Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG GIÁO dục PHƯƠNG án GIẢI QUYẾT TRƯỜNG hợp học SINH đề NGHỊ đổi GIÁO VIÊN NGUYỄN h n dạy hóa ở lớp 12c, TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG p h, HUYỆN n, TỈNH c

SỞ GD & ĐT CÀ MAU
TRƯỜNG THPT PHÚ HƯNG
----------

PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TRƯỜNG HỢP HỌC
SINH ĐỀ NGHỊ ĐỔI GIÁO VIÊN NGUYỄN H.N
DẠY HÓA Ở LỚP 12C, TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG P.H, HUYỆN N, TỈNH C.

- Đề tài thuộc lĩnh vực chuyên môn: Quản lý giáo dục
- Họ và tên người thực hiện:
Nguyễn Trung Thành
- Chức vụ, nhiệm vụ đang phụ trách: Phó Hiệu trưởng
- Đơn vị công tác:
Trường THPT Phú Hưng

Cái Nước, tháng 4 năm 2011

1



Phần I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi hoạt động và quan hệ quản lý, xét đến cùng đều diễn ra trong cách đối
nhân xử thế giữa con người với nhau, mà ở đó người quản lý luôn phải ứng phó, xử
lý với những tình huống đa dạng, phong phú nảy sinh trong quá trình điều khiển
các hoạt động và mối quan hệ quản lý để đưa chúng trở về trạng thái ổn định, tiếp
tục phát triển hướng tới mục tiêu mong muốn. Và thực chất của quản lý giáo dục là
ứng xử các tình huống luôn xuất hiện trong quá trình quản lý.
Đã có nhiều biện pháp tích cực được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy
và học nhằm nâng cao chất lượng, nhưng lại chậm thực hiện nâng cao chất lượng
giáo viên. Hoạt động dạy học dù lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính độc lập,
sáng tạo của học sinh,... hay đổi mới phương pháp dạy học như thế nào đi chăng
nữa thì cái chất của người thầy vẫn bậc nhất quan trọng trong hoạt động dạy học.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học, người thầy phải kiên định mục tiêu giáo dục,
sâu về kiến thức, vững về nghiệp vụ và có phẩm chất sư phạm tốt; Học sinh là
người chủ động trong hoạt động học phải tích cực, biết phát huy và sáng tạo trên
cơ sở sự định hướng, truyền đạt, dẫn dắt của người thầy.
Thực tế chất lượng dạy học, giáo dục hiện nay còn nhiều yếu kém, bởi nhiều
nguyên nhân, một mặt cơ bản do chất lượng giáo viên chưa đồng bộ, không có
phương pháp chuẩn dạy học, điều kiện dạy học đi sau mục tiêu; mặt khác, đối
tượng học sinh không đồng nhất về mức độ, ảnh hưởng mặt trái của sự phát triển
xã hội lại nhiều. Giáo viên đã dạy theo huớng tích cực nhưng hiệu quả còn rất hạn
chế, đặc biệt là khâu tổ chức, củng cố, hướng dẫn học ở nhà hầu như thực hiện cho
có, còn phương pháp như thế nào, nội dung gì, mức độ cần đạt đến đâu, hầu như
không chú ý tới. Một số giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục thiếu nhất quán,
thiếu đồng bộ, thiếu tính sư phạm. Từ đó dẫn đến trong học sinh sự nhàm chán,
thiếu hoạt động tư duy, hổng kiến thức, … đến khi nhận thấy lực học ngày càng
giảm sút, công danh sự nghiệp ở tương lai mong manh, học sinh sẽ có những bức
xúc và những yêu cầu cần thiết để đảm bảo quyền lợi học tập, phát triển.
Việc xử lý tình huống sư phạm diễn ra trong nhà trường đòi hỏi phải hết sức
linh hoạt, biết lựa chọn, sử dụng sáng tạo những tinh hoa tiêu biểu nhất của các
phương pháp quản lý, giáo dục, và hơn hết phải nhạy cảm, tinh tế để có thể khéo
léo xử lý thì kết quả mới đạt đến hoàn hảo.
Với tinh thần đó, tôi đề xuất Phương án giải quyết trường hợp học sinh đề
nghị đổi giáo viên Nguyễn H.N dạy Hóa ở lớp 12C, trường trung học phổ thông
P.H, Huyện N, Tỉnh C để trao đổi cùng đồng nghiệp.
2


Phần II.


NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Cơ sở đề xuất ra đề tài:
- Nhà trường chính là nơi đang diễn ra một cách sinh động các tình huống quản lý,
buộc người quản lý phải ứng xử để giải quyết, loại bỏ những mâu thuẫn xuất hiện
trong tổ chức mà họ phải trực tiếp đương đầu;
- Phẩm chất và năng lực của người thầy là một yếu tố quyết định chất lượng giáo
dục;
- Lấy hoạt động học của học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy;
- Khen chê là quy luật của sự phát triển nhân cách nhưng cũng là một nghệ thuật
để đi vào lòng người, đi vào thế giới tâm hồn học sinh. Phải rất tinh tế, mực thước,
không được khô cứng, chiếu lệ, hình thức;
- Thực hiện “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
2. Tiêu chí giáo dục:
- Kỳ vọng cao đối với học sinh;
- Khuyến khích học sinh tích cực làm việc độc lập;
- Tăng cường sự nỗ lực vượt khó của giáo viên và học sinh;
- Cung cấp cho học sinh kinh nghiệm học tập;
- Có tính nối tiếp và được tích hợp qua các năm học;
- Đánh giá và báo cáo được sự tiến bộ của học sinh;
- Thân thiện cùng với phụ huynh tư vấn, quan tâm quá trình học tập của học sinh.
3. Xác định mục tiêu giải quyết tình huống:
- Xác minh độ chính xác, tính trung thực trong sự phản ánh, đấu tranh quyền lợi
của học sinh, phát huy trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của học sinh. Giáo dục
học sinh có tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn, có ý thức vượt khó, chủ
động, sáng tạo trong hoạt động học.
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm trong công tác chủ nhiệm lớp. Vừa giữ được mối
quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp, vừa đảm bảo quyền lợi của học sinh.
- Xây dựng đồng nghiệp cùng tiến bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung.
- Tăng cường sự phối hợp giáo dục giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ
môn và làm tốt công tác quản lý, giáo dục học sinh của nhà trường. Tạo sự đồng
3


thuận trong quan hệ giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh và
giữa học sinh với học sinh trong nhà trường.
- Thực hiện tốt “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
(Luật giáo dục 2005, chương 2, mục 2, điều 27).
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
1. Vài nét về nhà trường:
Trường trung học phổ thông P.H được quyết định thành lập ngày 28/07/2002
trên nền tảng trường trung học cơ sở P.H đã có trước đó. Chất lượng giáo dục năm
sau cao hơn năm trước, có nhiều thành tích về giáo dục mũi nhọn như tỷ lệ tốt
nghiệp, tỷ lệ đỗ Đại học và tỷ lệ học sinh giỏi mỗi năm đều tăng cao.
Nhà trường luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục thông qua thao giảng, dự giờ, thi
giáo viên dạy giỏi, Hội thảo chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm, trao đổi nhóm
chuyên môn,… tìm biện pháp tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học, ứng
dụng công nghệ thông tin, đổi mới kiểm tra, đánh giá; Tổ chức các cuộc thi, ngoại
khóa bộ môn, vui để học,…cho học sinh nhằm củng cố, nâng cao khả năng, năng
lực học tập của học sinh theo các cấp độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng sáng
tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
2. Mô tả tình huống:
Năm học 2010 – 2011, tôi được phân công làm chủ nhiệm của lớp 12C. Lớp
12C là một lớp bao gồm phần lớn học sinh ngoan và học giỏi. Từ đầu năm học đến
nay các em học tập tích cực, không ngừng tiến bộ về mọi mặt. Nhưng gần đây,
trong một lần sinh hoạt lớp, em lớp trưởng đứng lên thay mặt cả lớp đề đạt với tôi
về việc đổi cô giáo dạy Hóa. Cô giáo giảng dạy bộ môn Hóa của lớp tôi là cô
Nguyễn H. N, đã vào nghề được 5 năm. Từ trước đến nay cô Nguyễn H. N vẫn
giảng dạy và công tác bình thường theo sự phân công hàng năm của nhà trường,
chưa có những thành tích nổi trội.
Lý do các em đưa ra là cô dạy khó hiểu, ít quan tâm việc học của các đối
tượng học sinh trong lớp, lại hay có những lời mạt sát, xúc phạm đến các em. Các
em cảm nhận giờ học môn Hóa nhiều căng thẳng và kém hiệu quả.
Tôi biết là những lời phàn nàn của các em về cô giáo dạy Hóa không hoàn
toàn sai sự thật. Hơn nữa, với cương vị là một giáo viên chủ nhiệm của một lớp
4


