Tải bản đầy đủ

Tiểu luận trung cấp chính trị về MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ ĐỘNG CƠ NGƯỜI THỪA HÀNH

Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
LỜI CẢM ƠN
Thực tế trong cuộc sống của chúng ta không có sự thành công nào mà
không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay
gián tiếp của mọi người xung quanh. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học
tập tại …………(bổ sung địa điểm học) đến nay, em đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn
sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí
Minh đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức
quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại đây. Và đặc biệt, trong
học kỳ này, nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của các thầy cô thì
em nghĩ bài tiểu luận này của em rất khó có thể hoàn thiện được. Đặc biệt, là
thầy (cô)………………… đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tiểu luận tốt
nghiệp này.
Trong quá trình làm bài tiểu luận, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các
Thầy, Cô bỏ qua. Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực
tiễn còn hạn chế nên bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy, Cô để em học thêm được nhiều
kinh nghiệm.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày tháng 4 năm 2016

Học viên

Võ Hồng Loan

Học viên: Võ Hồng Loan

1


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động mang tính định hướng, gây ảnh hưởng,
tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng lòng với người lãnh đạo
thực hiện đường lối, chủ trương hoặc hệ thống mục tiêu nào đó. Mặc dù trong
cuộc sống con người luôn đòi hỏi phải có quan hệ bình đẳng, nhưng trong một
tổ chức người ta phải cần đến một nhà lãnh đạo có đủ năng lực để giúp họ tin
tưởng và dẫn dắt họ vượt qua mọi chông gai trong công việc. Khi không có
một ai am hiểu về việc làm để chỉ dẫn, điều hành và thống nhất, đồng thời
động viên tư tưởng, họ sẽ cảm thấy bồn chồn, lo lắng dẫn đến năng suất và
hiệu quả công việc giảm, thậm chí là sự tan rã của một tập thể, một tổ chức.
Sự xuất hiện của người lãnh đạo lúc này rất phù hợp với nhu cầu tâm lí của
họ. Người lãnh đạo sẽ là chỗ dựa, là sức mạnh và nguồn an ủi của mỗi người.
Bên cạnh đó, người thừa hành cũng đóng một vai trò không kém phần quan
trọng, họ là những người trực tiếp thực thi những nhiệm vụ mà người lãnh đạo
giao. Do vậy, mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người thừa hành luôn gắn
kết với nhau, trong đó mối quan hệ sâu sắc là động cơ của người lãnh đạo và
động cơ người thừa hành.
Khi nói đến hệ thống quản lý xã hội, chúng ta thường phân tích quan hệ
giữa chủ thể và khách thể quản lý, trong đó có mối quan hệ giữa động cơ của
chủ thể và động cơ của khách thể. Cũng như trong hệ thống tổ chức hoạt động
sản xuất hay mọi hoạt động quản lý khác, chúng ta không thể không nói đến
người lãnh đạo, cơ quan lãnh đạo và cả người thừa hành; động cơ của họ trong
quá trình công tác là gì và mối quan hệ của nó ra sao; có ảnh hưởng như thế
nào đến kết quả chung của một tập thể? Vấn đề này càng trở nên cấp bách đối
với những nước đang trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Việt
Học viên: Võ Hồng Loan

2



Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
Nam hiện nay. Vì ở đây, người lãnh đạo luôn đóng vai trò chủ đạo trong quá
trình quản lý, đồng thời người thừa hành là những người trực tiếp thực thi
những nhiệm vụ do lãnh đạo giao phó. Để đạt kết quả tốt trong quá trình lãnh
đạo quản lý chúng ta cần hiểu rõ động cơ của người quản lý và động cơ người
thừa hành; họ làm việc đó vì mục tiêu gì để từ có có giải pháp hài hòa cho mối
quan hệ giữa động cơ của người lãnh đạo và động cơ người thừa hành. Đó
cũng là nguyên nhân để em tìm hiểu đề tài “Mối quan hệ giữa động cơ người
lãnh đạo và động cơ người thừa hành”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tìm hiểu mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động
cơ người thừa hành sẽ thấy được sự cần thiết phải tạo động cơ làm việc, ảnh
hưởng của động cơ đến kết quả làm việc ra sao; đồng thời sẽ tìm ra giải pháp
để tạo động cơ làm việc tích cực, tạo được mối quan hệ hài hòa giữa động cơ
người lãnh đạo và động cơ người thừa hành.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính trong tiểu luận này sẽ tập trung vào động
cơ của người lãnh đạo và động cơ người thừa hành trong cơ quan Nhà nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng để hoàn thành tiểu luận
này là phương pháp tổng hợp tài liệu, nghiên cứu tạp chí, sách báo và các tài
liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của tiểu luận và phương pháp quan
sát trong thực tiễn công tác.
5. Kết cấu tiểu luận
Học viên: Võ Hồng Loan

3


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài tiểu luận gồm có 3 chương 7
tiết.

