Tải bản đầy đủ

khảo sát hệ thống bôi trơn trên động cơ SA6D140E 3 lắp trên máy ủi KOMATSU d275a 5

Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay động cơ đốt trong phát triển rộng khắp trên mọi lĩnh vực: Giao thông
vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, công nghiệp, quốc phòng...Công tác
bảo dưỡng sữa chữa để phục hồi khả năng làm việc của phương tiện đóng một vai
trò rất quan trọng, song trong điều kiện nước ta còn hạn chế về khả năng chế tạo và
sản xuất mới động cơ nói chung và phụ tùng thay thế nói riêng.
Mặt khác do yêu cầu về công suất, hiệu suất làm việc của động cơ ngày càng
cao, nhưng đồng thời phải đảm bảo độ bền, tuổi thọ của các chi tiết trong động cơ.
Mà trên bề mặt các chi tiết luôn tồn tại những vết gồ ghề do đó khi trượt lên nhau sẽ
sinh nhiệt, tiêu hao công và mài mòn nhanh hoặc có thể bị kẹt cứng, không chuyển
động được. Vì vậy giữa các chi tiết ma sát phải luôn luôn tồn tại lớp dầu bôi trơn để
nâng cao độ bền và tuổi thọ của động cơ. Nhưng để giảm lượng mài mòn hư hỏng ta
phải cung cấp dầu nhờn liên tục đến các mặt ma sát của các chi tiết máy, do đó ta
phải chọn những phương án bôi trơn, kiểu bố trí hệ thống bôi trơn khác nhau.
Tuy nhiên để đảm bảo ổ trục ít bị mài mòn do tạp chất thì phải dùng đúng loại
dầu nhờn và dầu phải sạch cho nên cần phải có các bộ phận chủ yếu của hệ thống
bôi trơn. Vì vậy đồ án tốt nghiệp "khảo sát hệ thống bôi trơn trên động cơ

SA6D140E- 3 lắp trên máy ủi KOMATSU D275A- 5" nhằm mục đích tìm hiểu vấn
đề đó.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đồ án, em đã nhận được sự giúp đỡ trực
tiếp rất nhiệt tình của thầy hướng dẫn Nguyễn Quang Trung cùng các thầy cô trong
bộ môn, các bạn trong lớp. Em xin thành thật cảm ơn.
Vì điều kiện thời gian, tài liệu tham khảo và khả năng của bản thân còn hạn chế
nên đồ án không khỏi còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý phê bình.
Đà nẵng, ngày tháng năm
Sinh viên thực hiện.
Đoàn Ngọc Lâm

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 1


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THÔNG BÔI TRƠN:
Ngày nay, động cơ đốt trong đã phát triển rộng khắp trên mọi lĩnh vực: Giao
thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không...), nông nghiệp, lâm
nghiệp, xây dựng, quốc phòng...
Ngoài việc được sử dụng song hành với các loại động cơ nhiệt khác, một số lĩnh
vực, cho đến nay chưa sử dụng được các loại động cơ khác, mà động cơ đốt trong là
động lực duy nhất được sử dụng. Tổng công suất do động cơ đốt trong tạo ra chiếm
khoảng 90 % công suất thiết bị động lực do mọi nguồn năng lượng tạo ra (bao gồm
nhiệt năng, thuỷ năng, năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời...)
Động cơ đốt trong loại pittông có hiệu suất cao nhất trong các loại động cơ đốt
trong, chiếm số lượng lớn nhất và được sử dụng rộng rải nhất. Vì thế, thuật ngữ
"động cơ đốt trong" còn có ý dùng ngắn gọn để chỉ động cơ đốt trong loại pittông,
ngoài ý chỉ tổng quát về động cơ đốt trong.
Ngành công nghiệp chế tạo động cơ đốt trong được coi là bộ phận tất yếu của
ngành cơ khí và nền kinh tế quốc dân của hầu hết các nước, vấn đề đào tạo đội ngũ
kỹ thuật về động cơ đốt trong có số lượng và chất lượng nhất định rất được coi
trọng. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, người ta phân ra trong một động cơ đốt
trong làm nhiều hệ thống tương đối cụ thể. Mỗi một hệ thống đều có tầm quan trọng
nhất định.
Động cơ SA6D140E-3 lắp trên máy ủi KOMATSU D275A-5 là động cơ có công


suất làm việc lớn và làm việc trong môi trường rất khắc nghiệt và là loại máy ủi
mới xuất hiện trên thị trường việt nam, vì vậy để có hiệu quả làm việc cao vấn đề
bôi trơn các chi tiết rất cần thiết được quan tâm. Ở đề tài này em đi sâu vào tìm hiểu
kết cấu của hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3 nhằm tìm ra qui trình sử dụng
bảo dưỡng hợp lý và các hư hỏng thường gặp của hệ thống bôi trơn để tiện cho việc
khắc phục và sửa chữa những hư hỏng của hệ thống sau khi máy đã đi vào làm việc
cho động cơ làm việc bền và độ tin cậy cao.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 2


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

1.1. NHIỆM VỤ, YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG BÔI TRƠN TRONG ĐỘNG CƠ ĐỐT
TRONG.
Ở động cơ đốt trong sự chuyển động tương đối giữa các chi tiết máy tạo nên các
dạng ma sát như ma sát trượt, ma sát lăn, ma sát quay.

a)

b)

c)

Hình 1.1. Phân loại ma sát theo chuyển động tương đối giữa hai vật ma sát.
a- Ma sát trượt; b- Ma sát lăn; c- Ma sát quay.

Như vậy hệ thống bôi trơn sử dụng trong động cơ đốt trong có những nhiệm vụ
và yêu cầu sau:
1.1.1. Nhiệm vụ
Bôi trơn các bề mặt ma sát, làm giảm tổn thất ma sát: Trong trường hợp này, dầu
nhờn đóng vai trò là chất liệu trung gian đệm vào giữa các bề mặt ma sát có chuyển
động tương đối với nhau, làm cho các bề mặt ma sát tiếp xúc gián tiếp với nhau.
Việc tránh được sự tiếp xúc trực tiếp giữa các bề mặt ma sát sẽ làm giảm được sự
mài mòn, sự va đập nhờ đó tăng tuổi thọ cho chi tiết…
Làm mát ổ trục: Sau một thời gian làm việc, một phần nhiệt sinh ra từ quá trình
cháy, do ma sát sẽ chuyển thành nhiệt năng. Nhiệt năng này làm nhiệt độ của ổ trục
tăng lên cao. Nếu không có dầu nhờn, các bề mặt ma sát nóng dần lên quá một nhiệt
độ giới hạn cho phép, sẽ làm nóng chảy các hợp kim chống mài mòn, bong tróc,
cong vênh chi tiết...Và dầu nhờn trong trường hợp này đóng vai trò chất lỏng làm
mát ổ trục, tản nhiệt do ma sát gây ra khỏi ổ trục, đảm bảo nhiệt độ làm việc bình
thường của ổ trục. So với nước tuy rằng dầu nhờn có nhiệt hoá hơi chỉ khoảng là 40
70kcal/kg, trong khi đó nhiệt độ hoá hơi của nước là 590kcal/kg, và khả năng dẫn
nhiệt của dầu nhờn cũng rất nhỏ 0.0005Cal/ 0c.g.s, trong khi đó của nước là
0.0015cal/0c.g.s, nghĩa là khả năng thu- thoát nhiệt của dầu nhờn là rất thấp so với
nước, thế nhưng nước không thể thay thế được chức năng của dầu nhờn, do còn phụ
thuộc vào một số đặc tính lý hoá khác. Vì lý do đó, để dầu nhờn phát huy được tác
dụng làm mát các mặt ma sát, đòi hỏi bơm dầu nhờn của hệ thống bôi trơn phải
cung cấp cho các bề mặt ma sát một lượng dầu đủ lớn.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 3


