Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở lớp 2 - 3 trong nhà trƣờng Tiểu học

ƢỜ



Ƣ




======

YỄ


Í

ỐB Ệ





Ầ VẦ Ở

L
n

LỖ



LỚ

ƢỜ

TRONG

u nn

Ú




ƣơn p áp dạ

-3





ọc iến Việt ở iểu ọc
ƣời ƣớn d n

. LÊ

HÀ NỘI, 2018

o

ọc



Ị THÙY VINH


LỜ



Ơ

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này em không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ. Nhƣng dƣới sự hƣớng dẫn, giúp đỡ tận tình của TS. Lê Thị
Thùy Vinh, em đã từng bƣớc tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài
“Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở lớp 2 - 3 trong nhà
trƣờng Tiểu học”.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Thùy Vinh, các
thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn và các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tạo điều
kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Tú Anh


LỜ

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu trong kết quả này là trung thực. Đề tài chƣa đƣợc công bố trong bất kì
một công trình khoa học nào khác.

Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Tú Anh


M CL C
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
6. Bố cục khóa luận ........................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................... 6
1.1. Một số vấn đề về chính tả tiếng Việt ...................................................... 6
1.1.1. Khái niệm chính tả ............................................................................ 6
1.1.2. Đặc điểm của chính tả tiếng Việt...................................................... 6
1.1.3. Nguyên tắc dạy học chính tả ............................................................. 7
1.1.4. Lỗi chính tả thường gặp.................................................................. 11
1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học ở giai đoạn lớp 2 - 3 ........ 12
1.2.1. Tri giác ............................................................................................ 12
1.2.2. Tư duy ............................................................................................. 13
1.2.3. Tưởng tượng.................................................................................... 13
1.2.4. Chú ý của học sinh .......................................................................... 14
1.2.5. Trí nhớ của học sinh ....................................................................... 14
1.2.6. Ngôn ngữ của học sinh ................................................................... 14
1.3. Việc dạy và học chính tả trong nhà trƣờng Tiểu học............................ 15
1.3.1. Khái quát về việc dạy và học chính tả trong trưởng Tiểu học ....... 15
1.3.2. Việc dạy và học chính tả phần vần ở chương trình Tiểu học lớp
2 và lớp 3................................................................................................... 16


Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
LỖI CHÍNH TẢ PHẦN VẦN Ở LỚP 2 - 3 TRONG NHÀ TRƢỜNG
TIỂU hỌC ....................................................................................................... 18
2.1. Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2- 3 trong nhà
trƣờng Tiểu học ............................................................................................ 18
2.1.1. Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2......................... 18
2.1.2. Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 3......................... 20
2.1.3. Nguyên nhân mắc lỗi chính tả ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà
trường Tiểu học......................................................................................... 21
2.2 Các biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3
trong nhà trƣờng Tiểu học............................................................................ 22
2.3. Thực nghiệm sƣ phạm........................................................................... 30
2.3.1. Mục đích thực nghiệm..................................................................... 30
2.3.2. Nguyên tắc thực nghiệm: ................................................................ 30
2.3.3. Đối tượng thực nghiệm ................................................................... 30
2.3.4. Thời gian thực nghiệm .................................................................... 31
2.3.5. Địa điểm thực nghiệm .................................................................... 31
2.3.6. Nội dung thực nghiệm ..................................................................... 31
2.3.7. Dự kiến kết quả thực nghiệm .......................................................... 39
2.3.8. Dự kiến đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................... 39
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 42


BẢ

Í

Ệ VẾ



HS

: Học sinh

GV

: Giáo viên

SGK

: Sách giáo khoa

SGV

: Sách giáo viên

NXB

: Nhà xuất bản

QĐ - VPCP

: Qui định văn phòng Chính phủ


Ở Ầ
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt là một môn học quan trọng trong chƣơng trình giáo dục ở
Tiểu học, dạy học Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Từ đó học sinh có thể học tập và giao tiếp
một cách có hiệu quả. Cùng với việc dạy và học Tiếng Việt, các thao tác tƣ
duy của trẻ dần đƣợc hình thành.
Tiếng Việt ở Tiểu học đƣợc dạy và học thông qua hệ thống các phân
môn: Tập viết, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện và Chính
tả. Cùng với các phân môn khác, phân môn chính tả góp phần thực hiện
nhiệm vụ môn học Tiếng Việt ở Tiểu học. Phân môn chính tả có nhiệm vụ rèn
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Từ quá trình viết đúng, viết đẹp góp phần hình
thành ở học sinh tình yêu với tiếng Việt, thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của tiếng Việt. Trong nhà trƣờng Tiểu học, dạy học chính tả có nhiệm vụ
giúp học sinh nắm vững qui tắc và hình thành kĩ năng chính tả, phát triển
năng lực sử dụng ngôn ngữ viết vào hoạt động giao tiếp. Từ đó hình thành ở
học sinh một số phẩm chất tốt đẹp nhƣ: cẩn thân, óc thẩm mĩ,...
Có thể nói chính tả là một vấn đề có tính phổ quát đối với mọi thứ chữ
ghi âm đƣợc dùng hiện nay trên thế giới. Ở mọi thứ chữ ghi âm bao giờ cũng
có vấn đề nên viết thế nào cho đúng chính tả. Tiếng Việt cũng không ngoại lệ.
Việc viết thế nào cho đúng chính tả trong tiếng Việt nhận đƣợc rất nhiều sự
quan tâm.
Trong thực tế, những lỗi chính tả thƣờng gặp trong tiếng Việt rất đa
dạng nhƣ: các lỗi về thanh điệu, lỗi về phần vần, lỗi phụ âm đầu... Các lỗi
chính tả ấy phản ánh bức tranh phƣơng ngữ đa dạng của tiếng Việt trên các
miền đất nƣớc. Việc mắc lỗi khi viết chính tả ảnh hƣởng tới kết quả học tập
của các em ở môn Tiếng Việt nói riêng và các môn khác nói chung. Vì vậy,

