Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng của U xơ tử cung đến sinh sản ở phụ nữ

SINH LÍ NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT

1


Đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA U XƠ TỬ CUNG ĐẾN SINH SẢN Ở PHỤ NỮ

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng bệnh hiện nay
2. Sinh lý tử cung bình thường
2.1. Cấu tạo giải phẫu
2.2. Đặc điểm sinh lí
3. U xơ tử cung
3.1. Khái quát về u xơ tử cung
3.2. Nguyên nhân gây ra u xơ tử cung
3.3. Cơ chế gây bệnh và sự phát triển
3.4. Các biến chứng khác
4. Ảnh hưởng của u xơ tử cung tới khả năng sinh sản của phụ nữ

4.1. Tầm ảnh hưởng
4.2. Triệu chứng thường gặp khi mang thai
4.3. Chuẩn đoán và điều trị
4.4. Chế độ dinh dưỡng cho người u xơ tử cung khi mang thai
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO

2


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Được làm mẹ là một thiên chức và là niềm vui lớn nhất của mỗi người phụ nữ, con
cái là nhân chứng của tình yêu, là tài sản lớn nhất của người mẹ, tuy nhiên giai
đoạn đầu mang thai và sinh con là một giai đoạn vô cùng quan trọng khiến không ít
phụ nữ băn khoăn, lo lắng và hồi hộp. Đặc biệt là những phụ nữ khi mang thai rồi
mới phát hiện mình bị bệnh u xơ tử cung, hoặc biết mình u xơ tử cung mà mong
muốn có con. Vậy u xơ tử cung ảnh hưởng như thế nào đối với sinh sản ở phụ nữ,
cách phòng tránh và điều trị ra sao? để làm rõ vấn đề này giúp chị em phụ nữ có
cái nhìn đúng đắn về bệnh đồng thời giảm bớt một phần lo lắng chính vì thế mà em
quyết định chọn đề tài : “ẢNH HƯỞNG CỦA U XƠ TỬ CUNG ĐẾN SINH SẢN
Ở PHỤ NỮ” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Trình bày được những nguyên nhân gây ra u xơ tử cung ở phụ nữ.
- Phân tích được cơ chế gây bệnh, triệu chứng và ảnh hưởng của nó đến sinh sản ở
phụ nữ từ đó đưa ra những phương pháp điều trị thích hợp cũng như chế độ dinh
dưỡng hợp lí cho người bệnh.
- Vận dụng được những kiến thức thông qua nội dung nghiên cứu vào thực tế cuộc
sống từ đó hình thành cho người bệnh những hiểu biết đúng đắn về bệnh u xơ tử
cung khi mang thai.

3


II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng bệnh hiện nay
- Thực trạng bệnh ở các nước trên thế giới
Thống kê năm 2010 của Tổ chức U xơ tử cung Mỹ (Nuff) cho thấy, có đến
80% phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ u xơ tử cung, song phần lớn thường không
biểu hiện rõ rệt. Khoảng 37% phụ nữ trải qua phẫu thuật trước tuổi 60 sau khi các


triệu chứng nghiêm trọng biểu hiện ra bên ngoài.
- Thực trạng bệnh ở Việt Nam
U xơ tử cung là bệnh lý chiếm tỉ lệ gặp khoảng 10% đến 20% số bệnh nhân
đến khám phụ khoa. Theo các bác sĩ, đa phần các trường hợp mắc bệnh ít có những
triệu chứng rõ để người bệnh biết để đến bệnh viện sớm. Tuổi thường gặp là từ 35
đến 50 tuổi, nghĩa là ở lứa tuổi sinh đẻ. Bệnh hiếm gặp ở phụ nữ trẻ tuổi và người
mãn kinh. Bệnh cũng thường gặp ở những phụ nữ không sinh đẻ hoặc là sinh đẻ ít.
Nhiều người phát hiện bệnh tình cờ qua khám sức khỏe tổng quát định kỳ; hay khi
đi khám một bệnh khác thì lại ra u xơ tử cung hóa; u hóa ác, ung thư; gây băng
huyết sau sinh... Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp mang trong người khối u
lâu dài, nhưng không có biến chứng.
2. Sinh lý tử cung bình thường
2.1. Cấu tạo giải phẫu
Chức năng: tử cung là một phần của cơ quan dẫn đường cho tinh trùng tiến
vào trong âm đạo, tử cung còn là cơ quan chứa noãn đã thụ tinh và sự phát triển
của thai nhi trong quá trình mang thai, đẩy thai ra ngoài lúc đẻ và trong chu kì kinh
nguyệt tử cung còn là nơi bắt đầu hiện tượng kinh nguyệt (lớp nội mạc bong ra).

