Tải bản đầy đủ

SANG KIEN KINH NGHIEM CÔNG NGHỆ

Trường THPT Đồng Đậu

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.

Lí do chọn đề tài
Nhân cách của con người là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó

giáo dục ở nhà trường giữ vai trò chủ đạo. Ở trường THPT, học sinh được giáo
dục một cách toàn diện với tất cả các môn văn hoá cơ bản, giáo dục nghề phổ
thông, giáo dục ngoài giờ lên lớp. Với một khối lượng kiến thức khổng lồ, với
những yêu cầu đạt chuẩn ở tất cả các môn học đòi hỏi người học sinh nếu không
chủ động, tích cực học tập chiếm lĩnh tri thức thì không thể đáp ứng được những
yêu cầu đề ra của ngành giáo dục.
Báo chí đã từng đưa tin rất nhiều về việc học sinh lớp 12 trường Nguyễn
Hiền (TPHCM) đã xé đề cương ôn tập môn Sử khi biết môn này không được
chọn để thi tốt nghiệp. Các em như được “giải thoát” vì cho rằng môn này phải
học quá nhiều, phải nhớ từng chi tiết nhỏ, phải học theo sách thì mới đạt điểm
cao.

Cảnh tượng học sinh xé Đề cương môn Sử khi nghe tin Sử không phải là môn thi

tốt nghiệp. Sự việc xảy ra vào năm trước.
Nguyễn Thị Hương

1


Trường THPT Đồng Đậu

Để giúp đỡ được các em học sinh không chỉ đạt kết quả cao nhất trong
học tập mà thông qua hoạt động học tập còn hình thành những năng lực nhất
định cho HS thì việc dạy như thế nào của người giáo viên có vai trò rất quan
trọng. Trước đây, học là quá trình người dạy truyền thụ những kiến thức, kinh
nghiệm học được của mình cho người học. Người học tiếp nhận và công nhận
nó một cách máy móc, dập khuôn mà không có sự phản hồi lại. Phương pháp
học tập đơn thuần là đọc – chép, nhìn – chép, gây sự nhàm chàn cho học sinh.
Năm học 2011 – 2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ
thị, bắt đầu từ năm học này chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua đọc chép và nhìn
chép ở bậc trung học phổ thông. Đặc biệt năm học 2014 – 2015, Bộ GD - ĐT
đã có nhiều đợt tập huấn cho giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học - kiểm
tra đánh giá, sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, dạy học theo hướng
phát triển năng lực của học sinh đã nâng cao chất lượng dạy học và nâng cao kết
quả học tập ở học sinh. Đây là chủ trương phù hợp với tiến trình đổi mới và
nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng sự mong đợi bấy lâu nay của nhiều GV
tâm huyết với giáo dục, giúp học sinh chủ động học tập và sáng tạo.
Bản thân tôi cũng là một nhà giáo và tự thấy rằng: Đổi mới phương pháp
dạy học không còn là ngồi để nói về nó, phải đổi mới nó như thế nào trên lí
thuyết mà chúng ta cần làm thật và làm để rút kinh nghiệm từ đó có những
phương pháp dạy học mới thực sự đạt hiệu quả. Với vai trò là giáo viên dạy bộ
môn Công nghệ 10 tôi tự nhận thấy: Đây là một môn học rất gần gũi với cuộc
sống hàng ngày của các em, chính vì vậy nội dung kiến thức các em được cung

Nguyễn Thị Hương

2


Trường THPT Đồng Đậu

cấp – tiếp thu được sẽ giúp các em giải quyết các vấn đề trong thực tiễn. Nên
giáo viên không có những phương pháp truyền thụ mới, sáng tạo, phát huy tính


tích cực học tập ở học sinh thì dễ gây nhàm chán, đơn điệu cho học sinh. Đặc
biệt với tâm lí, đây là môn học không thi tốt nghiệp thì các em càng coi nhẹ việc
học môn này. Nhưng qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: Đây là môn học sẽ
giúp ích học sinh rất nhiều, cung cấp ngay cho các em những kiến thức cơ bản
về chăn nuôi - bảo quản - chế biến các sản phẩm của gia đình, địa phương. Đặc
biệt, với việc thay đổi sách giáo khoa, Bộ GD – ĐT đã đưa phần „Tạo lập Doanh
nghiệp‟ vào môn Công nghệ 10 đã cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ
bản về kinh doanh, doanh nghiệp, giúp các em có thể định hướng nghề nghiệp
trong tương lai.
Qua tìm hiểu tôi đươc biết: Việc ứng dụng Bản đồ tư duy ( Sơ đồ tư duy)
trong dạy học là một phương pháp học tập tích cực và đem lại nhiều hiệu quả
học tập tốt cho học sinh. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: „Sử dụng Bản đồ tư
duy để nâng cao hiệu quả học tập của học sinh trong dạy học Công nghệ 10‟
2.