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

Tẩy rửa mặt ma sát: Trong khi làm việc, các bề mặt ma sát cọ xát vào nhau gây
ra mài mòn, sự lọt khí xuống catte, tróc, xước...hạt kim loại rơi ra bám trên mặt ma
sát. Do đó, khi đi bôi trơn, dầu nhờn chảy qua các bề mặt ma sát sẽ cuốn theo các
tạp chất bám trên bề mặt ma sát. Nhờ vậy đảm bảo được cho bề mặt ma sát luôn
sạch sẽ, tránh được hiện tượng mài mòn sinh ra do tạp chất cơ học.
Bao kín khe hở giữa pittông- xilanh, xécmăng- pittông: Nhờ một phần vào dầu
nhờn mà khả năng lọt khí qua các khe hở này được giảm xuống.
1.1.2. Yêu cầu của hệ thống bôi trơn trong động cơ đốt trong:
Việc thực hiên nghiêm túc chế độ dầu mỡ bôi trơn nhằm giảm tới mức tối đa
những hư hỏng sinh ra do ma sát giữa các bề mặt làm việc của các chi tiết . Yêu cầu
cơ bản của hệ thống bôi trơn là:
Để đảm bảo động cơ làm việc ổn định tất cả các cụm chi tiết đều phải đảm bảo
được những yêu cầu nhất định về chế độ hoạt động, có các chi tiết cần được bôi trơn
ở xa đường dầu chính vì vậy đòi hỏi hệ thống bôi trơn phải cung cấp đủ dầu đến các
bề mặt làm việc của chi tiết động cơ.
Dầu bôi trơn trong động cơ làm việc luôn ở trạng thái thay đổi về nhiệt, vì vậy
để đáp ứng được yêu cầu của các bề mặt làm việc của các chi tiết, chất lượng dầu
bôi trơn phải đảm bảo ở trạng thái tốt nhất. Nếu chất lượng dầu không tốt sẽ gây cản
trở quá trình hình thành màng dầu giữa các bề mặt ma sát.
Tổn thất dầu bôi trơn là nhỏ nhất. Để đáp ứng được yêu cầu này các cơ cấu, bộ
phận như là: bơm dầu phải đáp ứng cung cấp đủ lượng dầu với áp suất cần thiết để
đi bôi trơn các mặt ma sát, các bộ phận như két làm mát, lọc dầu đảm bảo gây trở
lực cho dầu với mức thấp nhất, đường ống dẫn dầu không bị rò rỉ…
Hệ thống bôi trơn của các loại động cơ đốt trong đều dùng dầu nhờn để làm
giảm ma sát của ổ trục, đưa nhiệt lượng do ma sát sinh ra ra khỏi ổ trục. Như vậy
dầu nhờn sử dụng trong động cơ đốt trong có những yêu cầu sau:
1.1.3. Yêu cầu của dầu nhờn
Dầu nhờn sử dụng trong động cơ đốt trong chịu chế độ làm việc rất khắc nghiệt,
vì thế dầu nhờn phải đảm bảo được những yêu cầu về độ nhớt, khả năng thay đổi
nhiệt độ, bám được trên bề mặt của chi tiết máy. Đây là yêu cầu quan trọng nhất vì
bám trên bề mặt chi tiết dầu sẽ biến ma sát khô thành ma sát ướt, giảm nài mòn chi
tiết máy. Dầu phải có khả năng lưu thông tốt đó là việc thay thế liên tục các lớp dầu
bôi trơn đảm bảo lớp dầu cũ mang theo lượng mạt kim loại và nhiệt sinh ra trong
quá trình cọ sát của các chi tiết. Ít bị thay đổi dưới tác dụng của môi trường. Không
ăn mòn kim loại nghĩa là yêu cầu dầu không có các chất ăn mòn như axít, badơ tan

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 4


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

trong nước là những chất ăn mòn mạnh, không có tạp chất cơ học vì nếu có nó sẽ
trở thành nhân tố mài mòn và giảm khả năng lưu thông của dầu.
1.1.3.1. Đặc điểm, tính chất lý hoá của dầu nhờn:
Dầu nhờn dùng cho động cơ là hỗn hợp phức tạp của nhiều chất, thành phần
gồm có hydrocacbon có nguồn gốc từ dầu mỏ và các chất phụ gia khác nhau chiếm
(8 10%). Các chất phụ gia có tác dụng làm hạ nhiệt độ đông đặc, giữ cho độ nhớt ít
thay đổi theo nhiệt độ, hoà tan các sản vật bị ôxihoá trong dầu tránh sinh ra các cặn
không hoà tan, tạo ra các màng dầu không có hoạt tính rất ổn định trên bề mặt kim
loại tránh cho bề mặt kim loại tiếp xúc với nước và không khí phá vỡ bọt khí để cho
dầu lưu thông tốt. Dầu dùng để bôi trơn động cơ cần có những yêu cầu nhất định về
hàm lượng lưu huỳnh (S%), nước và tạp chất cơ học, các hợp chất chứa oxy, các
kim loại như Mn, Si…
1.1.3.2. Các chỉ tiêu cơ bản của dầu nhờn:
Tất cả các loại dầu bôi trơn khi mang ra sử dụng ngoài thị trường đều có bảng
hướng dẫn sử dụng cũng như các thông số kỹ thuật. Ở đây, ta chỉ xét một số thông
số cơ bản của dầu.
Độ nhớt của dầu: Là sức cản di chuyển qua lại của các phân tử dầu (hay còn gọi
là nội ma sát của các phần tử dầu). Độ nhớt là thông số rất quan trọng, nó ảnh
hưởng rất lớn đến tất cả các thông số khác. Khi độ nhớt tăng lên, dầu sẽ khó di
chuyển trong các đường dầu của hệ thống bôi trơn và phun té không đều, vì khi độ
nhớt càng tăng thì lực ma sát càng tăng, làm cho công suất động cơ giảm xuống,
còn khi độ nhớt thấp rất khó hình thành màng dầu để bôi trơn chi tiết. Do vậy mà
khi sử dụng phải chọn độ nhớt theo đúng quy định của nhà thiết kế đồng thời phù
hợp với vùng sử dụng. Nếu độ nhớt của dầu nhỏ, không đảm bảo đủ hình thành
màng dầu, dầu dể bị ép ra khỏi các khe hở ở các chi tiết làm việc. Ngoài ra, độ nhớt
còn thay đổi theo nhiệt độ cho nên sử dụng theo mùa phải chọn các loại dầu khác
nhau, sẽ giảm tối thiểu mài mòn các chi tiết.
Chỉ số độ nhớt (IV): là một thông số quy ước đặc trưng cho khả năng thay đổi
độ nhớt của dầu theo nhiệt độ:

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 5


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

1

2
3

L
M
H
0

1000 C

40 C

t

0

Hình 1.2. Biểu đồ chỉ số độ nhớt (IV)
1- Dầu có chỉ số độ nhớt IV=0; 2-Dầu khảo sát ; 3-Dầu có chỉ số độ nhớt IV=100.