Học viên: Võ Hồng Loan

4


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
CHƯƠNG I: CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1. Động cơ và các khái niệm liên quan
1.1 Động cơ và nhu cầu
Theo Tâm lí học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lí về đối tượng có
khả năng thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào một
đối tượng nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng thoả
mãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nó mới có thể trở
thành động cơ thúc đẩy, định hướng hoạt động của chủ thể, thôi thúc con
người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu.
Như vậy, ở đây có mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu, hai hiện tượng
này luôn được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhiều khi đan
xen nhau khó tách rời. Có thể nói rằng, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tất
yếu khách quan thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiết
cho sự tồn tại và phát triển thì động cơ là biểu hiện chủ quan của tất yếu khách
quan đó. Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu không đồng nhất với nhau, những nhu
cầu giống nhau có thể được thoả mãn bằng những động cơ khác nhau. Và
ngược lại ở đằng sau những động cơ khác nhau lại có những nhu cầu khác
nhau. Động cơ thường không được chủ thể ý thức về nó ngay lúc đó, khi
chúng ta thực hiện những hành động này hay hành động khác thì thường lúc
đó chúng ta không ý thức về những động cơ đã thúc đẩy chúng ta. Khi được
hỏi về duyên cớ của hành động đó thì chúng ta không khó khăn gì khi nêu ra
nó, nhưng việc nêu duyên cớ này hoàn toàn không phải bao giờ cũng chỉ rõ
cho người ta biết những động cơ thực sự đã thôi thúc các hành động ấy.
Tuy nhiên, những động cơ này cũng không tách rời khỏi ý thức, ngay cả khi

Học viên: Võ Hồng Loan

5


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
con người không ý thức được động cơ hành động của mình thì ngay những lúc
như vậy, động cơ cũng được phản ánh vào tâm lí nhưng ở dưới một hình thức
đặc biệt: hình thức sắc thái cảm xúc của hành động. Sắc thái cảm xúc này
(cường độ, dấu hiệu của nó và đặc tính về chất của nó) thực hiện một chức
năng đặc biệt và điều đó đòi hỏi phải phân biệt khái niệm cảm xúc với khái
niệm hàm ý nhân cách.
Các động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử - xã hội. Động
cơ của con người nảy sinh ngay trong chính quá trình phát triển của cá thể,
chứ không phải có sẵn từ lúc đứa trẻ mới sinh ra. Trong tuổi ấu nhi, các động
cơ mới được hình thành một cách có thứ bậc, nhưng hết sức mờ nhạt, không
rõ ràng. Dần dần, trong quá trình phát triển, những động cơ này mới dần mang
tính chất xã hội nhiều hơn, do những động cơ đó gắn liền với việc trẻ lĩnh hội
được những chuẩn mực, quy tắc hành vi trong xã hội. Phần lớn các chúng ta
đều thừa nhận rằng, hệ thống động cơ của con người được hình thành trên cơ
sở hoạt động, giao tiếp của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội,
nhóm xã hội nhất định. Nhưng trong hoàn cảnh buộc con người phải lựạ chọn
động cơ nào cho phù hợp với việc tiến hành hành động, khi đó có quá trình
đấu tranh động cơ, hành động ý chí, khả năng nhận thức sẽ giúp con người đối
chiếu, so sánh động cơ để chọn ra đâu là động cơ phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh xung quanh, giúp chủ thể lường trước diễn biến và kết quả hành động.
Đây là quá trình khá quan trọng đối với cả người lãnh đạo và người thừa hành
để hình thành động cơ tích cực hướng đến mục tiêu chung của tập thể.
Mặt khác, đối tượng thoả mãn của con người là những sản phẩm của
quá trình sản xuất xã hội, với tư cách là những phản ánh tâm lí về đối tượng
đó nên động cơ đặc trưng của con người mang nguồn gốc xã hội. Ngay cả một
số động cơ mang tính chất sinh vật như động cơ đáp ứng nhu cầu tồn tại của
Học viên: Võ Hồng Loan

6


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
con người, các nhu cầu bản năng của con người cũng mang tính xã hội, nó phụ
thuộc vào điều kiện sống, lối sống, đặc trưng cho mỗi dân tộc.
1.2 Động cơ thúc đẩy
Con người không chỉ khác nhau về khả năng hành động mà còn khác
nhau về ý chí hành động hoặc sự thúc đẩy, đối với người lãnh đạo và người
thừa hành cũng vậy, sự thúc đẩy phụ thuộc vào sức mạnh của động cơ. Ðộng
cơ đôi khi được xác định như là nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thúc đẩy
của cá nhân. Ðộng cơ hướng tới mục đích, cái mục đích có thể là ý thức hoặc
chỉ trong tiềm thức.
Ðộng cơ là nguyên nhân dẫn đến hành vi, chúng thức tỉnh và duy trì
hành động, định hướng hành vi chung của cá nhân. Thực chất các động cơ
hoặc nhu cầu là những yếu tố chính của hành động. Ðộng cơ và nhu cầu có thể
thay thế nhau. Nhu cầu trong trường hợp này không liên quan đến sự khẩn cấp
hoặc bất kỳ một sự mong muốn cấp thiết nào về một cái gì đó. Nó chỉ có nghĩa
một cái gì đó trong một cá nhân, thúc đẩy cá nhân đó hành động.
1.3 Mục đích
Mục đích là trạng thái mong muốn đạt được. Ðôi khi mục đích ngụ ý
như là hy vọng đạt được phần thưởng mà các động cơ hướng tới. Những mục
đích này được gọi là các tác nhân kích thích. Người lãnh đạo thường có những
thành công trong việc khuyến khích nhân viên, người thừa hành để tạo ra một
môi trường có những mục đích thích hợp (tác nhân kích thích) để thoả mãn
nhu cầu. Mục đích là một trạng thái mong muốn của cá nhân hay tổ chức
hướng tới nhằm đạt được. Trong cơ quan tổ chức phải chú trọng hướng đến
mục đích chung, hạn chế tối đa việc phát sinh mục đích cá nhân, tư lợi.
Học viên: Võ Hồng Loan