4


Vị trí: tử cung nằm trong chậu hông, phía sau bàng quang, trước trực tràng ,
trên âm đạo và dưới các quai ruột.

Hình 1. Cấu tạo tử cung (Internet)
Hình dạng: tử cung có dạng hình nón cụt dẹt trước sau có một thân ( phía
trong thân là khoang tử cung), một cổ và một eo là phần thắt lại giữa thân và cổ,
phía trong cổ tử cung là ống cổ tử cung. Đối với phụ nữ chưa mang thai, tử cung
dài khoảng 7,5cm, rộng 5cm, dày 2,5cm. Ở phụ nữ đã từng màng thai kích thước
tử cung thường lớn hơn nhưng đối với phụ nữ sau mãn kinh tử cung thường nhỏ
hơn vì nồng độ hoocmon sinh dục giai đoạn này thấp. Tử cung được giữ tại chỗ
nhờ một số dây chằng nối tử cung với các thành của chậu hông.
Cấu tạo mô học từ ngoài vào trong của thân tử cung gồm ba tầng : tầng thanh
mạc, tầng cơ và tầng niêm mạc.
+ Tầng thanh mạc là một phần của phúc mạc bao gồm biểu mô lát đơn và mô liên
kết thưa.
5


+ Tầng cơ có ba lớp bên ngoài là các thớ cơ dọc ít cơ vòng, ở giữa là các thớ cơ
chéo chằng chịt quấn lấy các mạch máu, nhờ lớp này mà máu được cầm lại sau khi
đẻ, lớp trong chủ yếu là các cơ vòng.
+ Tầng niêm mạc (nội mạc tử cung) mỏng và dính chặt vào tầng cơ gồm một lớp
biểu mô trụ đơn, phía dưới là lớp đệm gồm tổ chức liên kết và tuyến nội mạc kéo
dài đến tầng cơ.
2.2. Đặc điểm sinh lí
Phía ngoài cổ tử cung được bao phủ bởi biểu mô lát tầng (biểu mô kép dẹp
gai) giống biểu mô âm đạo nhưng không có nếp gấp.
Ống cổ tử cung được phủ bởi biểu mô trụ với tế bào cao, tiết dịch nhầy và có
nhiều rãnh gồ ghề.
Vùng tiếp giáp giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ gọi là vùng chuyển tiếp
(transformation zone).
Phía dưới vùng chuyển tiếp có những tế bào dự trữ, có khả năng tăng sinh và
biệt hóa thành biểu mô lát tầng hoặc biệt hóa thành biểu mô trụ.
Ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ:
+ Có thể vượt ra ngoài bề mặt cổ ngoài tạo nên hình ảnh lộ tuyến bẩm sinh.
+ Thời kỳ thiếu niên ranh giới này tụt sâu vào ống cổ tử cung.
+ Thời kỳ dậy thì ranh giới này lại từ từ tiến ra ngoài.
+ Thời kỳ hoạt động sinh dục thì ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ ở
vị trí bình thường (lỗ ngoài cổ tử cung).
+ Thời kỳ mãn kinh ranh giới đó lại chui sâu vào ống cổ tử cung và niêm mạc
ngoài ngoài teo đét lại.

6


Bình thường dịch âm đạo có tính axít nhẹ và pH thay đổi từ 3,8 – 4,6 nhờ trực
khuẩn doderlelin có trong âm đạo chuyển glycogien thành axit lactic.
3. U xơ tử cung
3.1. Khái quát về u xơ tử cung
3.1.1 Định nghĩa
U xơ tử cung là những khối u lành tính ở cơ tử cung, còn được gọi là u xơ cơ
tử cung vì được cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung.Thường gặp ở
phụ nữ ở lứa tuổi hoạt động sinh dục, có thể liên quan với nội tiết (cường
Estrogen).

Hình 2. Bệnh u xơ tử cung ở phụ nữ (internet)

7


3.1.2. Đặc điểm giải phẫu bệnh
- Đại thể: u xơ tử cung là những khối u tròn, đặc, mật độ chắc, màu trắng ngà giới
hạn rõ với lớp cơ tử cung bao quanh có màu hồng.
Về số lượng: có một hoặc nhiều nhân xơ ở nhiều vị trí khác nhau.
- Về kích thước: to nhỏ khác nhau.
U xơ tử cung giới hạn với thành tử cung bởi một lớp vỏ bọc và một lớp tổ chức
liên kết lỏng lẻo, từ lớp vỏ này có những mạch máu nhỏ đi vào khối u.
- Vi thể:
Trong nhân xơ thấy các sợi xơ, sợi cơ và tổ chức liên kết đan lẫn nhau và xếp thành
hình xoáy ốc.
3.1.3. Phân loại