cuối cấp, tôi cũng rất lo lắng cho kết quả học tập của các em, khi kỳ thi tốt nghiệp
Trung học phổ thông và kỳ thi Đại học sắp đến.
Tôi phải làm thế nào đây để vừa giữ được mối quan hệ tốt đẹp với đồng
nghiệp, vừa đảm bảo quyền lợi của học sinh ?
3. Phân tích nguyên nhân và hậu quả:
3.1 Nguyên nhân:
a, Nguyên nhân chủ quan:
 Việc tiếp cận và thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục chưa tốt, tiếp cận mạch
kiến thức và cách xây dựng từng nội dung còn theo lối cũ, chưa hiểu rõ mục tiêu
giáo dục ghi ở các Nghị quyết của Đảng và Luật giáo dục.

 Không thường xuyên tham gia các hoạt động thành viên, tổ chức nhóm, tập thể,
xã hội nên thiếu năng động, sáng tạo và hạn chế phương pháp trong việc tổ chức
thực hiện các hoạt động dạy học. Việc chuẩn bị, đầu tư cho tiết dạy chưa tốt.
 Công tác tự học, tự bồi dưỡng chưa được bản thân chú trọng thật sự, nghiên cứu
nội dung bài dạy là chủ yếu, chưa soi xét kỹ, khai thác sâu, liên hệ rộng kiến thức,
kiến thức liên quan; chưa tinh tế rút ra được những mặt tốt làm vốn kinh nghiệm,
nghiệp vụ cho mình từ trong trao đổi, hoạt động chuyên môn diễn ra trong nhà
trường, đồng thời chế ngự những hạn chế của mình xuống mức thấp.
 Không tự đặt mình vào vị trí học sinh, không hiểu suy nghĩ của học sinh, không
nắm hoàn cảnh của học sinh,... coi học sinh còn bé, khoảng cách thầy trò còn xa.
Trong khi đó, học sinh là học sinh nông thôn, trí tuệ còn thấp, thiếu năng động, ít
được tiếp cận những cái mới, tiến bộ của khoa học, của xã hội, chờ những gì tác
động tới mới nhận biết và biến đổi, đặc biệt là kiến thức khoa học; Hạn chế được tổ
chức các hoạt động học tập nhóm, tổ, ngoại khóa, thi tài,...các hình thức tự học,
trao đổi; Sự định hướng, hướng dẫn học chưa tích cực và hiệu quả; Việc kiểm tra,
đánh giá chủ yếu thông qua các bài kiểm tra thường xuyên trên lớp; Thiếu sự tận
tâm của giáo viên; Bị hạn chế sự chăm chuốt của gia đình.
 Phong cách dạy học, giao tiếp, xử sự với học sinh chưa chú ý tính sư phạm, còn
bị tác động các yếu tố khác. Nặng thực hiện bản năng giáo dục, vui buồn hay trút
lên đầu học sinh, dễ gây sự chán nản và mất nghị lực trong học sinh, làm mờ đi
những ấn tượng tốt đẹp trong nhu cầu đòi hỏi ở lứa tuổi học sinh.
b, Nguyên nhân khách quan:
5