7


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
1.4 Mục tiêu
Mục tiêu là kết quả hành động hoặc trạng thái của cơ sở trong tương lai.
Khác với mục đích, mục tiêu vừa có tính chất định hướng hành động, vừa xác
định rõ các tiêu chí đo lương kết quả của hành động sao cho ở thời điểm cần
hoàn thành mục tiêu chúng ta có thể biết được mục tiêu đã được hoàn thành ở
mức độ nào. Ngoài ra mục tiêu còn mang tính thời hạn với điểm bắt đầu và kết
thúc theo thời gian cụ thể. Việc hoàn thành mục tiêu không phải chỉ được đo
lường bằng các tiêu chí quy mô và chất lượng mà còn phải được xem xét về
khoảng thời gian thực hiện. Hơn nữa, một mục tiêu trong lãnh đạo, quản lý phải
là kết quả của hành động có chọn lựa theo hướng tối thiểu hóa nguồn lực sử dụng
và tối đa hóa độ hài lòng của những người liên quan.
2. Khái niệm về hoạt động lãnh đạo, quản lý
2.1 Khái niệm hoạt động lãnh đạo
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động của người lãnh đạo mang tính định hướng,
gây ảnh hưởng, tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận với
người lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương hướng tới mục tiêu nào đó. Lãnh
đạo tạo hiệu ứng điều khiển, dẫn dắt người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềm
tin, tiêu chuẩn đạo đức, lý tưởng… mà không mang tính cưỡng bức đối với
người khác. Ví dụ, Đảng lãnh đạo quần chúng không phải bằng sức mạnh của bộ
máy bạo lực mà bằng sự đúng đắn trong các đường lối, chủ trương thông qua
hoạt động tuyên truyền, giáo dục và sự gương mẫu của Đảng.
2.2 Khái niệm hoạt động quản lý
Quản lý mang tính kỹ thuật, quy trình được quy định rõ trong khuôn khổ
các thể chế xác định. Ví dụ, quản lý hành chính trong các cơ quan của Nhà

Học viên: Võ Hồng Loan

8


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
nước, quản trị trong các doanh nghiệp. Kỹ thuật quản lý có thể được nghiên
cứu và đào tạo. Nhà quản lý sử dụng quyền lực để điều hành người khác.
Lãnh đạo và quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Điểm
chung của hai hoạt động này là đều đạt đến mục đích mong muốn thông qua
hành động của người khác. Nói cách khác, hoạt động lãnh đạo và hoạt động
quản lý là hoạt động điều khiển con người. Trong thực tế, khó tách bạch hai
hoạt động này trong con người cán bộ. Cán bộ nào cũng đồng thời thực hiện
cả vai trò lãnh đạo lẫn vai trò quản lý. Vì thế, người ta thường gọi chung là
hoạt động lãnh đạo, quản lý.
Lãnh đạo là một chức năng của quản lý, thường được gọi là chức năng
lãnh đạo, còn chức năng khác của quản lý lại không phải là lãnh đạo. Ví dụ:
công việc mà những người tham mưu trong tổ chức làm là công tác quản lý,
nhưng không phải là công tác lãnh đạo. Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý,
công tác lãnh đạo vừa bao gồm hành vi quản lý, vừa bao gồm hoạt động
nghiệp vụ khác. Ví dụ: Một người làm trưởng phòng nhân sự (một chức vụ
quản lý) ở một chỗ này, thì dễ có thể chuyển sang làm trưởng phòng nhân sự ở
chỗ khác, vì làm quản lý nhân sự ở đâu cũng gần giống nhau, đòi hỏi cùng
một loại kỹ năng. Nhưng một người làm viện trưởng Viện Hóa (một chức vụ
lãnh đạo) cần có uy tín trong ngành hóa học, và khó có thể chuyển thành làm
viện trưởng Viện Cơ Học.
Thông thường, lãnh đạo chủ yếu là lãnh đạo con người, xử lý quan hệ
giữa người với người, đặc biệt là quan hệ cấp trên và cấp dưới (người lãnh đạo
và người thừa hành). Đây là vấn đề cốt lõi trong hoạt động quản lý. Còn về
quản lý, ngoài quản lý con người, đối tượng của quản lý còn bao gồm tài
chính, vật chất. Quản lý không chỉ xử lý quan hệ giữa người với người mà còn
phải xử lý mối quan hệ tài chính và vật chất, giữa vật chất và con người, giữa

Học viên: Võ Hồng Loan

9


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
con người và tài chính. Phạm vi mà quản lý đề cập đến rộng hơn nhiều so với
lãnh đạo.

Học viên: Võ Hồng Loan

10


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘNG CƠ NGƯỜI LÃNH
ĐẠO VÀ ĐỘNG CƠ NGƯỜI THỪA HÀNH
1. Các yếu tố tạo nên động cơ
Tùy vào mục tiêu cần đạt đến mà mỗi cá nhân có những động cơ để hành
động khác nhau, người lãnh đạo hay người thừa hành đều có những động cơ làm
việc riêng, người lãnh đạo có thể định hướng để cùng xây dựng động cơ làm việc
chung cho một tập thể nhằm hướng đến mục tiêu chung nhưng xét cho cùng các
yêu tố tạo nên động cơ của họ cũng gồm các yếu tố chung cơ bản sau:
1.1 Các yêu tố thuộc về bản thân mỗi con người
- Hệ thống nhu cầu của con người:
Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống
của mỗi con người như ăn, mặc, đi lại, chỗ ở …Đây là nhu cầu chính và cũng
là động lực chính khiến con người phải làm việc. Cuộc sống ngày càng được
nâng cao nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về
lượng sang nhu cầu về chất.
Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được
những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội ngày càng phát
triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm:
+ Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ.
+ Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội.
+ Nhu cầu công bằng xã hội.
Nhu cầu vật chất và tinh thần của con người có quan hệ biện chứng với
nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất - ý thức. Đây là hai nhu cầu
chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo động cơ, động lực cho làm việc của
con người.
- Các giá trị thuộc về cá nhân mỗi con người.