8


Hình 3. Các vị trí u xơ tử cung (bệnh về tử cung)
Dựa vào vị trí giải phẫu u xơ tử cung được phân thành 3 loại:
- U xơ ở thân tử cung: ở vị trí này hay gặp nhất, tuỳ theo vị trí của khối u trên
thành tử cung mà người ta chia làm 3 loại :
+ U dưới niêm mạc: phát triển từ lớp cơ tử cung, lớn lên về phía niêm mạc làm
thay đổi hình dạng buồng tử cung. Có khi u dưới niêm mạc phát triển thành u có
cuống dài thò ra qua cửa tử cung ra âm đạo, trường hợp này dễ bị nhiễm khuẩn và
chảy máu.
+ U kẽ: phát triển trong lớp cơ tử cung, loại này phát triển tương đối nhanh, khối u
có thể phát triển rất to làm biến dạng hình thể tử cung và gây chèn ép các tạng
trong tiểu khung.
+ U dưới phúc mạc: phát sinh từ lớp cơ tử cung, phát triển về phía phúc mạc, loại
này thường phát triển chậm, có cuống dài hoặc nằm lọt vào giữa hai lá phúc mạc
của đây chằng rộng khó khăn cho việc chẩn đoán và phẫu thuật.
- U xơ ở eo tử cung
Phát triển trong tiểu khung và thường gây chèn ép các tạng xung quanh. Khi
chuyển dạ u xơ ở eo tử cung sẽ trở thành khối U tiền đạo Cản trở quá trình lọt,
xuống, quay, sổ của thai và là nguyên nhân gây đẻ khó.
- U xơ ở cổ tử cung
Khối u thường phát triển về phía âm đạo dưới dạng polype.
3.2. Nguyên nhân gây ra u xơ tử cung
Do di truyền: Có một số bằng chứng cho thấy nếu trong gia đình có người đã và
đang mắc u xơ tử cung thì đời sau sẽ có nguy cơ mắc căn bệnh này cao gấp 2 lần
những người bình thường cùng trang lứa. Hoặc nếu gia đình đó có cặp song sinh
thì nguy cơ cặp song sinh đó mắc bệnh sẽ cao hơn các cặp song sinh bình thường.
9


Hoocmon: Estrogen và progesterone, là 2 hoocmon kích thích sự phát triển của
niêm mạc tử cung trong mỗi chu kỳ kinh nguyệt để chuẩn bị cho việc mang thai.
Vì vậy, những phụ nữ mang thai thường có nguy cơ mắc phải căn bệnh này cao
hơn những phụ nữ bình thường. Người ta nhận thấy rằng, u xơ tử cung chứa các
thụ thể estrogen và progesterone nhiều hơn các tế bào cơ tử cung bình thường. U
xơ tử cung có xu hướng teo lại sau khi mãn kinh do sự sụt giảm trong quá trình sản
xuất hoocmon.
Béo phì: Béo phì sẽ làm suy giảm chất đề kháng insulin, từ đó kéo theo sự suy
giảm chức năng của các bội phận khác như thận, tuyến giáp, vùng dưới đồi….Mà
tuyến giáp lại là nơi có ảnh hưởng rất lớn đến nội tiết tố nữ. Rối loạn tuyến giáp có
thể gây hiện tượng cường Estrogen, từ đó dẫn tới nguy cơ mắc nhân xơ tử cung.
Do vậy, phụ nữ béo phì có nguy cơ cao bị u xơ.
Phụ nữ có ít con hoặc vô sinh: Một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ bị vô
sinh là do thiếu hụt hormone sinh dục nữ Oestrogen. Do đó, tỷ lệ mắc nhân xơ tử
cung ở những phụ nữ mắc vô sinh – hiếm muộn cao hơn những phụ nữ bình
thường rất nhiều.
Do sinh đẻ, nạo phá thai nhiều lần: sau khi sinh đẻ hoặc ơphas thai nhiều lần, tử
cung chưa thực sự lành hẳn nếu xảy ra quan hệ hoặc không đảm bảo an toàn dễ
khiến tử cung bị tổn thương dẫn đến u xơ tử cung.
Giảm béo không khoa học: thói quen ăn kiêng thiếu khoa học hoặc nhịn ăn để sở
hữu thân hình thon gọn cũng là nguyên nhân khiến chị em trong độ tuổi từ trung
niên dễ mắc bệnh u xơ tử cung. Giảm cân không khoa học kết hợp với ảnh hưởng
của môi trường và những thói quen không lành mạnh sẽ khiến quá trình bài tiết
hormon trong cơ thể bị rối loạn nghiêm trọng.
Stress kéo dài: Phụ nữ tuổi trung niên thường gặp nhiều áp lực trong công việc lẫn
cuộc sống gia đình, khiến tâm trạng dễ u uất, thậm chí mắc chứng trầm cảm.
Những lo lắng khi đối mặt với giai đoạn tiền mãn kinh càng khiến tính khí của chị
em trở nên cáu gắt, phiền muộn. Những trạng thái tâm lý này sẽ kích thích quá
trình bài tiết lượng oestrogen trong cơ thể. Tình trạng này nếu kéo dài có thể gây
chứng u xơ tử cung.