Ta có công thức tính chỉ số độ nhớt: IV 

L M
L H

(1.1)

Trong đó:
+ M- Độ nhớt ở 400C của dầu cần tính chỉ số độ nhớt
+ L- Độ nhớt của loại dầu có chỉ số độ nhớt thấp (IV=0) ở 400C và có độ nhớt
bằng độ nhớt của dầu khảo sát ở 1000C.
+ H- Độ nhớt của loại dầu có chỉ số độ nhớt cao ( IV=100) ở 400C và có độ nhớt
bằng độ nhớt của dầu khảo sát ở 1000C .
Độ nhớt của dầu ký hiệu bằng các chữ số và đứng sau chữ cái chỉ ký hiệu dầu trong
mác dầu. Chữ số ký hiệu càng lớn thì độ nhớt càng cao.
Nhiệt độ đông đặc của dầu: Đặc trưng cho khả năng tăng độ nhớt cảu dầu bôi
trơn khi giảm nhiệt độ. Sự tăng độ nhớt khi nhiệt độ giảm có thể dẫn đến phá huỷ sự
làm việc bình thường của hệ thống bôi trơn do mất tính chảy loãng của dầu. Nhờ đó
người ta biết mà sử dụng vào mùa đông hay mùa hè, hoặc theo vùng.
VD: SAE 15 Dầu có độ nhớt 20 cSt ở 1000C ( Dầu dùng cho mùa hè).
SAE 20W- Dầu có độ nhớt 15cSt ở -180C ( Dầu dùng cho mùa đông).
SAE 15W/20- Dầu dùng cho cả 4 mùa
Nhiệt độ bốc cháy: Biểu thị khả năng an toàn phòng cháy của dầu, trong trường
hợp chung nó có đặc trưng bởi sự có mặt trong dầu các cácbua- hyđrô nhẹ. Theo
quy định nhiệt độ bốc cháy là nhiệt độ của dầu bị bốc cháy khi đưa gần đến một
ngọn lửa.
Tính bôi trơn: Chất lượng bôi trơn của dầu được đặc trưng bằng tính nhớt của
dầu bôi trơn, nó được đánh giá bằng khả năng đảm bảo ma sát ở trạng thái giới hạn
do hình thành trên bề mặt ma sát màng phân tử hấp thụ, đồng thời nó ngăn cản sự

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 6


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

tiếp xúc trực tiếp giữa các chi tiết làm việc. Tính nhớt của dầu được đánh giá bằng
hệ số ma sát và độ bền của các màng hình thành. Sự hấp thụ dầu xảy ra trên bề mặt
do trong cấu tạo phân tử của vật liệu bôi trơn có các chất có ái lực với các phân tử
kim loại ( như các nhóm cácbô xít, hyđrô xít…)
Tính bền hoá học:ảnh hưởng của ôxy trong không khí dưới áp suất và nhiệt độ
cao, dầu mất đi tính chất ban đầu do đó diễn ra sự tăng cường các quá trình đọng
sơn, hình thành các lớp thiêu kết, cặn và gỉ. Các hiện tượng trên đã biến đổi tính
chất sử dụng của dầu. Để đánh giá các tính bền của dầu người ta dùng các thông số
cơ bản sau:
Lượng axít: Bằng lượng KOH( tính bằng mg) cần thiết để trung hoà toàn lượng
axít có trong 1 gam dầu và nó đặc trưng cho tính chất ăn mòn của dầu.
Độ hao hụt về khối lượng của một tấm chì tiêu chuẩn ngâm trong dầu nóng đến
1400C, trong 50 giờ.
Lượng tro: Lượng các chất không cháy được trong dầu. Tiêu chuẩn cho phép
giới hạn 0,007% đối với dầu công nghiệp và 0,025% đối với dầu dùng cho ôtô máy
kéo.
Khả năng ôxy- hoá nhiệt đặc trưng cho tính chất của dầu hình thành cặn sơn trong
vùng chốt piston.
Lượng than cốc bằng lượng % than cốc trong dầu mẫu, nó đặc trưng cho xu hướng
tạo thành tro, nhựa đường trong dầu.
Tạp chất cơ học: Có trong dầu dưới dạng hạt đồng thời tạp chất cơ học sinh ra
ngay trong bản thân dàu bôi trơn trong quá trình sử dụng, do việc phát sinh ra tro và
cặn khi độ mài mòn tăng lên. Nó có thể dẫn đến bịt kín một phần hoặc hoàn toàn
các ống dẫn dầu.
1.1.3.3. Sử dụng dầu bôi trơn trên động cơ đốt trong
Trước khi đưa dầu vào sử dụng, phải kiểm tra chất lượng của dầu thông qua các
chỉ tiêu: Lượng nước (ảnh hưởng đến sự đông đặc dầu và tạo ra axit), độ tan của các
chất phụ gia, màu sắc và mùi dầu, lượng axít, tạp chất và độ nhớt. Nếu các thông số
cần thiết đảm bảo trong giới hạn cho phép thì ta đem vào sử dụng.
Dầu sau một thời gian sử dụng sẽ bị biến chất ít nhiều, thường xuyên kiểm tra và
bảo dưỡng dầu, thay dầu theo quy định.
Việc khắc phục các nguyên nhân gây ra biến chất dầu (do nhiệt độ động cơ cao, áp
suất ổ trục lớn làm chèn dập dầu, sự ôxy hoá trong quá trình làm việc của động cơ,
lọt khí...), nhà thiết kế có thêm các chất phụ gia cần thiết.
Hiện nay chưa có công nghệ khắc phục dầu đã sử dụng, việc tái sinh dầu cũng
rất tốn kém, trong một số động cơ, người ta sử dụng được loại dầu có tác dụng làm