Học viên: Võ Hồng Loan

11


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
+ Năng lực thực tế cá nhân: là tất cả những kiến thức, kinh nghiêm mà
cá nhân đã đúc kết được trong suốt quá trinh học tập và lao động. Mỗi người
có những khả năng riêng nên động cơ khiến họ làm việc tích cực hơn cũng
khác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của mình thì động
cơ lao động sẽ tăng lên.
+ Tính cách cá nhân của mỗi người: Đây là yếu tố cá nhân bên trong
mỗi con người và được thể hiện qua quan điểm của họ trước một sự việc, sự
kiện nào đó. Quan điểm của mỗi người có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực
do vậy tạo động cơ cho con người còn chịu một phần ảnh hưởng từ tính cách
của họ.
- Các yếu tố bên trong công việc: Các yếu tố phụ thuộc vào bản chất
công việc mà mỗi người đang làm. Đây là sự khác biệt về vệc hình thành động
cơ khác nhau giữa người lãnh đạo và người thừa hành.
Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của con người kể
cả người lãnh đạo và người thừa hành, khi họ cảm thấy công việc đang làm là
phù hợp với mình họ sẽ tích cực lao động để đạt được mục tiêu của mình
ngược lại khi công việc không phù hợp người lao đọng dễ dẫn đến tình trạng
chán nản, không tập trung vào công việc.
1.2 Các yếu tố thuộc môi trường quản lý lãnh đạo
Tất cả những công tác quản lý lãnh đạo trong tổ chức đề có những ảnh
hưởng nhất định tới động lực, động cơ làm việc của mọi người, cụ thể:
+ Điều kiện và chế độ thời gian làm việc: đây là yếu tố có ảnh hưởng
không nhỏ tới động cơ làm việc, khi điều kiện lao động thuận lợi, môi trường
lam việc đảm bảo an toàn, vệ sinh, con người sẽ yêu thích công việc hơn, làm
việc tốt hơn.
+ Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Là sự sắp xếp, bố trí công việc đảm
bảo môi trường làm việc tốt nhất để mọi người phát huy một cách tối đa mọi
Học viên: Võ Hồng Loan

12


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
khả năng của bản thân. Tạo điều kiện để quá trình làm việc được liên tục nhịp
nhàng.
+ Đánh giá kết quả làm việc cũng chính là việc đánh giá cán bộ:
Nhận xét, đánh giá cán bộ là việc hệ trọng, là khâu mở đầu có ý nghĩa quyết
định trong công tác cán bộ, là cơ sở để lựa chọn, bố trí sử dụng, đề bạt, bổ
nhiệm và thực hiện chính sách cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ sẽ phát huy được
tiềm năng của từng cán bộ và của cả đội ngũ cán bộ. Đánh giá không đúng cán
bộ sẽ dẫn đến bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm sai, gây ảnh hưởng không tốt
cho địa phương, cơ quan, đơn vị
Hoạt động đánh giá kết quả làm việc để xét các mức khen thưởng hoặc
kỷ luật đồng thời qua công tác đánh giá cũng xem xét được năng lực, thành
tích và triển vọng của từng người từ đó đưa ra các quyết định nhân sự có liên
quan. Kết quả đánh giá cũng có ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm của từng
người nên nếu đánh giá không chính xác có thể dẫn đến hậu quả không mong
muốn.
+ Tổ chức kỷ luật: Là những tiêu chuẩn quy định những hành vi cá
nhân của mỗi người mà tổ chức xây dựng nên dựa trên cơ sở pháp lý hiện
hành và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Khi thực hiện tổ chức kỷ luật, người
lãnh đạo nên tránh tình trạng xử lý mang tính cá nhân gây bất bình cho cấp
dưới.
+ Công tác đào: là các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của tổ chức. Do vậy trong các tổ chức công tác đào tạo phát triển cần
được thực hiện một cách bài bản có kế hoạch rõ ràng, đối tượng được đào tạo
cũng phải chon lựa kỹ lưỡng tránh trường hợp đào tạo sai chuyên môn.
+ Văn hóa trong tổ chức: là toàn bầu văn hóa ứng xử, giao tiếp trong tổ
chức. Nơi nào có được bầu không khí văn hóa tốt sẽ có được tinh thần đoàn
kết cao, thực hiện công viêc dễ dàng hơn,làm việc với tinh thần hăng say vui
Học viên: Võ Hồng Loan