1


để khắc phục những nhƣợc điểm này, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài
“Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3
trong nhà trường Tiểu học”.
2. Lịch sử vấn đề
Chính tả là một vấn đề luôn đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và
cũng gặt hái đƣợc rất nhiều thành quả. Ngày nay, có rất nhiều các công trình
nghiên cứu về chính tả.
Năm 1967, tác giả Hoàng Phê đã bàn về Một số nguyên tắc giải quyết
vấn đề để chuẩn hóa chính tả trong Tạp chí ngôn ngữ số 1. Cùng với đó tác
giả đã đề cập đến những qui định về cách viết chính tả, cách viết hoa và cách
viết âm, cách phiên âm tiếng nƣớc ngoài.
Càng về sau này, vấn đề chính tả đƣợc nhiều ngƣời quan tâm hơn. Năm
1997, từ sự kế thừa các thành tựu đi trƣớc tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã
nghiên cứu về qui tắc viết hoa và qui tắc về phiên âm tiếng nƣớc ngoài. Phân
loại lỗi chính tả và đƣa ra các biện pháp khắc phục chung. Tác giả cũng đƣa
ra các mẹo luận nhằm khắc phục những lỗi đấy. Những kết quả thu đƣợc đã
cùng thể hiện trong cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành A - Nhà xuất bản
đại học quốc gia do chính tác giả chủ biên.
Năm 2003, hai tác giả Hoàng Trung Thông - Đỗ Xuân Thảo đã nghiên
cứu một số vấn đề quan trọng của chính tả đó là mẹo luật chính tả theo qui tắc
ngữ nghĩa và thói quen. Tất cả đƣợc in trong cuốn Dạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học Nhà xuất bản giáo dục.
Năm 2006, tác giả Hoàng Anh đã đƣa ra những cặp lỗi tiêu biểu và một
số mẹo nhằm khắc phục chúng trong cuốn Sổ tay chính tả - Nhà xuất bản Đại
học Sƣ phạm.
Năm 2007, cuốn Dùng từ, viết câu và soạn thảo văn bản đƣợc tác giả
Nguyễn Thị Kha Ly viết và đƣợc in bởi Nhà xuất bản giáo dục. Trong cuốn

2


sách này, tác giả đã đề cập đến các qui tắc viết chính tả Tiếng Việt, cách chữa
lỗi thông thƣờng về chính tả và cách qui định tạm thời về cách viết hoa tên
riêng trong sách giáo khoa.
Gần đây nhất, năm 2009 cuốn Mẹo chữa lỗi chính tả đƣợc nhà nghiên
cứu ngôn ngữ tác giả Phan Ngọc viết và đƣợc in bởi Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội và Nhân Văn. Trong cuốn sách này tác giả đã nghiên cứu về qui tắc
dạy mẹo chính tả, cách phân biệt từ Hán Việt, tìm hiểu về cấu tạo âm tiết
Tiếng Việt. Tác giả cũng cung cấp một số mẹo phân biệt chính tả và các dạng
bài tập chính tả.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới đề cập đến các biện pháp chữa
lỗi chính tả chung cho học sinh mà chƣa đi sâu vào tìm hiểu những lỗi chính
tả phần vần mà học sinh thƣờng gặp phải trong phân môn Tiếng Việt và các
biện pháp khắc phục cụ thể ở khối lớp 2 - 3.
Vì thế,chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả
phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trường Tiểu học”.
3. Mục đíc v nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và đề xuất những biện pháp hữu hiệu trong quá trình dạy
học chính tả phần vần khối lớp 2 - 3 trong nhà trƣờng Tiểu học.
- Qua đó nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học phân môn Chính tả khối
lớp 2 - 3 nói riêng và phân môn Chính tả nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về chính tả tiếng Việt, các lỗi chính tả tiếng Việt
- Khảo sát số liệu thống kê về việc mắc lỗi chính tả phần vần ở học sinh
lớp 2 - 3 trong trƣờng Tiểu học, trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân mắc lỗi.
- Đề xuất một số biện pháp chữa lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 3 trong nhà trƣờng Tiểu học.