10


Sinh hoạt tình dục không lành mạnh: Kinh nguyệt thất thường, lượng kinh và thời
gian “đèn đỏ” kéo dài, bụng dưới xuất hiện những cục nhỏ, âm đạo tiết nhiều huyết
trắng, vùng thắt lưng đau nhức… là những biểu hiện bị u xơ tử cung. Những biểu
hiện trên là do khí huyết kém điều hòa, đời sống tình dục không lành mạnh, khiến
cơ thể bị rối loạn bài tiết hoocmon sinh dục, sung huyết mạn tính vùng chậu.
Nguyên nhân khác: có kinh trước 12 tuổi, cường estrogen, tiểu đường, u sợi tuyến
vú…
3.3. Cơ chế gây bệnh và sự phát triển
3.3.1. Cơ chế gây bệnh
U xơ là khối u lệ thuộc chủ yếu vào nội tiết tố của phụ nữ là estrogen và một phần
có tác dụng của các phân tử progesteron, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều thụ
thể nhạy cảm với hai loại nội tiết tố này trong khối u.
3.3.2. Sự phát triển của u xơ tử cung
U thường phát triển ở thời kỳ sinh sản của người phụ nữ u có thể có một đến rất
nhiều u xơ xuất hiện và trong nhiều trường hợp thì các khối u xơ có thể chiếm toàn
bộ tử cung của người bệnh mà thậm chí còn có trường hợp bệnh nhân khối u xơ đó
chiếm toàn bộ ổ bụng. Sau độ tuổi mãn kinh của một người phụ nữ, mà nguyên
nhân là do nội các tiết tố đã bị suy giảm đi cho nên các u xơ xuất hiện thường nhỏ
đi nhưng không mất hẳn.
U có thể tiến triển thoái hóa giống như trong thoái hóa kính (trong cấu trúc lõi của
các khối u hóa thành một chất dịch có màu nâu), thoái hóa dạng nang (là dạng
thoái hóa khối u mà trong lõi của khối u hóa thành một chất dịch có màu trắng
đục), có thể tiến triển theo kiểu thoái hóa vôi (thường sự vôi hóa của vỏ các khối u
xơ tiến dần về lõi của khối u) thường gặp ở những người phụ nữ đã lớn tuổi.
U xơ tử cung có thể bị nhiễm trùng và hoại tử sau khi người phụ nữ đó sẩy thai,
hoặc tiến hành nạo phá thai, và trong trong thời kỳ hậu sản của một người phụ nữ
(thời kì người phụ nữ đó mới sinh con xong).
11


Trong lúc người phụ nữ mang thai, các mạch máu phát triển nhưng lại không kịp
so với sự tăng nhanh kích thước của khối u, khiến cho khối u của bệnh nhân bị
thiếu máu và dẫn tới hoại tử. U ở tình trạng này có đặc điểm là hoại tử vô khuẩn.
U xơ tử cung cũng có thể tiến triển thoái hóa mỡ hay cũng có thể chúng sẽ tiến
triển thành ung thư hóa, tỷ lệ này chiếm khoảng 2/1000 trong tất cả các loại u xơ tử
cung tuy nhiên có nhiều tài liệu đã cho thấy được rằng tỷ lệ của các u xơ bị thoái
hóa ác tính có thể cao hơn ở tỷ lệ 1/493 các loại u xơ.
3.4. Các biến chứng khác

Hình 4. U xơ tử cung có thể trở ngại quá trình thụ thai diễn ra
- Trở ngại quá trình thụ thai:
U xơ tử cung có cuống và phát triển hướng về cổ tử cung, ống dẫn trứng sẽ gây trở
ngại quá trình thụ tinh và thụ thai ở nữ giới. Khi khối u lớn sẽ chèn ép lên vùng cổ
tử cung hoặc ở ống dẫn trứng khiến cho tinh trùng khó di chuyển vào gặp trứng
hoặc trứng sau khi được thụ tinh khó di chuyển vào buồng tử cung để làm tổ. Do
12


