Tải bản đầy đủ

Những thành tựu và hạn chế về lý luận kinh tế của các nhà kinh tế tiểu tư sản

LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
vấn đề phát triển cơ cấu kinh tế được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối với
nền kinh tế Việt Nam. Các lý luận giá trị kinh tế của các nhà kinh tế tư bản cổ
điển là một bộ phận trong cơ cấu ấy, đã có những lý luận bị coi là đối lập với
kinh tế XHCN, vì vậy phải nằm trong diện cải tạo xoá bỏ. Song thực tiễn đã
cho thấy quan niệm như vậy là cực đoan vì các lý luận giá trị của các nhà kinh
tế cổ điển tư bản đã góp một phần không nhỏ vào sự thay đổi bộ mặt của nền
kinh tế theo hướng tích cực. Cùng với chủ trương chuyển nền kinh tế Việt
Nam sang nền kinh tế thị trường, Đảng và nhà nước Việt Nam đã ban hành
nhiều Chủ trương, Chính sách để khuyến khích sự phát triển của các thành
phần kinh tế. Tuy nhiên, các lý luận giá trị đó, còn nhiều những hạn chế trong
thực tế và nhiều vấn đề bất cập trong xã hội.
Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới.
Cơ hội phát triển rút ngắn, thực hiện thành công CNH-HĐH phấn đấu đưa
Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Tuy
nhiên, để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi phải có sự am hiểu về lý luận
kinh tế, với sự giải phóng tối đa lực lượng sản xuất xã hội. Trong bối cảnh các
nguồn lực kinh tế của Việt Nam còn đang hạn chế. Vì vậy bài viết này sẽ tập
trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau đây:
Những thành tựu và hạn chế về lý luận kinh tế của các nhà kinh tế

tiểu tư sản
Tuy nhiên, do thời gian và không gian có hạn cho nên việc thu thập số
liệu và tài liệu vẫn chưa đựơc cập nhật vì thế không tránh khỏi những thiếu
sót, mong có những ý kiến đóng góp cho tiểu luận được hoàn chỉnh hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn cùng các
bạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm tiểu luận.
1


NỘI DUNG
I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC THUYẾT KINH
TẾ TIỂU TƯ SẢN
1. Hoàn cảnh lịch sử
Kinh tế chính trị học Tiểu tư sản là một khuynh hướng phát triển của
tư tưởng kinh tế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản. Nó được hình thành trong
thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển mạnh mẽ và đe dọa phá vỡ tất cả
mọi cơ sở kinh tế-xã hội của chế độ cũ. Trào lưu này xuất hiện đầu tiên ở
nước Pháp, vào lúc sắp nổ ra cuộc cách mạng tư sản vĩ đại. Đó là sự phản
kháng về mặt tư tưởng của những người sản xuất nhỏ, độc lập - những người
mà gắn liền với họ là nền sản xuất nhỏ đã từng tồn tại và phát triển trong buổi
đầu của sự phát triển tư bản chủ nghĩa - một sự phát triển tất yếu sẽ đưa tới
chỗ phá vỡ địa vị độc lập của họ. Đó còn là sự phản kháng về mặt xã hội của
tất cả lực lượng bảo thủ trước sự phát triển của chủ nghĩa tư bản có nguy cơ
làm tan vỡ mọi tiêu chuẩn và truyền thống của các mối quan hệ cổ truyền. Lý
tưởng mà những người tiểu tư sản bảo vệ chính là nền sản xuất hàng hóa
nhỏ, độc lập cùng tất cả các mối quan hệ xây dựng trên nền tảng đó. Đối
tượng của sự phản kháng của họ là chủ nghĩa tư bản, nói đúng hơn là giai
cấp tư sản lớn, là sự phát triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
Con đường mà họ lựa chọn là con đường gạt bỏ chủ nghĩa tư bản, phát triển
kinh tế và xã hội theo những chuẩn mực của xã hội cũ.
2. Các đại biểu của trường phái Tiểu tư sản và di sản lý luận của họ
Đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái Tiểu tư sản trong kinh tế
chính trị học là Sismondi (Sismondi), nhà kinh tế Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông
cũng là người đặt cơ sở cho một trào lưu tư tưởng độc đáo của chủ nghĩa xã
hội tiểu tư sản. Bên cạnh đó, phải kể đến Pơ-ru-đon (Proudhon), nhà kinh tế
tiểu tư sản Pháp nổi tiếng với những dự án cải cách xã hội mang tính chất ảo
tưởng. Trong sự phát triển sau này, kinh tế chính trị học tiểu tư sản còn ghi
2



nhận tên tuổi của một loạt nhà hoạt động xã hội như Lát - xan (Lassan), Rốt béc - tút (Rodbertus), Đuy - rinh (Dhuring)... Đặc biệt, những tư tưởng và
quan điểm tiểu tư sản đó được phục hồi và phát triển ở vào một thời kỳ muộn
hơn trên mảnh đất Nga và ở đây, nó mau chóng có ảnh hưởng rộng lớn và sâu
sắc. Chủ nghĩa dân túy Nga cuối thế kỷ XIX là sự kế thừa sâu sắc những tinh
hoa của tư tưởng kinh tế tiểu tư sản châu Âu và phát triển nó tới đỉnh cao mới
với những nét độc đáo của một xã hội nông dân lạc hậu đứng trước nguy cơ
phát triển tư bản chủ nghĩa.
Di sản lý luận đáng kể nhất của trường phái tiểu tư sản trong kinh tế
chính trị học thể hiện ở hai vấn đề trung tâm trong các học thuyết của nó: Sự
phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm tiểu tư sản và những dự kiến cải
tạo xã hội tư bản theo mô hình của sản xuất nhỏ và chế độ kinh tế hàng hóa
nhỏ trước chủ nghĩa tư bản. Đặc tính của tất cả các quan điểm tiểu tư sản,
theo đánh giá của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, là không
tưởng và phản động. Nó không tưởng vì muốn phá bỏ những sự phát triển
khách quan phù hợp với quy luật của sự tiến hóa xã hội ngay khi những quy
luật đó đó bộc lộ trên thực tế. Nú phản động vì muốn quay ngược sự phát
triển đó về quá khứ. Nó nhìn tương lai của sự phát triển ở những quan hệ kinh
tế-xã hội lỗi thời đó bị lịch sử gạt bỏ trên con đường tiến hóa.
Trong lịch sử sự phát triển của tư tưởng kinh tế nói chung, kinh tế
chính trị học tiểu tư sản chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Việc nghiên cứu
nó có tầm quan trọng không chỉ về ý nghĩa lịch sử của vấn đề mà còn đối với
cả quá trình nhận thức và phát triển tiếp tục, ngày càng cao hơn của các tư
tưởng và học thuyết kinh tế hiện đại.
II. HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA XI-XMÔN-ĐI (SISMONDI)
1. Sơ lược tiểu sử
Trong lịch sử kinh tế chính trị, Sismondi chiếm một vị trí đặc biệt. Một
mặt, ông là người bảo vệ nhiệt thành nhất nền sản xuất nhỏ, chống lại một
3