3


4. ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 ối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp chữa lỗi chính tả phần
vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà trƣờng Tiểu học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Năm học 2017 - 2018
Địa điểm: Tại trƣờng Tiểu học Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.
Giới hạn chƣơng trình: Phân môn chính tả trong chƣơng trình khối lớp 2
- 3 trƣờng Tiểu học Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.
Đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần phần vần ở học sinh
lớp 2 - 3 trong nhà trƣờng Tiểu học.
5.

ƣơn p áp n

i n cứu

Để thực hiện đƣợc mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi đã xây
dựng các nhóm phƣơng pháp sau:
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết:
+ Nghiên cứu các tài liệu, văn bản liên quan và văn bản chỉ đạo các cấp
có liên quan đến đề tài.
- Nhóm phƣơng pháp hỗ trợ:
+ Thống kê
+ Phân tích
+ Phân loại
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phƣơng pháp thu thập thông tin.
+ Phƣơng pháp quan sát.
+ Phƣơng pháp điều tra.
+ Phƣơng pháp trò chuyện.
+ Phƣơng pháp thực nghiệm.

4


6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung khóa luận
gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Thực trạng và một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả phần
vần ở lớp 2 - 3 trong nhà trƣờng Tiểu học.

5


NỘI DUNG
C ƣơn 1
Ơ Ở LÍ LU N VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về chính tả tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm chính tả
Thuật ngữ chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “phép viết đúng” hoặc “lối
viết hợp chuẩn”.
Cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các
từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tiếng nƣớc
ngoài… Nói cách khác chính tả là các qui ƣớc của xã hội trong ngôn ngữ;
mục đích của nó làm phƣơng tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm
cho ngƣời viết và ngƣời đọc đều hiểu thống nhất nội dung cơ bản.
Chính tả trƣớc hết là sự qui định có tính chất xã hội , nó không cho phép
vận dụng qui tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân.
Một ngôn ngữ văn hoá không thể không có chính tả thống nhất. Chính tả
thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị trở ngại giữa các địa
phƣơng trong cả nƣớc, cũng nhƣ giữa các thế hệ đời trƣớc với thế hệ đời sau.
Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hoá
phát triển của một dân tộc.
1.1.2. Đặc điểm của chính tả tiếng Việt
- Chữ viết tiếng Việt (chữ quốc ngữ) đƣợc xây dựng trên cơ sở hệ thống
chữ cái La - tinh. Với 29 chữ cái và 5 dấu thanh, ta có thể ghi tất cả các âm
tiết Tiếng Việt. So với nhiều chữ viết khác nhƣ chữ Anh, chữ Pháp,… thì chữ
quốc ngữ do đƣợc chế tác sau nên có cách viết sát với phát âm và giản tiện
hơn. Vì thế việc dạy học chính tả tiếng Việt cho học sinh thuận lợi hơn nhiều.
- Những qui định về chính tả, trƣớc hết là qui định cách viết các từ ngữ
tiếng Việt, đƣợc thống nhất trong cả nƣớc. Mặc dù tiếng Việt có ba vùng

6


phƣơng ngữ chính là phƣơng ngữ Bắc Bộ, phƣơng ngữ Bắc Trung Bộ,
phƣơng ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng nhiều thổ ngữ với cách phát âm
giữa các vùng miền có khác nhau, nhƣng về chính tả thì vẫn qui định một
cách viết thống nhất từ Bắc chí Nam. Ví dụ: ngƣời nói phƣơng ngữ Bắc Bộ
phát âm không phân biệt r/d/gi xong khi viết chính tả vẫn phải theo qui tắc
chính tả (nhƣ: da thịt, ra vào, gia đình,…); ngƣời Nam Bộ phát âm không
phân biệt v/r.
Song khi viết vẫn viết nhƣ các vùng khác trong cả nƣớc (đọc day dốn
nhƣng viết là vay vốn).
- Việc hình thành các chuẩn mực về chính tả là một quá trình lâu dài.
Bên cạnh những cách viết đã ổn định, đã đƣợc coi là chuẩn, cũng còn những
hiện tƣợng đang trong quá trình chuẩn hóa. Chẳng hạn:
 Trong tiếng Việt hiện nay vẫn tồn tại những trƣờng hợp có hai cách
viết, ví dụ: dập dờn/ rập rờn, sum suê/ xum xuê, nhơ bẩn/ dơ bẩn,…
 Cách viết hoa tên riêng, viết các từ ngữ phiên âm tiếng nƣớc ngoài
cũng đang còn một số điểm chƣa thống nhất. Ví dụ: căn cứ Qui định tạm thời
về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ ban hành
theo quyết định số 09/1998/QĐ - VPCP ngày 22/11/1998 của Văn phòng
Chính phủ, tên của tỉnh có tỉnh lị là thành phố Buôn Ma Thuột đƣợc viết là
Đắk Lắk trong khi ấy cũng tên tỉnh đó đƣợc báo viết là Đắc Lắc hay Đác Lắc.
Trong các trƣờng hợp trên SGK phải chọn cách viết đƣợc khẳng định
trong những tài liệu đáng tin cậy (nhƣ Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn học
hay văn bản đã nêu của Chính phủ).
1.1.3. Nguyên tắc dạy học chính tả
Một số nguyên tắc dạy học chính tả:
1.1.3.1. Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực
Dạy học chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung dạy học chính tả phải