đó mà quá trình thụ tinh, thụ thai bị trở ngại. Nữ giới có thể bị mang thai ngoài tử
cung trong trường hợp này.
- Gây rối loạn hệ tiết niệu:
U xơ tử cung phát triển lớn sẽ gây chèn ép lên các bộ phận xung quanh, trong đó
hệ tiết niệu của nữ giới sẽ là bộ phận bị ảnh hưởng không nhỏ. Nữ giới sẽ thường
xuyên có triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu nhiều lần trong ngày, đặc biệt vào ban
đêm. Điều này chi phối không ít tới cuộc sống, sinh hoạt của họ; làm suy giảm chất
lượng cuộc sống, khiến họ luôn mệt mỏi.
- Gây vô sinh:
Đây có lẽ là một trong những biến chứng của u xơ tử cung đáng sợ nhất. Nhiều
trường hợp mắc u xơ tử cung nhưng do chủ quan trong thăm khám và điều trị nên
khối u phát triển lớn chiếm toàn bộ diện tích của tử cung hoặc có chứa tế bào ác
tính buộc phải cắt bỏ tử cung để bảo toàn tính mạng của mình.
4. Ảnh hưởng của U xơ tử cung tới khả năng sinh sản của phụ nữ
4.1. Tầm ảnh hưởng
- Khi u xơ tử cung lớn dần lên, sẽ gây ra những ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh
sản của phụ nữ. Trong một nghiên cứu cho thấy, có khoảng 55% u xơ tử cung nằm
dưới thanh mạc tử cung hoặc có cuống; 40% nằm trong lớp cơ tử cung và 5% dưới
niêm mạc tử cung. Đối với những trường hợp u xơ tử cung nằm dưới niêm mạc và
trong lớp cơ tử cung có thể dẫn tới tình trạng rong kinh. Bên cạnh đó, khi u xơ tử
cung nằm dưới niêm mạc là rất nguy hiểm làm giảm tỉ lệ mang thai và tăng tỉ lệ
sẩy thai lên gấp nhiều lần so với những phụ nữ không mắc bệnh. Ngoài ra, đối với
những trường hợp u xơ tử cung chỉ có cuống hoặc nằm dưới lớp thanh mạc tử cung
thì sẽ không gây ra ảnh hưởng tới khả năng sinh sản. Chính vì vậy, việc u xơ tử
cung có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của phụ nữ hay không là còn phụ thuộc
vào vị trí và kích thước khối u xơ.
- Ở nhiều trường hợp, phụ nữ mang thai mà không biết mình mắc u xơ tử cung mà
chỉ được phát hiện qua những lần siêu âm khám thai định kỳ. U xơ tử cung là một
13


trong những nguyên nhân gây ra nhiều trường hợp hiếm muộn khác. Bởi sự thay
đổi của lớp nội mạc tử cung, gây ra những điều kiện không thuận lợi cho sự làm tổ
của trứng thụ tinh. Bên cạnh đó, nó còn làm gập vòi trứng, bít lỗ cổ tử cung khiến
cho trứng không gặp được tinh trùng. Đối với những trường hợp mang thai, thì
việc đối mặt với nguy cơ sảy thai là rất cao.
- Một trong những ảnh hưởng nghiêm trọng của u xơ tử cung tới sinh sản chính là
gây ra tình trạng sinh non ở nhiều phụ nữ. Bên cạnh đó, nó còn làm kéo dài cơn
chuyển dạ, khiến phụ nữ bầu đau đớn, mệt mỏi, mất sức,… Đặc biệt, đối với những
phụ nữ mắc u xơ tử cung nằm ở vị trí tiền đạo, khi u to lên sẽ làm cho thai phụ khó
sinh thường và phải mổ đẻ.
- U xơ sẽ nhỏ lại trong thời kỳ hậu sản và ít gây ra biến chứng. Nhưng đối với
những trường hợp mắc u xơ ở vị trí dưới niêm mạc có thể gây ra biến chứng nhiễm
khuẩn. Và đối với những trường hợp u xơ có cuống dễ gây biến chứng xoắn do ổ
bụng rỗng đột ngột.
4.2. Triệu chứng thường gặp khi mang thai
Triệu chứng của u xơ tử cung phụ thuộc vào vị trí, số lượng và thể tích của nhân
xơ.
4.2.1 Triệu chứng cơ năng
- Ra huyết là triệu chứng quan trọng nhất, thường xuất hiện trước tiên. Lúc đầu
huyết ra dưới dạng rong kinh, sau đó là cường kinh và dần dần dẫn đến băng huyết
khi chu kì kinh bị rối loạn.
- Ra khí hư: khí hư loãng, có khi ra rất nhiều thành từng đợt, không hôi, khi khí hư
lẫn mủ có mùi hôi lúc đó đã có nhiễm khuẩn.
- Các triệu chứng gây ra do sự chèn ép của khối u:
+ Nếu khối u phát triển to bệnh nhân sẽ có cảm giác tức nặng bụng dưới, đau tức
vùng hạ vị.

