Tải bản đầy đủ

Tài liệu Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 7

Tài liệu tham khảo

Tháng 10/2011

Lời mở đầu
1


Để giúp các thầy giáo, cô giáo có thêm tài liệu tham khảo
trong quá trình phát hiện và bồi dỡng nguồn học sinh giỏi môn Ngữ
văn cấp THCS , chúng tôi biên soạn tập Đề cơng Bồi dỡng học sinh
giỏi môn Ngữ văn lớp 6, 7, 8 ,9. Trân trọng gửi tới các thầy các cô.
Môn Ngữ văn có nhiều phân môn, kiến thức rộng, kĩ năng
ngày một cao theo từng khối lớp. Một học sinh có năng khiếu Văn
cần đợc rèn luyện toàn diện về kiến thức, về kĩ năng mới trở thành
học sinh giỏi Văn đợc. Vì vậy trong tài liệu này chúng tôi trình bày
thành 4 chuyên đề:
1. Đề cơng bồi dỡng học sinh giỏi Ngữ văn lớp 6.
2. Đề cơng bồi dỡng học sinh giỏi Ngữ văn lớp 7.
3. Đề cơng bồi dỡng học sinh giỏi Ngữ văn lớp 8.
4. Đề cơng bồi dỡng học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9.

Môn Văn là môn học của tâm hồn. Mặc dù đã rất cố gắng
trong quá trình biên soạn nhng vì kinh nghiệm, thời gian và khả
năng có hạn nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi mong
nhận đợc sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo để nội dung tài liệu
đợc phong phú và đạt hiệu quả cao hơn.
Tháng 10 năm 2011

Tài liệu tham khảo
bồi dỡng HSG

2

ngữ văn 7
*****


a/Dự thảo nội dung :
Thời gian thực hiện 1 tháng : Từ 04 buổi đến 06
buổi.

Thời
gian
thực
hiện
chuy
ên
đề
Thán
g9

Tên
chuyên
đề

Chuẩn bị
( Giới thiệu
một số tài liệu
tham khảo)

Để thực hiện


chuyên đề này,
ngoài
việc
nghiên cứu kĩ
sách giáo khoa
và sách giáo viên
Chuyên
Ngữ văn 7, giáo
đề 1
viên nên tìm
đọc một số tài
liệu sau :
- Dạy học
tập làm văn ở
THCS

văn
Nguyễn Trí .
biểu cảm
- Giúp các
em viết tốt các
dạng bài Tập
làm văn 7
Huỳnh
Thị
Thu Ba.
- Các dạng
bài Tập làm
văn và cảm thụ
văn lớp 7 Cao
Bích Xuân.
- Tác phẩm
của một số tác
giả
:
Thạch
Lam,
Băng
Sơn, Nguyễn
Trọng Tạo, Vũ
3

Một số kiến thức
trọng tâm

1. Tìm hiểu chung về
văn biểu cảm :
+ Khái niệm văn biểu
cảm.
+ Đặc điểm, yêu cầu
của văn biểu cảm : Cảm xúc
phải chân thật, sâu sắc,
phong phú.
2. Phơng pháp làm bài
văn biểu cảm :
+ Rèn kĩ năng xác định
yêu cầu của đề.
+ Rèn kĩ năng tìm ý :
Thờng tập trung trả lời cho
các câu hỏi :
.Tình cảm, cảm
xúc, ấn tợng, suy nghĩ sâu
sắc nhất của em về đối tợng
là gì ?
.Những đặc điểm,
tính chất gì của đối tợng
tác động nhiều nhất tới cảm
xúc, suy nghĩ của em ?
.Đối tợng làm em
nghĩ đến, liên tởng đến
những gì ?
.Em có kỉ niệm
gắn bó sâu sắc gì với đối
tợng ?
.Đối tợng có ý nghĩa
nh thế nào trong đời sống


Bằng
- Các bài TLV
biểu cảm đăng
trên báo Văn học
tuổi trẻ tháng
10,
12
năm
2004, tháng 1, 5,
11 năm 2005,
tháng 7, 10 năm
2006, tháng 6
năm 2007.

Thán
g 10

Nh đã
thiệu ở trên.

Chuyên
đề 2

các
dạng bài
4

của em ?
+ Rèn kĩ năng lập ý : Một
số cách lập ý thờng gặp :
.Liên hệ hiện tại với tơng lai.
.Hồi tởng quá khứ và
suy nghĩ về hiện tại.
.Tởng tợng, liên tởng,
suy tởng.
. Quan sát, suy
ngẫm.
+ Rèn kĩ năng xây dựng
bố cục: 3 phần và nhiệm vụ
cụ thể của từng phần.
+ Rèn kĩ năng dùng từ,
đặt câu cách diễn ý ( Biểu
cảm gián tiếp : dùng biện
pháp tu từ ẩn dụ hoặc tợng trng để gửi gắm tình cảm, t
tởng. Biểu cảm trực tiếp :
dùng động từ chỉ cảm xức
để diễn tả, dùng từ có tính
biểu cảm, đặc biệt là từ láy,
dùng các từ cảm thán, các câu
cảm thán, dùng câu hỏi tu
từ...)và kĩ năng sử dụng kết
hợp các phơng thức biểu đạt
miêu tả, tự sự
3. Giới thiệu một số đoạn
văn, bài văn biểu cảm.
4. Luyện tập củng cố.

giới 1. Biểu cảm về sự vật,
con ngời :
+ Khái niệm về kiểu
bài.
+ Phơng pháp làm bài.
+ Rèn một số đề luyện
tập : Biểu cảm về ngời thân,
thầy cô, bạn bè, về loài cây
em yêu, về một cảnh đẹp,
về món quà, kỉ niệm tuổi
thơ.
+ Giới thiệu một số bài


văn hay.
2 Biểu cảm về thác phẩm
văn học : ( thơ, văn )
+ Khái niệm về kiểu
bài.
+ Phơng pháp làm bài.
+ Rèn một số đề luyện
tập : .
+ Giới thiệu một số bài
văn hay.
3. Luyện tập chung về
văn biểu cảm.