 Trường mới thành lập được 10 năm, chưa có bề dày thành tích và kinh nghiệm.
Sản phẩm trí tuệ tạo ra chưa nhiều, lượng học sinh ra trường học tập và làm việc
góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn ít, chưa tạo ra nhiều
tiền lượng nhân tài. Thương hiệu nhà trường chưa gây được tiếng vang, chưa tạo
được niềm tin vững chắc trong nhân dân, chưa thu hút tốt nguồn học sinh vào học.
Chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, tổ chức và thực hiện nhiệm vụ.
 Quá trình giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng kém chất lượng. Từ phổ thông đến
Đại học có những kiến thức chưa chắc, chưa sâu, đào tạo sư phạm chưa thực sự
đúng nghĩa đào tạo nghề, mà ở Đại học, có thời điểm 2 năm đầu học đại cương,
năm thứ 3 mới học chuyên môn, năm thứ 4 thì đi kiến tập, thực tập và tập trung
viết tiểu luận tốt nghiệp, khi đi thực tập sư phạm ở các trường phổ thông thường là
tập việc và được đánh giá qua loa (tốt cả), trong khi đó ở một số nước tiên tiến
tuyển và đào tạo nghề giáo viên mất 2 năm, sau đó thi chọn qua nhiều khâu (đức,
trí, thể, mỹ,..) mới được vào đào tạo chuyên môn và nghiên cứu sư phạm.
Công tác bồi dưỡng thường xuyên của ngành cũng còn nhiều yếu kém, Sở Giáo
dục và Đào tạo phối hợp với các trường Đại học mở bồi dưỡng theo đợt, trao đổi
một vài nội dung chuyên môn nhưng không thực tế, không mang lại nhiều tác dụng
tích cực. Bồi dưỡng và tự học tại chỗ có khi lại chất lượng hơn.

 Không có phương pháp sư phạm chuẩn. Trong trường Đại học chỉ được trao đổi
một phần phương pháp trên cơ sở lý thuyết, trong thực tế dạy học có người chưa
hiểu rõ nội hàm từng phương pháp, áp dụng lúng túng, phát huy không được, chủ
yếu thực hiện theo suy nghĩ của mình.
 Chưa được rèn luyện kỹ năng dạy học, diễn trình, nên giải quyết vấn đề trong
dạy học theo cảm nhận, tư duy thuần túy, nặng tính hàn lâm khoa học.
 Những tiêu cực của xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, hoài bão, lý
tưởng, chí khí,... của học sinh.
3.2 Hậu quả:
Giáo viên Nguyễn H.N không sai phạm nghiêm trọng nhưng có thể sẽ dẫn
đến những hậu quả sau đây:
- Đối với bản thân giáo viên:
 Thiếu ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, vi phạm đạo đức nhà giáo.
 Bảo thủ, chậm tiến bộ, kém tư duy khoa học và lý luận.
6