7


sát với phƣơng ngữ. Nói cách khác phải xuất phát từ thực tế mắc lỗi chính tả
của học sinh ở từng khu vực, từng miền để hình thành nội dung giảng dạy,
phải xác định đƣợc trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực,
từng địa phƣơng.Ví nhƣ ta biết cách phát âm ở từng địa phƣơng có ảnh hƣởng
trực tiếp đến chính tả. Đối chiếu với âm, ta thấy cả ba vùng phƣơng ngữ chính
đều có những âm chƣa chuẩn xác, còn sai lệch. Cụ thể:
- Phương ngữ Bắc Bộ: Chƣa phát âm rõ các cặp phụ âm đầu: tr/ ch; s/ x;
r/ d/ gi và một số cặp vần: ƣu/ iu; ƣơu/ iêu,…
- Phương ngữ Bắc Trung Bộ: Chƣa phân biệt rõ hai thanh điệu: thanh hỏi
và thanh ngã.
- Phương ngữ Nam Bộ: Có hiện tƣợng đồng nhất hoa hai phụ âm đầu /v/
và /z/ khi phát âm. Cũng tƣơng tự đồng nhất hóa hai cập phụ âm cuối /n/, /?/
và /t/, /k/ (ví dụ: phát âm luôn luôn thành luông luông, tuốt tuột thành tuốc
tuộc…). Hoặc biến chính âm /ă/ trong trong âm tiết thành / a:/, cho nên không
phân biệt tay và tai khi phát âm… Nhƣ vậy, mỗi địa phƣơng có một trọng
điểm chính tả riêng. Vì vậy, giáo viên cần vận dụng nguyên tắc dạy chính tả
theo địa phƣơng, theo khu vực.
Nguyên tắc này yêu cầu giáo viên trƣớc khi dạy, cần tiến hành điều tra cơ
bản để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung giảng
dạy thích hợp (nhất là đối với loại hình chính tả so sánh). Nguyên tắc này cũng
lƣu ý giáo viên cần tăng cƣờng tính linh hoạt, sáng tạo trong dạy học, cụ thể
trong việc xây dựng nội dung bài sao cho sát với đối tƣợng học sinh mà mình
dạy. Ở một chừng mực nào đó có thể lƣợc bớt các nội dung giảng dạy trong
SGK khi xét thấy không phù hợp với học sinh lớp mình dạy, đồng thời bổ sung
những nội dung giảng dạy cần thiết mà SGK chƣa đề cập tới.
1.1.3.2. Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và chính tả không có ý
thức

8


Từ các đặc điểm, ƣu thế của phƣơng pháp có ý thức và không có ý thức
trong việc dạy học chính tả.Vấn dề đặt ra là trong quá trình dạy học chính tả
cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụng một phƣơng pháp, mà phải sử dụng
phối hợp hai phƣơng pháp này một cách hợp lí nhằm đạt tới dạy học hiệu quả
cao. Cũng cần nói rõ ràng, trong điều kiện nhà trƣờng, việc sử dụng phƣơng
pháp có ý thức vẫn đƣợc coi là chủ yếu. Phƣơng pháp không có ý thức cần
đƣợc khai thác, sử dụng hợp lí ở các lớp đầu bậc Tiểu học, gắn với các kiểu
bài nhƣ tập viết, tập chép,… Các kiểu bài này nhằm giúp học sinh nhanh
chóng làm quen với hình thức các con chữ, hình thức chữ viết của các từ. Đây
là những tiền đề, những xuất phát điểm rất cần thiết với học sinh mới làm
quen hệ thống chữ viết của tiếng Việt. Phƣơng pháp không có ý thức còn phát
huy tác dụng của giáo viên hƣớng dẫn cho học sinh ghi nhớ các hiện tƣợng
chính tả có tính chất võ đoán, không gắn với một qui luật, qui tắc nào nhƣ: d/
gi; ch/ tr; l/n…
Trong nhà trƣờng, giáo viên cần sử dụng, khai thác tối đa phƣơng pháp
có ý thức. Muốn vậy, giáo viên cần phải đƣợc trang bị tối đa những kiến thức
về ngữ âm học, từ vựng ngữ nghĩa học có liên quan đến chính tả. Cụ thể, giáo
viên cần vận dụng các kiến thức về ngữ âm học tiếng Việt vào phân loại lỗi
chính tả, phát hiện các đặc điểm của từng loại lỗi; nhất là việc xây dựng qui
tắc chính tả, các “mẹo” chính tả giúp học sinh ghi nhớ một cách khái quát, có
hệ thống. Ví dụ:
- Khi đứng trƣớc các nguyên âm: i, e, ê, iê:
âm “cờ” viết là k
âm “gờ” viết là gh
âm “ngờ” viết là ngh
- Khi đứng trƣớc các nguyên âm còn lại:
âm “cờ” viết là c