Giới hạn đề tài
Môn Công nghệ 10, tập chung vào chương 2: Chăn nuôi - Thuỷ sản đại
cương.

3.

Đối tượng nghiên cứu
- Nhóm thực nghiệm: Học sinh của lớp 10A7, lớp 10A8 trường THPT
Đồng Đậu

Nguyễn Thị Hương

3


Trường THPT Đồng Đậu

- Nhóm đối chứng: Học sinh của lớp 10A5 và lớp 10A6 trương THPT
Đồng Đậu
Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm lí của HS THPT, khả năng tư duy
logic, khả năng ghi nhớ, phương pháp học bài thật tốt,… mà đề ra các biện pháp
tổ chức dạy và học nhằm phát triển sự ghi nhớ, vận dụng kiến thức cho HS.
- Giúp cho các em hiểu một cách sâu sắc hơn về khả năng ghi nhớ của bản
thân, đồng thời tìm ra phương pháp dạy và học thích hợp với chương trình học
hiện nay, phù hợp với xu hướng học tập ngày càng đổi mới và nâng cao chất
lượng của HS trong tương lai. Từ đó mà nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
4.

Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp chuyên gia
- . Phương pháp thực tập sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học

5.

Điểm mới – tính sáng tạo của sáng kiến kinh nghiệm
Ba năm trở lại đây, BĐTD được sử dụng như là một phương pháp - một

công cụ dạy học ở một số trường, một số môn học (Văn, sử, hóa, anh...). Tuy
nhiên đây vẫn là một phương pháp còn rất mới, kết hợp với việc sử dụng thành
thạo công nghệ thông tin nên nhiều người chưa biết đến, việc ứng dụng còn
chưa phổ biến ở nhiều trưởng. Đặc biệt với môn Công nghệ 10, tôi tìm hiểu và
được biết là chưa có ứng dụng BĐTD vào trong môn học này trong địa bàn các
Nguyễn Thị Hương

4


Trường THPT Đồng Đậu

trường thuộc Yên Lạc – Vĩnh Phúc ở những năm học trước. Chính vì vậy mà tôi
đã mạnh dạn đưa phương pháp này vào dạy học nhằm tìm kiếm một phương
pháp học tập tích cực mới cho môn học của mình.
Qua thực tế giảng dạy áp dụng BĐTD trong năm học vừa qua tôi đã thu
được những hiệu quả tích cực trong dạy và học mà BĐTD mang lại.Tôi thấy cần
phải phổ biến rộng rãi hơn nữa phương pháp dạy học này.
Ý nghĩa khoa học: Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả dạy,
cũng như phát huy tính tích cực sáng tạo trong việc học. Kết quả của đề tài sẽ
góp phần phát triển tư duy của GV và HS .
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Công
nghệ nói riêng và các môn học khác nói chung. Đề tài cũng góp phần phát huy
tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập của người học.

Nguyễn Thị Hương

5


Trường THPT Đồng Đậu

PHẦN 2. NỘI DUNG
1.

Cơ sở lí luận
Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển mạnh mẽ, thế giới vận động

và thay đổi đến từng giây. Do đó việc học tập chăm chỉ chưa hẳn là giải pháp tối
ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà là học như
thế nào và sử dụng công nghệ gì. Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu không
chỉ có kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức.
Nghiên cứu về hoạt động của bộ não con người, người ta chỉ ra rằng bộ
não hoạt động gồm 2 nhánh: Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc,
nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng, … sẽ tác động kích thích não trái. Não trái
thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy, phân tích, … cho ra sản phẩm. Do đó
người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất.
Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số.
Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái,
mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các
thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác,
chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi
ghi nhận thông tin.
Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony
Buzan đã đưa ra Bản đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này,
hay còn gọi là Sơ đồ tư duy - là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương
pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra
Nguyễn Thị Hương