cách quyết liệt nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, và với tư cách ấy, ông trở
thành một trong các đại biểu nổi tiếng nhất của tư tưởng kinh tế tiểu tư sản.
Ông cũng được C.Mác coi là người sáng lập và đứng đầu trường phái này ở
nước Pháp. Mặt khác, cũng theo đánh giá của Mác, Sismondi còn là người đại
biểu cuối cùng của kinh tế chính trị học cổ điển Pháp. C.Mác viết: Nếu như
với Ricardo, kinh tế chính trị học đã đưa ra được tất cả những kết luận cuối
cùng của mình và do đó mà đã được hoàn thiện thì Sismondi lại bổ sung cho
những kết luận này bằng việc nghi ngờ nó. Vị trí đặc biệt đó của Sismondi
trong lịch sử kinh tế học đã quyết định phương pháp luận nghiên cứu và
những khuynh hướng phát triển lý luận ở ông. Ngoài ra, ông còn là một trong
những đại biểu của chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, một trào lưu tư tưởng và lý
luận độc đáo phát triển mạnh mẽ ở Pháp những năm đầu thế kỷ XIX.
Sismondi (Jan Charle Léonard Sismond de Sismondi) sinh ngày 9-51773 tại miền phụ cận Giơ-ne-vơ (Thụy - Sĩ). Là con một mục sư có tiếng
trong giới quý tộc của thành phố Giơ-ne-vơ. Sismondi sớm có được một môi
trường giao tiếp rộng rãi và thuận lợi trong xã hội. Do hoàn cảnh lịch sử,
Sismondi chỉ được coi là người Thụy - Sĩ xét về mặt nguồn gốc và tình cảm.
Về tính cách, ông hoàn toàn là một người Pháp và sau này, trong cuộc đời
nghiên cứu khoa học của mình, Sismondi chỉ viết bằng tiếng Pháp. Tất cả các
công trình nghiên cứu khoa học của ông đều được xuất bản tại Paris và một
phần quan trọng của cuộc đời ông cũng trải qua ở nước Pháp.
Sau khi không học hết được bậc trung học, năm 18 tuổi Sismondi đến
Ly-on (Pháp) làm thư ký cho một nhà buôn vốn là bạn thân của cha. Chẳng
bao lâu sau, cuộc cách mạng do phái Gia-cô-banh (Jacobin) tiến hành đã lan
đến Ly - ông và bao trùm cả Giơ-ne-vơ là phần đất luôn gắn chặt với nước
Pháp. Biến cố này đã đẩy gia đình Sismondi vào một cuộc sống lưu vong liên
miên. Đầu năm 1793, ông cùng gia đình sinh sống ở nước Anh, nhưng cũng
chỉ được một năm rưỡi - lần này họ phải chạy đến miền Bắc I-ta-li-a mà
4


không lâu sau đó lại bị quân Pháp chiếm đóng. Năm năm liên tục, Sismondi
quản lý một trang trại không lớn ở miền Tô - xcan. Cũng trong thời gian đó,
ông đã phải mấy lần vào tự vì bị nghi ngờ là một người hoạt động chính trị.
Năm 1798, Giơ-ne-vơ trở thành một phần đất của nước Pháp dưới sự cai quản
của Na-pô-lê-ông Bô-na-pác. Sau sự kiện này, gia đình Sismondi mới trở về
quê của mình.
Đến lúc này, Sismondi đã bộc lộ rõ khả năng và thiên hướng của mình.
Năm 1803, ông công bố tác phẩm kinh tế chính trị đầu tiên của mình dưới tên
gọi Sự giàu có trong thương nghiệp. Ông được đánh giá như là một học trò và
người truyền bá tư tưởng của A.Smith. Ông cũng giao du rộng rãi với giới văn
học và chịu ảnh hưởng của nó rất nhiều trong sáng tác của mình sau này. Lĩnh
vực mà ông say mê hơn cả lịch sử, chính ông là người đã viết ra bộ sách nhiều
tập Lịch sử các nước cộng hòa Italia. Năm 1813, Sismondi đến Pa - ri, ở đó
ông được chứng kiến thất bại của Na-pô-lê-ông và sự phục hồi triều đại Buốc
- bông. Tấn thảm kịch “Một trăm ngày đêm” đó có tác dụng biến ông từ một
người chống đối trở thành người bảo vệ Na-pô-lê-ông và hy vọng rằng chính
thể mới sẽ thực hiện được những tư tưởng mơ hồ của ông về tự do và hạnh
phúc.
Sau khi Na-pô-lê-ông thất bại hoàn toàn, Giơ-ne-vơ lại thuộc về Thụy Sĩ, Sismondi trở về quê mình và chính ở đây, vào năm 1819 ông đó cho xuất
bản cuốn sách “Những nguyên tắc mới của kinh tế chính trị học, hay là
nghiên cứu về mối quan hệ của nó đối với vấn đề dân số”. Cuốn sách này
nhanh chóng nổi tiếng ở châu Âu. Tám năm sau, năm 1827 ông tái bản nó và
có bổ sung thêm những cuộc luận chiến với D.Ricardo và trường phái Say ở
Pháp. Trong cuốn sách này, ông coi cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước Anh
năm 1825 là một chứng cứ rõ rệt cho sai lầm của D.Ricardo về lý luận thực
hiện sản phẩm. Cũng ở đây, Sismondi nổi lên như một nhà tư tưởng đạo đức

5


bênh vực quyền lợi của người nghèo trước sự phát triển ồ ạt của phương thức
sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
Sismondi kết hôn với một phụ nữ Anh từ năm 1818, nhưng họ không
có con. Những năm cuối đời, Sismondi sống thầm lặng và dành tất cả thời
gian cho việc viết cuốn sách đồ sộ Lịch sử người Pháp gồm 20 tập (cũng chưa
phải là toàn bộ). Sismondi còn công bố thêm hàng loạt tác phẩm khác trong
lĩnh vực lịch sử và chính trị. Đương thời, người ta thường biết Sismondi với
tư cách nhà sử học hơn là một nhà kinh tế. Chỉ có hậu thế mới dần dần và
ngày càng ý thức được đầy đủ hơn về người đại biểu nổi tiếng này của trường
phái kinh tế chính trị tiểu tư sản.
2. Những lý luận cơ bản
Quá trình hình thành những quan điểm kinh tế của Xi - xmôn - đi có
thể chia ra làm hai giai đoạn chủ yếu.
Trong thời gian đầu tiên sống ở nước Anh (những năm 90 của thế kỷ
XVIII), được mục kích cuộc cách mạng công nghiệp đó mang lại bộ mặt mới
cho nền kinh tế Anh, Sismondi cũng được làm quen với các tác phẩm kinh tế
của A.Smith. Giai đoạn này đã quyết định những quan điểm kinh tế đầu tiên
của ông và đưa ông trở thành người bảo vệ và ủng hộ trường phái Cổ điển.
Tác phẩm “Về sự giàu có của thương nghiệp” (1803) là một sự tuyên truyền
nhiệt thành cho học thuyết của A.Smith.
Tuy nhiên, sau thời gian sống ở nước Anh lần thứ hai, tức là từ 1815
trở đi, Sismondi lại nhìn rõ mặt trái của chủ nghĩa tư bản công nghiệp đang
phát triển - sự tàn phá nền sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân và thợ thủ
công. Giai đoạn này là giai đoạn quyết định chuyển ông từ lập trường của
trường phái cổ điển sang lập trường tiểu tư sản.
Ông kịch liệt phê phán chủ nghĩa tư bản và học thuyết của những
người cổ điển, đồng thời đứng về phía những người sản xuất nhỏ, độc lập và
6