biểu cảm

Thán
g 11

- Văn học 1. Khái niệm ca dao :
dân
gian
2. Nội dung :
Nhà xuất bản Giới thiệu một số nội dung
giáo dục.
chính nh : :
Bình
Ca dao về tình cảm gia
giảng ca dao đình
Trơng
Tiến
Ca dao về tình yêu quê
Tựu.
hơng, đất nớc.
Bình
Ca dao than thân.
giảng văn học
Ca dao châm biếm.
7
3. Nghệ thuật :
Nhng c trng c bn ca thi
Chuyên
phỏp ca dao VN
đề 3:
a. Nhõn vt tr tỡnh
Ca dao
- Ngi sỏng tỏc, ngi din xng
nhn vt tr tỡnh l mt.
- Ch th tr tỡnh c trong mi
quan h vi i tng tr tỡnh.
- Nhõn vt tr tỡnh trong cuc sng
lao ng, trong sinh hot, trong
quan h vi thiờn nhiờn, gia ỡnh,
lng xúm, nc non.bc l, gii
by qua li ca, ting núi ca mỡnh.
b.Kt cu
- Kt cu i ỏp
- Kt cu tng bc.
- Kt cu vũng trũn (ng dao).
- K chuyn, lit kờ (hỏt ru, li tõm
tỡnh ca anh lớnh thỳ, ngi i )
- Kt cu i ngu.
- Kt cu i lp.
5


c. Thể thơ
- Thể thơ lục bát.
- Thể thơ song thất lục bát(nhịp ở
câu song thất là ¾ khác thất ngôn
Trung Quốc nhịp 4/3).
- Thể vãn (mỗi câu có từ 2- 3 đến 45 tiếng).Biến đổi số chữ, về dấu ngắt
nhịp, gieo vần.
d.Ngôn ngữ
- Giản dị, rất sinh động, ít dùng điển
tích, điển cố, lời nói bình dân mang
màu sắc địa phương.
- Rất nhiều bài đạt trình độ cao trau
chuốt, chắt lọc, mượt mà, hàm súc,
tinh tế trong ngôn ngữ.
- Ngôn ngữ biểu hiện.
- Vận dụng các thủ pháp so sánh, ẩn
dụ, hoán dụ, ngoa dụ….
- Nhiều hình tương ca dao mang giá
trị thẩm mĩ, biểu trưng.
e. Thời gian và không gian nghệ
thuật
* Thời gian nghệ thuật
- Thời gian hiện tại, thời gian diễn
xướng “bây giờ, hôm nay”.
- Thời gian quá khứ gần
“chiều, sáng, đêm, ngày xuân,
ngày hè” (ước lệ, công thức).
 Thời gian vật lí.
* Không gian nghệ thuật
Không gian gần gũi, bình dị
quen
thuộc
với
con
người:Dòng sông, con thuyền, cái
cầu, bờ ao, cây đa, mái đình, ngôi
chùa, cánh đồng, con đường, trong
nhà, ngoài sân, bên khung cửi…
 Không gian vật lý, không gian
trần thế, đời thường,bình dị.
* Mối quan hệ thời gian và không
gian.
- Quan hệ chặt chẽ.
- Gắn với nhân vật trữ tình: bộc lộ
cảm xúc, suy nghĩ của mình.
g.Một số biểu tượng trong ca dao
6


+ Cõy trỳc, cõy mai: tng trng
ụi bn tr, tỡnh duyờn.
+ Hoa nhi:(hoa li) l loi hoa p,
quý bi hng thm.Tng trng
thu chung, tỡnh ngha, cỏi p cỏi
duyờn bờn.
+ Con bng, con cũ:(ngi thiu n,
thiu ph; hỡnh nh c trai, ln
gỏi.Din t ni cc kh vt v.
4. Luyện đề về ca dao :
+ Biểu cảm về một bài
ca dao.
+ Biểu cảm về nhân
vật trữ tình trong ca dao.
+ Biểu cảm về một
chùm ca dao cùng chủ đề

Thán
g 12
(2
tuần
đầu
)

- Tiếng Việt - Từ và cấu tạo từ của tiếng
Chuyên
lí thú.
Việt.
đề 4
- Trò chơi - Từ xét về mặt nguồn
ôn tập
ngôn ngữ.
gốc.
tiếng
Vui
học - Nghĩa của từ.
việt
tiếng Việt THCS.
- Từ loại tiếng Việt.
- Luyện tập - Các biện pháp tu từ.
viết bài văn cảm - Một số lỗi viết câu, dùng
thụ.
từ thờng gặp ...
GV nghiên cứu lại sách Ngữ
văn 6 tập 1,2.

Thán
g 12
(
2
tuần
cuối
+
1
tuần
đầu
của
tháng
1)

Chuyên
đề 5:
cảm

Bình
giảng Ngữ văn
7.
- Các dạng
bài Tập làm
văn và cảm thụ
văn lớp 7 Cao
Bích Xuân.
- Luyện tập
về cảm thụ văn
học

Trần
Mạnh Hởng.
Em
tập
bình văn ( tập
1, 2, 3 ).
7

1. Tìm hiểu chung về
cảm thụ văn học :
- Thế nào là cảm thụ văn
học ?
- Yêu cầu rèn luyện về cảm
thụ văn học.
2. Luyện tập :
A, Luyện tập viết đoạn
văn cảm thụ :
+ Bài tập tìm hiểu
tác dụng của cách dùng từ,
đặt câu sinh động.
+ Bài tập phát hiện
những hình ảnh, chi tiết có
giá trị gợi tả.


