Tải bản đầy đủ

Gỉai pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn xã Liêu xá, huyện Yên mỹ, tỉnh Hưng yên

TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP Hà NộI
Khoa kinh tế và phát triển nông thôn

----------

KHểA LUN TT NGHIP

GII PHP GII QUYT VIC LM CHO LAO NG
NễNG THễN TRấN A BN X LIấU X,
HUYN YấN M, TNH HNG YấN

Tờn sinh viờn

:

PHM QUNH ANH

Chuyờn ngnh o to

:


KINH T

Lp

:

KTC- K55

Niờn khoỏ

:

2010 - 2014

Ging viờn hng dn

:

CN. BI TH KHNH HềA

H NI - 2014

1


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Em xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đều
đã được cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Người cam đoan

Phạm Quỳnh Anh

2


LỜI CẢM ƠN


Để hoàn thành cuốn khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm
ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & Phát triển
nông thôn, các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Bùi Thị Khánh
Hòa và các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của
mình.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị công tác tại UBND
xã Liêu Xá, cùng bạn bè và người thân đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời
gian làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về kiến thức thực tế nên
chắc chắn cuốn khóa luận tốt nghiệp này còn nhiều thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các cô chú, anh chị để bài khóa
luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Phạm Quỳnh Anh

3


TÓM TẮT
Liêu xá là một xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi tương đối lớn,
người làm nông nghiệp lại chiếm tỷ trọng cao vì thế tình trạng thiếu việc làm
diễn phổ biến, mặt khác trên địa bàn vẫn chưa tồn tại nghiên cứu nào về đề tài
giải quyết việc làm cho người lao động nên chúng tôi đã quyết định thực hiện
đề tài ‘‘ Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa
bàn xã Liêu xá, huyện Yên mỹ, tỉnh Hưng yên’’
Mục tiêu chính của đề tại là phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn tại địa phương từ năm 2011 – 2013. Sau đó đánh giá, rút
ra nhận xét đối với các phương pháp được sử dụng để giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn và địa phương từ đó rút ra những giải pháp để nâng cao
hiêu quả của những biện pháp đã được sử dụng.
Để làm rõ mục tiêu đề ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao động
nông thôn trên địa bàn xã Liêu xá. Đề tài cũng thể hiện những vấn đề lý luận
và thực tiến về lao động, lao động nông thôn, việc làm, thất nghiệp,…
Nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp như
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu (chọn 3 thôn đó là: Thôn Liêu thượng,
Liêu trung, Liêu xá); Phương pháp chọn mẫu điều tra(chọn ngẫu nhiên mỗi
thôn 50 lao động, tổng cộng có 150 mẫu); Phương pháp thu thập số liệu (số
liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp); Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA);
Phương pháp xử lý số liệu; Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp so
sánh; Phương pháp chuyên gia tham khảo và một số chỉ tiêu dùng trong
nghiên cứu.
Qua nghiên cứu thực trạng lao động tại xã đã nhận ra rằng lực lượng lao
động tại xã rất dồi dào, nhất là lứa tuổi trong độ tuổi lao động từ 15- 24 chiếm
29,03% năm 2013 và lứa tuổi 25 – 34 chiếm 24,98% năm 2013. Lực lượng
lao động làm việc chủ yếu trong ngành nông nghiệp chiếm 43,20 % năm
2013, xong xu hướng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp đang có