bênh vực quyền lợi của họ trước sự tiến công của chủ nghĩa tư bản. Từ lập
trường này đó hình thành nên những quan điểm kinh tế đặc trưng của ông những quan điểm kinh tế tiểu tư sản. Không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách
tiêu biểu của ông lại được đặt tên là “Những nguyên tắc mới của kinh tế chính
trị học...”. Ý đồ rõ rệt của ông là xây dựng một hệ thống lý luận khác với
trường phái Cổ điển, một hệ thống hướng vào bênh vực tư tưởng cho giai cấp
Tiểu tư sản trước nguy cơ đe dọa lợi ích kinh tế và xã hội từ phía sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản. Những sự phân tích và kết luận của Sismondi đối với
các vấn đề kinh tế cùng những cương lĩnh thực tế của ông là nhằm thực hiện
triệt để nhiệm vụ tư tưởng này.
a.Sự phê phán chủ nghĩa tư bản:
Sismondi là người đặt cơ sở cho sự phê phán tiểu tư sản đối với nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội tư bản. Khác với A.Smith và
D.Ricardo, Sismondi coi đây là một nhiệm vụ sống còn đối với hệ thống lý
luận mới của ông. Điểm đặc trưng của Sismondi - như V.I.Lênin nhận xét là
ông vạch rõ những mâu thuẫn “thực tế và cụ thể của chủ nghĩa tư bản”.
Sismondi khái quát bốn mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản:
- Sản xuất mang tính vô Chính phủ.
- Sự mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dựng.
- Sự phát triển máy móc dẫn tới tình trạng thất nghiệp lớn.
- Khủng hoảng sản xuất thừa và những hậu quả của nó.
Song, sự phê phán này mang nặng tính chất tình cảm. Đó là sự phê
phán từ quan điểm của giai cấp tiểu tư sản, của những người đang bị phân rã,
bị phá hủy địa vị độc lập do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gây ra. Và sự
phê phán đó là sự phản kháng đương nhiên của người sản xuất nhỏ. V.I.Lênin
đã viết rằng: Sở dĩ Sismondi phê phán chủ nghĩa tư bản là vì nó phá hủy “địa
vị đó được bảo đảm của những người sản xuất nhỏ”. Ai cũng biết rằng chủ
7


nghĩa tư bản càng phát triển, càng làm tan rã những người sản xuất nhỏ độc
lập, càng đẩy họ tới bờ vực của sự phá sản và họ luôn luôn đứng trước nguy
cơ rơi xuống hàng ngũ của những người vô sản. Sismondi kết tội chủ nghĩa tư
bản là chế độ đã mở rộng chế độ làm thuê, đã đẩy người lao động vào tình
cảnh nghèo khổ, bị bóc lột và áp bức tàn nhẫn. Ông lên án chế độ này đã làm
cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự xa hoa giàu có của giai cấp
tư sản ngày càng tăng và có nguy cơ không bị giới hạn. Ông xót thương
những người thất nghiệp ngày càng nhiều do sự mở rộng của nền đại công
nghiệp tư bản chủ nghĩa gây ra.
Có thể nói, Sismondi hoàn toàn đúng đắn khi vạch trần những mất cân
đối của chủ nghĩa tư bản, những quá trình đầy mâu thuẫn của nó. Song, ông
đó không chỉ ra được nguyên nhân của những căn bệnh này của xã hội tư bản
chủ nghĩa. Gốc rễ của sai lầm này là thái độ tiêu cực đối với sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sản xuất tiến bộ của lịch sử.
Do đó, ông bác bỏ khả năng và con đường phát triển tất yếu của phương thức
này.
Sismondi coi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản là một sai lầm của
lịch sử, là sự chệch đường khỏi những giá trị đạo đức cơ bản của con người.
Là người chứng kiến tận mắt những biến đổi lớn lao do chủ nghĩa tư bản
mang lại ở nước Anh, Sismondi lại nhận định một cách sai lầm về con đường
phát triển mang tính chất phổ biến ấy. Thật là chủ quan khi ông khuyên nước
Pháp đừng đi theo con đường của nước Anh tư bản chủ nghĩa, đừng bắt chước
những gì đã gây đau khổ cho con người ở nước Anh, rằng nước Pháp vẫn còn
có khả năng lựa chọn mà chưa muộn, một con đường mà không làm cho
những người sản xuất nhỏ bị phá sản.
Sismondi lên án chủ nghĩa tư bản là một chế độ đã hy sinh con người
vì những lợi ích vật chất, vì sự làm giàu cho giai cấp tư sản lớn. Ông phê phán

8


mục đích sản xuất tự nó của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, coi đó là
một sự hy sinh tiêu dùng của con người trong xã hội.
Có thể thấy rõ, Sismondi có một cách nhìn hoàn toàn sai lầm về chủ
nghĩa tư bản. Ông không thấy được xu hướng phát triển khách quan, tất yếu
và hợp quy luật của chế độ này. Do đó, ông vẫn phủ nhận, bác bỏ nó ngay cả
khi nó đó thể hiện là một khuynh hướng không thể đảo ngược được. Việc ông
nhìn chủ nghĩa tư bản chỉ là một hệ thống đầy rẫy những mâu thuẫn và trái
với đạo lý chung của con người chỉ càng làm bộc lộ rõ nét hơn đặc tính tiểu tư
sản trong phương pháp luận của ông. Điều này càng thể hiện rõ nét hơn khi
ông kêu gọi và hy vọng sự giúp đỡ của Nhà nước tư sản vào việc sửa chữa sai
lầm trên con đường phát triển, hướng sự phát triển của xã hội vào việc nâng
đỡ những người sản xuất hàng hóa nhỏ, độc lập.
Nhưng đó mới chỉ là một mặt trong phương pháp phê phán chủ nghĩa
tư bản theo quan điểm tiểu tư sản của Sismondi. Phủ nhận một chế độ xã hội
tiến bộ trong lịch sử, lên án nó từ góc độ tình cảm và đạo đức chung chung,
trừu tượng - đó là đặc tính lãng mạn và không tưởng của Sismondi. Mặt thứ
hai trong phương pháp phê phán sai lầm của ông với tư cách là một nhà tư
tưởng của giai cấp tiểu tư sản chính là tính chất phản động - mà C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nhận xét - của sự phê phán chủ nghĩa tư bản. Vấn đề là ở chỗ
để bác bỏ và phủ nhận chủ nghĩa tư bản, Sismondi đó đem đối lập chế độ này
với nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân và thợ thủ công trong quá
khứ. Ông viết rằng, muốn khắc phục được chủ nghĩa tư bản với tất cả những
mâu thuẫn của nó chỉ có một con đường là trở lại với nền kinh tế tiểu nông và
thủ công mà ở đó, như ông khẳng định là không có tình trạng bóc lột công
nhân làm thuê, không có tình trạng sản xuất quá mức tiêu dùng, không có
khủng hoảng và thất nghiệp. Ông ca ngợi chế độ kinh tế này là một chế độ lấy
tiêu dùng của con người làm mục đích cao cả, một chế độ biết hy sinh cho lợi
ích tiêu dùng của cá nhân và do đó là một chế độ hợp đạo đức lý tưởng.
9