Thụ
văn
học

Rèn

năng cảm thụ
thơ văn cho
học sinh lớp 7
Nhóm tác giả :
Nguyễn Trọng
Hoàn,
Giang
Khắc
Bình,
Phạm
Tuấn
anh.
- Thơ với lời
bình Vũ Quần
Phơng.
- Bồi dỡng
văn
năng
khiếu 7

+ Bài tập tìm hiểu về
vẻ đẹp của một số biện pháp
tu từ.
B, Luyện tập viết bài
văn cảm thụ về :
+ Ca dao :
- Phải xác định
đợc ca dao chính là những
lời nói tâm tình, là những
bài ca bắt nguồn từ tình
cảm trong mối quan hệ của
những ngời trong cuộc sống
hàng ngày : tình cảm với cha
mẹ , tình yêu nam nữ , tình
cảm vợ chồng , tình cảm bạn
bè ... hiểu đợc điều đó sẽ
giúp ngời đọc và học sinh ý
thức sâu sắc hơn về tình
cảm thông thờng hàng ngày .
- Hiểu đợc tác
phẩm ca dao trữ tình thờng
tập trung vào những điều
sâu kín tinh vi và tế nhị của
con ngời nên không phải lúc
nào ca dao cũng giãi bầy trực
tiếp mà phải tìm đờng đến
sự xa xôi , nói vòng , hàm ẩn
đa nghĩa . Chính điều ấy
đòi hỏi ngời cảm thụ phải
nắm đợc những biện pháp
nghệ thuật mà ca dao trữ
tình thờng sử dụng nh : ẩn
dụ, so sánh ví von .
- Phải hiểu rõ hai
lớp nội dung hiện thực - cảm
xúc suy t đợc thể hiện trong
mỗi bài ca dao.
+ Thơ trữ tình trung
đại và hiện đại, thơ Đờng :
- Nắm vững
hoàn cảnh sáng tác , cuộc
đời và sự nghiệp của từng

8


tác giả . Bởi vì có những tác
phẩm : Trữ tình thế sự ,
đó là những tác phẩm nghi
lại những xúc động, những
cảm nghĩ về cuộc đời, về
thế thái nhân tình. Chính
thơ trữ tình thế sự gợi
cho ngời đọc đi sâu suy
nghĩ về thực trạng xã hội. Cả
hai tác giả Nguyễn Trãi Nguyễn Khuyến đều sáng
tác rất nhiều tác phẩm khi
cáo quan về quê ở ẩn . Phải
chăng từ những tác phẩm của
Nguyễn Trãi , Nguyễn Khuyến
thì ngời đọc hiểu đợc suy t
về cuộc đời của hai tác giả
đó .
- Hiểu rõ ngôn
ngữ thơ trữ tình giàu hình
ảnh :
Hình ảnh
trong thơ không chỉ là hình
ảnh của đời sống hiện thực
mà còn giàu màu sắc tởng tợng bởi khi cảm xúc mãnh liệt
thì trí tởng tợng có khả năng
bay xa ngoài vạn dặm Lu
Hiệp .
- Hiểu rõ ngôn
ngữ thơ trữ tình giàu nhạc
tính . Bởi thơ phản ánh cuộc
sống qua những rung động
của tình cảm . Thế giới nội
tâm của nhà thơ không chỉ
biểu hiện bằng từ ngữ mà
bằng cả âm thanh nhiịp
điệu của từ ngữ ấy . Nhạc
tính trong thơ thể hiện ở sự
cân đối tơng xứng hài hoà
giữa các dòng thơ .
- Đặc điểm nổi
9


bật của thơ trữ tình là rất
hàm xúc điều đó đòi hỏi
ngời cảm thụ phải tìm hiểu
từ lớp ngữ nghĩa , lớp hình
ảnh , lớp âm thanh, nhịp
điệu để tìm hiểu nghĩa
đen, nghĩa bóng.
- Nắm rõ
các giá trị nghệ thuật mà
thơ trữ tình sử dụng . Đó là
các phép tu từ ẩn dụ, nhân
hoá, so sánh, ví von . Cách
thể hiện tình cảm thờng đợc thông qua các cách miêu
tả : Cảnh ngụ tĩnh . Ai
cũng biết , mọi cảm xúc tâm
trạng suy nghĩ của con ngời
đều là cảm xúc về cái gì ?
Tâm trạng hiện thực nào Suy nghĩ về vấn đề đó . Do
vậy các sự kiện đời sống đợc
thể hiện một cách gián tiếp .
Nhng cũng có bài thơ trữ
tình trực tiếp miêu tả bức
tranh phong cảnh làm nhà
thơ xúc động.
- Thơ trữ
tình có nét khác biệt hẳn với
lời thơ tự sự . Ngời cảm nhận
thơ trữ tình phải hiểu rõ
ngôn ngữ thơ trữ tình thờng là lời đánh giá trực tiếp
chủ thể đối với cuộc đời.
+ Tùy bút
- Hiểu rõ
tuỳ bút là thể loại văn xuôi
phóng khoáng.Nhà văn theo
ngọn bút mà suy tởng, trần
thuật nhng thực chất là thả
mình theo dòng liên tởng,
cảm xúc mà tả ngời kể việc.
Ví dụ: Trong Thơng nhớ mời
10


hai Vũ Bằng, nhà văn đã đi
sâu theo dòng hồi ức với
những kỷ niệm đầy ắp
thân thơng về mời hai mùa
trong năm. Mỗi tháng là một
kỷ niệm sâu đậm. Tháng
giêng với cảm xúc về
những ngày tết với Gió
lành lạnh - ma riêu riêu - với
tiếng trống chèo từ xa văng
lại .Tất cả nh muốn Ngời
ta trẻ lại - tim đập nhanh
hơn - ngực tràn trề nhựa
sống ...
Chính thể loại tuỳ bút giúp
chúng ta hiểu đợc nhân
cách, chủ thể giàu có về
tâm tìnhcủa nhà văn.
* Trong tác phẩm trữ tình,
tình cảm cảm xúc có khi đợc biểu hiện một cách trực
tiếp song thông thờng nó đợc biểu hiện một cách gián
tiếp. Khi cảm nhận, thởng
thức tác phẩm trữ tình
không đợc thoát li văn bản.
Phải đọc thật kỹ văn bản
( đọc tìm hiểu - đọc cảm
thụ ...) Đặc biệt không thêr
dừng lại ở bề mặt ngôn từ
mà phải đi tìm hiểu ý
nghĩa hàm ẩn - tìm hiểu
giá trị nghệ thuật và nội
dung của tác phẩm.