9


âm “gờ” viết là g
âm “ngờ” viết là ng
Ngoài ra, ngƣời ta còn dựa vào các kiến thức về từ vựng - nhữ nghĩa để
lập ra các qui tắc, các “mẹo” chính tả. Ví dụ: Những từ nghi nhờ viết tr hay
ch, nếu chúng chỉ các đồ dùng trong gia đình thì đƣợc viết là ch  chai, chén
chăn chiếu,…
Tóm lại, phát huy tính có ý thức trong dạy học sẽ tiết kiệm đƣợc thì giờ,
và mang lại các kết quả nhanh chóng, chắc chắn, cụ thể, hơn nữa còn gây
hứng thú cho học sinh. Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và chính tả
không có ý thức đƣợc coi là nguyên tắc cơ bản, chủ đạo trong việc dạy học
chính tả cho học sinh.
1.1.3.3. Nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực với phương
pháp tiêu cực (xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai)
Bên cạnh phương pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các qui tắc chính
tả, hƣớng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính
tả), cần phối hợp áp dụng các phương pháp tiêu cực (tức là đƣa ra những
trƣờng hợp viết sai chính tả, hƣớng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa, rồi từ đó
hƣớng học sinh đến cái đúng). Nói cách khác, việc hƣớng dẫn học sinh viết
đúng chính tả cần tiến hành đồng thời với việc hƣớng dẫn học sinh loại bỏ các
lỗi chính tả trong các bài viết.
Về các loại lỗi chính tả của học sinh, trên đại thể có ba loại lỗi cơ bản sau:
- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tự. Loại lỗi này thƣờng gặp khi
viết các phụ âm đầu: d/ gi, tr/ ch, ng/ ngh, s/ x…. Để sửa loại lỗi này, học sinh
cần nắm vững các qui tắc chính tả, nhớ kĩ mặt chữ trong các từ có phụ âm đầu
dễ lẫn lộn,…
- Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng Việt.Vì không
hiểu cấu trúc nội bộ âm tiết tiếng Việt nên học sinh viết thừa, viết sai (Ví dụ:

10


quyet sạch, qoanh co, khúc khủy, ngoằn ngèo,…). Để sửa các loại lỗi này, học
sinh cần hiểu âm tiết tiếng Việt đƣợc cấu thành bởi mấy thành phần, là những
thành phần nào, vị trí của từng thành phần trong âm tiết,…
- Lỗi chính tả do viết theo lối phát âm địa phương hoặc do không nắm
vững chính âm. Loại lỗi này ở mỗi địa phƣơng sai một khác. Có vùng viết d
thành r, có vùng viết l thành n,… Để sửa loại lỗi này, học sinh cần nắm vững
chính âm trong tiếng Việt, cần tập phát âm đúng chuẩn, tập viết nhiều lần
những lỗi địa phƣơng mình thƣờng mắc. giáo viên có thể xây dựng “mẹo” để
giúp học sinh viết đúng.
Để học sinh sửa các loại lỗi chính tả theo hƣớng loại bỏ cái sai, xây dựng
cái đúng, đi từ cái sai đến cái đúng, giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn,
đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện
lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng.
Phƣơng pháp tiêu cực giúp học sinh phát hiện óc phân tích, xét đoán,
đồng thời kiểm tra, củng cố đƣợc kiến thức về chính tả của học sinh.Phƣơng
pháp tiêu cực chỉ nên coi là thứ yếu, có tính chất bổ trợ cho phƣơng pháp tích
cực.Trong quá trình giảng dạy chính tả, giáo viên cần phối hợp một cách hợp
lí, hài hòa và có hiệu quả hai phƣơng pháp này.
1.1.4. Lỗi chính tả thường gặp
1.1.4.1. Lỗi về thanh điệu
Đây chủ yếu là lỗi lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã, một lỗi rất phổ biến
ở Trung bộ và Nam bộ, nơi mà phát âm không có sự phân biệt hai thanh này
với nhau. Chỉ ở đồng bằng Bắc bộ mới có sự phân biệt rõ ràng hai thanh này
trong phát âm, chữ viết. Tuy nhiên, đối với một số từ Hán - Việt ít gặp thì
ngƣời Bắc bộ cũng có thể lẫn lộn thanh hỏi/ ngã.
1.1.4.2. Các lỗi về vần
Các lỗi về vần đƣợc quan sát ở cả ba miền đất nƣớc. Có điều, mỗi

11


miền mỗi khác nhau. Chẳng hạn, ngƣời Hà Nội lẫn lộn vần iu/ ưu và iêu/
ươu. Ngƣời Sài Gòn lẫn lộn iu/ iêu và ươu/ ưu, ngƣời Huế lẫn lộn ang/ an
và iết/ iếc,…
Dƣới đây là một số lỗi đƣợc coi là tiêu biểu:
- Lẫn lộn iêu/ iu/ ƣu
- Lẫn lộn iêu/ ƣơu/ ƣu
- Lẫn lộn ay/ ai
1.1.4.3. Các lỗi về phụ âm đầu
- Lẫn lộn l/ n
- Lẫn lộn tr/ ch
- Lẫn lộn s/ x
- Lẫn lộn r/ d/ gi
1.2.

ặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học ở i i đoạn lớp 2 - 3

1.2.1. Tri giác
Tri giác là hình thức nhận thức cao hơn cảm giác, phản ánh trực tiếp và
trọn vẹn sự vật, hiện tƣợng bên ngoài với đầy đủ các đặc tính của nó (theo Từ
điển tiếng Việt - 2004 - NXB Đà Nẵng).
Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề
ngoài của sự vật, hiện tƣợng đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng
ta (theo Tâm lí học đại cương - NXB Giáo dục).
Học sinh ở giai đoạn này, tri giác mang tính chất không chủ định, phụ
thuộc vào đặc điểm chính của đối tƣợng. Tri giác của các em mang tính đại
thể, ít đi vào chi tiết, gắn liền với hành động cụ thể, tri giác không gian, thời
gian còn bị hạn chế. Nét đặc trƣng của tri giác là tính ít phân hóa của nó, các
em phân biệt đối tƣợng giống nhau còn sai lầm và chƣa chính xác, chƣa phân
biệt đƣợc khái niệm. Ví dụ: cái bàn và diện tích của cái bàn, thƣớc kẻ và độ
dài của cái thƣớc,…

12


Tri giác của học sinh phát triển dƣới các tác động của hoạt động học tập.
Ở lớp 2 - 3, các em tri giác dƣợm màu theo cảm xúc, số lƣợng các chi tiết tri
giác ít, trẻ chú ý đến các chi tiết ngẫu nhiên mà chƣa có khả năng tổng hợp,
quan sát tinh tế. Việc tri giác chƣa có mục đích, kế hoạch. Dựa vào đặc điểm
này, giáo viên có thể thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính
chất đặc biệt khác lạ so với bình thƣờng, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận tri
giác tích cực và chính xác.
1.2.2. Tư duy
Tƣ duy của học sinh tiểu học là quá trình các em hiểu đƣợc, phản ánh
đƣợc bản chất của đối tƣợng của các sự vật hiện tƣợng đƣợc xem xét, nghiên
cứu trong quá trình học tập của học sinh. Các phẩm chất tƣ duy chuyển dần từ
tƣ duy cụ thể sang trừu tƣợng khái quát.
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lên đến lớp 4 - 5 bắt
đầu biết khái quát hóa lí luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến
thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.
Trong dạy học, để phát triển tƣ duy cho học sinh giáo viên cần biến các
kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt câu hỏi cho học
sinh mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập
thể để các em có thể phát triển tƣ duy một cách toàn diện.
1.2.3. Tưởng tượng
Ở giai đoạn lớp 2 - 3, tƣởng tƣợng của học sinh đã đƣợc phát triển,
phong phú hơn nhiều so với trẻ ở các giai đoạn trƣớc đó nhờ bộ não phát triển
và kinh nghiệm ngày càng dày dặn. Biểu tƣợng của tƣởng tƣợng phụ thuộc
vào trình độ học lực và trình độ tâm lí lứa tuổi. Càng lên những lớp trên tính
trực quan của biểu tƣợng tƣởng tƣợng càng giảm dần.
Khi dạy học ngƣời giáo viên phải đặc biệt quan tâm đến sự hình thành và
phát triển tính sáng tạo trong tƣởng tƣợng của học sinh.

13


1.2.4. Chú ý của học sinh
Chú ý là sự tập chung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện
tƣợng, để định hƣớng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần - kinh tâm lí cần
thiết cho hoạt động có hiệu quả.
Ở giai đoạn lớp 2 - 3, chú ý của trẻ chƣa bền vững. Chú ý không chủ
định phát triển mạnh và chiếm ƣu thế. Chú ý phụ thuộc vào nhịp độ học tập,
khối lƣợng chú ý hạn hẹp, sự phân phối chú ý của trẻ diễn ra một cách khó
khăn. Sức chú ý của trẻ chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định, đối với học
sinh lớp 2 - 3 chỉ khoảng từ 20 - 25 phút. Khả năng phát triển chú ý chủ định
và chú ý sau chủ định trong quá trình học tập là rất cao. Điều này phụ thuộc
vào việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh của ngƣời giáo viên, đặc
biệt là hình thành và phát triển động cơ học tập mang tính chất xã hội cao,
mang tính ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập cũng nhƣ mang tính
nhận thức ở các em sao cho trẻ tập trung vào hoạt động, học tập không chỉ vì
cái mà các em thích mà còn vì cái mà các em không thích.
1.2.5. Trí nhớ của học sinh
Trí nhớ là quá trình tâm lí giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức
cũng nhƣ cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu đƣợc khi cần
có thể nhớ lại, nhận lại. Có hai loại trí nhớ: trí nhớ trực quan - hình ảnh và trí
nhớ từ ngữ - lo gic.
Ở học sinh tiểu học, trí nhớ trực quan hình ảnh phát triển hơn trí nhớ từ
ngữ - lo gic, tính không chủ định vẫn chiếm ƣu thế trong cả ghi nhớ và tái
hiện. Tình cảm có ảnh hƣởng đến độ bền vững và độ nhanh của ghi nhớ.
Trong dạy học, giáo viên cần tạo ra tâm thế thích hợp để ghi nhớ của học
sinh bằng việc giúp các em nhận rõ nhiệm vụ ghi nhớ, hiểu mục đích ghi nhớ
và biết sử dụng các biện pháp ghi nhớ phù hợp.
1.2.6. Ngôn ngữ của học sinh