Cần phải chỉ ra rằng Sismondi đã phạm những sai lầm nghiêm trọng
khi ông bênh vực một cách mù quáng nền kinh tế tiểu nông và thợ thủ công
nhỏ. Như V.I.Lênin đã chỉ rõ “ông không hiểu được mối liên hệ giữa sản xuất
nhỏ - mà ông lý tưởng hóa với nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa - mà ông
phê phán”. Ông càng không hiểu được do đâu mà người sản xuất nhỏ độc lập
đáng yêu của ông đã biến thành một người tiểu tư sản. Lên án sản xuất lớn tư
bản chủ nghĩa, song lại lý tưởng hóa sản xuất nhỏ, Sismondi đã đứng một
chân trên mảnh đất của chủ nghĩa tư bản để phê phán nó. Ông không hiểu
được xu hướng phát triển tất yếu - mà thực tế đó chứng tỏ - của sản xuất
hàng hóa nhỏ tới chủ nghĩa tư bản. Với mong muốn quay ngược tiến trình
phát triển ấy của xã hội, Sismondi đã thể hiện giới hạn chật hẹp của con mắt
tiểu tư sản, hơn nữa là tính chất phản động trong cương lĩnh thực tiễn của
mình. C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch rõ tính chất phản động của cương lĩnh
tiểu tư sản. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn cộng sản”, các ông chỉ ra rằng mưu
toan của những người tiểu tư sản là không tưởng và phản động.
Như vậy, trong vấn đề có tính chất nguyên tắc phương pháp luận là
vấn đề phê phán chủ nghĩa tư bản, Sismondi đã xứng đáng là nhà tư tưởng
điển hình của giai cấp tiểu tư sản. Thái độ tiêu cực và phản động của ông
trong khi phê phán chủ nghĩa tư bản là do chính hoàn cảnh lịch sử đó làm xuất
hiện sự phản kháng của người sản xuất hàng hóa nhỏ đối với sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản quy định. Phương pháp tư tưởng này, tức là phương pháp lên
án chủ nghĩa tư bản theo quan điểm tiểu tư sản, là cơ sở cho sự phân tích các
phạm trù và quá trình kinh tế trong chủ nghĩa tư bản mà ông đó tiến hành
nhằm mục đích bênh vực quyền lợi của những người sản xuất nhỏ, độc lập.
b. Lý luận giá trị
Lý luận giá trị của A.Smith và D.Ricardo được Sismondi thừa nhận và
sử dụng. Ông khẳng định một cách chắc chắn rằng, lao động là nguồn gốc
duy nhất của của cải. Ông cũng đi xa hơn cả D.Ricardo trong việc xác định
10


lượng giá trị, vạch rõ mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng, song ông
không hiểu được cơ sở của nó. Giống như A.Smith, Sismondi nhận xét được
sự chênh lệch của giá cả với giá trị của hàng hóa, song lại coi đó như là một
sự vi phạm quy luật giá trị trong chủ nghĩa tư bản. Để khắc phục sự chênh
lệch này, ông hy vọng rằng một xã hội dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân nhỏ
sẽ có thể phân bố một cách hợp lý các tỷ lệ lao động .
c. Lý luận tiền tệ
Vấn đề tiền tệ được Sismondi nghiên cứu một cách cẩn thận và ông đó
đưa ra một số luận điểm khoa học đúng đắn. Chẳng hạn, ông coi tiền cũng là
một loại hàng hóa, nhưng là hàng hóa đặc biệt có chức năng làm thước đo
chung của giá trị. Ông còn tiến xa hơn D.Ricardo trong việc phân biệt tiền tín
dụng và tiền giấy. Song nói chung ông vẫn còn dừng lại trước bản chất bí ẩn
của tiền tệ và nguồn gốc phát sinh của nó. Chính vì vậy, ông thường lên án
đồng tiền một cách không thương tiếc. Chủ nghĩa tư bản cũng nhiều lúc bị
ông quy thành nền kinh tế tiền tệ và ông cho rằng có thể sửa chữa được nó
bằng việc phát triển một chế độ, mà ở đó vai trò của đồng tiền được giảm nhẹ
(rõ ràng là ông muốn nói đến một nền sản xuất hàng hóa nhỏ).
d. Lý luận tư bản
Sismondi quan niệm tư bản là những dự trữ sản xuất thông thường, bao
gồm chủ yếu là các tư liệu sản xuất. Như vậy, ông không vượt qua được quan
niệm tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử của D.Ricardo về tư bản. Ông cũng
không đem lại điểm gỡ mới mẻ so với A.Smith và D.Ricardo trong việc phân
chia tư bản cố định và tư bản lưu động. Song, ông đưa ra được một luận điểm
quan trọng nói rằng tư bản lưu động được tái sản xuất toàn bộ trong năm.
Sismondi vạch rõ hơn A.Smith và D.Ricardo tính chất bóc lột của lợi
nhuận tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định rằng lợi nhuận là sự khấu trừ từ sản
phẩm lao động của công nhân và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Đây là một trọng
11


tâm phê phán của ông đối với chủ nghĩa tư bản. Sự phê phán này nói chung
được ông nâng lên thành những quan điểm về đạo đức, về “lòng từ thiện”.
Cũng với một quan điểm như vậy, Sismondi coi tiền công của công
nhân phải bằng toàn bộ giá trị sản phẩm lao động và sự vi phạm nguyên tắc
này là một đặc trưng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính
phương thức này đó tạo nên sự bóc lột công nhân làm thuê, sự tước đoạt
những tư liệu lao động của người sản xuất mà trong các xã hội trước không hề
có. Đây là bằng chứng rõ ràng về việc Sismondi đã không hiểu được bản chất
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và ông chỉ đứng trên quan điểm
của người nghèo, người bị bóc lột mà phê phán nó. Trong sự phát triển của tư
tưởng kinh tế sau này, người ta cũng bắt gặp những quan điểm mang tính chất
“xã hội chủ nghĩa ấu trĩ” kiểu như vậy ở Lát - xan, một trong những đại biểu
điển hình của lý luận xã hội chủ nghĩa tiểu tư sản trong phong trào công nhân
Đức.
e. Lý luận địa tô
Trong vấn đề địa tô, sự giải thích của Sismondi cũng giống như của
A.Smith và D.Ricardo. Song, ở đây ông có một cống hiến khoa học thật sự
khi khẳng định rằng địa tô không chỉ tồn tại trên những mảnh đất tốt mà còn
có cả những mảnh đất xấu nhất. Đó chính là địa tô tuyệt đối mà C.Mác phân
tích sau này. Điều khẳng định của Sismondi về sự tồn tại của địa tô ở khắp nơi
là một sự giải thích đúng đắn hiện thực lúc đó, khi mà phương thức tư bản
chủ nghĩa đó chiến thắng trong lĩnh vực nông nghiệp chẳng những ở Anh mà
còn ở Pháp nữa.
f. Lý luận phân phối
Có thể nói, trung tâm trong học thuyết của Sismondi là vấn đề phân
phối và thực hiện sản phẩm. Tuy nhiên trong vấn đề này ông không có đóng
góp gì quan trọng. V.I.Lênin đã nhận xét về Sismondi như sau: “...Khi không
hiểu rõ các quan niệm về sản xuất (ví dụ khi không hiểu quá trình sản xuất
12