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 7


ỏn tt nghip

Kho sỏt h thng bụi trn ng c SA6D140E-3

sch du c cũn li, trỏnh nh hng cht lng du mi thay (nh hn hp du
hipụit theo OCT 403-53), hoc dựng du ca ng c ó dựng cho cỏc ng c cú
yờu cu thp hn.
1.1.3.4. Phõn loi du nhn trong ng c t trong
Khi chỳng ta la chn s dng loi du nhn no l tu thuc vo nhng iu
kin lm vic ca c cu mỏy nh: Nhit , ỏp sut, mc ph ti ca trc, tc
chuyn ng ca cỏc b mt lm vic, vt liu dựng ch to cỏc chi tit, cht
lng gia cụng b mt, mc cng hoỏ ca ng c v nhng iu kin khỏc.
Khi sn xut du bụi trn, ngi ta da vo iu kin lm vic thc t ca ng
c, t ú a ra yờu cu ca du, sau ú sn xut sao cho t yờu cu.
Tỡnh hỡnh phỏt trin ca ngnh ng c t trong ngy mt ln mnh, nờn yờu cu
ca du nhn cao hn v s phõn loi khỏc i. Do vy vic s dng du nhn cng
chu nh hng v khỏc trc. Thụng thng ỏnh giỏ phõn loi du bụi trn
thng da trờn cỏc tiờu chớ sau.
Phõn loi theo nht:
Theo tiờu chun Liờn Xụ c v nc ta trc õy: du nhn c phõn loi theo
tớnh nng ng c, gm cú ba nhúm ú l: Du nhn dựng cho ng c mỏy bay (ký
hiu bng ch M), du nhn dựng cho ng c iờzen (ký hiu bng ch D), v du
nhn dựng cho ng c xng (ký hiu bng ch A). Sau ny, da trờn c s nghiờn
cu v ng sut nhit, hm lng lu hunh ca nhiờn liu, hm lng cỏc cht ph
gia... Liờn Xụ phõn loi du nhn lm 6 nhúm theo bng 1.1:
Bng 1.1. Phõn loi du nhn theo tiờu chun Liờn Xụ.
ọỹ nhồùt
(cSt) ồớ
1000C

Nhoùm
A

b

B



D



61

M6

M6b

M6B







81

M8

M8b

M8B

M8r





101

M10

M10b

M10B

M10r





121

M12

M12b

M12B

M12r

M12

M12E

161



M16b

M16B

M16r

M16

M16E

201

M20

M20b

M20B

M20r





Du nhúm A s dng cho ng c xng cú t s nộn thp, s dng loi xng ớt lu

SVTH: on Ngc Lõm- Lp 24C4

Trang 8


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

huỳnh (dưới 0.5%). Trong loại dầu nhờn nhóm A có rất ít nhóm phụ gia, chủ yếu là
những chất phụ gia chống ôxyt hoá và chống đông đặc.
Dầu nhóm b dùng cho động cơ xăng có tỷ số nén vừa và động cơ diêzen có tỷ số
nén thấp. Nhiên liệu sử dụng có hàm lượng lưu huỳnh đến 0.5%. Dầu nhờn nhóm
này có 0.5% chất phụ gia đa tính.
Dầu nhóm B dùng cho động cơ xăng có tỷ số nén cao và động cơ điêzen có tỷ
số nén vừa. Nhiên liệu có hàm lượng khá cao, từ 0.5 1%. Loại dầu nhờn nhóm này
có 7% chất phụ gia đa tính chất lượng cao.
Theo tiêu chuẩn API và MIL của Mỹ:
SAE qui định sản xuất những loại dầu SAE như SAE 5W, 10W, 20W, 30W,
40W, 50W. Độ nhớt này được xác định ở 00F (-180C) đối với dầu mùa đông ( ký
hiêụ chữ W "winter") hoặc ở 2100F (1000C) đối với tất cả các loại dầu nhờn.
Dầu 4 mùa được ký hiệu bằng số kép, ví dụ SAE-10W/30, nghĩa là theo độ nhớt,
dầu này ở -180C tương đương với loại SAE- 10W còn ở 1000F tương dương với loại
SAE- 30.
MIL- L2104A- Quy định cho các loại dầu cao cấp dùng cho động cơ điêzen và
động cơ chế hoà khí. Loại dầu theo tiêu chuẩn này có tính rửa tốt.
MIL- L2104B- Quy định cho dầu vạn năng, ký hiệu: MS và DG- DS (DS). Dầu
theo tiêu chuẩn này có tính rửa, tính chống ôxy hoá tốt ở nhiệt độ cao, chống ăn
mòn, chống tạo cặn ở nhiệt độ thấp.
MIL- L45199A- Quy định cho nhóm dầu có tính rửa, tính chống ôxy hoá và tính
chống ăn mòn cao. Theo tiêu chuẩn API khi dùng những loại dầu này phải đối chiếu
với dầu có ký hiệu DS. Tiêu chuẩn này quy định sản xuất loại dầu SAE- 10W và
SAE- 30.
Nước Anh áp dụng tiêu chuẩn DEF- 2101B hoặc DEF- 2101C và DEF- 2101D
quy định sản xuất 4 loại dầu OMD- 40 (SAE- 10W), OMD- 60 (SAE- 20W), OMD110 (SAE- 30W), OM- 330 (SA- 50W).
Dầu theo tiêu chuẩn DEF- 210D cũng tương đương với yêu cầu của tiêu chuẩn
quốc gia BS1905/1965 của Anh. Theo tiêu chuẩn này dầu chia làm hai loại: Loại A
(cao cấp), loại B (loại 1).
Ở Pháp tiêu chuẩn mới DCEA/54PS áp dụng từ năm 1965 gồm 4 loại dầu :
OMD- 40, OMD- 60, OMD- 330.
Ở I-ta-lia, hãng AGID sản xuất nhiều loại dầu nhờn đa số dùng cho động cơ có
tỷ trọng nặng.
Ngoài tiêu chuẩn quốc gia, còn nhiều tiêu chuẩn của các hãng sản xuất tư nhân
như hãng Sheel, Castrol, Socony, Mobil. Hãng Castrol sản xuất nhóm dầu đáp ứng

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

Trang 9


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

yêu cầu của tiêu chuẩn NIL- L- 2104B ký hiệu Densol CRT- 10, 20, 30, 40. Hãng
Socony, Mobil sản xuất dầu vạn năng Delvac- 1288, ký hiệu Delvac- 1210, 1220,
1230, 1240, 1250 có độ nhớt tương đương với dầu SAE- 10W, SAE- 20, SAE- 30,
SAE- 40, SAE- 50.
Phân loại theo tải trọng:
Theo tiêu chuẩn Liên Xô
Dầu nhóm r dùng cho loại động cơ làm việc đặc biệt nặng như các động cơ
cường hoá cao, tăng áp ...Nhiên liệu có thành phần lưu huỳnh tới 1% loại dầu nhờn
nhóm này có 11% chất phụ gia đa tính năng.
Dầu nhờn nhóm D dùng cho động cơ cường hoá và tăng áp, dùng nhiên liệu
xấu, dầu nặng, hàm lượng lưu huỳnh đến 2%.Dầu nhờn nhóm này có tới 18% chất
phụ gia đa tính năng.
Dầu nhờn nhóm E dùng cho động cơ có đầu máy điêzen, tàu thuỷ cỡ lớn...sử
dụng loại dầu nặng có hàm lượng lưu huỳnh đến 3%. Nhóm dầu nhờn này thành
phần các chất phụ gia đa tính năng tăng lên đến 25%.
Tiêu chuẩn MỸ:
Do yêu cầu cao về chất lượng của dầu và điều kiện làm việc của động cơ, một
hệ thống mới xếp loại dầu động cơ đã được đưa ra. Hệ thống này đề cập tới 9 loại
điều kiện sử dụng. Tất cả các loại dầu được chia thành hai nhóm chính theo điều
kiện làm việc. Đối với hai nhóm dầu này chữ số thứ hai biểu thị mức độ sử dụng
phức tạp trong dãy chữ theo thứ tự A, B, C, D...
Chữ S: Chỉ dầu dùng cho động cơ xăng.
Chữ C: Chỉ dầu dùng cho động cơ điêzen
SA- Dùng cho động cơ chế hoà khí
SB- Dùng cho động cơ chế hoà khí làm việc với tải trọng vừa
SC- Dùng cho động cơ chế hoà khí của ôtô con những năm 1964, 1967
SD- Dùng bảo dưỡng ôtô con và một số kiểu ôtô tải
SE- Dùng bảo dưỡng động cơ chế hoà khí trong thời hạn bảo hành.
CA- Dùng cho động cơ điêzen làm việc với điều kiện tải trọng nhẹ, sử dụng
nhiên liệu có chất lượng cao.
CB- Dùng trong điều kiện làm việc bình thường của động cơ điêzen, sử dụng
nhiên liệu có chất lượng kém. Trong một số trường hợp có thể dùng các dầu này cho
động cơ chế hoà khí làm việc trong điều kiện nhẹ đến trung bình.
CC- Dùng trong điều kiện làm việc với tải trọng trung bình của động cơ chế hoà
khí và động cơ điêzen xe tải. Những loại dầu này có thể dùng cho động cơ điêzen