14


Ở giai đoạn lớp 2 - 3, ngôn ngữ của học sinh phát triển mạnh ở cả ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng. Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do
đƣợc học nhiều môn và phạm vi tiếp xúc đƣợc mở rộng, khả năng hiểu nghĩa
của từ cũng phát triển. Hình thức mới của ngôn ngữ - ngôn ngữ viết cũng
đƣợc hình thành và phát triển mạnh tuy nhiên ngôn ngữ viết nghèo hơn so
với ngôn ngữ nói.
1.3. Việc dạy và học chính tả tron n

trƣờng Tiểu học

1.3.1. Khái quát về việc dạy và học chính tả trong trưởng Tiểu học
1.3.1.1. Việc dạy chính tả của giáo viên
- Ở các trƣờng Tiểu học, trƣớc hết phải nói đến trình độ đào tạo của giáo
viên không đồng đều và việc tổ chức dạy - học của môn chính tả chƣa khoa
học. Các tiết dạy học chính tả của giáo viên chƣa đƣợc đầu tƣ cao mà phần
lớn đều dựa vào SGK và SGV là chính.
Một số giáo viên chƣa chú ý đến nguyên tắc dạy học chính tả theo khu
vực. Cụ thể là tại địa phƣơng nơi mình giảng dạy, khi giáo viên không xác
định rõ các lỗi cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn chính tả không đi
vào trọng điểm, học sinh không đƣợc củng cố nắm sâu các qui tắc, mẹo luật
chính tả thông qua các bài tập. Nói cách khác, phải xuất phát từ thực tế mắc
lỗi chính tả của học sinh từng khu vực, vùng miền để hình thành nội dung
giảng dạy. Để làm đƣợc nhƣ vậy thì việc giáo viên phát âm chuẩn là điều rất
quan trọng.
- Bên cạnh đó còn tồn tại thực trạng phổ biến hiện nay là: Giáo viên chỉ
để ý việc phát âm chuẩn ở các giờ học chính tả, tập đọc còn các phân môn
khác thì phát âm bình thƣờng theo kiểu của ngƣời địa phƣơng. Và trong chính
tả, việc phát âm không đúng chuẩn gây ảnh hƣởng rất to lớn.
Ví dụ:
Phát âm”con hiêu” thực chất là “con hươu”

15


Phát âm “mầu sắc” thực chất là “màu sắc”
Phát âm “đất đay” thực chất là “đất đai”.
Vì vậy, ta không phát âm chuẩn thì thật khó mà viết đúng.Việc phát âm
chuẩn diễn ra trƣớc học sinh trong lớp học, trong trƣờng học và ngoài xã hội.
1.3.1.2. Việc học chính tả của học sinh
Đối với học sinh Tiểu học thì khả năng chính tả của các em còn hạn chế.
Các em chỉ chú ý viết đúng chính tả trong giờ học Chính tả, còn trong những
giờ học khác các em không chú ý đến việc mắc lỗi hay sửa lỗi chính tả. Có rất
nhiều học sinh đƣợc điểm cao trong giờ Chính tả nhƣng lại hay mắc lỗi về
chính tả trong các môn học khác.
Nhiều học sinh chƣa nắm vững các qui tắc, các mẹo luật chính tả, có em
phát âm sai dẫn đến bài viết nhiều lỗi chính tả.
Đôi khi, nhiều em không cẩn thận viết thừa thiếu một số nét dẫn đến sai
chính tả (các lỗi về dấu thanh,…).
1.3.2. Việc dạy và học chính tả phần vần ở chương trình Tiểu học lớp 2
và lớp 3
Ở khối lớp 2, 3, một tuần có 2 tiết Chính tả, một năm có khoảng 62 tiết.
Thông qua việc dạy và học, học sinh nắm đƣợc:
- Hình thức Chính tả: tập chép, nghe đọc viết chính tả.
- Viết hoa tên ngƣời, tên địa danh Việt Nam, tập viết các tiếng có vần
khó, tập viết tên ngƣời và tên địa lí nƣớc ngoài.
- Chính tả phƣơng ngữ.
Trong chính tả phƣơng ngữ, cùng với khắc phục các lỗi về phụ âm đầu,
thanh điệu, việc khắc phục các lỗi về phần vần cũng đƣợc đặc biệt quan tâm.
Cụ thể, trong chƣơng trình lớp 2, lớp 3, có rất nhiều các bài tập liên quan đến
chữa các lỗi chính tả phần vần. Ở các địa phƣơng, nếu học sinh hay mắc các
lỗi chính tả liên quan đến phần vần thì giáo viên có thể tự đƣa ra các bài tập