4


chiều hướng giảm dần bình quân mỗi năm giảm 3,96%/năm. Xét về mặt bằng
chung thì trình độ của người lao động tại xã còn thấp chỉ có 23,31% lao động
tốt nghiệp THPT và còn 3,49% chưa tốt nghiệp cấp I. Trong tổng số 5442 lao
động năm 2013 thì có tới 84,79% lao động là chưa qua đào tạo. Điều này
khiến cho vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn càng thêm khó
khăn.
Nghiên cứu thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao động
trên địa bàn xã thì thấy rằng trong thời gian qua xã đã có nhiều biện pháp để
có thể nâng cao khả năng có việc của người lao động. Các biện pháp chủ yếu
là: Đào tạo nghề cho người lao động, nhận thấy vấn đề cấp thiết là nâng cao
trình độ cho người lao động, và nhận thấy thuận lợi trong việc học nghề cho
người lao động đối với 3 cơ sở có vị trí thuận tiện nhất đối với xã vì thế xã đã
xúc tiến, khuyến khích lao động học nghề, thông qua điều tra chỉ ra rằng có
77,8% lao động đi học nghề có việc ngay khi kết thúc khóa học, có 66,7% lao
động được hỏi đánh giá tốt về công tác dạy nghề; Biện pháp thứ hai là Phát
triển ngành nghề, cụ thể là phát triển kinh tế hộ gia đình để có thể tận dụng
được mọi nguồn lao động, ở nhiều lứa tuổi khác nhau, bên cạnh đó tiếp tục
phát triển nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp đặc trưng của địa bàn
(Thuộc da, nấu rượu, vàng mã, xưởng mộc,…) có sự quy hoạch, đầu tư cụ thể
để phát triển thành làng nghề để tạo thương hiệu nâng cao hiệu quả kinh tế,
mặt khác phát triển du lịch cộng đồng tận dụng thế mạnh là khu di tích Hải
thượng lãn ông Lê Hữu Trác, truyền thống lễ hội, thu hút khách du lịch phát
triển kinh tế xã nói chung và nâng cao đời sống của mỗi lao động nói riêng;
Thứ ba là hướng nghiệp và giới thiệu việc làm cho LĐNT, tận dụng thế mạnh
là địa phương có khu công nghiệp và nằm trục đường quan trọng 39A và 39B,
nơi các doanh nghiệp tập trung đông đúc, hướng nghiệp giúp người lao động
lựa chọn được việc làm phù hợp, mặt khác có sự liên kết với doanh nghiệp,
khu công nghiệp để sử dụng lao động địa phương. Tiêu biểu là mỗi năm số

5


lao động địa phương làm việc tại KCN Thăng long II tăng 15,79%, đến năm
2013 có 720 lao động của xã làm việc tại đây, và trong số 150 lao động được
hỏi thì có tới 78,7% đánh giá tốt đối với giải pháp hướng nghiệp và giới thiệu
việc làm cho LĐNT. Bên cạnh hướng nghiệp và giới thiệu việc làm trên địa
bàn thì hoạt động XKLĐ trong những năm qua trên địa bàn xã cũng dần được
coi là hướng đi mới trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động. Từ
những giải pháp thực hiện đã mang lại kết quả khả quan mỗi năm số người có
việc làm tăng lên 10,85%.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kết quả giải quyết việc làm cho người
lao động như: Chính sách, chủ trương về giải quyết việc làm, các chính sách
chủ trương đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để hình thành các giải pháp giải
quyết việc làm, là bản hướng dẫn để thực hiện các biện pháp giải quyết việc
làm. Trong thời gian qua đảng và nhà nước đã xây dựng nhiều chương trình
việc làm quốc gia chia làm nhiều giai đoạn( giai đoạn 1998-2000, 2001-2005,
2006-2010, 2011-2015), bên cạnh đó là các chính sách hõ trợ vốn, đào tạo,…
Yếu tố ảnh hưởng tiếp theo đó là Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, đây là
yếu tố mang tính cơ sở để công tác giải quyết việc làm cho người lao động
được diễn ra tốt hơn; Hệ thống thông tin thị trường là yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp tới khả năng tiếp cận việc làm cũng như tiếp cận thông tin có liên quan tới
việc làm như thông tin về chủ trương chính sách của đảng, địa phương, thông
tin cơ sở tuyển dụng, thông tin về những yêu cầu tuyển dụng,…. Có được
thông tin chính sách và kịp thời mới giúp cho người lao động nâng cao khả
năng có việc làm cho bản thân; Nhóm yếu tố thuộc về người lao động như:
Trình độ của người lao động, tình hình sức khỏe của người lao động, khả năng
tự tìm kiếm việc làm của người lao động, là nhóm yếu tố mang tính chủ quan
mà người lao động cần tự bồi dưỡng cho bản thân để đáp ứng được những yêu
cầu của cơ sở tuyển dụng, chủ động trong việc tìm kiếm việc làm thông qua
nhiều phương thức khác nhau để nâng cao hiệu quả tìm kiếm việc làm.

6


Thông qua nghiên cứu về thực trạng công tác giải quyết việc làm cho
LĐNT trên địa bàn xã thì đề tài đã đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả của các biện pháp trên đó là Giải pháp chuyển dịnh đẩy mạnh cơ cấu
kinh tế, tiến hành đồng bộ trong cả ba nhóm ngành kinh tế là Nông ngiệp,
CN-XD, DV-TM, tiếp tục phát triển đa dạng hóa các loại hình tổ chức sản
xuất với trình độ kỹ thuật và quy mô tổ chức khác nhau để thu hút nhiều lao
động, phát triển kinh tế hộ, gìn giữ và phát triển ngành nghề truyền thống, tạo
hướng phát triển mới như phát triển du lịch,... Bên cạnh đó là nhóm giải pháp
phát triển đào tạo nghề và giải pháp về thông tin thị trường cho người lao
động, và nhiều giải pháp bổ trợ khác.