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

10

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

làm việc trong điều kiện tải trọng nặng. Dầu CC đảm bảo không tạo cặn, chống ăn
mòn, chống han gỉ tốt.
CD- Dùng cho động cơ điêzen làm việc với điều kiện tải trọng nặng, công suất
lớn vòng quay nhanh.
Tải trọng của động cơ tăng dần SA đến SE, từ CA đến CD và chất lượng của dầu
cũng tăng dần theo tải trọng.
1.2. CÁC PHƯƠNG ÁN BÔI TRƠN TRONG ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG.
1.2.1. Bôi trơn bằng phương án vung té dầu:

6
5
4
3
2
1

7

a

b

c

Hình 1.3. Sơ đồ nguyên lý bôi trơn bằng phương pháp vung té dầu.
a- Bôi trơn vung té trong động cơ nằm; b- Bôi trơn vung té trong động cơ đứng;
c- Bôi trơn vung té có bơm dầu đơn giản; 1- Bánh lệch tâm; 2- Pittông bơm dầu; 3- Thân
bơm; 4-Cácte; 5- Điểm tựa; 6- Máng dầu phụ; 7- Thanh truyền có thìa hắt dầu.

Dầu nhờn được chứa trong cacte (4), khi động cơ làm việc nhờ vào thìa múc
dầu lắp trên đầu to thanh truyền (7) múc hắt tung lên.
Nếu múc dầu trong cacte bố trí cách xa thìa múc thì hệ thống bôi trơn có dùng
thêm bơm dầu kết cấu đơn giản để bơm dầu lên máng dầu phụ (6), sau đó dầu nhờn
mới được hắt tung lên. Cứ mỗi vòng quay của trục khuỷu thìa hắt dầu múc dầu lên
một lần. Các hạt dầu vung té ra bên trong khoảng không gian của cacte sẽ rơi tự do
xuống các mặt ma sát của ổ trục. Để đảm bảo cho các ổ trục không bị thiếu dầu, trên
các vách ngăn bên trên ổ trục thường có các gân hứng dầu khi dầu tung lên.
Kết cấu của hệ thống bôi trơn rất đơn giản, dễ bố trí. Phương án bôi trơn này rất
lạc hậu, không đảm bảo lưu lượng dầu bôi trơn của ổ trục, tuổi thọ dầu giảm nhanh,
không ổn định nên ít dùng. Hiện nay, phương án này chỉ còn tồn tại trong những
động cơ kiểu cũ, công suất nhỏ và tốc độ thấp: Thường dùng trong động cơ một
xilanh kiểu xilanh nằm ngang có kết cấu đơn giản như T62, W1105...hoặc một trong
vài loại động cơ một xilanh, kiểu đứng kết hợp bôi trơn vung té dầu với bôi trơn
bằng cách nhỏ dầu tự động như động cơ Becna, Slavia kiểu cũ...
1.2.2. Phương án bôi trơn cưỡng bức:
SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

11

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

Trong các động cơ đốt trong hiện nay, gần như tất cả đều dùng phương án bôi
trơn cưỡng bức, dầu nhờn trong hệ thống bôi trơn từ nơi chứa dầu, được bơm dầu
đẩy đến các bề mặt ma sát dưới một áp suất nhất định cần thiết, gần như đảm bảo
tốt tất cả các yêu cầu về bôi trơn, làm mát và tẩy rửa các bề mặt ma sát ổ trục của hệ
thống bôi trơn.
Hệ thống bôi trơn cưỡng bức của động cơ nói chung bao gồm các thiết bị cơ bản
sau: Thùng chứa dầu hoặc cácte, bơm dầu, bầu lọc thô, bầu lọc tinh, két làm mát
dầu nhờn, các đường ống dẫn dầu, đồng hồ báo áp suất và đồng hồ báo nhiệt độ của
dầu nhờn, ngoài ra còn có các van.
Tuỳ theo vị trí chứa dầu nhờn, người ta phân hệ thống bôi trơn cưỡng bức thành
hai loại: Hệ thống bôi trơn cácte ướt (dầu chứa trong cácte) và hệ thống bôi trơn
cácte khô (dầu chứa trong thùng dầu bên ngoài cácte). Căn cứ vào hình thức lọc, hệ
thống bôi trơn cưỡng bức lại phân thành hai loại: Hệ thống bôi trơn dùng lọc thấm
và hệ thống bôi trơn dùng lọc ly tâm (toàn phần và không toàn phần)...Ta lần lượt
khảo sát từng loại như sau:
1.2.2.1. Hệ thống bôi trơn cưỡng bức cacte ướt:
2

1

3

4

5

14

13

12

6

11

10

9

8

7

Hình 1.4. Sơ đồ nguyên lý làm việc của hệ thống bôi trơn cácte ướt.
1- Đồng hồ áp suất; 2- Đường dâù chính; 3- Đường dầu lên chốt khuỷu; 4- Trục khuỷu; 5Bầu lọc tinh; 6- Két làm mát; 7- Van khống chế dầu qua két làm mát; 8- Đồng hồ nhiệt độ
dầu nhờn; 9- Máng dầu; 10- Phao hút dầu; 11- Bơm dầu nhờn; 12- Van an toàn của bơm
dầu; 13- Bầu lọc thô; 14- Van an toàn của bầu lọc thô.