16


liên quan đến vần mà học sinh của mình mắc phải.
VD: Đối với học sinh của phƣơng ngữ Bắc bộ các em hay nhầm lẫn giữa
iêu/ ươu có thể đƣa ra dạng bài tập nhƣ sau:
Điền vào chỗ chấm:
a) Chai r…..
b) Con h….
c) Cái b….
d) Con kh…
Trong SGK, các bài tập chính tả phần vần rất đa dạng từ đó giúp học
sinh nắm vững các qui tắc và mẹo chính tả. Năng lực và thói quen viết đúng
chính tả từ đó cũng đƣợc hình thành.
Tuy nhiên, ở nhiều địa phƣơng giáo viên chƣa thực sự quan tâm trong
dạy học Chính tả. Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực chƣa đƣợc quan
tâm, giáo viên chƣa nắm rõ các lỗi học sinh lớp mình hay mắc phải. Để từ đó
đƣa ra các biện pháp khắc phục lỗi chính tả phù hợp cho học sinh.
Học sinh chƣa nắm vững các qui tắc, các mẹo luật chính tả để viết đúng
các phần vần trong Chính tả Tiếng Việt. Kiến thức về phần vần trong Chính tả
của các em còn hạn chế. Nhiều học sinh chỉ chú ý viết đúng chính tả trong giờ
học Chính tả còn trong các giờ học khác lại hay mắc lỗi chính tả. Điều này
cũng một phần lỗi của giáo viên chƣa chú ý trong việc khắc phục lỗi chính tả
cho học sinh.

17


C ƣơn
THỰC TR NG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PH C LỖI CHÍNH
TẢ PHẦN VẦN Ở LỚP 2 - 3 TRONG

ƢỜNG TI U HỌC

2.1. Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2 - 3 trong nhà
trƣờng Tiểu học
Qua tìm hiểu từ thực tế ở trƣờng Tiểu học, em nhận thấy tỉ lệ học sinh
mắc các lỗi về chính tả phần vần là rất cao. Nó có tác động rất lớn đến hiện
tƣơng phát âm sai ở các địa phƣơng. Học sinh mắc lỗi ở các vần: ay/ ây; ăn/
ăng; ong/ oong,… là chiếm tỉ lệ cao. Học sinh mắc lỗi ở các vần: ia/ ya; en/
eng,… do đƣợc rèn luyện kĩ nên tỉ lệ mắc lỗi thấp hơn.
2.1.1. Thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2
Ở học sinh lớp 2, tỉ lệ các em thƣờng mắc lỗi về chính tả phần vần là rất
cao. Trong số học sinh khảo sát, số học sinh mắc lỗi chiếm 65% trong tổng
số. Việc mắc lỗi chính tả ảnh hƣởng trực tiếp đến phát âm, nói ngọng của học
sinh. Để nắm rõ hơn thực trạng lỗi chính tả phần vần ở học sinh lớp 2, chúng
tôi đã tiến hành khảo sát.
Tiến hành khảo sát, thông qua các dạng bài tập:
Dạng 1: Điền vào chỗ chấm:
a) Điền ăn hay ăng?
Cố g…….

; g……. sức

G…… bó

; yên l……..

b) Điền ia hay ya
T…… nắng

; đêm khu………

Cây m…….
Dạng 2: Lựa chọn các từ trong ngoặc đơn điền vào chỗ chấm:
a) (vươn, vương)
Mầm cây đang……. lên

; giọt sƣơng ….. trên cành

18


b) (tai, tay)
Đôi ….. của mèo con rất thính ; trên … của bé là một quả táo.
Dạng 3:Thi tìm nhanh, viết đúng:
a) Tìm các từ chứa vần en:
b) Tìm các từ chứa vần eng:
Dạng 4: Khảo sát một số vần qua một đoạn (bài) Tập đọc lớp 2
Thực hiện khảo sát ở học sinh lớp 2E, 2G thuộc khối lớp 2, trƣờng Tiểu
học Liên Bảo, phƣờng Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Thu đƣợc
kết quả nhƣ sau:
Các lỗi chính tả phần vần học sinh thƣờng mắc

Tổng
Khối

2

số học
sinh
77

Ăn/ ăng

Ia/ ya

40

2

Ƣơn/
ƣơng

Ai/ ay

En/ eng

Im/ iêm

6

4

16

6

(100%) (51,9%) (2,59%) (7,79%) (7,79%) (5,19%) (20,77%)
Từ kết quả khảo sát trên, ta có thể thấy đƣợc tỉ lệ học sinh mắc lỗi các vần:
ăn/ ăng; im/ iêm là rất cao.
 Một số lỗi chính tả phần vần của học sinh:
+ Vần ăn/ ăng: gắn sức, gắng bó,…
+ im/ iêm: con tiêm, khim tốn,…
Học sinh mắc lỗi chính tả ở các vần: ia/ ya; ươn/ ương; ai/ay; en/ eng

chiếm tỉ lệ thấp hơn.
 Một số lỗi chính tả phần vần của học sinh:
+ Vần ia/ ya: đêm khuia, cây mí, tya nắng,…
+ Vần ƣơn/ ƣơng: vƣơn vãi, bay lƣợng, vƣơng vai,…
+ vần ai/ ay: bàn tai, đăng cay, lay xe,…
Vần en/ eng: len keng, nghe léng, chập chen,…
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×