7


MỤC LỤC
Trang

8


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

9


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang

10


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BQ

Bình quân

CBCNVC

Cán bộ công nhân viên chức

CBGD

Cán bộ giáo dục

CC

Cơ cấu

CNH- HĐH

Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa

CN-XD

Công nghiệp- Xây dựng

Cty TNHH

Công ty Trách nhiệm hữu hạn

DNNN

Doanh nghiệp Nước ngoài

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

GDTX

Giáo dục thường xuyên

HTX

Hợp tác xã

KCN

Khu công nghiệp

KT-XH

Kinh tế-Xã hội

LĐNT

Lao động nông thôn

LLLĐ

Lực lượng lao động

SL

Số lượng

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

THTN

Trung học

TM-DV

Thương mại-Dịch vụ

UBND

Uỷ ban nhân dân

XKLĐ

Xuất khẩu lao động

11


PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Thời kỳ hiện nay là thời kỳ hội nhập là thời kỳ phát triển công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước. Dân số là vấn đề luôn được quan tâm không chỉ
riêng của địa phương nào mà là vấn đề chung của cả đất nước. Dân số nảy
sinh rất nhiều vấn đề đặc biệt trong đó phải nói tới đó là vấn đề về lao động và
việc làm. Lao động luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định tới thành
công của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nói riêng và công cuộc
toàn cầu hóa nói chung.
Việt nam là nước có khoảng 69% dân số là dân số nông thôn, và trong
khoảng 51 nghìn lao động trong cả nước thì tỷ lệ lao động nông thôn cũng
chiếm tới 71,5%. Với tình hình đất nước đang tiến hành công nghiệp hóa-hiện
đại hóa như hiện nay thì có thể nói lực lượng lao động ở nông thôn là lực
lượng chính để đạt được mục tiêu CNH-HĐH của đất nước. Trong tác phẩm
‘‘Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động – việc làm ở Việt Nam’’ của
TS. Nguyễn Hữu Dũng đã cho thấy được mặt tích cực của quá trình phát triển
các khu công nghiệp tới người lao động. Nhưng tác phẩm cũng chỉ ra những
hạn chế cho thấy thu nhập của người lao động nông thôn không cao, vì chủ
yếu thu nhập vẫn dựa vào nông nghiệp, khi quá trình công nghiệp hóa-hiện
đại hóa diễn ra mạnh mẽ, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi đáng kể, người
lao động thiếu hụt tư liệu sản xuất, trình độ quá kém không đáp ứng được yêu
cầu tuyển dụng,... Mặt khác, trong tác phẩm ‘‘Vấn đề việc làm cho nông dân
hiện nay – bài toán khó không dễ giải’’ của ThS. Phạm Thị Uý đã chỉ ra rằng
muốn giải được bài toán về việc làm cho người lao động thì cần phải thay đổi
nhận thức của người lao động về việc làm, thu nhập, giúp lao động khắc phục
hạn chế, tiếp cận được cơ hội việc làm.

12


Xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng yên là một xã thuần nông, cùng
với sự phát triển của đất nước kinh tế xã cũng có những nét khởi sắc, những
năm qua trên địa bàn xã và vùng phụ cận đã trở thành địa điểm xây dựng
nhiều khu công nghiệp, kể cả những khu công nghiệp được đánh giá là trọng
điểm của cả nước. Đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện, xong việc xây
dựng các khu công nghiệp khiến cho diện tích đất nông nghiệp bị sụt giảm
đáng kể, khiến nhiều người dân sống dựa vào nông nghiệp bị mất việc làm,
mặt khác do trình độ của người lao động chưa cao cho nên khả năng tìm kiếm
việc làm mới thay thế bị hạn chế, điều này làm cho đời sống của người dân bị
ảnh hưởng nghiêm trọng, bên cạnh đó tệ nạn xã hội trên địa bàn xã có chiều
hướng ra tăng và diễn biến phức tạp, mà phải nói tới đó là phần lớn số người
phạm tội là những người thất nghiệp, chưa hoặc không có việc làm. Vì thế,
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho
cấp chính quyền sở tại.
Xong cho tới hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề
việc làm cũng như giải quyết việc làm trên địa bà xã Liêu xá, xuất phát từ tình
hình đó tôi thực hiện đề tài: “Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn trên địa bàn xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên’’
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng giải quyết việc làm cho lao động trên
địa bàn xã Liêu Xá, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả của các giải pháp giải quyết đó tạo điều kiện ổn định cuộc sống, nâng cao
thu nhập cho người lao động nông thôn xã Liêu Xá.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
-

Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết

-

việc làm cho lao động nông thôn.
Nghiên cứu thực trạng lao động, việc làm của lao đông tại xã Liêu Xá, huyện
Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
13


-

Đánh giá các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của địa

-

phương thời gian qua
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các giải pháp giải quyết việc làm
cho lao đông nông thôn của xã Liêu Xá.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng

-

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến việc làm và
giải quyết việc làm của lao động nông thôn xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh

-

Hưng Yên.
Chủ thể nghiên cứu là những người dân lao động tại xã Liêu xá
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung:
Nghiên cứu hoàn thiện các giải pháp giải quyết vấn đề lao động và việc
làm cho lao động nông thôn của xã Liêu Xá. Qua đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc là cho người lao động.
1.3.2.2. Phạm vi không gian:
Nghiên cứu đề tài được tiến hành trên địa phận xã Liêu Xá, huyện Yên
Mỹ, tỉnh Hưng yên
1.3.2.3 Phạm vi thời gian:




Đề tài nghiên cứu số lượng thứ cấp giai đoạn năm 2011-2013, số liệu sơ cấp
năm 2013
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 01/02/2014 đến 04/06/2014

14


PHẦN II:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.Lao động nông thôn
2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm nguồn lao động nông thôn
a. Khái niệm lao động
‘‘Lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và giới tự
nhiên, là quá trình trong đo hoạt động của con người làm trung gian va kiểm
tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên’’. Trích C.Mác-Ph.Ăngghen (1993)
toàn tập, tập số 23.
‘‘Lao động là hoạt động có mục đích của con người hoạt động này
nhằm đáp mục đích cụ thể để đem lại của cải vật chất và tinh thần phục vụ
con người’’. Trích bộ luật lao động nước CHXH Việt Nam (2004)
Khi nói đến lao động không thể không nhắc tới sức lao động, sức lao
động là toàn bộ thể chất và tinh thần của con người tồn tại trong một cơ thể,
trong đó một người đang sống và được con người đó đem ra sử dụng mỗi khi
sản xuất một giá trị sử dụng nào đó.
Như vậy, lao động chính là sự sử dụng sức lao động, quá trình lao động
đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động.
b. Khái niệm về lao động nông thôn
‘‘Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số và làm việc tại
nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng
lao động’’.
Lực lượng lao động nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông
thôn có khả năng lao động, đang có việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính
chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông
nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những
người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc
phù hợp với mình.Từ đây ta có thể nhận thấy rằng nguồn lao động ở nông

15


thôn rất dồi dào, nhưng phải làm thế nào để giải quyết được hết việc làm cho
người lao động nông thôn thì vẫn còn là vấn đề mang tính thách thức rất lớn.
2.1.1.2. Đặc điểm của nguồn lao động nông thôn
Đặc điểm của lao động nông thôn mang nhiều nét tương đồng với lao
động trong sản xuất nông nghiệp.
Thứ nhất: lao động nông thôn mang tính thời vụ cao và không thể xóa bỏ
được.Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các
quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (đất, khí hậu,..). Do đó,
quá trình sản xuất mang tính thời vụ rất cao, thu hút lao động không đồng đều.
Chính tính chất này làm cho việc sử dụng lao động nông thôn trở nên phức tạp.
Thứ hai là: nguồn lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và
có tính thích ứng lớn. Do đó việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lao động có
ý nghĩa kinh tế lớn nhưng rất phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý
lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp
Đăc điểm tiếp theo là Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình
độ thấp. Sản xuất nông nghiệp có nhiều công việc gồm nhiều khâu với tính
chất khác nhau, hơn nữa mức độ áp dụng máy móc chưa cao nên sản xuất
nông nghiệp chỉ đòi hỏi sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm, vì thế mà lực
lượng lao động lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố không
đều dẫn tới hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong tiếp thu kỹ thuật và công
nghệ mới.
Nghiên cứu đầy đủ tính chất và những đặc điểm nói trên của lao động
nông nghiệp là có thể tìm ra những biện pháp sử dụng tốt nhất nguồn lao động
trong nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung.
2.1.2. Lực lượng lao động
2.1.2.1. Khái niệm nguồn lao động
Nguồn lao động là nguồn lực về con người, trước hết là nguồn cung cấp
sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động và có khả
16