Dầu nhờn chứa trong cácte được bơm dầu 11 hút qua phao hút dầu 10 (vị trí
phao hút nằm lơ lửng ở mặt thoáng của dầu để hút được dầu sạch và không cho lọt
bọt khí), sau đó dầu đi qua lọc thô 13, khi đi qua bầu lọc thô, dầu được lọc sạch sơ

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

12

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

bộ các tạp chất cơ học có kích cỡ các hạt lớn, tiếp theo đó dầu nhờn được đẩy vào
đường dầu chính 6 để chảy đến các ổ trục khuỷu, ổ trục cam,... Đường dầu 2 trong
trục khuỷu đưa dầu lên bôi trơn ở chốt, ở đầu to thanh truyền rồi theo đường dầu 3
lên bôi trơn chốt piston. Nếu như không có đường dầu trên thanh truyền thì đầu nhỏ
trên thanh truyền phải có lỗ hứng dầu. Trên đường dầu chính còn có các đường dầu
đưa dầu đi bôi trơn các cơ cấu phối khí... Một phần dầu (khoảng 15  20% lượng
dầu bôi trơn do bơm dầu cung cấp) đi qua bầu lọc tinh 5 rồi trở về lại cácte. Bầu lọc
tinh có thể được lắp gần bầu lọc thô hoặc để xa bầu lọc thô. Đồng hồ 1 báo áp suất
và đồng hồ 8 báo nhiệt độ của dầu nhờn.
Khi nhiệt độ của dầu bôi trơn lên cao quá 80 0 C , vì do độ nhớt giảm sút, van
điều khiển C sẽ mở để dầu nhờn đi qua két làm mát dầu nhờn 6. Sau một thời gian
làm việc bầu lọc thô có thể bị tắc do quá tải, van an toàn 14 của bầu lọc thô được
dầu nhờn đẩy mở ra, dầu lúc này không thể qua bầu lọc thô mà trực tiếp đi vào
đường dầu chính 2. Để đảm bảo áp suất dầu bôi trơn có trị số không đổi trên cả hệ
thống, trên hệ thống bôi trơn có lắp van an toàn 12.
Ngoài việc bôi trơn các bộ phận trên, để bôi trơn các bề mặt làm việc của xilanh,
piston...Người ta kết hợp tận dụng dầu vung ra khỏi ổ đầu to thanh truyền trong quá
trình làm việc ở một số ít động cơ, trên đầu to thanh truyền khoan một lỗ nhỏ để
phun dầu về phía trục cam tăng chất lượng bôi trơn cho trục cam và xilanh.
Thông qua phương án bôi trơn catte ướt, với những ưu điểm của nó ngày nay
phương án này được dùng rất nhiều ở ôtô. Ưu điểm là cung cấp khá đầy đủ dầu bôi
trơn cả về số lượng và chất lượng, độ tin cậy làm việc của hệ thống bôi trơn tương
đối cao. Nhược điểm do dùng cácte ướt (chứa dầu trong cácte) nên khi động cơ làm
việc ở độ nghiêng lớn, dầu nhờn dồn về một phía khiến phao hút dầu bị hẫng. Vì
vậy lưu lượng dầu cung cấp sẽ không đảm bảo đúng yêu cầu.
Hầu hết các loại động cơ đốt trong ngày nay đều dùng phương án bôi trơn cưỡng
bức do dầu nhờn trong hệ thống bôi trơn được bơm dầu đẩy đến các bề mặt ma sát
dưới một áp suất nhất định nên có thể đảm bảo yêu cầu bôi trơn, làm mát và tẩy rửa
mặt ma sát của ổ trục. Nói chung hệ thống bôi trơn cácte ướt thường dùng trên động
cơ ôtô làm việc trong địa hình tương đối bằng phẳng (vì ở loại này khi động cơ làm
việc ở độ nghiêng lớn, dầu nhờn dồn về một phía khiến phao hút dầu bị hẫng).

1.2.2.2. Hệ thống bôi trơn cưỡng bức cácte khô.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

13

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

7

6
1

8

10

14

13
16
11

12

15

Hình 1.5. Sơ đồ nguyên lý làm việc của hệ thống bôi trơn cácte khô.
1- Đồng hồ áp suất; 6- Két làm mát; 7- Van khống chế dầu qua két làm mát; 8- Đồng hồ
nhiệt độ dầu nhờn; 10- Phao hút dầu; 11- Bơm dầu nhờn; 12- Van an toàn của bơm dầu;
13- Bầu lọc thô; 14- Van an toàn của bầu lọc thô; 15- Phao hút dầu; 16- Nút tháo dầu.

Chỉ khác bôi trơn cưỡng bức cácte ướt là ở trong hệ thống này có thêm hai bơm
hút dầu từ cácte về thùng chứa, sau đó bơm 11 mới chuyển dầu đi bôi trơn. Trong hệ
thống bôi trơn cưỡng bức cácte ướt, nơi chứa dầu đi bôi trơn là cácte, còn ở đây là
thùng chứa dầu.
Trong một số động cơ tĩnh tại và tàu thuỷ, trên hệ thống bôi trơn còn bố trí bơm
tay hoặc bơm điện để cung cấp dầu nhờn đến các mặt ma sát và điền đầy các đường
ống dẫn trước khi khởi động động cơ. Sơ đồ bố trí bơm tay hoặc bơm điện được
giới thiệu trên hình 1.6.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

14

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

Hình 1.6. Sơ đồ bố trí bơm tay hoặc bơm điện trong hệ thống bôi trơn cưỡng bức.
1- Phao hút dầu; 2- Bơm chuyển dầu nhờn; 3- Bầu lọc thô; 11- Két làm mát dầu ; 14Đường dẫn dầu; 15- Van dầu; 16- Bơm tay hoặc bơm điện; a- Van an toàn của bơm; bVan an toàn của bầu lọc thô; T- Đồng hồ nhiệt độ dầu nhờn.

Thông qua phương án bôi trơn cácte khô, với những ưu điểm của nó ngày nay
phương án này được dùng rất nhiều ở máy kéo.
Cácte chỉ hứng và chứa dầu tạm thời, còn thùng dầu mới là nơi chứa dầu để đi
bôi trơn nên động cơ có thể làm việc ở độ nghiên lớn mà không sợ thiếu dầu, dầu
được cung cấp đầy đủ và liên tục.
Kết cấu phức tạp hơn, giá thành tăng lên do phải thêm đến 2 bơm dầu hút dầu
cácte qua thùng, thêm đường dầu và bố trí thùng dầu sao cho hợp lý.
Hệ thống bôi trơn cưỡng bức cácte khô thường dùng trên các loại động cơ
điêzen dùng trên máy ủi đất, xe tăng, máy kéo, tàu thuỷ...Trong một số động cơ tĩnh
tại và tàu thuỷ, trên hệ thống bôi trơn còn bố trí bơm tay hoặc bơm điện để cung cấp
dầu nhờn đến các mặt ma sát và điền đầy các đường ống dẫn trước khi khởi động
cơ.
Ngoài ra, để đảm bảo bôi trơn cho mặt làm việc của xilanh, hệ thống bôi trơn
của các loại động cơ này còn thường dùng van phân phối để cấp dầu nhờn vào một
số điểm chung quanh xi lanh, lỗ dầu thường khoan trên lót xilanh.
1.2.3. Pha dầu nhờn vào nhiên liệu.
Phương án bôi trơn này chỉ dùng để bôi trơn các chi tiết máy của động cơ xăng
hai kỳ cỡ nhỏ, làm mát bằng không khí hoặc nước. Dầu nhờn được pha vào trong
xăng theo tỷ lệ