14


+ Nếu khối u phát triển ra phía trước chèn ép vào bàng quang sẽ gây tiểu tiện nhiều
lần hoặc bí tiểu tiện.
+ Nếu khối u phát triển ở eo tử cung hoặc trong dây chằng rộng sẽ chèn ép vào
niệu quản gây tình trạng ứ nước bể thận.
+ Nếu u phát triển ra phía sau chèn ép vào trực tràng sẽ gây táo bón hoặc đau khi
đại tiện. Chèn ép vào đám rối thần kinh thắt lưng sẽ làm bệnh nhân đau âm ỉ vùng
thắt lưng lan xuống đùi.
- Đau bụng: bệnh nhân thường đau theo kiểu thống kinh do tở cung tăng co bớp,
ngoài ra có thể đau bụng cấp hoặc đau âm ỉ vùng hạ vị khi khối u đã có biến chứng
xoắn, hoại tử hoặc nhiễm khuẩn.
4.2.2. Triệu chứng toàn thân
Giai đoạn đầu huyết ra ít thì toàn thân ít bị ảnh hưởng.
- Giai đoạn sau khi có rối loạn kinh nguyệt kéo dài sẽ gây cho bệnh nhân tình trạng
thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt
4.2.3. Triệu chứng thực thể
Nếu khối u to phát triển lên phía ổ bụng thì sờ nắn qua thành bụng có thể thấy
được khối u ở vùng hạ vị, mật độ chắc, ranh giới rõ, di động hạn chế.
- Thăm âm đạo kết hợp với sờ nắn trên thành bụng thì tuỳ từng loại u xơ mà phát
hiện các triệu chứng sau:
+ U dưới phúc mạc: sờ thấy tử cung to chắc, mặt ngoài tử cung biến dạng lồi lõm,
thấy nhân xơ lồi về phía ổ bụng Và di động theo tử cung.
+ U kẽ: khám thấy tử cung to toàn bộ, mật độ chắc.

15


+ U dưới niêm mạc: thăm âm đạo thấy tử cung thường không to, nếu u dưới niêm
mạc dạng có cuống thò ra ngoài cổ tử cung thì qua thăm khám bằng đặt mỏ vịt thấy
khối u được dễ dàng.
- Đo buồng tử cung: buồng tử cung thường sâu hơn bình thường.
4.2.4. Triệu chứng cận lâm sàng
- Siêu âm: thấy được hình thể, kích thước của tử cung. Ngoài ra đánh giá chính xác
vị trí, số lượng, kích thước nhân xơ.
- Chụp buồng tử cung có bơm thuốc cản quang: thấy hình ảnh buồng tử cung to lên
hoặc bị kéo dài, biến dạng có hình khuyết bờ đều.
- Nạo sinh thiết niêm mạc tử cung làm xét nghiệm giải phẫu bệnh: thấy niêm mạc
tử cung quá sản, các tuyến chế tiết nhiều .
4.3. Chuẩn đoán và điều trị
4.3.1. Chuẩn đoán
Chẩn đoán xác định dựa vào
- Có rối loạn kinh nguyệt: rong kinh, cường kinh, băng huyết.
- Thăm âm đạo kết hợp với sờ nắn ngoài thấy nhân xơ di động cùng với cổ tử cung
- Siêu âm thấy được hình ảnh nhân xơ.
- Chụp buồng tử cung có bơm thuốc cản quang: thấy hình ảnh buồng tử cung bị
biến dạng, có hình khuyết bờ đều.