6


Trường THPT Đồng Đậu

ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo
đúng nghĩa của nó là “sắp xếp” ý nghĩ của bạn. Sơ đồ tư duy gồm 1 vấn đề lớn
đặt ở trung tâm và các nhánh ý tưởng toả ra xung quanh. Một sơ đồ tư duy cho
phép chúng ta thoả sức vạch ra các ý tưởng, suy nghĩ đầy đủ trước khi đi đến
một quyết định. Nếu cần xây dựng một kế hoạch làm việc, phân tích một vấn đề
v.v...thì sơ đồ tư duy mang đến những giá trị lớn hơn nhiều việc bạn đặt bút viết
tuần tự từ đầu đến cuối trang giấy, nhất là những người có năng khiếu vẽ đẹp,
tạo cho sơ đồ sự hấp dẫn. Trình bày vấn đề theo sơ đồ, biểu đồ bao giờ cũng gây
hứng thú.
Để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp dạy
học sử dụng sơ đồ tư duy có nhiều ưu điểm:
- Lôgic, mạch lạc.
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ.
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”.
- Dễ dạy, dễ học.
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh.
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức.
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức.
- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức.
Điểm mạnh nhất của BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý
tưởng, từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo. Với những ưu điểm
trên, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến
Nguyễn Thị Hương

7


Trường THPT Đồng Đậu

thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học
kì,...cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại
mất ít thời gian
Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, tuỳ theo nội dung kiến
thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạo biểu tượng,
hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản… cho học sinh.
2.

Cơ sở thực tiễn

2.1

Thực trạng việc dạy học Công nghệ 10 ở trường THPT Đồng Đậu

2.1.1. Thực trạng dạy học của giáo viên
Nhìn chung, hầu hết giáo viên đều ý thức được việc cần phải đổi mới, đa
hạng hoá các phương pháp dạy học như sử dụng: Phương pháp vấn đáp tìm tòi,
trực quan tìm tòi, thảo luận nhóm… Tuy nhiên, do tâm lí ngại thay đổi nên đa
phần giáo án chủ yếu là nội dung bài học chứ chưa chú trọng đến phương pháp,
rất ít câu hỏi tư duy. Chỉ sử dụng hệ thống sơ đồ trong SGK để minh họa cho bài
học, mà không có thêm các sơ đồ tự thiết kế từ nội dung SGK hay liên hệ thực
tiễn. Chưa chú ý sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh.
Mặt khác, việc áp dụng phương pháp dạy học mới không phải dễ bởi để
dạy học phát huy được tính tích cực của HS đòi hỏi giáo viên phải đầu tư thời
gian, trí tuệ vào việc soạn giáo án. Đồng thời giáo viên phải có năng lực tổ chức,
điều khiển quá trình dạy học. Đây là khó khăn đối với giáo viên hiện nay vì
ngoài kĩ năng sư phạm thì những kĩ năng mềm khác còn yếu.
Nguyễn Thị Hương

8


Trường THPT Đồng Đậu

2.1.2. Việc học của học sinh
Qua 4 năm giảng dạy môn học tôi nhận thấy: Hoạt động học chủ yếu của
học sinh là nghe giảng, ghi chép ít có ý thức phát biểu xây dựng bài. Một số em
còn làm việc riêng trong giờ học. Đặc biệt, với tâm lí đây không phải là môn học
chính do không thi tốt nghiệp, không thi đại học. Từ đó đã hình thành nên suy
nghĩ buông lỏng, thả trôi trong ý thức học tập của học sinh. Từ thực tế trên dẫn
đến kết quả học tập bộ môn chưa cao. Số học sinh giỏi ít, khá và trung bình
nhiều, yếu vẫn còn.

Nguyễn Thị Hương

9


Trường THPT Đồng Đậu

2.2

Những thuận lợi – khó khăn khi ứng dụng BĐTD vào trong dạy học ở

trường THPT Đồng Đậu
2.2.1. Thuận lợi
- Đây là phương pháp mới, phù hợp với xu thế cải cách nên đựơc sự ủng
hộ của giáo viên, học sinh và các đoàn thể trong trường….
- Chương trình môn Công nghệ 10 THPT có nhiều nội dung phù hợp với
phương pháp giảng dạy dùng BĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức
cho HS lĩnh hội kiến thức.
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học
tập: phòng công nghệ thông tin, máy chiếu, bảng phụ….
- Phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm
sinh lý lứa tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học
truyền thống. Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích
cực.
 Qua đó, tôi thấy rằng ngay từ đầu HS đã rất hào hứng và nhiệt tình tham gia,
làm cho phần trả bài không còn là áp lực với HS, các em không phải chỉ còn đọc
thuộc lòng từng câu chữ, công thức mà có sự thấu hiểu, biết phương pháp học.
2.2.2. Khó khăn
- Đây là phương pháp dạy học mới nên GV và HS không tránh khỏi lúng
túng trong một số kĩ năng như sử dụng BĐTD lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử
lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung môn học không phải bài nào cũng áp dụng phương pháp này.
Nguyễn Thị Hương