 Giảm chất nhân văn trong tâm hồn là một nhà giáo; Mất uy tín, danh dự.
- Đối với học sinh:
 Bị xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, tính tự trọng cá nhân.
 Mất niềm tin đối với thầy, cô giáo.
 Mất phương hướng thực hiện hoài bão ước mơ, phai nhạt lý tưởng cách mạng.
- Đối với đồng nghiệp:
 Thiếu sự đồng thuận, hiểu lầm, mất đoàn kết.
 Dè dặt trong phê bình, xây dựng cùng tiến bộ về chuyên môn, nghiệp vụ.
 Mỗi giáo viên bị ảnh hưởng hoài nghi sự yếu kém về trình độ, năng lực một
cách thiếu khách quan.
- Đối với nhà trường:
 Bầu không khí trong tập thể sư phạm nhà trường bị nặng nề.
 Nhà trường bị nhìn nhận sai lệch về vai trò lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện
mục tiêu giáo dục.
 Ảnh hưởng không nhỏ đến kỷ cương, quy phạm giáo dục về đạo đức, nhân cách
của học sinh, phản tác dụng trong thực hiện “xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”.
- Đối với với xã hội:
 Gây bất bình trong phụ huynh học sinh, họ hoang mang về thành quả học tập
của con em mình.
 Làm trì hoãn sự đổi mới, phát triển giáo dục.
 Hụt hẫng đội ngũ “hiền tài” ở mai sau.

II. XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG VÀ LỰA
CHỌN PHƯƠNG ÁN TỐI ƯU:
1. Xây dựng phương án giải quyết tình huống:
1.1 Phương án 1:
Gạt bỏ đề nghị của học sinh, yêu cầu học sinh chủ động trong hoạt động học.
a, Mặt tích cực của phương án:
- Kịp thời hạ thấp những định kiến, bức xúc của học sinh.
- Giáo dục, răn đe học sinh có những thái độ thiếu tôn trọng, xúc phạm giáo viên.
7


- Tăng cường tính tự lực, chủ động vượt khó, không ỷ lại, trông chờ vào giáo viên
trong quá trình học tập.
b, Mặt hạn chế của phương án:
- Làm cho học sinh bất bình và mất niềm tin đối với mình là người chủ nhiệm lớp.
- Tính tích cực trong giáo dục nhân cách học sinh dễ dẫn đến tác dụng ngược.
- Học sinh chán nản, buông xuôi không thèm chú tâm học môn Hóa nữa, mặc cho
kết quả tới đâu thì tới.
1.2 Phương án 2:
Chấp nhận theo yêu cầu đề nghị của học sinh, đề nghị với lãnh đạo trường
đổi giáo viên dạy Hóa cho lớp.
a, Mặt tích cực của phương án:
- Được lòng học sinh. Giáo dục được sự đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng.
- Học sinh được chia sẻ làm vơi đi nỗi niềm và đạt được nguyện vọng.
- Học sinh thấy rằng đề xuất của mình là đúng đắn, hợp lý.
b, Mặt hạn chế của phương án:
- Dễ đẫn đến tác dụng phụ, học sinh “được nước” lấn tới, dân chủ tự do, quá chớn.
- Học sinh coi thường cô Nguyễn H. N, sẽ coi thường cả giáo viên khác.
- Học sinh dễ dẫn đến lối sống thực dụng, hưởng thụ, thiếu trách nhiệm.
1.3 Phương án 3:
Tổ chức họp lớp, tìm hiểu thêm ý kiến, nguyện vọng của các em. Nhưng dù
thế nào cũng giữ vững nguyên tắc không đổi giáo viên. Sẽ dùng lời lẽ đầy thuyết
phục để phân tích cho các em hiểu và thông cảm với cô Nguyễn H. N. Hứa với học
sinh sẽ có biện pháp góp ý với cô Nguyễn H. N nhưng không quên nhắc nhở các
em cần chủ động học tập, không nên quá ỷ lại vào cô giáo.
a, Mặt tích cực của phương án:
- Thẩm định lại được độ chính xác những phàn nàn của học sinh đối với cô Nguyễn
H. N.
- Vừa giữ được mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp, vừa đảm bảo quyền lợi của
học sinh.
- Thúc đẩy giáo viên và học sinh tìm ra biện pháp dạy và học đạt hiệu quả.
b, Mặt hạn chế của phương án:
- Mất một khoảng thời gian nhất định để học sinh mới cảm thông trở lại và thích
ứng với phương pháp dạy học của cô Nguyễn H. N.
- Bắt buộc phải đắn đo, lựa chọn cơ hội để gặp gỡ, trao đổi thành công đối với cô
Nguyễn H. N mà không dẫn đến sự hiểu lầm, mất đoàn kết.
2. Lựa chọn phương án tối ưu:
Tình huống xảy ra không nghiêm trọng, nhưng dễ động chạm đến mối quan hệ
giữa đồng nghiệp trong nhà trường, trong thế đối sánh với quyền lợi của học sinh.
Là một giáo viên chủ nhiệm tôi hiểu rằng lời phàn nàn của học sinh lớp mình
không phải là vô cớ. Nếu gạt bỏ đề nghị của các em! Thái độ đó là biểu hiện của sự
8