13


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
vẻ, cán bộ công nhân viên biết quan tâm tới nhau cả trong công việc và trong
cuộc sống. Ngược lại dù điều kiện cơ sở vật chất có cao, khen thưỏng, lương
bổng có tốt tới mấy cũng sẽ gây chán nản cho người lao động.
Suy cho cùng, động cơ của con người là cái thúc đẩy con người hoạt
động kể cả người lãnh đạo và người thừa hành nhằm đáp ứng nhu cầu của họ
và hướng đến mục tiêu đã đề ra.
2. Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa
hành
Động cơ hoặc nhu cầu là những nguyên nhân gây ra hành vi. Mọi cá
nhân đều có rất nhiều nhu cầu. Tất cả các nhu cầu này cạnh tranh với hành vi
của họ. Vậy cái gì quyết định động cơ nào trong số các động cơ của một người
nhằm cố gắng thoả mãn thông qua hành động. Nhu cầu mạnh nhất tại một thời
điểm nhất định sẽ dẫn đến hành động. Một động cơ có xu hướng yếu đi nếu nó
đã được thỏa mãn hoặc bị hạn chế sự thỏa mãn.
Động cơ của con người mang tính hệ thống. Các động cơ khác nhau của
con người nằm trong một mối quan hệ chặt chẽ tạo nên một hệ thống thống
nhất, trọn vẹn. Trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà phân biệt đâu là
động cơ chủ đạo, đâu là động cơ thứ yếu. Sự đấu tranh động cơ, động cơ nào
sẽ là động lực thúc đẩy chính con người tham gia vào quá trình hoạt động
do trình độ nhận thức của mỗi người, do các quy tắc, chuẩn mực mà con người
nắn được trong quá trình hoạt động của mình
Người ta có thể phân ra, động cơ gần, động cơ xa, động cơ thứ phát,
động cơ nguyên phát, động cơ tạo ý hay động cơ chức năng thúc đẩy, động
cơ đẩy hay động cơ kéo…Trong thực tiễn của cuộc sống, chúng ta đều cảm
nhận thấy rằng, mỗi người sống trong một thời đại có những động cơ gần như
giống nhau, khái quát nên những động cơ chung nhất như: động cơ thành đạt,
Học viên: Võ Hồng Loan

14


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
động cơ giao tiếp, động cơ tự khẳng định bản thân…Tuy nhiên, với mỗi người
lại có những động lực thúc đẩy họ thực hiện theo những cách riêng nhằm đáp
ứng động cơ đó. Như vậy trong cấu trúc của một động cơ ta ít nhất có thể thấy
được hai khía cạnh: khía cạnh nội dung của động cơ và khía cạnh lực của
động cơ
Về nội dung của động cơ: nội dung của động cơ phản ánh cái mà con
người muốn vươn tới, muốn đạt tới. Nội dung này vừa có tính khái quát vừa
có tính cụ thể tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể nơi con người đang sống
hay trong hoạt động của từng người cụ thể. Ví dụ như đối với người lãnh đạo
thì động cơ thành đạt mang tính khái quát được thực hiện trong hoạt động
quản lý. Khía cạnh lực của động cơ phản ánh độ mạng của động cơ. Khía cạnh
lực thể hiện ở chỗ, một động cơ nhất định có khả năng thúc đẩy những hoạt
động khác nhau nhằm thoả mãn động cơ đó hay không. Nếu có thì có thể duy
trì hoạt động đến mức nào, tính tích cực mạnh mẽ hay nửa vời…
Vì các hiện tượng tâm lí nảy sinh và tồn tại như một hình thức phản ánh tích
cực của môi trường sống và các hoạt động sống của con người. Các động cơ
của con người cũng được phản ánh như vậy. Vì vậy, khó có thể tách rời khía
cạnh nội dung và lực của động cơ. Một lực không có nội dung thì khó có thể
đạt được một ý nghĩa nào đó và không tồn tại như một lực thúc đẩy. Sự thay
đổi khía cạnh nội dung của động cơ sẽ kéo theo những thay đổi lực của động
cơ. Khi đó, động cơ đã hình thành sẽ mất đi và thay vào đó là sự xuất hiện
động cơ mới khác về chất.
Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng nghĩ vì sao bạn phải dậy mỗi
sáng để đến sở làm hay không? Lý do bạn phải đến sở làm là hàng tháng bạn
cần có một số tiền để tiêu vào một việc gì đó. Đó chính là động cơ, còn việc
sử dụng đồng tiền vào “một việc gì đó” chính là động lực. Thông thường một

Học viên: Võ Hồng Loan

15


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
điều gì đó đã được thỏa mãn thì con người không còn thích thú với nó nữa,
nếu có tiếp tục làm mà không có hứng thú thì có nghĩa là hết động lực. Khi
bạn có ít động lực thì động cơ sẽ hoạt động không tốt và “máy bay” sẽ gặp
trục trặc mà thôi.
Như vậy, đằng sau lý do mỗi con người đi làm quan trọng hơn lý do
người ta làm gì. Nếu việc một cá nhân làm một điều gì đó là những mục đích
lớn lao, nhiều thử thách và để khẳng định mình hoặc thỏa mãn niềm đam mê
của mình chẳng hạn sẽ tạo cho họ động lực không ngừng nghỉ và nhờ đó giúp
họ luôn làm việc một cách sáng tạo và hiệu quả.
Một trong những công việc quan trọng nhất của người lãnh đạo là duy
trì được động lực phát triển của tổ chức mà ở đó tập hợp và phát huy được sức
mạnh của các cá nhân hay nói cách khác là giúp cho mỗi cá nhân trong tổ
chức của mình tìm ra được giá trị và tiềm năng tốt nhất, qua đó họ làm việc
với một niềm đam mê không ngừng nghỉ thì chắc chắn tổ chức sẽ luôn phát
triển bền vững. Như vậy tạo động lực, động cơ lao động chính là sử dụng
những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ
hội thực hiện được những mục tiêu của mình.
Từ những phân tích trên, có thể mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo
và động cơ người thừa hành đều xuất phát ở điểm chung đó là mục tiêu của họ.
Nhưng do vị trí, vai trò khác nhau nên mục tiêu của người lãnh đạo và mục tiêu
của người thừa hành cũng khác nhau. Để phân biệt mục tiêu của người lãnh đạo
và mục tiêu của cấp dưới (người thừa hành) trong hoạt động của đơn vị, cần dựa
trên các tiêu chí sau: đó là căn cứ đề ra mục tiêu, ý nghĩa của mục tiêu và mối
liên hệ giữa mục tiêu của lãnh đạo quản lý và mục tiêu của người thừa hành.