16


Chẩn đoán phân biệt
Khi có thai :
- Thai thường: thăm âm đạo thấy tử cung to nhưng hỏi kĩ tiền sử có tắt kinh, có
nghén. HCG (+) và siêu âm thấy hình ảnh túi ối trong buồng tử cung mà không
thấy hình ảnh nhân xơ.
- Doạ sẩy: tử cung to và ra huyết, nhưng khi hỏi bệnh và thăm khám, làm xét
nghiệm như trên thì phát hiện thất đó là trường hợp có thai trong tử cung.
- Thai chết lưu: tử cung cũng to cũng ra huyết kéo dài và xét ngiệm HCG (-),
nhưng siêu âm thấy hình ảnh túi ối trong buồng tử cung méo mó.
- Khối u buồng trứng (hay nhầm với u xơ dưới phúc mạc có cuống). Khối u nằm
lệch về một bên hố chậu tách biệt với tử cung và di động biệt lập với tử cung. Chắc
chắn nhất là chụp buồng tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang thấy buồng tử
cung bình thường nhưng vòi trứng bên khối u bị kéo dài giãn mỏng.
- Ung thư nội mạc tử cung: thường gặp ở bệnh nhân đã mãn kinh đột nhiên ra
huyết âm đạo bất thường, khám tử cung to. Chụp buồng tử cung thấy buồng tử biến
dạng hình khuyết bờ nham nhở (hình ảnh ruột bánh mỹ). Nạo ảnh thiết niêm mạc
tử cung làm giải phẫu bệnh thấy có tế bào ác tính.
4.3.2. Điều trị
Tuỳ theo lứa tuổi, tình trạng bệnh, tiến triển của bệnh cũng nguyện vọng của bệnh
nhân mà có thể dùng các phương pháp điều trị khác nhau như :
- Nạo cầm máu: trong trường hợp u xơ tử cung gây biến chứng chảy máu nhiều,
bệnh nhân phải vào viện dùng thuốc tăng co bóp tử cung. Nếu không cấm được
máu phải hút buồng tử cung để niêm mạc tử cung bong hoàn toàn, giúp tử cung co
hồi tốt hơn và sẽ cầm máu. Nếu văn không cầm được máu phải mổ cấp cứu cắt tử
cung.
- Phương pháp phẫu thuật: là phương pháp điều trị chủ yếu và triệt để, chỉ dùng
phương pháp này khi:
17


+ U xơ tử cung to.
+ U xơ tử cung đã gây biến chứng: chèn ép, chảy máu nhiều.
+ U dưới niêm mạc có cuống.
+ U ở cổ tử cung, u mắc kẹt trong tiểu khung.
Các phương pháp phẫu thuật:
+ Bóc tách nhân xơ: tử cung và chức năng của nó vẫn được bảo tồn. Chỉ áp dụng
phương pháp này khi bệnh nhân còn trẻ, còn nguyện vọng sinh đẻ. Số lượng nhân
xơ ít (1-2 nhân xơ), ở vị trí có thể bóc tách được.
+ Xoắn bỏ nhân xơ qua đường âm đạo phương pháp này áp dụng với những bệnh
nhân có những khối u dưới niêm mạc có cuống thò ra âm đạo (thường là những
polype có chân ở trong buồng tử cung) nhưng nhược điểm của phương pháp này là
dễ tái phát.
+ Cắt tử cung qua đường bụng, đường âm đạo hoặc qua nội soi đây là phương
pháp điều trị triệt để nhất.
+ Cắt tử cung bán phần áp dụng đối với khối u to, u gây biến chứng, u dưới niêm
mạc, nhiều nhân xơ tập trung ở thân tử cung.
+ Cắt tử cung toàn phần áp dụng đối với khối u ở eo tử cung, u ở cổ tử cung hoặc u
ở thân có kèm theo tổn thương nghi ngờ ở cổ tử cung.

18


Hình 5. Phẫu thuật nội soi cắt tử cung hoàn toàn
- Điều trị nội khoa: điều trị nội khoa chỉ làm giảm bớt triệu chứng chứ hoàn toàn
không có khả năng làm teo khối u xơ cơ tử cung, phương pháp này chỉ áp dụng với
bệnh nhân sau:
+ Bệnh nhân còn trẻ tuổi, còn mong muốn có con.
+ Nhân xơ nhỏ kích thước u dưới 5mm, tiến triển chậm, chưa có biến chứng hoặc
chỉ có rong huyết.
+ Bệnh nhân chờ đợi phẫu thuật.
Cách điều trị cụ thể: dùng nội tiết liệu pháp
+ Orgametrin 5mg/ ngày uống tử ngày thứ 16 - 21 của vòng kinh, uống liền 6 chu
kỳ. Sau đó phải kiểm tra kích thước khối u có nhỏ hay không.
+ Noristera 200mg tiêm bắp 3 tháng một lần, dùng vài đợt.
+ Depo - provera hoặc DPMA 150mg tiêm bắp 3 tháng 1 lần, dùng vài đợt sau đó
kiểm tra kích thước của nhân xơ.