tự ái cá nhân, nóng vội, và rất có thể bị các em đánh giá là bao che cho đồng
nghiệp. Bị từ chối kiên quyết như vậy, các em chắc chắn sẽ cảm thấy bất bình và
mất lòng tin vào vai trò chủ nhiệm. Và biết đâu đấy, với thái độ thiếu trách nhiệm
ấy, một ngày nào đó học sinh sẽ đến Ban giám hiệu đề nghị đổi luôn cả thầy giáo
chủ nhiệm.
Nhưng với trách nhiệm chủ nhiệm, tôi rất lo lắng cho kết quả học tập của học
sinh, sẽ không bao giờ tôi chọn cách giải quyết ấy. Sẽ tỏ ra rất thông cảm với
những bức xúc của học sinh. Thái độ chia sẻ là cần thiết, nhưng chưa hiểu rõ thực
hư thì có khi lại tạo ra một tác dụng phụ rất lớn. Trong trường hợp này, sự cảm
thông, cùng với lời hứa giúp các em đề đạt với Ban giám hiệu, sẽ khiến học sinh
nghĩ rằng thầy chủ nhiệm hoàn toàn đồng tình với nguyện vọng của các em và việc
làm của chúng là đúng đắn. Cách xử lý này tạm thời có thể lấy lòng học sinh,
nhưng có thể có trường hợp học sinh xin đổi cô Nguyễn H. N vì cô rất nghiêm
khắc, luôn bắt các em làm nhiều bài tập, cô dạy kiến thức quá cao, cho bài tập quá
khó, học sinh không hiểu, và vì thế làm bài không được, không được điểm
cao?...Chắc rằng không phải lúc nào học sinh cũng hiểu được hết giá trị của thái độ
khắt khe ấy. Nếu tôi vội vàng đồng tình vô điều kiện như thế, học sinh đã thực sự
mất đi cơ hội để học một cô giáo tốt. Tôi phải đối mặt với đồng nghiệp như thế nào
khi đã lở xúc phạm một cô giáo đáng kính như thế ?
Thiết nghĩ tình huống này, cần thể hiện thái độ tôn trọng những nguyện vọng
chính đáng của học sinh, vì nó liên quan đến quyền lợi là kết quả học tập của các
em. Lắng nghe một cách cẩn thận và phải có phương án để xác định lại độ chính
xác những lời phàn nàn của các em. Bằng những lời nói nhẹ nhàng, có thể hỏi các
em những bằng chứng cụ thể về việc cô giảng khó hiểu, khó tiếp thu, ít quan tâm,
lại hay có những lời mạt sát, xúc phạm đến các em. Nếu lý do thực sự chỉ ở vấn đề
phương pháp và cách xử sự của cô Nguyễn H. N, thì sẽ giải thích cặn kẽ để các em
hiểu, từ đó hướng dẫn các em tìm ra cách học chủ động hơn, có thái độ học tập
đúng đắn hơn. Đồng thời nêu ra các dẫn chứng về kết quả học tập môn Hóa ở các
lớp khác cũng do chính cô N dạy. Là một lớp ngoan và học giỏi, chắc chắn các em
sẽ không thể bỏ qua những lời nói có sức thuyết phục và cách phân tích sự việc
thấu đáo. Sau đó gặp gỡ cô Nguyễn H.N để hỏi thăm, trao đổi về tình hình học tập
môn Hóa của lớp, nhờ cô quan tâm các đối tượng học sinh và khuyên cô nên tổ
chức các hoạt động dạy-học phù hợp, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực,
chuẩn bị kỹ bài dạy,… Bằng sự khéo léo của mình, tôi hoàn toàn có thể làm tròn
trách nhiệm của mình trong mối quan hệ với đồng nghiệp và với học sinh.
Sau khi phân tích các phương án đã nêu, tôi chọn phương án 3 là phương án tối
ưu, vì: Phương án 3 xử lý với mức độ vừa phải so với hành vi; mang tính giáo dục
cao, không chỉ giáo dục trong học sinh, giáo viên mà chưa làm ảnh hưởng đến nhà
trường. Phương án này cô Nguyễn H. N không phải chịu hình thức kỉ luật, nhưng ý
nghĩa giáo dục sâu sắc.
3. Lập kế hoạch thực hiện phương án đã lựa chọn:
Thứ Thời gian