của tổng tư bản xã hội), thì mọi sự suy luận về tiêu dùng và phân phối trở
thành những điều vô vị hay những ước vọng lãng mạn ngây thơ. Sismondi là
người sáng lập ra những luận điểm như vậy”.
Trước hết, Sismondi không hiểu được mục đích thực sự của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Ông coi mục đích đó là tiêu dùng, chứ không phải là
giá trị thặng dư. Xuất phát từ “giáo điều A.Smith”, ông đi đến kết luận rằng
sản xuất cần phải phù hợp với tiêu dùng, mà tiêu dùng thì lại được quyết định
bằng các thu nhập. Nhưng quan điểm của Sismondi về tiêu dùng cũng là một
quan điểm phi kinh tế chính trị, ông chỉ giới hạn ở tiêu dùng cá nhân mà bỏ
qua tiêu dùng sản xuất. Do đó, theo ông thì để thực hiện hết số sản phẩm sản
xuất ra, cần phải làm cho sản xuất hoàn toàn tương ứng với các thu nhập của
xã hội. Ông đó không nhìn thấy vấn đề tích lũy tư bản, không phân biệt được
tư bản và thu nhập theo quan điểm xã hội - tức là tiêu dùng cá nhân và tiêu
dùng sản xuất. Chúng ta đã thấy sai lầm nghiêm trọng trong việc phủ nhận sự
tồn tại của tư bản bất biến trong tổng sản phẩm xã hội mà A.Smith đã mắc
phải. Ở đây Sismondi hoàn toàn lặp lại quan điểm này của A.Smith và đi tới
chỗ phủ nhận tích lũy tư bản. Thật là dễ hiểu điều này, bởi vì nếu thừa nhận
tích lũy tư bản chủ nghĩa về mặt lý luận thì đương nhiên là phải thừa nhận
quan hệ phân phối tư bản chủ nghĩa, thừa nhận sự phân chia sản phẩm xã hội
trái với đạo lý của người tiểu tư sản. Với tư cách là người bảo vệ tư tưởng cho
những người sản xuất nhỏ độc lập, Sismondi không thể chấp nhận một “thực
tế đau lũng” như vậy.
Sismondi đó nêu lên một luận điểm sai lầm về sự quyết định của tiêu
dùng đối với sản xuất. Theo ông, nếu sản xuất vượt qua tổng thu nhập của các
giai cấp xã hội thì sản phẩm sẽ không được thực hiện, nói đúng ra là đối với
bộ phận trội ra đó, nếu như không nhờ vào thị trường bên ngoài. Đó cũng
chính là cách giải thích của ông về nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng
kinh tế trong chủ nghĩa tư bản.
13


Rõ ràng, sự khẳng định của Sismondi về tính chất tất yếu của các cuộc
khủng hoảng sản xuất thừa là một đóng góp quý báu cho lý luận kinh tế.
Song, ông rút ra kết luận đó từ những quan điểm sai lầm của mình về vấn đề
thực hiện trong chủ nghĩa tư bản, về sự không theo kịp của tiêu dùng so với
sản xuất, về sự thu hẹp của thị trường trong nước do thu nhập của công nhân
ngày càng giảm sút. Như vậy, ông cũng chưa đưa ra được bản chất cuối cùng
của khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là vấn đề nguyên nhân thật sự của căn bệnh
này của chủ nghĩa tư bản. Để bác bỏ tính chất hợp lý của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa, Sismondi đưa ra ví dụ về một người thợ đóng giày
trong nền sản xuất nhỏ, họ không bao giờ làm thêm quá một đôi giày nếu như
không có ai đặt hàng cho anh ta. Ông ca ngợi một nền sản xuất bị giới hạn bởi
nhu cầu tiêu dùng như vậy và khẳng định tính chất ưu việt của nó so với chủ
nghĩa tư bản: không có sản xuất thừa, không có khủng hoảng. Đây là một lý
luận mang tính chất tiểu tư sản một trăm phần trăm. Sismondi còn có một
quan niệm độc đáo khác trong vấn đề thực hiện. Sự bênh vực người sản xuất
nhỏ còn dẫn ông tới chỗ khẳng định rằng những người này chính là những
người cứu tinh của chủ nghĩa tư bản. Ông lý luận rằng muốn có tích lũy tư
bản thì phải có “người thứ ba” đóng vai trò là những người mua. Những
người thứ ba này không ai khác chính là những người sản xuất nhỏ bị tan rã ở
trong nước trong điều kiện có ngoại thương. Tuy vậy, ông cũng coi những khả
năng này chỉ có trong chừng mực mà nền văn minh chưa đạt tới mức biến tất
cả các nước tư bản chủ nghĩa thành một thị trường thống nhất. Từ lập luận đó
ông đi tới bác bỏ tính chất hợp lý của chủ nghĩa tư bản. Lối thoát duy nhất
một lần nữa được Sismondi nhắc lại là việc duy trì những người sản xuất
nhỏ, độc lập và nền kinh tế của họ.
g. Cương lĩnh thực tế của Sismondi
Xuất phát từ những quan điểm lý luận sai lầm mang đậm nét tính chất
tiểu tư sản, Sismondi đã nêu ra một cương lĩnh thực tiễn nhằm cải tạo xã hội
14


tư bản theo những chuẩn mực đạo đức của người sản xuất nhỏ. Từ chỗ là
người tán thành học thuyết của trường phái cổ điển, ông đi tới phủ nhận bác
bỏ tính chất hợp lý của nó khi được chứng kiến sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản đang đi tới đe dọa sự sống còn của giai cấp tiểu tư sản. Ông phê phán gay
gắt lý thuyết tự điều chỉnh nền kinh tế của A.Smith và D.Ricardo và đòi Nhà
nước phải can thiệp rộng rãi vào nền kinh tế. Mục đích của việc can thiệp đó
như ông chỉ ra là nhằm giữ lại trật tự của nền sản xuất hàng hóa nhỏ và “tầng
lớp thứ ba” - tức là những người sản xuất bị phân rã; không để tình trạng tập
trung sản xuất và của cải phát triển như trong chủ nghĩa tư bản; xây dựng một
chế độ kinh tế hợp lý mà các tế bào của nó là các xưởng thủ công nhỏ, bảo vệ
chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ cho người tiểu nông.
Sismondi lớn tiếng kêu gọi Nhà nước hãy tự biến mình thành người
biểu hiện lợi ích của tất cả các giai cấp xã hội. “Nhà nước tồn tại vỡ lợi ích
của tất cả những người phụ thuộc vào nó, bởi vậy nó phải luôn luôn quan tâm
đến quyền lợi chung... cần phải hướng tới một trật tự có thể đảm bảo sự thỏa
thuận chung, niềm vui và nỗi buồn giữa người giàu và người nghèo, một trật
tự mà trong đó không có ai đau khổ”. Đó là một tuyên ngôn nổi tiếng của
Sismondi về Nhà nước. Rõ ràng đó là một nhận thức mơ hồ chủ quan về bản
chất giai cấp của Nhà nước tư bản. Đó là tiếng kêu cứu tuyệt vọng của những
người sản xuất nhỏ trước nguy cơ bị sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm
cho tan rã. Cương lĩnh của Sismondi vì vậy trước hết là một cương lĩnh không
tưởng.
Cương lĩnh đó còn mang tính chất phản động khi mà nó hướng vào
việc xây dựng một xã hội tương lai trên cơ sở của một nền sản xuất nhỏ và
theo những nguyên tắc đạo đức của người sản xuất nhỏ. Nguyên tắc ấy là sự
sở hữu nhỏ trong kinh tế tiểu nông ở nông thôn, trong xưởng thợ thủ công ở
thành thị. Theo cương lĩnh ấy thì chủ nghĩa tư bản đã phạm phải sai lầm khi
nó đe dọa phá bỏ, và trên thực tế ngày càng phá bỏ với quy mô to lớn hơn
15


