèn luyện, hướng tới thực hiện được mục tiêu, lý tưởng sống cao
cả của mình.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận.
Với chủ đề này để sắp xếp thời gian giảng dạy và học tập là không khó, lượng
kiến thức hữu ích nhưng không trừu tượng phức tạp có nhiều ví dụ trực quan sinh
động trong đời sống xã hội. Bài học có thể áp dụng dạy và học thường xuyên hằng
năm và có thể không bao giờ là lỗi thời. Tuy bài học được phát triển từ nội dung
một số bài trong sách giáo khoa Tin học 10 nhưng có thể giảng dạy cho các đối
tượng từ HS tiểu học trở lên (tùy từng đối tượng chúng ta đưa lượng kiến thức, thiết
kế bài giảng phù hợp). Có thể chia chủ đề này thành các chủ đề nhỏ hơn và lồng
ghép vào các hoạt động khác như hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Hoạt động ngoại khóa về bảo vệ môi trường, hoạt động ngoại khóa về kỹ năng sống
cùng các môn học khác như GDCD, hóa học, sinh học.
3.2. Kiến nghị.
Nhà trường và ngành giáo dục cần tổ chức tuyên truyền và học tập nhiều hơn nữa
các chủ đề bảo vệ môi trường trong đó có rác thải ngành Tin học; chủ đề giáo dục kỹ
năng sống cho HS trong đó có giáo dục kỹ năng tu dưỡng bản thân để có thể kiểm
18


soát bản thân trước các tệ nạn xã hội trong đó có nghiện game, nghiện mạng xã hội;
những hành vi ứng xử có văn hóa và không vi phạm pháp luật khi sử dụng internet...
Cung cấp thêm cho các GV các tài liệu, kiến thức, kỹ năng giáo dục, định
hướng, lôi kéo đưa HS tự giác hòa nhập vào học tập và các hoạt động văn hóa, văn
nghệ, thể dục thể thao....thay cho việc sử dụng mạng xã hội.
Xây dựng và cung cấp tài liệu về bảo vệ môi trường trước rác thải từ ngành Tin
học, những tác hại và giải pháp phòng tránh tác hại từ internet cho GV, HS và phụ
huynh HS.
Do tài liệu chính thức hướng dẫn giảng dạy cho các nội dung rác thải điện tử
ngành Tin học và công tác bảo vệ môi trường; Tác hại từ internet không phổ biến.
Đa phần các kiến thức trong bài giảng là do bản thân tôi tự tìm hiểu qua thực tế đời
sống xã hội và internet. Nên trong quá trình nghiên cứu nhiều vấn đề còn chưa rõ
ràng hoặc thiếu sót, tôi rất mong quý bạn đọc cũng như các đồng nghiệp có những
ý kiến đóng góp tích cực nhằm phát triển cho đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 05 tháng 05 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Hà Thi Hương

19


Tài liệu tham khảo
1 – SGK, SGV, chuẩn kiến thức Tin học 10.
2 – SGK Giáo dục công dân các lớp 6, 7, 9, 10, 11.
3 – Các thông tin từ internet.
------------------------------------------------------------------------Danh mục các đề tài SKKN đã được Hội đồng Cấp Sở GD&ĐT đánh giá đạt
từ loại C trở lên:
1 – Một số giải pháp trong quản lý phòng máy thực hành ở trương THPT.
2 – Sử dụng công cụ tìm kiếm thông tin trên internet giúp HS học tập tốt hơn.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x