Học viên: Võ Hồng Loan

16


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
Thứ nhất, về căn cứ đề ra mục tiêu, đối với người lãnh đạo đó là sự tổng
hợp của những căn cứ khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, mục tiêu của
người lãnh đạo quản lý được xác định trên cơ sở thực tế xã hội, thực tiễn tại đơn
vị, yêu cầu - chỉ tiêu của cấp trên giao, chức năng - nhiệm vụ được phân công,
nhu cầu xã hội…Về mặt chủ quan, mục tiêu của người lãnh đạo còn phụ thuộc
vào năng lực và phẩm chất của người đó. Điều đó được xác định thông qua tầm
nhìn, khả năng vạch ra những mục tiêu mang tính ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
phù hợp với từng giai đoạn, quá trình lãnh đạo cụ thể.
Đối với người thừa hành, về mặt khách quan, mục tiêu của họ chủ yếu chịu
sự tác động bởi nhiệm vụ cấp trên giao cũng như điều kiện của bản thân. Về mặt
chủ quan, mục tiêu của họ được xác định trên cơ sở năng lực và nhu cầu của
chính bản thân họ. Do đó, mục tiêu của người thừa hành chủ yếu mang tính ngắn
hạn hoặc trung hạn, không mang tính dài hạn.
Thứ hai, về ý nghĩa, mục tiêu của người lãnh đạo gắn liền với lý do của sự
tồn tại của đơn vị, là sự định hướng hoạt động của cả bộ máy, là cơ sở đánh giá
tính hiệu quả và mức độ hoàn thành của mục tiêu, là động lực phấn đấu và đảm
bảo tính thống nhất trong đơn vị. Đối với người thừa hành, đó đơn giản chỉ là sự
hoàn thành những nhiệm vụ được phân công hoặc sự thể hiện năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ phục vụ cho mục đích phấn đấu, thăng tiến của bản thân.
Thứ ba, về mối liên hệ giữa mục tiêu của người lãnh đạo và mục tiêu của
người thừa hành, cả hai có mối quan hệ biện chứng nhưng không đồng nhất với
nhau. Do đó người lãnh đạo phải biết cách tạo ra sự thống nhất giữa việc phấn
đấu thực hiện được mục tiêu của đơn vị với thoả mãn động cơ của mỗi cá nhân.
Muốn vậy, người lãnh đạo phải hoạch định mục tiêu đúng đắn và triển khai cho
người thừa hành, làm cho cả hệ thống thấm nhuần mục tiêu của đơn vị trước tiên.
Tiếp đến, việc tổ chức hệ thống bộ máy cơ quan cần hướng đến tạo điều kiện để
Học viên: Võ Hồng Loan

17


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
các cá nhân thực hiện việc thoả mãn các nhu cầu cá nhân của mình. Chỉ khi đó,
người thừa hành mới xác định mục tiêu cá nhân trên cơ sở mục tiêu của cơ quan,
đơn vị và phấn đấu thực hiện.
Từ đó có thể khẳng định, động cơ của người lãnh đạo và động cơ của
người thừa hành có mối quan hệ khắn khít với nhau. Khi động cơ của người lãnh
đạo và động cơ của người thừa hành hướng về mục tiêu chung là vì kết quả công
việc của cơ quan đơn vị, hướng về lợi ích chung của tập thể hay hướng về lợi ích
nhân dân, vì mục tiêu phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn thì động cơ làm việc
của cả người lãnh đạo và người thừa hành càng thôi thúc họ làm việc tốt hơn.
Tuy nhiên ngược lại, khi động cơ làm việc của họ vì lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến sự
mất niềm tin trong công tác lẫn nhau, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ và xa hơn nữa
là mất niềm tin trong nhân dân.
Sự tương hợp về động cơ giữa người lãnh đạo và người thừa hành có hình
thành được hay không, có tồn tại được hay không phụ thuộc rất lớn vào sự
thống nhất động cơ giữa các thành viên. Động cơ chung của tổ chức là hoạt
động của tập thể hoàn thành các mục tiêu đề ra, làm cho tập thể ngày càng phát
triển. Ngoài động cơ chung của người lãnh đạo và người thừa hành thì các cá
nhân cũng có những động cơ riêng của mình. Điều quan trọng là mỗi người
không để cho động cơ riêng lấn át, bao trùm lên động cơ chung của tập thể.
3. Sự cần thiết phải tạo động cơ trong công tác
3.1 Đối với người thừa hành
Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật
chất và tinh thần. Khi người thừa hành cảm thấy những nhu cầu của mình
được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn. Khi không
có động cơ thôi thúc làm việc thì kết quả công việc khó có thể đạt được mục
tiêu bởi vì khi đó họ chỉ làm làm việc để hoàn thành công việc được giao mà