Thán
g1
( tuầ
n 2 +
3)
Chuyên

Văn
học 1. Khái niệm tục ngữ.
dân gian ( tập 2. Đặc trng cơ bản của
2 NXB Giáo tục ngữ :Về nội dung ( bao
dục ).
quát một phạm vi phản ánh
rộng lớn nhất cả về tự nhiên,
xã hội, con ngời), về hình
thức ( tính đa nghĩa, tính
hàm súc ngắn gọn ), về
11


chức năng ( tính ứng dụng
thực hành ), về diễn xớng
3. Nội dung của tục ngữ :
- Tục ngữ về thiên nhiên,
lao động sản xuất.
- Tục ngữ về con ngời, xã
hội
4. Luyện đề về tục ngữ .

đề 6 :
tục ngữ

Thán
g2
( tuầ
n4
của
tháng
1 và
tuần
1+2
của
tháng
2)
Chuyên
đề 7
văn
nghị
luận

- Làm văn - 1. Khái niệm văn nghị
Đình Cao, Lê A. luận.
- Giúp các 2. Đặc điểm và yêu cầu

của văn nghị luận :
em viết tốt các
- Giải quyết một cách
dạng bài Tập
thuyết phục vấn đề nào đó.
làm văn 7
- Lập luận chặt chẽ, hợp
Huỳnh
Thị
lí, toàn diện, thuyết phục.
Thu Ba.
- Dùng từ, đặt câu
- Muốn viết
chính xác, ngôn ngữ trong
bài văn hay
sáng.
Nhóm
tg
3. Rèn kĩ năng nghị
Nguyễn
Đăng
luận :
Mạnh, Đỗ Ngọc
a. Kĩ năng phân tích
Thống, Lu Đức
đề : Tầm quan trọng của
Hạnh.
việc phân tích đề, tìm
- Kĩ năng
hiểu kết cấu của một đề
làm bài văn
văn, các thao tác phân tích
nghị luận
đề.
Nguyễn Quốc
b. Kĩ năng xây dựng
Siêu
luận điểm :
- Tìm đọc
Tầm quan trọng của
những
bài
luận điểm.
nghiên cứu của
Yêu cầu của luận
các tác giả có
điểm.
uy tín nh : Chu
Số lợng và vị trí của
Văn Sơn, Văn
luận điểm.
Giá...
Nghệ thuật nêu luận
điểm.
Phơng pháp làm sáng
tỏ luận điểm trung tâm.
c. Kĩ năng tìm luận
cứ ::
Tầm quan trọng của
luận cứ.
12


Các loại luận cứ thờng
dùng.
Tiêu chuẩn lựa chọn
luận cứ.
Nguyên tắc vận dụng
luận cứ.
Quan hệ giữa luận cứ
sự thực và luận cứ lí luận.
Cách thu thập luận cứ.
d. Phơng pháp lập
luận :
Lập luận theo quan hệ
diễn dịch.
Lập luận theo quan hệ
quy nạp.
Lập luận theo quan hệ
tổng phân hợp.
Các cách lập luận
khác : Lập luận theo kiểu
móc xích, lập luận so sánh,
lập luận nhân quả, lập luận
bằng cách nêu câu hỏi, trả
lời, rồi phản bác
1. Phép lập luận chứng
minh :
a. Thế nào là phép
lập luận chứng minh ?
b. Phơng pháp sử
dụng lí lẽ, dẫn chứng trong
lập luận chứng minh :
+ Xác định vấn
đề chứng minh.
+ Yêu cầu của dẫn
chứng.
+ Phân tích và
trình bày dẫn chứng.
c. Lập dàn ý trong lập
luận chứng minh.
d. Dựng đoạn trong
lập luận chứng minh.
e. Luyện tập viết bài
văn nghị luận chứng minh.
2. Phép lập luận giải
thích :

Thán
g2
( tu
ần 3
+4
của
tháng Chuyên
2)
đề 8
văn

nghị

luận
Tiếp theo

13


Nội dung chính nh
phép lập luận giải thích.
- Hệ thống một số kiến thức
đã học.
- Luyện đề tổng hợp.

Thán
g3

Những nội dung dự thảo dới đây dựa trên cơ sở chơng
trình, sách giáo khoa, sách giáo viên môn Ngữ văn lớp 7 và mục tiêu
của việc bồi dỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 7. Những nội dung
dự thảo dới đây giáo viên cần linh hoạt trong quá trình áp dụng để
phù hợp với tình hình thực tế và đặc biệt là thực hiện có hiệu quả
cho công tác bồi dỡng học sinh giỏi.
Trong quá trình biên soạn tài liệu, có thể còn nhiêù khiếm
khuyết, rất mong đợc sự đóng góp của đồng nghiệp để tài liệu
ngày càng hoàn thiện.

b/ Một số đề bài minh hoạ:
Giáo viên cần biên soạn lại theo các kiểu bài (biểu
cảm, nghị luận) và có thể sử dụng để ra đề kiểm tra
cuối mỗi chuyên đề ( văn biểu cảm, chuyên đề ca dao,
tục ngữ...).

Đề số 1:
Loài cây mà em yêu.