những trật tự lý tưởng mà nền sản xuất nhỏ đã tạo nên. C.Mác đã vạch rõ
“tính chất phản động” trong những dự án kiểu đó của những người tiểu tư
sản. Ông viết rằng, theo quan điểm của Sismondi thì “sự phát triển của toàn
nhân loại phải bị kìm hãm lại để đảm bảo hạnh phúc cho những cá nhân riêng
lẻ”, tức là những người sản xuất nhỏ, độc lập trước chủ nghĩa tư bản. Cương
lĩnh thực tế của Sismondi là một phần cấu thành nên học thuyết “chủ nghĩa xã
hội tiểu tư sản” mà ông là người đặt cơ sở cho nó. Đó là một thứ chủ nghĩa xã
hội không tưởng và phản động - như C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch rõ. Lý
tưởng cao nhất của nó là chế độ phường hội.
Và vì nó được xây dựng trên cơ sở quan điểm của một giai cấp đang bị
tan rã, biến mất cộng với đà phát triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ
nghĩa, cho nên cuối cùng nó chỉ còn là “một lời oán thán hèn nhát
III. HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA PRU – ĐÔNG (J.P.PROUDHON)
1. Sơ lược tiểu sử:
Pru-đông (J. P. Proudhon) sinh ngày 15-01-1809, trong một gia đình
nông dân nghèo ở Pháp. Nguồn gốc xuất thân của Proudhon dường như đó
quy định ông trở thành một nhà tư tưởng “chính cống”, “một trăm phần trăm
của giai cấp tiểu tư sản” (theo cách đánh giá của C.Mác). Lớn lên, ông có một
thời kỳ làm công nhân, song điều đó không làm mất đi ở ông cái thế giới quan
của người tiểu tư sản. Học vấn của Proudhon phần lớn là do ông tự trau dồi
cho mình, ông không có được một sự giáo dục cơ bản và có hệ thống. Các
kiến thức về lý luận, đặc biệt là kinh tế chính trị học và triết học là do ông tự
nghiên cứu. Mãi đến năm 1838, tức là lúc 29 tuổi, ông mới lấy được bằng tú
tài.
Tuổi trẻ của Proudhon là một tuổi trẻ sôi nổi với nhiều hoạt động thực
tế phong phú. Những năm 1844-1845, ông làm quen với nhóm Hê - ghen trẻ
lưu vong ở Pari cùng với C.Mác. Giữa ông và C.Mác đó có một tình bạn
nhưng luôn luôn có nguy cơ tan vỡ vì bất đồng quan điểm. C.Mác vẫn luôn
16


luôn hy vọng và lôi cuốn Proudhon đứng về phía lập trường của giai cấp vô
sản. Song, do không thể thoát khỏi ảnh hưởng của hệ tư tưởng tiểu tư sản,
Proudhon ngày càng trở nên đối lập với C.Mác. Tình bạn giữa ông với C.Mác
đã thật sự chấm dứt sau khi ông xuất bản cuốn sách “Hệ thống những mâu
thuẫn kinh tế hay triết học của sự khốn cùng” (1840), trong đó ông kịch liệt
chống lại chủ nghĩa cộng sản và phong trào công nhân.
Proudhon đã từng được bầu làm đại biểu Quốc hội lập hiến trong thời
kỳ cách mạng tháng 2-1848, nổi tiếng là một người chủ trương vô Chính phủ
và thay thế Nhà nước bằng các mối quan hệ thỏa hiệp giữa các giai cấp, cá
nhân, công xã và nhóm người sản xuất, dựa trên cơ sở của “trao đổi tương
đương”. Từ 1849 đến 1852, Proudhon lại bị bỏ tù vì những bài báo chống đối
gay gắt Louis Napoleon. Ông là người ủng hộ cuộc đảo chính tháng 2-1852
của Bonapatre, hy vọng ở đó một mô hình của cuộc cách mạng xã hội mà ông
chủ trương. Năm 1858, ông lại bị bỏ tù lần thứ hai vì đã viết cuốn sách “Về
chính nghĩa của cách mạng và nhà thờ”. Sau khi trốn khỏi nhà tù, ông sống
lưu vong ở Bỉ cho đến năm 1862 mới trở về Pháp khi có lệnh ân xá. Ông là
người biện hộ chiến tranh như là một “nguồn gốc của quyền lực”, chủ trương
thủ tiêu Nhà nước, sau thay bằng kế hoạch phân tán tập trung hiện đại thành
những lĩnh vực tự trị nhỏ.
Proudhon mất năm 1865, lúc ông 56 tuổi.
Đặc trưng của Proudhon là chủ nghĩa duy tâm siêu hình và duy ý chí.
Dựa vào quan điểm của Platon về tính thứ nhất của tư tưởng, Proudhon cố
gắng xây dựng các học thuyết của mình về tính công bằng vĩnh cửu đạt được
bằng con đường hòa bình. Ông cũng chịu ảnh hưởng của Hê - ghen, song chỉ
hấp thụ được triết học của Hê - ghen những yếu tố ít khoa học nhất và hạn chế
nhất.
Trong cuộc đời mình, Proudhon viết khá nhiều tác phẩm. Song, như
C.Mác đánh giá, ít có tác phẩm được coi là giá trị về khoa học. Công lao lớn
17


của Proudhon là ở một phương diện khác: ông đặt ra những vấn đề kì lạ, độc
đáo cho sự tranh luận. Bởi vây, cuộc đấu tranh của C.Mác và Ph.Ăngghen với
các quan điểm của Proudhon được các ông coi là có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong việc hình thành những quan điểm tư tưởng mác - xít của mình.
2. Những lý luận cơ bản
Tư tưởng kinh tế đầu tiên của Proudhon bắt đầu được trình bày trong
tác phẩm Sở hữu là gì được viết năm 1840. Song, chúng đem lại những nét
điển hình nhất cho chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí của ông. Kết luận nổi tiếng
của ông trong cuốn sách là “sở hữu- đó là sự ăn cắp” có thể coi là nét độc
đáo của riêng ông. Nó cũng mở đầu cho sự xuất hiện một loạt quan điểm kinh
tế khác của Proudhon theo tinh thần của chủ nghĩa duy tâm siêu hình.
a. Các phạm trù kinh tế và vấn đề sở hữu
Các phạm trự kinh tế của Proudhon được coi là tùy tiện, không có
quan hệ với các quan hệ sản xuất, không chứa đựng những nội dung khách
quan. Ông khẳng định một cách chủ quan rằng trong mỗi sự vật đều có hai
mặt: “mặt tốt” và “mặt xấu” và phát triển sự vật tức là làm cho “mặt tốt”
nhiều lên, “mặt xấu” ít đi. Vận dụng nó vào phân tích vấn đề sở hữu, ông cho
rằng sở hữu tự thân có mặt tốt là bảo đảm cho sự độc lập tự do cho người sở
hữu nhưng có mặt xấu là phá hủy sự bình đẳng. Từ đó, ông đi tới một giải
pháp có tính chất cương lĩnh nhằm cải tạo chủ nghĩa tư bản, duy trì, củng cố
sở hữu nhỏ, thủ tiêu sở hữu lớn. Rõ ràng ở đây, Proudhon cũng sai lầm không
khác gì Sismondi: ông không hiểu được rằng sản xuất hàng hóa nhỏ là điểm
xuất phát của chủ nghĩa tư bản, rằng giữa sản xuất nhỏ và sản xuất tư bản có
một mối liên hệ chặt chẽ.
b. Lý luận giá trị
Trong vấn đề lý luận giá trị, Proudhon có cố gắng đặt vấn đề một cách
biện chứng. Cụ thể, ông cảm nhận được và muốn vạch rõ mâu thuẫn biện
18