Học viên: Võ Hồng Loan

18


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong quá trình làm việc, họ
chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phải thực hiện khi được giao
nhiệm vụ mà thôi. Do đó người lãnh đạo quản lý cần phải tạo được động cơ,
động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của người thừa hành.
Con người chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn một cách
tương đối những nhu cầu của bản thân. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ được
hưởng. Khi mà người thừa hành cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không
tương xứng với những gì họ bỏ ra họ cảm thấy không thỏa mãn được những
nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc không tập trung
cao. Lợi ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người thừa
hành nhân được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra
động lực, động cơ cho họ làm việc.
Động cơ làm việc còn giúp cho người thừa hành có thể tự hoàn thiện
mình. Khi có được động cơ làm việc thì người thừa hành có được nỗ lực lớn
hơn để làm việc học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc,
nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình.
3.2 Đối với người lãnh đạo
Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản và các “con rồng Châu Á” cho thấy
phải tiến ra con đường đi riêng phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, văn
hoá và xã hội Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì phải đuổi
kịp trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới trong một thời gian ngắn
với điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu và thiếu vốn đầu tư. Vì lý do
nêu trên, vấn đề kích thích lao động, tạo động cơ làm việc cho nhân viên,
người thừa hành để đạt kết quả cao trong công tác, hiệu quả lãnh đạo quản lý
trong cơ quan đơn vị ngày càng được nâng cao hiện đang là mối quan tâm của
người lãnh đạo. Kích thích người thừa hành là tạo ra sự thôi thúc bên trong
Học viên: Võ Hồng Loan

19


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
của con người đến với công việc, sự thôi thúc đó được tạo ra dựa trên một tác
động khách quan nào đó lên ý thức. Do đó, khi kích thích bất cứ hoạt động
nào, người ta phải chú ý đến các yếu tố tâm lý như mục đích công việc, nhu
cầu, hứng thú, động cơ làm việc của mỗi cá nhân và hàng loạt các đặc điểm
tâm lý cá nhân cũng như tập thể khác, từ đó mới có thể hình thành được biện
pháp kích thích hữu hiệu. Có thể kích thích người thừa hành bằng vật chất,
bằng giao tiếp hoặc bằng cách thoả mãn các nhu cầu khác của con người tạo
ảnh hưởng đến hành vi, cụ thể là nó có thể định hướng, điều chỉnh hành vi của
cá nhân. Tạo động lực kích thích người thừa hành làm việc có tác dụng:
+ Tạo sự gắn kêt giữa người thừa hành với người lãnh đạo, tổ chức giữ
được nhân viên giỏi.
+ Tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của người thừa
hành trong công tác
4. Ảnh hưởng của động cơ làm việc của CBCC đối với hiệu quả
hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước
Ảnh hưởng của động cơ làm việc của CBCC đối với hiệu quả hoạt động
của tổ chức hành chính nhà nước được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, động cơ làm việc quyết định hiệu suất làm việc của các cá
nhân trong tổ chức
Theo Carter, S., Shelton, M (2009), Blumberg, M. và Pringle (1982),
hiệu suất làm việc của nhân viên phụ thuộc đồng thời vào ba yếu tố:
+ Năng lực của bản thân cá nhân đó, là khả năng của cá nhân đó trong
thực hiện và giải quyết công việc. Năng lực cũng bao gồm kiến thức, kỹ năng,

Học viên: Võ Hồng Loan

20


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
hiểu biết và kinh nghiệm cho phép cá nhân hoàn thành công việc được giao.
Nói cách khác, cá nhân cần “biết làm” công việc đó.
+ Nguồn lực, điều kiện để thực thi công việc, gồm: công cụ, trang thiết
bị, nguyên vật liệu, sự hỗ trợ, cơ chế… để cá nhân có thể phát huy được năng
lực của mình. Nói cách khác, cá nhân cần có điều kiện để “có thể làm” công
việc đó.
+ Động cơ làm việc: cá nhân phải mong muốn đạt kết quả cao trong
công việc. Nói cách khác, cá nhân cần “muốn làm” công việc đó với kết quả
cao.
Để cá nhân có được kết quả làm việc cao, cần hội đủ ba yếu tố này. Nếu
một trong ba yếu tố này không được đảm bảo, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết
quả làm việc của cá nhân và nhóm làm việc.
Thứ hai, động cơ làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong tổ chức
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, người có động cơ làm việc thường
cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao. Chính vì vậy, họ luôn
thể hiện tính sáng tạo trong công việc, từ đó giúp tổ chức có thêm những ý
tưởng sáng tạo, đổi mới, tạo ra sự đột phá trong tổ chức, giúp tổ chức thích
ứng được với những thay đổi và chủ động tạo ra những thay đổi.
Thứ ba, động cơ tich cực giúp giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu
cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi người lao động có động cơ làm
việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc
hoặc tỉ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn. Người có động cơ làm việc tích cực ít
Học viên: Võ Hồng Loan

21


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
bị bệnh trầm cảm và thường có sức khoẻ về thể chất và tinh thần tốt. Người có
động cơ làm việc cao sẽ gắn kết với tổ chức, sáng tạo hơn và phục vụ nhu cầu
người dân tốt hơn, do đó họ sẽ đóng góp vào thành công của đơn vị, tổ chức.
Chính vì vậy, những người có động cơ làm việc (bao gồm cả người lãnh đạo
và người thừa hành) được coi là tài sản quý giá nhất của bất cứ cơ quan, đơn
vị nào.
Ngoài ra, động cơ làm việc trong cơ quan, đơn vị cũng giúp xây dựng
bầu không khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác chia sẻ, ít tranh chấp. Mọi
người sẵn sàng thích ứng với thay đổi và không phản ứng tiêu cực với những
thay đổi. Đây chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ
chức hành chính nhà nước.
5. Ý nghĩa của việc tạo động cơ trong công tác
Động cơ làm việc của các cá nhân trong tổ chức đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức. Mục
đích quan trọng nhất của tạo động cơ là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai
thác hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt
động của tổ chức. Tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức có ý nghĩa rất
lớn đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước.
Động cơ làm việc là sự thúc đẩy con người làm việc hăng say, giúp cho
họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong, vượt qua được những thách
thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Động cơ lý giải cho
lý do tại sao một người lại hành động. Một người có động cơ là khi người đó
bắt tay vào làm việc mà không cần có sự cưỡng bức, khi đó, họ có thể làm
được nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ ở họ. Động cơ làm việc thể hiện
dưới nhiều khía cạnh khác nhau như sự nhiệt tình, chăm chỉ, bền bỉ…