Đề số 2:
Bóng dáng của một ngời thân yêu.

Đề số 3:
Cảm nghĩ của em về một bài ca dao mà em yêu thích.

Đề số 4:
Cảm nhận của em về hai đoạn thơ đợc trích trong bài Th
gửi mẹ của Hen-rích Hai-nơ.

Đề số 5:
Nếu truyện cổ tích chiếu rọi một ánh sáng hi vọng
vào một cuộc sống khác, khác hẳn cuộc đời hàng
ngày tẻ nhạt, khô cằn thì ca dao dân ca tìm thi hứng
ngay ở cái cuộc đời hàng ngày đó
14


Bằng những hiểu biết của em về ca dao, hãy làm sáng tỏ
nhận định trên.

Đề số 6:
Một ngời Việt Nam đi du lịch nhiều nơi, khi trở về nhà, bạn
bè, ngời thân đến hỏi nơi nào đẹp nhất, anh ta trả lời:
Không nơi nào đẹp bằng quê hơng.
Em hiểu nh thế nào về ý kiến trên? Bằng những bài ca dao
viết về quê hơng, hãy trình bày những cảm nhận của riêng
mình đối với tình yêu quê nhà ẩn chứa trong lòng mỗi con
ngời Việt Nam.

Đề số 7:
Bàn về vai trò và vị trí của nhà văn trong xã hội, có ngời cho
rằng: Nhà văn là kĩ s tâm hồn.
Em hãy giải thích ý kiến trên. Bằng việc cảm nhận một số
văn bản nghệ thuật chọn lọc trong chơng trình Ngữ văn 7,
em hãy làm rõ thiên chức và sứ mệnh cao cả của nhà văn
trong việc bồi đắp tâm hồn con ngời.

Đề số 8:
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có viết: Văn chơng sẽ
là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng.
Chẳng những thế, văn chơng còn sáng tạo ra sự
sống. (Theo Ngữ văn 7, tập hai)
Hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên.

Đề số 9:
Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi ngời,
trong tác phong, Hồ Chủ tịch cũng rất giản dị trong
lời nói và bài viết
(Theo Ngữ văn 7, tập hai)
Bằng một số dẫn chứng trong bài Tinh thần yêu nứoc
của nhân dân ta (Hồ Chí Minh), hãy chứng minh rằng
cách viết của Bác Hồ rất giản dị.

Đề số 10:
Trong truyện ngắn Sống chết mặc bay, tác giả Phạm
Duy Tốn đã khéo léo kết hợp phép tơng phản và phép tăng
cấp để bộc lộ tính cách nhân vật, vạch trần bản chất
15


lòng lang dạ thú của tên quan phủ trớc sinh mạng của
ngời dân.
Em hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên.

Đề số 11:
Câu 1 :
Trình bày cảm nhận của em về văn bản sau ;
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nớc
nớc trong
Đừng xáo nớc
nớc đục đau lòng cò con

Câu 2 :

Tinh yêu quê hơng
hơng đất nớc
nớc là mạch nguồn xuyên suốt
trong văn học Việt Nam.
Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về những biểu hiện của
tình yêu ấy trong văn thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.

Đề số 12

Câu 1: ( 6 điểm)
Trong bài thơ Nhớ con sông quê hơng nhà thơ Tế Hanh có viết:
Quê hơng tôi có con sông xanh biếc.
Nớc gong trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi tra hè
Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng.
Em hãy phân tích cái hay, cái đẹp mà em cảm nhận đợc từ bốn
câu thơ.
Câu 2: ( 14 điểm
Cảm nhận của em về bài thơ Tiếng gà tra của nhà thơ
Xuân Quỳnh.

Đề số 13
Đề thi học sinh giỏi
Môn :Ngữ Văn 7
Câu 1 : (4đ) Đọc đoạn văn sau :
Sài Gòn vẫn trẻ .Tôi thì đơng già.Ba trăm năm so với năm
ngàn tuổi của Đất Nớc thì cái đô thị này còn xuân chán .Sài Gòn
cứ trẻ hoài nh một cây tơ đơng độ nõn nà , trên đà thay da đổi
thịt , miễn là c dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tới tiêu
chăm bón , trân trọng , giữ gìn cái đô thị ngọc ngà.

16


Tôi yêu Sài Gòn da diết Tôi yêu trong nắng sớm , một thứ
nắng ngọt ngào vào buổi chiều lộng gió nhớ thơng, dới những
cây ma nhiệt đới bất ngờ .Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang
ui ui buồn bã bỗng trong vắt lại nh thuỷ tinh , tôi yêu cả đêm
khuya tha thớt tiếng ồn.Tôi yêu phố phờng náo động, dập dìu náo
động , dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh
lặng của buổi sớm tinh sơng với làn không khí mát dịu , thanh
sạch trên một số đờng còn nhiều cây xanh che chở.
( Sài Gòn tôi yêu - Lê
Minh Hơng)
a) Tác giả giới thiệu Sài Gòn bằng cách nào ? Cái hay của cách giới
thiệu ấy?
b) Ngời viết đã bộc lộ tình yêu của mình với Sài Gòn nh thế nào ?
Cách bộc lộ có gì đặc biệt?
Câu 2 : (6 đ) Nhà văn ngời Đức Hen rich Hai- nơ có viết đoạn thơ
trong bài Th gửi mẹ nh sau :
Con thơng sống ngẩng cao đầu , mẹ ạ
Tính tình con hơi ngang bớng , kiêu kì
Nếu có vị chúa nào nhìn con vào mắt
Con chẳng bao giờ cúi mặt trớc uy nghi
Nhng mẹ ơi, con xin thú thật
Trái tim con dù kiêu hãnh thế nào
Đứng trớc mẹ dịu dàng , chân thật
Con thấy mình bé nhỏ làm sao .