Nội dung

Lực lượng
9

Phương tiện,

Ghi


tự

thực hiện

công việc

thực hiện

(1)

(2)

(3)

(4)

1

Tìm hiểu nguyên
nhân, xác minh độ
chính xác những phàn Giáo viên chủ
14-02-2011
nàn và đề nghị của nhiệm.
học sinh về cô
Nguyễn H.N.
19-02-2011

vật chất, địa
điểm
(5)

Phòng học
Giờ
sinh
hoạt
Trái
buổi

3

Tổ chức thảo luận
Cán sự bộ môn
trước bài sẽ học trong
21-02-2011
Hóa và học
tuần để xây dựng bài
sinh
tốt trong tiết học.

4

Xem thời
Lựa chọn cơ hội để
khóa biểu (khi
gặp gỡ tâm tình, trao Giáo viên chủ
24-02-2011
nào thì cô
đổi với cô Nguyễn nhiệm.
Nguyễn H.N
H.N
trống tiết dạy)

Phòng học

26-02-2011
Tiến hành cuộc trao Giáo viên chủ
Phòng họp
đổi với cô Nguyễn nhiệm.
Hội đồng.
H.N

5
28-02-2011

7

Ở nhà
Yêu cầu lớp tiếp tục Cán sự bộ môn
chuẩn bị bài và học tốt
Hóa và học
giờ Hóa trên lớp.
sinh

6
05-3-2011

(6)

Nghe, thăm
dò ý kiến nhận
xét của học
sinh và của
đồng nghiệp

Họp lớp để thống Giáo viên chủ
nhất phương án giải nhiệm và học
quyết.
sinh cả lớp.

2

Chú

Xác định hiệu quả Giáo viên chủ
Thông qua học
giờ dạy-học môn Hóa. nhiệm.
sinh; hỏi thăm

Nguyễn
H.N về ý thức
10


học của học
sinh.

Phần III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Tình trạng học sinh phàn nàn về cách dạy của giáo viên, xin đổi thầy, cô bộ môn
với nhiều lý do khác nhau, nhưng cơ bản là ở vấn đề phương pháp và cách xử sự
vẫn thường xuyên xảy ra trong mỗi nhà trường phổ thông.
Trường hợp học sinh đề nghị đổi giáo viên Nguyễn H.N dạy Hóa ở lớp 12C,
trường trung học phổ thông P.H, Huyện N, Tỉnh C đã được giải quyết bằng phương
án 3 đã thực sự thành công. Hiện nay cô Nguyễn H.N và học sinh của lớp đang
thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học bộ môn Hóa với sự hợp tác tích cực và đạt hiệu
quả cao, cụ thể kết quả bài kiểm tra học kỳ 2 đạt được như sau:
5.0 đ ↑
8-10 đ
6.5-7.9
5.0-6.4 đ 3.5-4.9 đ
0-3.4 đ
Điểm
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
Số HS
40