1
1

thể tích. Đối với một số động cơ cỡ nhỏ của Đức, Tiệp
20 25

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

15

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

thường pha dầu nhờn với tỷ lệ ít hơn, thường vào khoảng

1
1
 . Hỗn hợp của dầu
30 33

nhờn và xăng đi qua bộ chế hoà khí, được xé nhỏ cùng với không khí tạo thành khí
hổn hợp. Khí hỗn hợp này được nạp vào cácte của động cơ rồi theo lỗ quét đi vào
xilanh. Trong quá trình này, các hạt dầu nhờn lẩn trong khí hỗn hợp ngưng đọng
bám trên bề mặt các chi tiết máy để bôi trơn các mặt ma sát.
Cách bôi trơn này thực tế không cần hệ thống bôi trơn, thực hiện việc bôi trơn
các chi tiết máy rất đơn giản, dễ dàng nhưng do dầu nhờn theo khí hỗn hợp vào
buồng cháy nên dễ tạo thành muội than bám trên đỉnh piston, pha càng nhiều dầu
nhờn, trong buồng cháy càng nhiều muội than, làm cho piston nhanh nóng, quá
nóng, dể xảy ra hiện tượng cháy sớm, kích nổ và đoản mạch do buji bị bám bụi
than. Ngược lại, pha ít dầu nhờn, bôi trơn kém, ma sát lớn dễ làm cho piston bị bó
kẹt trong xilanh. Phương án này rất đơn giản nhưng lại nhiều nhược điểm. Ngày
nay, người ta quan tâm nhiều về vấn đề môi trường nên các loại động cơ này ít dùng
và hệ thống bôi trơn kiểu này cũng không còn phổ biến.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

16

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

1.3.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÁY ỦI KOMATSU D275A-5
1.3.1.Các thông số kỹ thuật của máy ủi KOMATSU D275A-5
Máy ủi KOMATSU D275A-5 là loại máy ủi dùng trong các lĩnh vực như san ủi
phẳng đất, khai thác đá, xây dựng…

6

5
4

7

8

3965

3
2
1

7727

Hình1.7.Tổng quan về máy ủi KOMATSU D275A-5
1- Lưỡi ủi; 2- Khung ủi; 3- Thanh giằng; 4- Xy lanh thuỷ lực; 5- Động cơ; 6- Ca bin; 7Bánh xích; 8- Bộ phận xới đất.

Các thông số kỹ thuật.
- Model máy: D275A- 5
- Số sêri: 25001.
- Khối lượng
Khối lượng máy kéo trần:

38.430kg

Tổng khối lượng máy kéo:

50.800kg.

- Đặc tính:
Giới hạn tốc độ hộp số: Tiến tốc độ 1:

3,8 km/h.

Tiến tốc độ 2:

6,7 km/h.

Tiến tốc độ 3:

11,2 km/h.

Lùi tốc độ 1:

4,9 km/h.

Lùi tốc độ 2:

8,7 km/h.

Lùi tốc độ 3:

14,9 km/h.

Áp suất đi trên đất với khối lượng tổng thể : 1,22 kG/cm2.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

17

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

- Kích thước:
Chiều dài tổng thể:

7,27 m

Chiều cao tổng thể:

3,965 m

Chiều rộng tổng thể:

4,62 m.

Kích thướt kiểm tra của xích:

2,26 m

Chiều dài của xích trên đất:

3,48 m.

Chiều rộng của guốc xích:

0,61 m

Khe hở tốt thiểu với mặt đất:

0,51 m.

- Hệ thống truyền công suất:
Lực kéo chuyển đổi: 3 thành phần, 1 cấp, 1 pha.
Truyền động: Kiểu bánh răng hành tinh, ly hợp nhiều đĩa, dẫn động thuỷ lực
(điện), hoạt động bởi bơm bánh răng, có 3 tốc độ tiến và 3 tốc độ lùi vân hành bằng
điện.
Trục bánh răng côn: Bánh răng côn xoắn bôi trơn bằng cách tóe dầu.
Ly hợp lái: Ướt, nhiều đĩa dẫn động thuỷ lực vận hành bằng tay kết hợp với
phanh lái.
Phanh lái: Ướt, nhiều đĩa, khuếch đại bằng lò xo xoắn dẫn động thuỷ lực vận
hành bằng tay và chân kiểu cơ cấu đòn bẩy.
Dẫn động cuối: Bánh răng sắt 1 cấp, bánh răng hành tinh 1 cấp, bánh răng côn
xoắn bôi trơn kiểu toé dầu.
- Khung gầm:
Con lăn đỡ: 2 cho mỗi mặt
Con lăn tải: 7 cho mỗi mặt
Đế guốc (610mm): 37 cho mỗi mặt. 260,6mm
- Hệ thống thiết bị làm việc thuỷ lực:
Bơm làm việc thiết bị: Áp suất đẩy 280kG/cm2.
Thể tích làm việc 256l/ph/2286v/ph
Bơm quạt:

Áp suất 160kG/cm2.
Thể tích 103l/ph/2286v/ph

Motor quạt:

Áp suất làm việc tối đa cho phép 160kG/cm2.

- Van điều khiển chính:
Cho nâng ben, nghiêng ben, nâng cày, nghiêng cày: đơn và đôi kiểu ống tròn
- Xy lanh thuỷ lưc.
Kiểu piston tác động kép.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

18

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

Kích thước của xylanh nâng ben :

Đường kính xylanh 120mm.
Đường kính cây đẩy 80mm.
Khoảng chạy piston 1495mm.

Kích thước của xylanh nghiêng ben:

Đường kính xylanh 180mm.
Đường kính cây đẩy 100mm.
Khoảng chạy piston 190mm.

Kích thước của xylanh nghiêng ben + ổn định: Đường kính xylanh 180mm.
Đường kính cây đẩy 100mm.
Khoảng chạy piston 190mm.
Kích thước của xylanh nâng cào đất:

Đường kính xylanh 180mm.
Đường kính cây đẩy 100mm.
Khoảng chạy piston 465mm.

Kích thước của xylanh nghiêng cào đất:

Đường kính xylanh 160mm.
Đường kính cây đẩy 90mm.
Khoảng chạy piston 455mm.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

19

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

1.3.2. Các cơ cấu và bộ phận chính trong động cơ SA6D140E-3
1.3.2.1.Giới thiệu về động cơ.
3

2

388

211

142

1738

1

848
1040

4

6

5

Hình 1.8. Tổng thể ngang động cơ
1- Bộ tăng dây đai; 2- Buly máy phát; 3- Buly quạt gió; 4- Catte dầu; 5- Buly trục khuỷu;
6- Bệ máy;

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

20

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

Hình 1.9. Mặt cắt dọc động cơ
7- Đường nước xả; 8- Cánh quạt gió; 9- Dây đai; 10- Két nước làm mát; 11- Lọc tinh dầu
điêzen; 12- Ống thải khí; 13- Nắp đậy; 14- Lò xo xupáp; 15- Xupáp; 16- Vòi phun nhiên
liệu; 17- Piston; 18- Lót xilanh; 19- Trục khuỷu; 20- Bơm cao áp; 21- Nút tháo dầu bôi
trơn; 22- Thanh truyền; 23- Bánh đà.