năng tham gia lao động không kể đến trạng thái có tham gia lao động hay không.
Nguồn lao động với tư cách là yếu tố cho sự phát triển kinh tế xã hội, là
khả năng lao động của xã hội, được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm những
dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Cũng có thể hiểu là sự
tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là
tổng thể yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn lao động được xem xét trên hai góc độ, đó là số lượng và chất
lượng. Số lượng lao động được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ
tăng dân số. Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt như sức khoẻ,
trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất, đạo đức.
2.1.2.2. Khái niệm lực lượng lao động
Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc
làm, không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nhờ nghiên
cứu lao động giúp cho mỗi quốc gia có chủ trương, phương hướng, biện pháp
trong giải quyết việc làm và sử dụng lực lượng lao động có hiệu quả.
Lực lượng lao động trong nông nghiệp: Bao gồm những người thuộc
lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp có hộ khẩu thường trú ở nông thôn
(được giao đất nông nghiệp sản xuất) lực lượng lao động gồm 2 bộ phận: Lực
lượng lao động trong độ tuổi lao động (ở Việt Nam quy định nam từ 15 đến
60, nữ từ 15 đến 55 tuổi) và lực lượng lao động trên độ tuổi lao động. Ngoài
ra, do tính chất công việc và đặc điểm kinh tế xã hội nông thôn một lực lượng
lao động có nhu cầu làm việc cũng cần được giải quyết việc làm. Đó là lực
lượng lao động trên và dưới độ tuổi lao động.
LLLĐ tuy là một bộ phận của nguồn lao động nhưng không đồng nhất
với nguồn lao động, LLLĐ không bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động nhưng không tham gia hoạt động kinh tế như:
đang đi học, làm nội trợ trong gia đình nhưng chưa có nhu cầu làm việc. Vì
vậy, ngoài các đặc trưng về nhân khẩu, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
kỹ thuật, LLLĐ còn bao hàm các đặc trưng về trình độ, cơ cấu, kỹ năng nghề
17


nghiệp, cấu trúc đào tạo, tác phong kỷ luật lao động, đạo đức làm việc, sự
hiểu biết về pháp luật, khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển CNH-HĐH
đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, khả năng hội nhập với thị trường lao động
trong khu vực và trên thế giới…
2.1.3. Việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
2.1.3.1. Lý luận về việc làm và thất nghiệp
a. Khái niệm việc làm
Theo Bộ luật lao động được sửa đổi năm 2007 quy định ‘‘Mọi hoạt động
lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc
làm’’
Như vậy, việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo
thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình người lao động hoặc cộng đồng
nào đó.Với khái niệm này, nội dung khái niệm việc làm được mở rộng, tạo
khả năng giải quyết việc làm cho nhiều người. Người lao động được tự do
hành nghề, tự do liên doanh, liên kết để tọa việc làm và tự do thuê mướn lao
động theo pháp luật của nhà nước, để tạo việc làm cho mình và thu hút lao
động xã hội theo quan hệ cung-cầu về lao động trên thị trường.
Việc làm bao gồm 3 dạng:
- Làm những công việc được trả công lao động dưới dạng tiền hoặc hiện
vật hoặc đổi công
- Các công việc tự làm (tự sản xuất, kinh doanh) để thu lợi nhuận
- Làm các công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả công
Thời gian thực hiện công việc:
- Việc làm thường xuyên và việc làm tạm thời: căn cứ vào số thời gian có
việc làm thường xuyên trong một năm.
- Việc làm đủ thời gian và làm không đủ thời gian: căn cứ vào số giờ làm
việc trong một tuần.

18


- Việc làm chính và việc làm phụ: căn cứ vào khối thời gian hoặc mức độ
thu nhập trong việc thực hiện một số công việc nào đó.
Người thiếu việc làm là người lao động đang làm việc nhưng họ không
làm hết thời gian theo quy định hoặc làm những công việc với mức lương
thấp không đáp ứng đủ nhu cầu cuộc sống của họ, họ muốn tìm thêm việc làm
để bổ sung thu nhập.
Nguyên nhân của thiếu việc làm:
Do nền kinh tế chậm phát triển, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu
người thấp và giảm dần do quá trình đô thị hóa.
Do LLLĐ tăng quá nhanh, trong khi số chỗ làm việc mới tạo quá ít, trình
độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cảu người lao động còn thấp kém.
Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tư chưa hợp lý
khiến sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được.
b. Thất nghiệp
Thất nghiệp là sự tồn tại của một bộ phận lực lượng lao động có khả
năng và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm.
Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt
động kinh tế không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc đang tích cực tìm
việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc trong khoảng thời gian quy định
Căn cứ vào thời gian thất nghiệp, người thất nghiệp được chia thành Thất
nghiệp ngắn hạn và thất nghiệp dài hạn.
- Thất nghiệp ngắn hạn: Là thất nghiệp liên tục từ dưới 12 tháng tính
ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước.
- Thất nghiệp dài hạn: Là người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên
tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước, phần
lớn các nước đều sử dụng khái niệm trên để xác định người thất nghiệp, tuy
nhiên cũng có sự khác biệt khi xác định mức thời gian không có việc làm.
Trong khi phân loại cơ cấu các thị trường lao động hiện nay, thất nghiệp
phân ra làm 3 loại khác nhau đó là thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp theo chu
kỳ và thất nghiệp có tính cơ cấu.
19