31

77.5

4

10.0

10

25.0

17 42..5

7

17.5

2

5.0

Trong dạy học, vai trò chủ đạo của giáo viên là yếu tố quan trọng nhất góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Giáo viên nên lấy hoạt động học của
từng đối tượng học sinh làm mục tiêu điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp. Phải
chú ý tổ chức cho học sinh nghiên cứu, làm rõ kiến thức từng phần; Rèn luyện tốt
kỹ năng giải những bài tập cơ bản áp dụng kiến thức và theo trình tự từ thấp đến
cao, từ dễ đến khó; Tích cực giúp đỡ học sinh yếu, kém vượt lên trên lực học ban
đầu để từng bước tiến bộ, giúp học sinh khá, giỏi có cơ hội phát triển năng lực cá
nhân. Học sinh nào cũng được soạn bài, chuẩn bị bài và tham gia các hoạt động
học tập trên lớp; Tạo cho học sinh biết làm việc độc lập, biết cách tìm tòi, hoàn
thiện kiến thức từng phần và toàn bộ môn học theo chương trình.
Phương án giải quyết trường hợp học sinh đề nghị đổi giáo viên Nguyễn H.N
dạy Hóa ở lớp 12C, trường trung học phổ thông P.H, Huyện N, Tỉnh C phần nào
đó sẽ giúp cho những người đang trực tiếp làm công tác giảng dạy, giáo dục, đặc
biệt là công tác chủ nhiệm lớp, rút ra bài học để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính
trị của mình. Làm tốt chức năng “cầu nối” của mình với nhà trường, giáo viên bộ
môn, phụ huynh, học sinh và các tổ chức trong và ngoài nhà trường, giải quyết tốt
các tình huống xảy ra trong quá trình chủ nhiệm.
11


2. Kiến nghị:
- Đối với cô Nguyễn H.N: Tích cực học tập, bồi dưỡng, trao đổi với đồng nghiệp
để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp dạy học.
- Đối với nhà trường: Tiếp tục phát huy các hoạt động Hội thảo chuyên đề, sáng
kiến kinh nghiệm để bồi dưỡng, nâng cao năng lực giáo viên; Tổ chức kiểm tra, dự
giờ, đánh giá nghiêm túc chất lượng giáo viên hàng năm.
- Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo: Đẩy mạnh chính sách đào tạo trên chuẩn, tạo
điều kiện tốt hơn nữa về chế độ hỗ trợ cho cán bộ quản lý và giáo viên học lên sau
Đại học; Tổ chức tập huấn chuyên môn cho giáo viên thường xuyên, kịp thời.

PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Tên đề tài: Phương án giải quyết trường hợp học sinh đề nghị đổi giáo viên
Nguyễn H.N dạy Hóa ở lớp 12C, trường trung học phổ thông P.H, Huyện N,
Tỉnh C.
- Tác giả: Nguyễn Trung Thành
Trường THPT Phú Hưng
Nội dung

Xếp loại

- Đặt vấn đề
- Biện pháp
- Kết quả phổ biến, ứng dụng
- Tính khoa học
- Tính sáng tạo
Xếp loại chung:…………
Phú Hưng, ngày tháng năm 20…
Hiệu trưởng

12


Căn cứ kết quả xét, thẩm định của Hội đồng khoa học ngành Giáo dục và Đào tạo
cấp tỉnh; Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Cà Mau thống nhất công nhận SKKN
và xếp loại: ………….
Ngày

tháng

năm 20…

GIÁM ĐỐC

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×