( Tế

Hanh dịch)
a) Nêu ý chính của từng khổ thơ? Hai ý chính ấy có quan hệ với
nhau nh thế nào?
b) Hai khổ thơ trên nối liền nhau thành một văn bản. Hãy phân
tích sự liên kết chặt chẽ của văn bản ?
c) Phát biểu cảm nghĩ về hai khổ thơ trên bằng một đoạn văn
ngắn.
Câu 3 : (10 đ). Có một đọan thơ rất hay , rất xúc động viết về Bác
Hồ kính yêu nh sau :
Đất nớc đẹp vô cùng . Nhng Bác phải ra đi.
Cho tôi làm sống dới con tàu đa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre
Đêm xa nớc đầu tiên , ai nỡ ngủ
Sóng dới chân tàu đâu phải sóng quê hơng
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nớc rồi ,càng hiểu nớc đau thơng
(Ngời đi tìm hình của nớc
Chế Lan Viên)

17


a) Đoạn thơ đã viết về sự kiện nào trong cuộc đời hoạt động của
Bác Hồ kính yêu? Lúc đó Bác có tên là gì ?
b) Phân tích hiệu quả của dấu chấm câu giữa câu thơ thứ nhất
và từ nhng.
c) Viết đoạn văn biểu cảm ( 12 -15 câu) về đọan thơ trên.

Đề số 14
Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 7
Môn: Ngữ văn.
( Thời gian làm bài: 120 phút )
Câu1 ( 2 điểm ): Đọc đoạn thơ sau:
Trên đờng hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ
Cục...cục tác cục ta
Nghe xao động nắng tra
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ.
( Tiếng gà tra, Xuân Quỳnh )
1. Biện pháp tu từ nào đợc sử dụng để diễn tả tâm trạng
anh lính trẻ trên đờng hành quân ra trận?
A. Nhân hoá và so sánh.

B. So sánh và điệp ngữ.

C. Điệp ngữ và ẩn dụ.

D. Điệp ngữ và nhân hoá.

2. Có sự chuyển đổi cảm giác nh thế nào trong ba câu
thơ có từ nghe?
A. Thính giác xúc giác.
giác.

B. Thính giác

B. Thính giác cảm giác

C. Thính giác

khứu
vị giác.

3. Nhận xét về cấu tạo của câu Nghe gọi về tuổi thơ?
A. Là câu đơn bình thờng.
C. Là câu rút gọn.

B. Là câu đặc biệt.
C. Cả A,B,C sai.

4. Trong bài thơ, cụm từ Tiếng gà tra đợc xuất hiện mấy
lần?
A. Hai.

B. Bốn.
18


C. Sáu.

D. Tám.

Câu 2 ( 2 điểm ):
Nhng chớ hiểu lầm rằng Bác sống khắc khổ theo lối nhà tu
hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Bác Hồ sống đời
sống giản dị, thanh bạch nh vậy, bởi vì Ngời sống sôi nổi, phong
phú đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần
chúng nhân dân. Đời sống vật chất giản dị càng hoà hợp đời sống
tâm hồn phong phú, với những t tởng, tình cảm, những giá trị
tinh thần cao đẹp nhất. Đó là đời sống thực sự văn minh mà Bác
Hồ nêu gơng sáng trong thế giới ngày nay.
( Đức tính giản dị của Bác Hồ, Phạm Văn
Đồng )
Tác giả đã gửi đến chúng ta điều gì qua đoạn văn trên? Suy
nghĩ của em về lời gửi ấy?
Câu 4 ( 6 điểm ):
Đọc một câu thơ nghĩa là ta gặp gỡ tâm hồn con ngời
( Ana tôn Prance. )
Câu nói trên của nhà văn Pháp giúp em cảm nhận đợc những
gì khi học hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng của Hồ
Chí Minh.
UBND huyện Bình Giang
Phòng GD và ĐT
hớng dẫn chấm đề thi hsg huyện lớp 7
môn: ngữ văn.
Câu1 ( 2 điểm ): Mỗi câu trả lời đúng đợc 0,5 điểm.
1. C

2. B

3. C

4. B.

Câu2 ( 2 điểm ): Mỗi ý trả lời đúng cho 1 điểm:
- Lời gửi của tác giả : Qua việc khẳng định sự hoà hợp
giữa đời sống vật chất giản dị và đời sống tinh thần
phong phú trong con ngời Bác Hồ, tác giả còn muốn nói về
ý nghĩa đích thực của đời sống con ngời: Không phải là sự
thoả mãn càng nhiều về vật chất, mà là đời sống tinh thần,
19


t tởng , tình cảm phong phú, thậm chí là vô tận. Cuộc sống
nh thế, theo tác giả là cuộc sống thực sự văn minh mà Bác
Hồ đã nêu gơng sáng trong thời đại ngày nay.
- Suy nghĩ của em : HS cần nêu đợc suy nghĩ về ý nghĩa
thực sự của đời sống con ngời, về mối quan hệ giữa nhu
cầu vật chất và đời sống tinh thần. Nếu chạy theo hởng thụ
vật chất sẽ có thể dẫn đến sự nghèo nàn, què quặt về tinh
thần, tình cảm...
Câu3 ( 6 điểm ):
1. Yêu cầu chung:
- Trên cơ sở hiểu đúng hai bài thơ trữ tình của Hồ Chí
Minh để làm sáng tỏ yêu cầu của đề bài, biết cách làm bài
văn nghị luận văn học.
2. Yêu cầu cụ thể:
HS có thể trình bày, sắp xếp theo nhiều cách, cảm thụ
đôi chỗ khác nhau nhng cần đạt đợc các ý sau:
- Tâm hồn yêu thiên nhiên, gắn bó chan hoà với thiên nhiên:
+ Viết nhiều về thiên nhiên ( Đặc biệt là trăng.)
+ Có nhiều rung động, sự say mê trớc vẻ đẹp của thiên
nhiên Việt Bắc.
+ Chan hoà, mật thiết với thiên nhiên, cảnh vật.
- Tình yêu thiên nhiên luôn gắn liền với tình yêu nớc sâu
nặng.
+ Chất nghệ sĩ và tâm trạng ngời chiến sĩ luôn thống
nhất trong con ngời của Bác.
3. Tiêu chuẩn cho điểm:
- Điểm 6: Đáp ứng yêu cầu nêu trên, diễn đạt mạch lạc, trình
bày khoa học. Có những cảm nhận và phát hiện mới mẻ, tinh
tế.
- Điểm 4: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên. Có thể còn một
vài sai sót nhỏ về diễn đạt, trình bày.
- Điểm 2: Cha thật hiểu đề, bài làm còn mắc nhiều lỗi diễn
đạt.