Thất nghiệp tạm thời là phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con
người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc
sống. Thậm chí trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm, vẫn luôn có một chuyển
động nào đó do con người ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp hoặc chuyển đến
một nơi sinh sống mới, hay phụ nữ có thể quay trở lại làm việc sau khi có
con. Do những công nhân thất nghiệp tạm thời thường chuyển công việc hoặc
tìm những công việc mới tốt hơn, cho nên thường cho rằng đây là bộ phận
những người thất nghiệp “tự nguyện”.
Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung cầu
lao động, sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một lượng lao
động tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác giảm mà mức
cung không được điều chỉnh nhanh chóng. Như vậy trong thực tế xảy ra sự
mất cân đối trong các ngành nghề hoặc các vùng do một số lĩnh vực phát triển
so với một số lĩnh vực khác và do quá trình đổi mới công nghệ. Nếu tiền
lương rất linh hoạt trong những khu vực có nguồn cung cao và tăng lên trong
khu vực có mức cầu cao.
2.1.3.2. Đặc điểm việc làm trong nông thôn
Ở nông thôn các hoạt động sản xuất thưởng bắt nguồn từ kinh tế hộ gia
đình, các thành viên trong gia đình có thể luân chuyển thay thế thực hiện công
việc của nhau. Vì vậy việc chú trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế
hộ cũng là biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động. Thu hút lao
động trong các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi cũng sẽ khác
nhau, đông thời thu nhập cũng khác nhau, vì vậy chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi theo hướng sử dụng nhiều lao động theo hướng sử dụng nhiều lao
động hơn cũng là biện pháp tạo thêm việc làm trong sản xuất nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu và các yếu tố đất đai, cơ sở hạ tầng
(giao thông, thủy lợi, các hoạt động cung ứng giống, phân bón,…). Hoạt động
dịch vụ nông thôn bao gồm các hoạt động cung ứng đầu vào cho sản xuất
Nông - Lâm - Ngư nghiệp, các mặt hàng chủ yếu cho đời sống dân cư nông
20


thôn, là khu vực thu hút đáng kể lao động và tạo ra thu nhập cao cho người
lao động.
Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực việc làm truyền thống va thu hút nhiều
lao đông dân cư nông thôn, nhưng do quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa
làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể điều này làm cho tình
hình việc làm ở nông thôn bị giảm đáng kể. Hiện nay, những việc là ở nông
thôn chủ yếu là các công việc đơn giản, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề, với tư
liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ cầm tay, dễ học hỏi. Vì vậy khả
năng thu hút lao động luôn cao, tuy nhiên sản phẩm làm ra chất lượng thường
không cao, mẫu mã lại đơn giản, năng suất lao động thấp, tỷ lệ đói nghèo cao
so với khu vực thành thị.
2.1.3.3. Nội dung của giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
a. Giải quyết việc làm theo hướng tạo việc làm tại chỗ
Tạo điều kiện phát triển cho các công việc tại nhà, tại địa phương,
khuyến khích người lao động tham gia đào tạo nghề,… là những giải pháp
phổ biến cho công tác giải quyết việc làm cho người lao động, các giải pháp
này giúp tận dụng được quỹ thời gian nông nhàn của người lao động, nâng
cao trình độ của người lao động sao cho phù hợp với những yêu cầu trong các
lĩnh vực khác như: công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ,….
Thực hiện thêm các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất trên địa phương, để họ sử dụng lao động nông thôn của địa
phương, thực hiện tốt các quy định về bảo hiểm, tiền lương cho người lao
động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, lành mạnh trong doanh nghiệp.
Hiện nay, dưới sự định hướng của Đảng và nhà nước thì đã có nhiều văn
bản ban hành nhằm đẩy mạnh công tác phát triển, giữ gìn làng nghề truyền
thống, dạy nghề, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động tạo ra nhiều hiệu
quả tích cực trong công tác tạo việc làm cho người lao động
b. Giải quyết việc làm theo hướng phát triển sản xuất
21