chứng giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Tuy nhiên, trên thực tế,
Proudhon lại giải quyết vấn đề một cách duy tâm và tùy tiện. Coi giá trị sử
dụng là hiện thân cho sự dồi dào của cải, còn giá trị trao đổi thì thể hiện
khuynh hướng khan hiếm của nó. Proudhon đó diễn tả mâu thuẫn nội tại của
hàng hóa là mâu thuẫn giữa sự dồi dào và khan hiếm của cải. Bằng cách đó,
ông hoàn toàn không dựa trên một cơ sở khoa học nào của lý luận giá trị và
phản ánh sai cả hiện thực của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Song, Proudhon
lại dựa vào chính điều khẳng định sai lầm ấy để tiếp tục phát triển lý luận của
mình. Ông đi tới kết luận là muốn thủ tiêu mâu thuẫn trên đây của giá trị sử
dụng và giá trị - tức là mâu thuẫn giữa sự dồi dào và khan hiếm thì cần phải
tạo ra một “giá trị pháp lý”. Vậy phạm trù “giá trị pháp lý” mà Proudhon
phát minh ra là gì?
Theo ông, giá trị là một phạm trù trừu tượng, vĩnh viễn bao gồm hai
mặt đối lập nhau: sự dồi dào và sự khan hiếm. Quá trình trao đổi trên thị
trường là một quá trình lựa chọn sản phẩm độc đáo. Có một số hàng hóa
chiếm lĩnh được thị trường, được thực hiện và lại được sản xuất ra và do đó
trở thành giá trị. Trong khi đó thì một số hàng hóa khác lại không có may mắn
như vậy, không được xã hội thừa nhận. Như vậy là không phải bất kỳ giá trị
nào cũng được thực hiện, được chấp nhận là giá trị chân chính. Trong lời giải
thích của mình, Proudhon đã lấy ví dụ về vàng, bạc làm tiền tệ chẳng hạn ông coi đó là những giá trị pháp lý bởi vì vàng và bạc bao giờ cũng có thể
thực hiện được. Quan niệm sai lầm này của Proudhon là cơ sở cho những ý đồ
cải cách của ông nhằm giữ lại và củng cố nền sản xuất hàng hóa mà thủ tiêu
được những mâu thuẫn của nó - chẳng hạn mâu thuẫn giữa lao động tư nhân
và lao động xã hội, đặc biệt là mâu thuẫn giữa hàng hóa và tiền tệ. Sau này, đi
xa hơn nữa, Proudhon tin tưởng rằng có thể phát triển một nền sản xuất hàng
hóa mà không có tiền và ông luôn luôn ủng hộ cho một tư tưởng như vậy.

19


Giá trị pháp lý cũng là chỗ dựa để Proudhon xây dựng nguyên tắc trao
đổi tương đương của mình. Ông coi thị trường là nơi trao đổi hàng hóa, nhưng
quan trọng hơn là nơi xác định giá trị. Hàng hóa cần thiết bao nhiêu thì chỉ
cần sản xuất bấy nhiêu, và cũng cần một vị trí xác định để thực hiện những
hàng hóa đó. Proudhon cũng không gộp bất cứ một phần dư thừa nào vào
thành phần của cải và không coi chúng là giá trị pháp lý. Cũng bởi vì trao đổi
quan trọng như vậy nên Proudhon đi tới khẳng định cả lao động lẫn trao đổi
đều là nguồn gốc của giá trị.
c. Lý luận tư bản và lợi nhuận
Pru-đong không hiểu rõ ràng về bản chất của lợi nhuận tư bản. Thực
ra, ông cũng lặp lại sai lầm của A.Smith về việc coi giá trị cuối cùng được
phân giải thành các thu nhập, nhưng ông còn đi xa hơn cả A.Smith khi coi lợi
nhuận cũng là một hình thái tiền công và do đó giá trị cũng chỉ được quy về
tiền công mà thôi.
Toàn bộ tư bản được Proudhon quy về tư bản tiền tệ. Lợi tức là hình
thái duy nhất của sự chiếm đoạt giá trị thặng dư. Ông giải thích rằng nhà tư
bản đem lại lợi tức này cộng vào các chi phí làm cho sản phẩm đắt lên và
công nhân không thể mua hết được sản phẩm. Bởi vậy, nếu không còn lợi tức
thì không còn sự bóc lột tư bản chủ nghĩa nữa. Chính quan điểm này đóng vai
trò làm cơ sở lý luận cho một loạt giải pháp mà Proudhon đưa ra nhằm mục
đích cải tạo xã hội tư bản theo mong muốn tiểu tư sản của ông. Cũng giống
như sự phê phán sở hữu, coi sở hữu là nguồn gốc của mọi đau khổ của con
người trong xã hội tư bản, việc lên án lợi tức mà Proudhon chủ trương một
lần nữa lại làm bộc lộ rõ điểm yếu trong phương pháp luận phê phán chủ
nghĩa tư bản của người tiểu tư sản - hoàn toàn bỏ qua những quy luật khách
quan của sự phát triển tư bản chủ nghĩa, chỉ quan tâm tới những hậu quả mà
sự phát triển đó đem lại cho những người sản xuất nhỏ, độc lập và lên án
chúng theo lối tiểu tư sản. Cũng như Sismondi, Proudhon đặt hy vọng vào
20


tầng lớp thứ ba. Proudhon cho rằng nếu không có nó thì không thể thực hiện
được giá trị thặng dư (tức là lợi tức theo quan niệm của ông). Nhân danh
những người thứ ba, ông kêu gọi thủ tiêu tình trạng cạnh tranh cũng như sự
độc quyền, bởi vỡ điều đó sẽ bảo vệ và củng cố địa vị của những người sản
xuất độc lập.
Tóm lại, trong sự phân tích của mình, Proudhon không xây dựng được
một hệ thống phạm trù kinh tế khoa học. Hơn nữa, bản thân các phạm trù kinh
tế ở ông chỉ là sản phẩm của lý trí thuần túy, nó không bắt nguồn từ hoạt động
kinh tế hiện thực, khách quan mà dường như ngược lại, ông hiểu phạm trù
như là nguồn gốc tạo ra những hoạt động ấy.
Bởi vậy, việc thay đổi các quá trình hoạt động kinh tế phụ thuộc vào ý
chí con người, vào mong muốn chủ quan, vào lòng tốt của những người cầm
quyền. Đó cũng là tư tưởng trung tâm chi phối toàn bộ cương lĩnh cải tạo thực
tiễn của Proudhon đối với xã hội tư bản.
d. Cương lĩnh kinh tế của Proudhon
Trước hết phải kể đến mưu toan của Proudhon trong việc tổ chức lại
nền sản xuất hàng húa. Do không hiểu được bản chất của tiền tệ, những mâu
thuẫn giữa hàng hóa và tiền tệ, Proudhon đề nghị tổ chức lại trao đổi trong
một dự án về nền kinh tế hàng hóa không có tiền tệ.
Là người bênh vực nền sản xuất nhỏ và lý tưởng hóa các mối quan hệ
của nó. Proudhon chống lại mạnh mẽ đồng tiền và những tác động do nó gây
ra. Ông xem tiền như là mặt xấu của kinh tế hàng hóa và đề nghị thủ tiêu nó.
Thật ra, ý thức sâu xa của ông là coi thế giới hàng hóa là một thể thống nhất
mà tiền cũng là một thứ hàng hóa thông thường và bất kỳ thứ hàng hóa nào
khác cũng có thể là tiền được. Không có tiền, hoặc tất cả đều là tiền như nhau.
Đó là một dự án không tưởng của Proudhon. Như vậy Proudhon đã không
hiểu và không thừa nhận một chân lý khoa học đó được thực tiễn kiểm
nghiệm. Đồng tiền là kết quả tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế
21