20


Đề số 15
Từ môtj bài cao dao than thân đã học trong chơng
ch ơng trình
Ngữ văn 7 tập 1, hãy phát biểu cảm nghĩ của em về thân phận ngng ời phụ nữ trong xã hội xa.
xa.

Đề số 16
Nêu cảm nghĩ sâu sắc nhất của em về một truyện ngắn
đã học trong chơng
chơng trình Ngữ văn 7.

c/ Giới thiệu Một số sáng kiến kinh nghiệm và
tài liệu su tầm :
Giới thiệu bài văn biểu cảm về ngời thân
Trong cuc sng hng ngy, cú bit bao nhiờu ngi ỏng chỳng ta thng
yờu v dnh nhiu tỡnh cm. Nhng ó bao gi bn ngh rng, ngi thõn yờu nht
ca bn l ai cha? Vi mi ngi cõu tr li y cú th l ụng b, l m, l anh ch
hoc cng cú th l bn bố chng hn. Cũn riờng tụi, hỡnh nh ngi b s mói mói l
ngn la thiờng liờng, si m tõm hn tụi mói tn sau ny.
B tụi khụng may mn nh nhng ngi n ụng khỏc. Trong sut cuc i
b cú l khụng bao gi c sng trong s sung sng, vui v. Bn mi tui khi
cha i c na chng i ngi, b ó phi sng chung vi bao nhiờu bnh tt:
u tiờn ú ch l nhng cn au d dy, ri tip n li xut hin thờm nhiu bin
chng. Trc õy, khi cũn khe mnh, bao gi b cng rt phong .
Th nhng bõy gi, v p y dng nh ó dn i thay: Thay vỡ nhng cỏnh
tay cun cun bp, gi õy ch cũn l mt dỏng ngi gy gy, teo teo. ụi mt sõu
di hng lụng my rm, hai gũ mỏ cao cao li dn ni lờn trờn khuụn mt sm en vỡ
sng giú. Tuy vy, bnh tt khụng th lm mt i tớnh cỏch bờn trong ca b, b
luụn l mt ngi y ngh lc, giu t tin v ht lũng thng yờu gia ỡnh.
Gia ỡnh tụi khụng khỏ gi, mi chi tiờu trong gia ỡnh u ph thuc vo
ng tin b m kim c hng ngy. Dự bnh tt, m au nhng b cha bao gi
chu u hng s mnh. B c gng vt lờn nhng cn au qun qui lm yờn
21


lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề
xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ
lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những
người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc
phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 3848 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa
đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua
đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu
đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về
những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn
đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy,
lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những
cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết
mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố
hãy nói cho con được không?
Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi
làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có
thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là
bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực
cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học
của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi
tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.
Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người
sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu
châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ
chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở
dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con
đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen
tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để
noi theo.
22


Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao
cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố.
Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc
khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.
Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng;
những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây
hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn
có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích
nuôi động vật.
Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn
mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời
chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó
không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn
dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá
lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình
này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp
lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của
mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ
con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học
nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang
có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm,
chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố
luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát
khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy
của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã
rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm,
những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của
mình.
NGUYỄN THỊ HẬU
(Lớp 10A2, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh, Nghệ An