- Động cơ:
Tên: SA6D140E-3.
Kiểu động cơ: 4 thì, làm mát bằng nước, kiểu 1 hàng đứng, phun nhiên liệu trực
tiếp với tuabin và buồng tản nhiệt.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

21

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

Số xylanh, đường kính x khoảng chạy : 6, 140 x165.
Dung tích làm việc của piston

: 15,24 lít.

Công suất tại bánh đà:

306 kW/2000v/ph.

Lực kéo cực đại:

1989 Nm/1400v/ph.

Tốc độ không tải tối đa:

2150v/ph.

Tốc độ không tải tối thiểu:

700v/ph.

Mức tiêu hao nhiên liệu tối thiểu:

215g/kWh.

Motor khởi động:

24v, 11kW.

Máy phát xoay chiều:

24v, 75A.

Ắcquy:

12v,170Ah, 2 bình.

Động cơ SA6D140E- 3 là động cơ được kiểm tra chặt chẽ về qui trình khí thải
theo tiêu chuẩn (USA tiêu chuẩn EPA năm 2001, EU năm 2002, JAPAN là các tiêu
chuẩn về thiết bị năm 2004). Tại thời điểm này hiệu suất sử dụng thiết bị rất cao,
thách thức đặt ra đối với các nhà sản xuất là: Hiệu suất cao nhưng tiêu tốn nhiên
liệu ít, độ ồn thấp và cải tiến lượng khí thải có màu thành khí thải không màu, cải
thiện quá trình phản ứng hoá học. Vì vậy động cơ này được cải tiến mới nhất để đáp
ứng được các yêu cầu trên cho quá trình sử dụng trên nhiều mục đích khác nhau
như trong lĩnh vực xây dựng và trong công nghiệp lắp máy. Động cơ này là sự kế
thừa của động cơ 140E- 2 là động cơ 6 xilanh thẳng hàng, làm mát bằng nước, sử
dụng nhiên liệu Diezel 4 kỳ áp dụng công nghệ mới nhất.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

22

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

1.3.2.2. Các hệ thống chính trong động cơ
a. Hệ thống tăng áp

Hình 1.10. Turbo tăng áp
1- Cánh dẫn hướng; 2- Vòng đai; 3- Cánh khuyếch tán; 4- Vỏ bọc; 5- Vành che đỡ; 6- Vỏ
che tuabin; 7- Bánh công tác; 8- Vòng làm kín; 9- Đệm; 10- Bạc lót; 11- Vòng chặn; 12Bánh công tác của buồng thổi; A- Đường vào; B- Đường ra; C- Khí vào; D- Khí ra; EDầu vào; F- Dầu ra; G- Nước làm mát; Chiều dài 308mm; Chiều rộng 305mm; Chiều cao
287mm, Trọng lượng 24kg.

Hệ thống tăng áp động cơ SA6D140E- 3 là hệ thống tăng áp máy nén được dẫn
động bởi tuabin khí, hoạt động nhờ năng lượng khí thải của động cơ. Không khí từ
ngoài trời qua máy nén được nén tới áp suất Pk  P0 (pk= 0,113 MN/m2) rồi vào
xilanh động cơ, vì được dẫn động nhờ khí thải nên không phải tiêu thụ công suất
động cơ như tăng áp cơ khí nên làm tăng tính kinh tế của động cơ và giảm suất tiêu
hao nhiên liệu đến 10%. Tăng áp tuabin khí còn tạo điều kiện giảm ồn, giảm thành
phần độc hại trong khí xả. Do đó tăng áp loại này được sử dụng rất rộng rãi

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

23

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

b. Hệ thống nhiên liệu

Hình 1.12. Sơ đồ hệ thống nhiên liệu
1- Thùng dầu; 2- Bơm cao áp; 2B- Bơm cao áp; 2C- Bơm tay; 2D- Bơm chuyển; 2E- Van
một chiều; 2F- Cảm biến; 2A- Nhánh 1 bơm cao áp; 3- Lọc dầu; 4- Van an toàn; 5- Van
phân phối nhiên liệu; 6- Ông dầu hồi + Van áp suất; 7- Đường ống cao áp; 8- Vòi phun;
9- Bộ phận làm mát dầu; 10- Hệ thống điều khiển; 11- Cảm biến.

Hệ thống nhiên liệu động cơ chứa nhiên liệu dự trữ đảm bảo cho động cơ hoạt
động liên tục theo khoảng thời gian quy định.
Hệ thống nhiên liệu có nhiệm vụ là lọc sạch nước và các tạp chất cơ học lẫn
trong nhiên liệu, cung cấp lượng nhiên liệu cần thiết cho một chu trình ứng với chế
độ làm việc của động cơ.
Cung cấp nhiên liệu đồng đều vào các xy lanh theo trình tự làm việc đúng quy
định của động cơ và cung cấp vào các xy lanh đúng lúc theo một quy luật đã định.
Để đảm bảo chức năng trên, bầu lọc, bơm cung cấp nhiên liệu, thùng chứa và các hệ
thống ống dẫn phải đảm bảo tốt. Đóng vai trò quan trọng hơn đó là bơm cao áp
phân phối..

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

24

Trang


Đồ án tốt nghiệp

Khảo sát hệ thống bôi trơn động cơ SA6D140E-3

c. Hệ thống làm mát
1

2

3

4

5

B

A

6

8

7

9

Hình 1.13. Sơ đồ hệ thống làm mát
1- Bộ tản nhiệt; 2- Nắp két nước; 3- Van hằng nhiệt; 4- Bầu lọc; 5- Két làm mát khí nạp;
6- Cánh quạt ; 7- Máy nén; 8- Bơm nước; 9- Két dầu bôi trơn; A- Đường dầu vào; BĐường dầu ra

Động cơ có hệ thống làm mát bằng nước kiểu một vòng kín, tuần hoàn cưỡng
bức. Bao gồm áo nước xy lanh, nắp máy, két nước, bơm nước, van hằng nhiệt, quạt
gió và các đường ống dẫn nước. Hệ thống làm mát được sử dụng nước nguyên chất,
có pha chất phụ gia chống rỉ.
- Két làm mát được lắp trên đầu xe, két làm mát có đường nước vào từ van hằng
nhiệt và có đường nước ra đến bơm. Trên két nước có các dàn ống dẫn gắn các cánh
tản nhiệt.
- Bơm nước kiểu ly tâm được dẫn động bằng dây đai từ trục khuỷu.
- Quạt gió được dẫn động bằng dây đai.
- Van hằng nhiệt đóng khi nhiệt độ nhỏ hơn 80OC và bắt đầu mở ở nhiệt độ 85OC.

SVTH: Đoàn Ngọc Lâm- Lớp 24C4

25

Trang


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×