Học viên: Võ Hồng Loan

22


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
Như vậy, động cơ xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con
người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có
những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì động cơ của mỗi con người
khác nhau nên nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau để đạt được
mục tiêu trong lãnh đạo quản lý.

Học viên: Võ Hồng Loan

23


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP TẠO MỐI QUAN HỆ HÀI HÒA GIỮA
ĐỘNG CƠ NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ ĐỘNG CƠ NGƯỜI THỪA HÀNH
Để động cơ của người lãnh đạo và người thừa hành cùng hướng về cùng
mục tiêu chung là vì lợi ích tập thể hay trong quản lý nhà nước thì động cơ của
cán bộ công chức nói chung phải gắn với lợi ích của nhân dân, ta cần có giải
pháp để tạo mối quan hệ hài hòa giữa động cơ của người lãnh đạo và người
thừa hành, cụ thể như:
Thứ nhất, đảm bảo một hệ thống tiền lương khoa học, hợp lý
Tiền lương là mối quan tâm hàng đầu và là động lực làm việc của người
lao động trong bất cứ tổ chức nào. Do vậy, xây dựng một hệ thống tiền lương
khoa học, hợp lý, làm đòn bẩy kích thích năng suất và hiệu quả lao động luôn
là nhiệm vụ lớn đặt ra cho các cơ quan nhà nước. Muốn cải thiện được động
lực làm việc của cán bộ công chức thông qua tiền lương thì hệ thống tiền
lương phải đảm bảo được các nguyên tắc: trả lương theo cơ chế thị trường; trả
lương theo vị trí công việc; trả lương theo kết quả công việc.
Thực tiễn tiền lương ở Việt Nam hiện nay cho thấy, tiền lương trong
khu vực nhà nước thấp hơn nhiều so với khu vực tư nhân, đặc biệt là đối với
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và việc tăng lương đối với khu vực nhà
nước rất khó khăn bởi phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế – xã hội. Cải
cách tiền lương trong giai đoạn hiện nay để thực sự trở thành yếu tố thúc đẩy
CBCC làm việc tốt hơn là vấn đề không dễ, cần sự quan tâm, tham gia của cả
hệ thống chính trị và của Nhà nước.
Thứ hai, đảm bảo phân công công việc phù hợp với khả năng, năng lực
và sở trường của cán bộ công chức
Học viên: Võ Hồng Loan

24


Mối quan hệ giữa động cơ người lãnh đạo và động cơ người thừa hành
Khi cán bộ công chức được giao công việc phù hợp với khả năng, sở
trường, họ sẽ phát huy năng lực làm việc một cách tối đa trong những điều
kiện bình thường nhất. Vì vậy, tổ chức cần dựa vào những đặc điểm tâm lý cá
nhân, tính cách của các cán bộ công chức để sắp xếp công việc cho phù hợp.
Thứ ba, xác định rõ ràng mục tiêu cần đạt được của từng cá nhân cán
bộ công chức
Xác định rõ ràng mục tiêu công việc cho từng cá nhân cán bộ công chức
là việc vô cùng quan trọng, bởi khi có mục tiêu rõ ràng cán bộ công chưc sẽ có
động lực và đích phấn đấu, chủ động tìm cách đạt được mục tiêu đó. Tuy
nhiên, nếu mục tiêu quá cao hoặc quá thấp chỉ mang tính hình thức không thể
thực hiện được sẽ gây cho cán bộ công chức tâm lý chán nản và mất đi động
lực làm việc. Vì vậy, cần căn cứ vào mục tiêu của tổ chức và của đơn vị để cụ
thể hóa thành mục tiêu cho từng cá nhân. Cán bộ công chức là những người
hiểu rõ nhất những mục tiêu cụ thể nào có thể đem lại hiệu quả chung cho
công việc. Họ chính là người hiểu được mình có khả năng đạt được mục tiêu
đó hay không. Vì vậy, trong quá trình xây dựng mục tiêu cho cấp dưới, các
nhà quản lý cần phải trao đổi, tham khảo ý kiến của họ. Có như vậy, họ mới
sẵn sàng thực hiện mục tiêu đã được đề ra, không cảm thấy bị áp đặt và làm
việc có hiệu quả nhất. Nhà quản lý cần thường xuyên kiểm soát quá trình thực
hiện mục tiêu trong thực thi công vụ của cán bộ công chức và điều chỉnh khi
cần thiết. Cán bộ công chức cần được hỗ trợ về điều kiện, phương tiện trang
thiết bị, bổ sung thêm những kỹ năng cần thiết để thực hiện mục tiêu. Đồng
thời, nhà quản lý phải cho cán bộ công chưc thấy ý nghĩa đóng góp của họ đối
với sự phát triển của cơ quan, tổ chức.
Thứ tư, tạo cơ hội thăng tiến cho cán bộ công chức
Học viên: Võ Hồng Loan

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×