10


Trường THPT Đồng Đậu

- Đòi hỏi GV phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm.
- GV khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng HS.
- Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp: Số HS, không
gian lớp học, trang thiết bị, đồ dung dạy học, thời gian tiết học…
- Năng lực HS không đồng đều nên đôi khi việc vẽ BĐTD trong học tập
là sự máy móc không hiệu quả.
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là HS đối với bộ môn này
đôi khi còn lệch lạc: chưa đầu tư - dành sự quan tâm thích đáng, chưa chú ý,
xem thường hoặc học cho xong.
- Khi dự giờ các tiết dạy, giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ nên chưa
đánh giá được chính xác hiệu quả của phương pháp.
Ngay từ đầu năm học, sau khi đăng kí đề tài SKKN tôi đã tìm hiểu, áp dung
dạy học Công nghệ bằng sơ đồ tư duy. Từ đó tôi tự lập kế hoạch soạn bài, giảng
dạy cho từng tiết học. Nếu không sử dụng phần mềm, tôi linh động sử dụng hình
vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp học
sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học, đồng
thời có thể cùng tham gia hoàn thành sản phẩm BĐTD. Như vậy, thay vì phải học
thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bài giảng đọc chép như lúc trước,
giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệm qua hình vẽ. Chính sự liên
tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp các em nhớ được phần trọng tâm
của bài giảng.

Nguyễn Thị Hương

11


Trường THPT Đồng Đậu

Để mang lại hiệu quả của phương pháp tôi cho học sinh làm quen với một
số BĐTD bằng vẽ tay hay trên phần mềm để học sinh biết và định hình được thế
nào là BĐTD sau đó hướng dẫn các em lập bản đồ một cách đơn giản nhất.
Hướng dẫn học sinh làm Bản đồ tư duy
Đây là những thành phần cấu tạo nên một bản đồ tư duy, mặc dù chúng có
thể được chỉnh sửa tự do theo ý muốn cá nhân, nhưng đều gồm những phần
chính sau:
1. Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Tại sao lại phải dùng
hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng
trí tưởng tượng của mình. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung
được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn.
2. Luôn sử dụng màu sắc – ít nhất là ba màu. Bởi vì màu sắc cũng có tác
dụng kích thích não như hình ảnh.
3. Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh
nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp
hai,…. bằng các đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì
càng được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ
hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự
liên tưởng.
4. Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
5. Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
6. Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường
Nguyễn Thị Hương

12


Trường THPT Đồng Đậu

cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều.
7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Giáo viên định hướng cho HS chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một
BĐTD về bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới. Điều này sẽ bắt buộc
HS phải đọc bài và nghiên cứu bài trước, giúp HS nắm được một cách khái quát
những điều sẽ có trong bài học mới.
3.

Phương pháp tiến hành
Dạy học là một nghệ thuật, trong đó người giáo viên phải biết khéo léo

kết hợp các phương pháp dạy vào trong một tiết học để tránh sự nhàm chán cho
học sinh. Vì vậy tôi đã dùng BĐTD làm trung tâm và kết hợp với một số phương
pháp khác trong tiết học để tăng hiệu quả của tiết học.

Nguyễn Thị Hương

13


Trường THPT Đồng Đậu

3.1.

Các cách sử dụng BĐTD

Cách 1. Chọn thẻ bài
- Giáo viên chuẩn bị sẵn những thẻ bài, ghi nội dung - đề mục chính của
bài lên mỗi thẻ.
- Thẻ được làm bằng giấy bìa cứng, sau có đính băng dính 2 mặt.
- Yêu cầu học sinh sắp xếp các thẻ bài thể hiện nội dung bài học.
Cách 2. Các đội đua tài
- Giáo viên chia lớp thành 3 đội: trong đó 2 đội chơi và một đội làm giám
khảo.
- Yêu cầu mỗi đội chơi hoàn thành một nội dung của bài theo BĐTD.Mỗi
bạn chỉ lên hoàn thành một nhánh nhỏ.
- Đội giám khảo sẽ có nhiệm vụ: Nghiên cứu nội dung bài học, nhận xét
kết quả của 2 đội chơi theo tiêu chí: Thời gian hoàn thành, hình thức BĐTD, nội
dung bài.
- Giáo viên sẽ thông qua quá trinh hoạt động học tập của học sinh trong
giờ để chuẩn kiến thức cho học sinh.
Cách 3. Thảo luận nhóm
- Giáo viên chia học sinh thành những nhóm nhỏ theo những nội dung của
bài học.
- Yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và thể hiện kết quả thảo luận
bằng BĐTD.