Công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại là những ngành có tiềm
năng lớn về cơ hội việc làm cho người lao động mang lại thu nhập cao và
thường xuyên hơn so với nông nghiệp, vì thế tích cực thu hút thêm đầu tư, ổn
định phát triển cái đã có là cơ sở để giải quyết việc làm một cách hiệu quả
Lĩnh vực nông nghiệp tuy không còn chiếm tỷ trọng cao, xong bản thân
ngành nông nghiệp vẫn có nhiều biện pháp để phát triển chẳng hạn như giao
đất, khai hoang, hỗ trợ đất, thực hiện thâm canh, tăng vụ…..bên cạnh đó ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hay chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi cũng là những giải pháp kích thích phát triển nông nghiệp từ đó tạo thêm
việc làm cho lao động lúc nông nhàn.
Phát triển các ngành nghề kinh tế như: kinh tế hộ gia đình, phát triển các
làng nghề, phát triển du lịch cộng đồng,... cũng là cách giải quyết việc làm
hiệu quả, tạo thêm việc làm lúc nông nhàn cho người lao động
c. Giải quyết việc làm theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu lao động
Hỗ trợ, khuyến khích các trung tâm, doanh nghiệp, trung tâm giới thiệu
việc làm tham gia xuất khẩu lao động để các đơn vị này có điều kiện để liên
kết mở rộng hợp tác với các thị trường bên ngoài bên cạnh đó cũng phải tăng
cường các công tác quản lý lao động, có cơ chế rõ ràng, đảm bảo quyền lợi và
an toàn cho người lao động.
Khuyến khích mở rộng các thị trường xuất khẩu lao động, bên cạnh đó
thực hiện tốt các thỏa thuận đối với những thị trường quen thuộc để nâng cao
uy tín, tạo tiền đề cho phát triển sau này. Đối với người lao động cần phải bổ
sung thêm các chương trình như đào tạo nghề, trang bị kiến thức và những hộ
trợ cần thiết cho người lao động đi xuất khẩu.
2.1.3.4. Vai trò của giải quyết việc làm trong nông thôn
Việt Nam là một nước có lực lượng lao dộng dồi dào, đây có thể coi là
lợi thế rất lớn đối với nước nhà trong quá trình phát triển đất nước. Giải quyết
việc làm cho người lao động không những giúp phát triển đất nước mà còn
22


giúp chúng ta tận dụng được các nguồn nhân lực trong xã hội. Mỗi quốc gia
đều có những nguồn lực riêng trong qua trình phát triển KT-XH, nguồn lực về
vốn, kỹ thuật, công nghệ, đặc biệt là nguồn lực về con người mà nước ta thì
lại là một quốc gia rất tiềm lực về vấn đề này. Khi chúng ta tạo việc làm cho
người lao động sẽ phát huy được yếu tố con người và chính lao động sẽ khai
thác hợp lý các nguồn tài nguyên về vốn, kỹ thuật, công nghệ… điều này có ý
nghĩa rất lớn với khu vực nông thôn.
Ở khu vực nông thôn, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
chuyên môn hóa, toàn diện, đồng thời chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, khi đó lao động nông thôn được phân
công hợp lý tạo ra năng suất lao động tăng lên, đời sống xã hội ở nông thôn
ngày càng được tăng lên. Khi lao động nông thôn có việc làm sẽ thúc đẩy
kinh tế khu vực nông thôn phát triển hơn, đời sống người dân tăng lên, các tệ
nạn xã hội giảm đi, áp lực về dân số giảm bớt.
Tạo việc làm cho người lao động là một biện pháp quan trọng nhằm
phân phối thu nhập, hiện nay khoảng cách giàu nghèo ngày càng ra tăng,
đây là áp lực lớn không chỉ với xã hội ta mà cả trên thế giới. Khi nguồn lao
động có việc làm đặc biệt là đối với lao động nông thôn thì họ sẽ có thu
nhập, lúc đó đời sống của người lao động được nâng lên, xã hội công bằng
theo đúng chủ trương chính sách của Đảng – Nhà nước ta đề ra, thực hiện
thắng lợi chính sách phát triển con người thúc đẩy phát triển đất nước để
tiến lên XHCN.
Dân số Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn và làm việc trong nghành
nông nghiệp. Đặc điểm của lao động nông thôn là tăng nhanh, ít đào tạo, đa
dạng về lứa tuổi, sử dụng thời vụ, có nhiều cơ hội việc làm nhưng giá tiền
công lại rẻ đi, di chuyển lao động và một bộ phận lao động tự do.Vì vậy trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội giải quyết việc làm cho lao động đặc biệt
là lao động nông thôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu.