23


biÓu c¶m vÒ loµi c©y em yªu
Trong cõi trần, có những loài cây nở hoa đẹp và buồn như những huyền thọai,
như những triết nhân. Người ta khó vui được khi nhìn thấy một giàn hoa ty-gôn đỏ
như màu máu vẳng về những câu thơ của TTKH. Nhìn hoa sen, lòng người chợt nhận
ra lẽ vô thường thanh sạch của kiếp người. Ai đã từng có một đêm thức với hoa
quỳnh, hẳn khó cầm được tấc lòng trước hình ảnh cái đẹp quá đỗi mong manh, mau
chóng tàn phai. Người xưa một lần qua núi, thấy hoa lau nở trắng bạt ngàn, đã thảng
thốt buông một câu hỏi buồn trong gió: Sao vừa nở ra đã vội bạc đầu thế hở lau ơi?...
Và có một lòai cây chỉ nở hoa lúc cuối đời, nở xong là chết; nở như biết mình đã đến
và sẽ ra đi trong cuộc đời; nở như những giây phút dọn mình để giã từ thế giới; nở
tưng bừng như điệp khúc một giai điệu tráng ca. Loài đó là TRE.
Tôi nghĩ đã là người Việt Nam, dù ở đâu và làm gì, ai cũng mang trong mình
một bóng tre của quê hương, xứ sở. Sau lũy tre làng, đó là nơi hội ngộ buồn vui của
cả một cộng đồng người, của hàng bao thế hệ. Không biết tự bao giờ, tre đã tham dự
vào cuộc sống con người như một thành tố không thể thiếu được. Chuyện cổ tích
ngày xửa ngày xưa đã có cây tre trăm đốt. Và dẫu bây giờ nông thôn đã công nghiệp
hóa, tre vẫn không thể thiếu được đối với người. Đó là cái đòn gánh có thể đàn hồi
làm nhẹ vai cô thôn nữ gánh nước từ bến sông, gánh hàng ra chợ. Đó là mười sáu
vành nón lá của mẹ tảo tần qua nắng qua mưa nuôi ta khôn lớn, của em dấu nụ cười e
ấp mối tình đầu. Đó là giàn bí, giàn bầu nặng lòng câu ca” bầu ơi thương lấy bí cùng”
mà cha ngồi hóng mát mỗi chiều. Đó là sợi lạc buộc chiếc bánh chưng xanh luôn gợi
nhắc truyền thuyết Lang Liêu...Tre thủy chung một mối tình vĩnh cửu với người dân
Việt.
Tre lặng lẽ hiến dâng cho đời và hy sinh tất cả. Trong hành trình dâng hiến của mình,
tre dâng tặng con người âm thanh từ máu thịt của nó. Tre tạo nên tiếng sáo Trương
Chi làm điêu đứng người con gái cành vàng lá ngọc. Tre tạo nên cây đàn bầu khiến cả
thế giới phải nghiêng mình trước ngón độc huyền của một dân tộc, mà dân tộc ấy lại
đa tình làm sao: Đàn bầu ai gảy nấy nghe, làm thân con gái chớ nghe đàn bầu! Trên
non ngàn Tây Nguyên, hồn tre nứa nhập vào đàn t’rưng, nhập vào đàn klông put, đàn
chim đing, đàn đinh pah, và cả ching kram (chiêng tre) nữa...tạo nên âm sắc núi rừng
Việt Nam độc đáo, không nơi nào có được. Và trong những ngày hội tưng bừng trên
đỉnh non ngàn này, không thể thiếu những ché rượu cần mà những chiếc cần như
những chiếc cầu của tình bạn, tình yêu, của men nồng cuộc sống...
Từ măng non, tre vươn thẳng làm bạn với người, làm ngọn roi dạy dỗ con
người, giúp con người bao điều trong cuộc sống, để rồi một buổi sáng kia, tre nở một
chùm hoa và chết. Rất hiếm khi được nhìn thấy hoa tre nở. Cho đến nay, tôi cũng chỉ
thấy hoa tre nở hai lần. Lần thứ nhất vào năm tám mươi lăm thế kỷ hai mươi. Năm
24


đó, vào một buổi sáng mùa hè, rặng tre la ngà dọc bờ sông Bồ trước làng tôi đột
nhiên bừng nở. Cả một rặng tre bung nở từng chùm hoa vàng xuộm màu thổ hoàng.
Cái màu đất bình dị nổi lên nhờ màu xanh của lá, bình dị đến nao lòng. Cả lũ học trò
chúng tôi hồi đó chiều nào cũng rủ nhau nhìn ra sông vì nghe nói tre nở hoa xong là
chết. Nhiều đứa, trong đó có tôi, cố cãi lại lời tiên tri ấy, đến mức phải chia phe thách
nhau. Nhưng ngày qua ngày, cả rặng tre từ màu xanh dần chuyển sang ngà. Cho đến
một chiều nọ, không tin nổi vào mắt mình khi rặng tre cứ nhạt thếch hẳn đi, chúng tôi
chạy ra xem thì thân tre đã khô lại. Trên cao kia, những chùm hoa tre khô cong rủ
xuống như một bàn tay tiễn biệt. Bất giác cả bọn cứng lưỡi không nói nên được câu
nào, cũng không thấy mấy đứa thắng cuộc yêu sách một điều gì. Trong làng có chú
Tin đã ngoài bốn mươi vẫn còn độc thân chưa vợ. Chú xin làng chặt một cây tre về
làm đàn bầu. Đêm đêm, tiếng đàn của chú nỉ non vang vọng khắp làng. Chẳng bao
lâu sau thì có người chịu cùng chú kết tóc se tơ. Người già nói, tre nở hoa cả rặng như
vậy là có điềm lành. Quả nhiên sau đó ít lâu thì không khí công cuộc đổi mới cũng
tràn về nông thôn, đời sống của người nông dân có đỡ cực nhọc hơn. Nhưng cũng sau
khi rặng tre la ngà ấy chết, làng không còn một cây tre la ngà nào nữa. Bấy giờ cả
làng mới thấy do tre la ngà nhiều gai nên ít người trồng. Sau này tôi lang thang khá
nhiều nơi, chú tâm tìm gặp một bóng dáng tre la ngà, ấy vậy đến giờ vẫn chưa một
lần
thấy
lại.
Lần thứ hai tôi nhìn thấy hoa tre nở chỉ mới cách đây vài năm, vài tháng sau
cơn đại hồng thủy tháng 11 năm 1999. Ấy là một hôm giá rét đầu năm 2000, qua khỏi
cầu TâyThành bỗng thấy một bụi tre nhỏ bên sông nở hoa trong mưa. Cũng những
chùm hoa tre vàng nhạt như màu đất, vươn giữa trời xanh bất chấp mưa gió phủ
phàng, rét buốt, bản lĩnh vô cùng. Bây giờ nghiệm lại, thấy loài tùng bách như người
quân tử ẩn dật, tre lại như người quân tử dấn thân. Từ khi sinh ra, tre đã sống và trả
nghĩa cho đất cho người, đến khi hoa tre nở lần đầu tiên, cũng là lúc tre từ giã sự góp
mặt của mình trên trái đất. Đó là một cách đi vào cõi chết rất đẹp: cả tre và hoa đều
chết đứng như phơi gan ruột cùng trời đất chứ không chịu rủ xuống, lụi tàn như bao
loài hoa khác. Cái chết ấy không hề làm cho người ta thấy một chút bi ai nào, ngược
lại, nó tạc dáng hình giữa trời đất mênh mông, giữa muôn vàn hoa lá như một triết
nhân đã ngộ ra chân lý về lẽ sống chết của con người.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×