Nguyễn Thị Hương

14


Trường THPT Đồng Đậu

- Học sinh báo cáo kết quả thảo luận lên bảng và thuyết trình BĐTD của
nhóm.
- Tổng hợp các kết quả thảo luận được nội dung bài học dưới dạng bản
đồ.

Nguyễn Thị Hương

15


Trường THPT Đồng Đậu

Cách 4. Bài tập - Bài tập nhóm
- Giáo viên giao bài tập về nhà cho hoc sinh, yêu cầu học sinh trình bày
dưới dạng BĐTD trong vở hay trên giấy A4.
- Giáo viên chia lớp thành nhóm. Yêu cầu nhóm hoàn thành bài tập trên
giấy A0 dưới dạng BĐTD.

Nguyễn Thị Hương

16


Trường THPT Đồng Đậu

Cách 5. Điền vào chỗ trống
- Giáo viên cung cấp cho học sinh một BĐTD chưa đầy đủ được vẽ trên
bảng phụ.
- Yêu cầu học sinh dựa vào kiến thức đã có để hoàn thiện bản đồ.

Cách 6. Kiến xây tổ
Nguyễn Thị Hương

17


Trường THPT Đồng Đậu

Giáo viên vẽ BĐTD ở trung tâm bảng – là nội dung chính của bài học.
Giáo viên giới thiệu các nội dung tiếp theo của bài học qua các nhánh cấp 1, cấp
2, cấp 3… kết hợp phương pháp đàm thoại, vấn đáp gợi mở, thuyết trình của
giáo viên và học sinh hoàn thiện dần BĐTD. Cuối cùng khi bản đồ hoàn thiện
chính là nội dung bài học mà học sinh cần phải nắm được.

3.2.

Sử dụng BĐTD trong giờ học

Nguyễn Thị Hương

18


Trường THPT Đồng Đậu

Qua những cách ứng dụng bản đồ vào dạy học mà tôi vừa đưa ra ở trên.
Với một tiết dạy hay một nội dung trong giờ học, tôi lựa chon phương pháp cho
phù hợp để không trùng lặp nhiều.
3.2.1. Sử dụng BĐTD trong kiểm tra miệng
Vai trò: Kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong các
tiết dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu, tạo
không khí thoải mái cho tiết học và giúp HS học tập có hiệu quả hơn. Tuỳ theo
mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà GV có
thể áp dụng các cách sử dụng BĐTD. Sử dụng BĐTD vừa giúp GV kiểm tra
được phần nhớ lẫn phần hiểu của HS đối với bài học cũ.
Vì thời gian kiểm tra bài cũ tương đối ngắn nên các BĐTD tôi thường sử
dụng những cách sau:
- Chọn thẻ bài
- Kiểm tra bài tập về nhà
- Hoàn thiện BĐTD
3.2.2. Sử dụng BĐTD trong dạy bài mới
Vai trò: Đây là phần quan trọng nhất của tiết học. Giáo viên giới thiệu bài
mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng bằng một hình vẽ bất kì trên bảng
của lớp, cho HS ngồi theo nhóm thảo luận.
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn
cấp số 1 (các đề mục có trong bài) và gọi HS lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề, chia
thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
Nguyễn Thị Hương

19


Trường THPT Đồng Đậu

Sau khi HS vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, GV đặt câu hỏi tiếp ở nhánh
thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2... HS sẽ hoàn thành nội dung BĐTD của bài
học mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn
thiếu vào BĐTD của từng cá nhân.
Với phần này giáo viên sử dụng bảng viết tay hoặc máy chiếu theo cách:
- Kiến xây tổ
- Thảo luận nhóm
3.2.3. Sử dụng BĐTD trong phần củng cố
Vai trò: Củng cố bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một
yếu tố dẫn đến sự thành công của bài giảng. Củng cố bài giảng giúp HS nhớ lại
và khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, HS còn có
thể tự đánh giá kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại
phương pháp học sao cho phù hợp. Bằng các phương pháp củng cố bài giảng cụ
thể, GV sẽ giúp HS phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung
bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy cho HS.
Củng cố bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa GV và HS. Điều đó
tạo hứng thú học tập cho HS, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện
để HS phát biểu ý kiến. Giáo viên có thể dung các cách:
- Bài tập
- Điền vào chỗ trồng
- Chiếu BĐTD
3.2.4. Sử dụng BĐTD trong bài ôn tập - thực hành
Nguyễn Thị Hương