23


2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn
Giải quyết việc làm cho lao động trong nông thôn không chỉ thực hiện
được ngay trong chốc lát mà cần có sự hỗ trợ của tất cả các ngành, đoàn thể
trong xã hội. Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thường bị ảnh
hưởng bởi các yếu tố sau:
2.1.4.1. Các chủ trương chính sách về giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn
Đảng và nhà nước là bộ phận vô cùng quan trọng trong tất cả các hoạt
động của đất nước, có vai trò không thể tách rời trong tất cả các hoạt động của
đất nước. Thông qua các chính sách chủ trương mà hoạch định các bước đi
đúng đắn để các cấp thấp hơn có mục tiêu và đường lối thực hiện, hay nói rõ
hơn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn thì vấn đề tạo
việc làm như thế nào? chủ yếu cho đối tượng nào? với khối lượng là bao
nhiêu? … hoàn toàn phụ thuộc vào cơ chế chính sách cụ thể theo những
khoảng thời gian khác nhau. Những năm qua được sự quan tâm của cấp trên
mà xã Liêu xá đã có những hiệu quả khả quan về vấn đề giải quyết việc làm
cho lao động trên địa bàn xã, góp phần giảm sức ép của vấn đề tăng dân số,
thu hẹp đất nông nghiệp, thất nghiệp, thiếu việc làm trên địa bàn xã.
2.1.4.2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Đất đai cùng tài nguyên sinh vật trên đất vừa là đối tượng, vừa là tư liệu
sản xuất đặc biệt để con người tác động vào nó tạo ra của cải vật chất phục vụ
cho nhu cầu phát triển của xã hội. Diện tích đất canh tác, mặt nước càng lớn, tài
nguyên nông, lâm, thủy sản càng phong phú thì khả năng tạo việc làm trong
nông nghiệp, nông thôn càng nhiều. Tuy nhiên diện tích đất đai, mặt nước của
mỗi vùng là đại lượng hữu hạn và đang có xu hướng bị co hẹp do sự xâm lấn của
các ngành kinh tế khác. Tài nguyên nông, lâm, thủy sản đang bị suy giảm
nghiêm trọng do sự khai thác quá mức của con người. Vì vậy, vấn đề tạo việc
làm đang trở nên khó khăn và phức tạp khi lao động xã hội ngày một tăng.

24


Cơ sở kỹ thuật bao gồm hệ thống đường giao thông, thủy lợi, điện thông
tin liên lạc… là các yếu tố gián tiếp góp phần tạo ra việc làm và nâng cao hiệu
quả việc làm. Việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các cộng đồng dân cư sẽ
tạo khả năng thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp tạo ra môi trường
phát triển việc làm trong từng cộng đồng.
2.1.4.3. Dân số - nguồn lao động
Dân số và việc làm có quan hệ tương hỗ, dân số tăng nhanh tất yếu sẽ
làm tăng nguồn lao động tất yếu sẽ làm tăng sức ép về giải quyết việc làm với
mỗi thành viên và cộng đồng, gây ra tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Mặt
khác, nguồn lao động là nguồn lực rất cơ bản để phát triển kinh tế. Khi kinh tế
phát triển thì khả năng tạo việc làm trong xã hội còn nhiều. Giải quyết mối
quan hệ dân số và việc làm là vấn đề nan giải của mỗi quốc gia. Chính phủ
luôn phải đối phó với xu hướng gia tăng số lượng lao động với qui mô lớn
hơn tốc độ gia tăng số chỗ làm việc. Vì vậy, bên cạnh việc kiểm soát tốc độ
phát triển về số lượng lao động, việc không kém phần quan trọng là phải nâng
cao chất lượng nguồn lao động – một yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng
giải quyết việc làm trong xã hội.
2.1.4.4. Hệ thống thông tin thị trường lao động
Được thực hiện bởi chính phủ và các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu
tuyển dụng lao động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí,
đài phát thanh, ti vi, radio… các thông tin được cung cấp bao gồm, ở đâu đang
tuyển dụng? tìm việc làm ở đâu? nghề gì? yêu cầu tuyển dụng như thế nào? ….
Hệ thống thông tin càng đầy đủ thì càng giúp cho người lao động tìm
được việc làm nhanh hơn và hiệu quả hơn. Mặt khác hệ thông tin còn giúp
cho các nhà tuyển dụng biết được nhu cầu của người lao động, thông qua đó
người lao động hay tuyển dụng cũng biết được yêu cầu của đối tác và khả
năng của bản thân để tìm đươc công việc thích hợp, và hoàn thiện bản thân để
có được công việc như mong muốn. Do đó mà hệ thống thông tin ảnh hưởng
rất lớn tới vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×