hàng hóa. Chẳng những thế đồng tiền còn thể hiện trong mình mức cao nhất
những mối quan hệ của một nền sản xuất hàng hóa phát triển, nó xuất hiện
không phải ngẫu nhiên hoặc tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Nó cũng có quy luật vận động riêng vừa phù hợp, vừa mâu thuẫn với sự vận
động của thế giới hàng hóa nói chung. Nó càng không thể mất đi một cách
đơn giản là do nguyện vọng tốt đẹp của con người muốn thủ tiêu mặt xấu mà
nó đem lại. Bởi vậy, tư tưởng của Proudhon về một nền kinh tế hàng hóa
không có tiền còn là một tư tưởng nhằm quay ngược sự phát triển của lịch sử
về những giai đoạn thấp mà nó đó trải qua.
Mâu thuẫn rất lớn của Proudhon được thể hiện rừ khi ông dự kiến
thành lập “Nhà băng trao đổi” (hay là những ngân hàng nhân dân). Để thực
hiện sự trao đổi giữa người sản xuất và nhà băng, cần phải có những phiếu
lao động, ở đó ghi nhận khối lượng lao động mà người sản xuất đó chi phí
cho việc sản xuất các hàng hóa. Nhà băng sẽ căn cứ vào phiếu lao động đó để
cung cấp hàng hóa cần thiết cho người sản xuất. Rõ ràng là các phiếu lao
động ở đây cũng đóng vai trò như một thứ tiền tệ (ở nhiều chỗ, thực tế
Proudhon gọi nó là tiền lao động).
Cùng một tư tưởng như vậy, Proudhon còn có một quan niệm độc đáo
khác về “tín dụng cho không” hay là “tín dụng không lấy lời”. Nó sẽ phục vụ
cho những người người sản xuất nhỏ, độc lập nhằm chống lại sở hữu lớn của
các tư bản ngân hàng.
Bằng cách đưa ra những dự án cải cách kinh tế trên đây, Proudhon đó
bộc lộ rõ những hạn chế lớn của hệ tư tưởng tiểu tư sản đối với vấn đề cải tạo
xã hội. Rõ ràng là những cải cách này không hề đả động tới cơ sở kinh tế của
cái chế độ mà người sản xuất nhỏ lên án. Chế độ sở hữu tư nhân vốn là cơ sở
chung cho cả sự tồn tại của chính người tiểu tư sản. Dự án của Proudhon
chứng tỏ ông hiểu việc cải tạo xã hội một cách rất chủ quan, tùy tiện. Mặt tốt
của xã hội tư bản chủ nghĩa - tức là nền sản xuất hàng hóa cần phải được giữ
22


lại, chỉ cần hướng tới việc thủ tiêu mặt xấu của xã hội này. Đó là chế độ trao
đổi và phân phối sản phẩm. Đây là kết quả của một phương pháp tư tưởng
chung của ông: có thể lấy mặt tốt ở khắp nơi mà nó có và gạt bỏ những mặt
xấu ở mọi nơi để thực hiện việc cải tạo xã hội, giống như có thể rút được
những viên gạch từ một tòa nhà này để xây lên một lâu đài khác.
Những phương pháp tư tưởng và các quan điểm cùng dự án của
Proudhon đã từng bị các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học phê phán
một cách kịch liệt. C.Mác đã chỉ rõ ràng “sự song song tồn tại của hai mặt
mâu thuẫn lẫn nhau, sự đấu tranh giữa hai mặt đó và việc chúng hòa thành
một phạm trù mới, tất cả những cái đó cấu thành thực chất của sự vận động
biện chứng”, rằng “người nào tự đặt cho mình cái nhiệm vụ gạt bỏ mặt xấu thì
chỉ một điều đó cũng lập tức chấm dứt sự vận động biện chứng..., còn
Proudhon thì đang vận động, đang ngụp lặn và chạy tới chạy lui giữa hai mặt
của phạm trù ấy”. Việc phủ nhận sự cần thiết phải cải tạo cơ sở kinh tế của xã
hội, việc thổi phồng và tuyệt đối hóa những dự án và cải cách trên bề mặt xó
hội thực chất là một sự bác bỏ các quy luật vận động tất yếu, khách quan của
xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đó gọi những tư tưởng của Proudhon là
có tính chất vô Chính phủ. Sau này, chủ nghĩa vô Chính phủ của Proudhon đã
gây ra những ảnh hưởng không nhỏ cho phong trào công nhân Pháp và quốc
tế, được những người cải lương xã hội triệt để lợi dụng nhằm bảo vệ trật tự xã
hội tư sản và chống lại chủ nghĩa Mác chân chính. Tiếng vang và dấu ấn của
những tư tưởng tiểu tư sản của Proudhon còn ảnh hưởng tới cả lý thuyết kinh
tế hiện đại, cổ vũ cho sự can thiệp sâu rộng của Nhà nước vào nền kinh tế.

23


KẾT LUẬN
Những người tiểu tư sản lần đầu tiên đặt vấn đề phê phán chủ nghĩa tư
bản một cách toàn diện, chỉ rõ mâu thuẫn trong sự phát triển nội tại của
phương thức này và bác bỏ sự tồn tại của nó. Đó là một quan điểm đối lập
trực tiếp với kinh tế chính trị học cổ điển là trường phái bênh vực cho sự tồn
tại vĩnh viễn của phương thức này.
Những người tiểu tư sản có công lao lớn trong việc phân tích các hậu
quả xã hội do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gây ra. Họ quan tâm và bênh
vực lợi ích của những người sản xuất nhỏ và lớp người nghèo khổ trong chủ
nghĩa tư bản, họ đặc biệt chú trọng tới mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và
nâng cao lợi ích của người lao động trong xã hội. Nhiều vấn đề xã hội và con
người mà các học giả tiểu tư sản nêu lên ngày càng tỏ ra có ý nghĩa lớn đối
với việc phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng và sự phát triển
xã hội nói chung, nhất là trong hoàn cảnh của những nước nông nghiệp lạc
hậu bắt đầu xây dựng, phát triển nền kinh tế hàng hóa và thị trường.
Hạn chế lớn nhất của phương pháp tiểu tư sản là ở chỗ họ phân tích
các vấn đề kinh tế-xã hội dựa trên cơ sở tình cảm đạo đức của những người
sản xuất nhỏ bị phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho tan rã. Bởi
vậy, khi phê phán chủ nghĩa tư bản, họ đưa đến phủ nhận tính chất khách
quan, hợp quy luật của con đường phát triển xã hội, phủ nhận cả nền sản xuất
đại công nghiệp nói chung. Do đó, họ có một thái độ căn bản là tiêu cực đối
với sản xuất hàng hóa lớn tư bản chủ nghĩa.
Cương lĩnh cải tạo xã hội của người tiểu tư sản vừa “mang tính chất
không tưởng”, vừa “mang tính chất phản động” - như sự đánh giá của C.Mác
và Ph.Ăngghen. Đó là sự hy vọng vào việc cải tạo xã hội tư bản theo mô hình
lý tưởng phù hợp với đạo đức và tình cảm của người tiểu tư sản ngay trên
những cơ sở tồn tại của xã hội tư bản. Gốc rễ của những sai lầm đó theo
V.I.Lênin chính là ở chỗ người tiểu tư sản không thấy được mối quan hệ biện
24


chứng của sự phát triển từ nền sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân và thợ thủ
công lên nền sản xuất hàng hóa lớn tư bản chủ nghĩa. Họ lý tưởng hóa nền sản
xuất nhỏ nhưng lại phủ nhận nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa. Họ chính là
những người “thấy cây mà không thấy rừng” và luôn luôn “lấy trái tim của
người tiểu tư sản thay cho lý trí của nhà phân tích kinh tế”.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×