20


Trường THPT Đồng Đậu

Vai trò: Qua thực tế giảng dạy bộ môn tôi thấy rằng loại bài luyện tập là rất
quan trọng nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Luyện tập ở SGK có 2 phần:
- Phần 1 : Kiến thức cần nhớ
- Phần 2 : Bài tập
Cách viết của SGK ở phần 1 thường là hệ thống lại các kiến thức theo kiểu
hàng ngang, nếu GV không biết vận dụng phương pháp dạy tích cực thì khi dạy
phần này thường tương đối tẻ nhạt - đơn thuần, GV ra câu hỏi HS trả lời, hiệu
quả cách dạy này không cao.
Khi sử dụng BĐTD để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên trên
một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được đặt trong
mối liên hệ của chúng với nhau nên HS dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu hơn12q.
Để dạy phần 1 GV có thể triển khai các cách:
- Các đội đua tài
- Bài tập nhóm

Nguyễn Thị Hương

21


Trường THPT Đồng Đậu

- Kiến xây tổ

3. 3.

Trình bày sản phẩm BĐTD.

3.3.1 Đối với GV
Trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn HS tạo lập BĐTD, GV dùng từ
khóa, viết tắt, hình ảnh, … nhưng khi hoàn thành, GV phải diễn giải dưới hình
thức tường thuật, kể chuyện hoặc thuyết trình một cách mạch lạc, khúc triết
Nguyễn Thị Hương

22


Trường THPT Đồng Đậu

bằng ngôn ngữ ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ về nội dung của BĐTD. Từ đó, HS sẽ
được khắc họa lại một lần nữa về bức tranh tổng thể của vấn đề, đây là điều nhất
thiết GV phải thực hiện vì đối tượng của mình là HS lớp 10, khả năng tiếp nhận
của các em được hình thành từ sự hướng dẫn và làm mẫu cụ thể, khi HS đã quen
với việc học tập cùng BĐTD thì các em có thể tự mình thuyết trình với sản
phẩm của chính mình.
3.3.2 Đối với HS
- Với cách ghi chép thông thường, HS luôn phải tuân theo một quy luật,
trình bày theo một khuôn mẫu có sẵn (ví dụ: vở ghi bài), HS sẽ trong tư thế bị
động, phụ thuộc vào từ ngữ và trình bày một cách máy móc, mất đi sự thoải mái
trong lúc thuyết trình.
- Với BĐTD, HS đặt các chủ đề của bài thuyết trình ở trung tâm của trang
giấy và phát triển dựa trên các hình ảnh và từ khoá mà HS định trình bày. Cách
làm này rất khoa học giúp HS tự tin rất nhiều, ngoài ra, HS sẽ phải tự tìm ra
cách để diễn đạt các ý từ ý trung tâm tới ý các nhánh bằng ngôn ngữ nói, ngôn
ngữ biểu cảm.
- Bản đồ tư duy được hình thành, các nhánh, các ý trung tâm sẽ được sắp
xếp theo trật tự, làm nổi bật vấn đề và liên kết giữa các nhánh.

Nguyễn Thị Hương

23


Trường THPT Đồng Đậu

Nguyễn Thị Hương

24


Trường THPT Đồng Đậu

3.3.3. Hoàn thiện BĐTD cùng tập thể
Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Bản đồ tư duy về
kiến thức của bài học. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh
hoàn chỉnh Bản đồ tư duy, từ đó dẫn đến kiến thức của bài học bằng cách đặt
câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh phát biểu, sắp xếp ý tưởng để hoàn thành
sơ đồ, học sinh ghi nhớ nhanh, không phải đọc – chép .
Sau khi các em vẽ xong rất nhanh “Tác phẩm kiến thức – hội hoạ” và
trình bày lại cho cả lớp nghe một cách hào hứng nên một lần nữa các em thuộc
bài rất nhanh, thêm được một lần ghi nhớ rất sâu kiến thức và rèn tính tự tin, khả
năng thuyết trình, phát triển khả năng thẩm mỹ, sắp xếp ý tưởng một cách khoa
học, hệ thống, ghi nhớ sâu kiến thức … là những điểm còn yếu của học sinh
hiện nay.

Nguyễn Thị Hương

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×