19


4.4. Chế độ dinh dưỡng cho người u xơ tử cung khi mang thai
4.4.1. Chế độ ăn cần thiết cho bệnh nhân u xơ tử cung
- Nên ăn nhiều trái cây tươi đặc biệt là những loại trái cây chứa nhiều vitamin như
cam, bưởi, chanh,..
- Tăng khẩu phần rau cho các bữa ăn để cung cấp chất xơ cho cơ thể, ăn các loại
rau củ sống dưới biển như: rau câu, rong biển,..những loại thực phẩm này rất mát
và có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao có tác dụng ngăn ngừa, chống lại u xơ tử
cung.
- Ăn các loại thực phẩm như đậu nành, ngũ cốc nguyên hạt, đậu đen, sữa đậu nành.
- Nên ăn các loại thịt có màu trắng như thịt từ gia cầm và các loại cá bởi những loại
thịt này cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể phòng ngừa và làm giảm sự
phát triển của tế bào u xơ tử cung.

Hình 6. Thực phẩm cung cấp nhiều vitamin cho cơ thể
4.4.2. Chế độ ăn nên tránh cho bệnh nhân u xơ tử cung
- Người bị u xơ tử cung không nên ăn các loại thịt có màu đỏ như thịt bò, thịt lơn,
thịt vịt…những loại thịt này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến khối u.
20


- Hạn chế sử dụng các sản phẩm sữa có hàm lượng chất béo cao như kem, bơ, sữa
những sản phẩm này thường chứa hàm lượng kích thích tố cao, cung cấp chất nuôi
dưỡng khối u phát triển to hơn.
- Không nên dùng các sản phẩm có chứa chất cafein như socola, nước ngọt, cà phê
vì sử dụng các chất này sẽ khiến cho các hoạt chất hóa sinh trong cơ thể tăng lên và
có thể là một trong những nguyên nhân hình thành các khối u.
- Không nên ăn các thực phẩm có hàm lượng muối cao như bánh quy, đậu nướng,
khoai tây chiên, dưa chua, dầu oliu..
- Không nên ăn các loại trái cây như táo, lê, mận,..bởi những loại trái cây này có
thể làm tăng kích thước của khối u
- Hạn chế ăn những loại rau như cần tây, bông cải xanh, sup lơ, cà rốt, dưa chuột,
nấm…bởi những thực phẩm này khiến u ngày càng phát triển to hơn.

21


22


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
 KẾT LUẬN
- Bài tiểu luận đã cung các kiến thức về u xơ tử cung, nguyên nhân hình thành,
triệu chứng và hưởng của nó đến sinh sản ở phụ nữ qua đó giúp mọi người có cái
nhìn đúng đắn về bệnh để có phương pháp xử lí thích hợp.
- Thông qua bài tiểu luận giúp sinh viên đặc biệt là sinh viên chuyên ngành hình
thành và củng cố kiến thức về bệnh học u xơ tử cung và những ảnh hưởng của nó
đến đời sống.
- Bài tiểu luận cũng góp phần giúp bản thân người làm tiểu luận mở rộng kiến thức
và chuyên sâu hơn về nội dung nghiên cứu.
 KIẾN NGHỊ
- Từ những kiến thức đã biết qua bài nghiên cứu từ đó phải có cái nhìn đúng đắn về
bệnh để lựa chọn phương pháp điều trị hợp lí. Cũng như sử dụng các chế độ ăn
đúng đắn cho bệnh nhân.
- Nên áp dụng những nghiên cứu chuyên sâu về kiến thức bệnh lý u xơ cung vào
giảng dạy phần sức khỏe sinh sản.

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Đắc Chứng (chủ biên), Nguyễn Thị Tường Vy, Trần Văn Giang, Đinh Văn
Dũng, Ngô Văn Bình (2017) - Giáo trình Giải phẫu - Sinh lý người và động vật,
NXB Nông nghiệp.
2. Nguyễn Như Hiền, Chu Văn Mẫn (2004) - Cơ sở sinh học người - NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội.
3. Errol R. Norwitz, GS. TS. Nguyễn Duy Tài (2014) - Sổ Tay Sản Phụ Khoa (Sách
Dịch) - NXB Y Học.
4. Nguyễn Xuân Thành (chủ biên), Cao Bá Cường (2016) - Giáo trình Sinh lí học
người và động vật - NXB Đại học sư phạm.
5. Internet: https://suckhoecongdong.com/benh-hoc-u-xo-tu-cung.html
6. Internet: http://benhvienungbuouhungviet.com/u-xo-tu-cung-va-bien-chungnguy-hiem/.

24


25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×