Tải bản đầy đủ

BÀI THU HOẠCH BDTX 2017 2018

PHÒNG GD&ĐT BÁC ÁI
TRƯỜNG PTDTBTTHCS NGÔ QUYỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN NĂM HỌC 2017 – 2018
Họ và tên giáo viên: Phan Hồng Lĩnh
Sinh ngày: 16/7/1979
Tổ chuyên môn: Xã hội
Năm vào ngành giáo dục: 2001
Nhiệm vụ được giao trong năm học: Giảng dạy tiếng Anh lớp 6a, 6c.
PHẦN I: NỘI DUNG, THỜI LƯỢNG BDTX năm học 2017 - 2018
1. Khối kiến thức bắt buộc: 02 nội dung cơ bản.
1.1. Nội dung bồi dưỡng 1: 30 tiết/năm học/giáo viên.
Bồi dưỡng về chính trị, thời sự, các nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước
như: Nghị quyết của BCH trung ương Đảng, của Tỉnh ủy Ninh Thuận, của cấp ủy địa
phương.
1.2. Nội dung bồi dưỡng 2:
* Giáo dục Trung học cơ sở : 30 tiết/môn/cấp học.

Tập huấn bồi dưỡng chuyên đề môn tiếng Anh.
2. Khối kiến thức tự chọn (Nội dung bồi dưỡng 3) 60 tiết/năm học/giáo viên.
- Căn cứ nhu cầu và năng lực của cá nhân, tôi đăng ký học 4 module: MODULE THCS;
MODULE THCS 7: Hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS; MODULE THCS 12:
Khắc phục trạng thái tâm lý căng thẳng (stress) cho học sinh THCS; MODULE THCS
23: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; MODULE THCS 24: Kỷ thuật
kiểm tra, đánh giá trong học tập.
3. Hình thức bồi dưỡng thường xuyên
1. Bồi dưỡng thông qua các lớp tập trung.
2. Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu.
3. Bồi dưỡng thông qua sinh hoạt chuyên môn cụm trường; sinh hoạt cấp, tổ,
nhóm chuyên môn.
4. Bồi dưỡng thông qua dự giờ thăm lớp; tổ chức báo cáo chuyên đề, trao đổi
thảo luận, thực hành, minh họa, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp.
5. BDTX theo hình thức học tập từ xa (qua mạng Internet).
PHẦN II: KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BDTX NĂM HỌC 20172018
A. NỘI DUNG 1: (30 tiết) Sau khi nghiên cứu học tập, bản thân nắm bắt, tiếp thu
được những kiến thức sau:
1. Nghiên cứu, học tập, quán triệt các văn bản về công tác dạy và học, Nghị
quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp
ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của
1


nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm
năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào;
sống tốt và làm việc hiệu quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có
cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các
điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội
nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và
bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực.
2. Căn cứ Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về ban hành Quy chế BDTX giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục
thường xuyên;
– Nhiệm vụ, giải pháp
1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới
giáo dục và đào tạo
2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo
theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
3- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả
giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học
tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
5- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống
nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng
quản lý chất lượng
6- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục và đào tạo
7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn
xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo
8- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ,
đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý
9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo
10- Triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trung học.
a. Tổ chức thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục
b. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
c. Đổi mới hoạt động chuyên môn.
d. Tăng cường xây dựng điều kiện dạy học.
11- Các hoạt động khác
a.Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia và nâng chuẩn
b.Công tác phổ cập giáo dục.
12- Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý.
a.Công tác tập huấn, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
b.Đổi mới công tác quản lý giáo dục.
13- Hưởng ứng và tổ chức các cuộc thi
a.Các cuộc thi do Bộ tổ chức
b.Các cuộc thi do Sở, Phòng tổ chức.
B. NỘI DUNG 2:
1. Đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh theo định hướng
phát triển năng lực:
Tiếp thu được Khái niệm chuẩn kiến thức kĩ năng, của chương trình môn học.
Những đặc điểm của chuẩn kiến thức kĩ năng. Các mức độ về kiến thức kĩ năng
2


Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo các mức độ: Nhận biết ,
thông hiểu ,vận dụng thấp , vận dụng cao
Yêu cầu dạy học kiểm tra, đánh giá bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng với giáo viên
– Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng , để thiết kế bài giảng , với mục tiêu đạt được
các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức kĩ năng, dạy không quá tải và không phụ
thuộc vào SGK, việc khai thác saau kiến thức phụ thuộc vào phù hợp vói nhận thức của
HS
– Sử dụng các hình thức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả linh hoạt
– Hướng dẫn HS có thói quen vận dụng các kiến thức đã học vào vận dụng thực tế
– Động viên khuyến khích tạo cơ hội cho HS được tham gia một cách chủ động
sáng tạo vào quá trình kjhám phá phát hiện , đề xuất lĩnh hội kiến thức
2. Phát triển Chương trình nhà trường phổ thông
– “Chương trình nhà trường” do tập thể cán bộ giáo viên trường xây dựng và
triển khai trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình giáo dục quốc gia, chủ
động điều chỉnh cấu trúc nội dung dạy học, xây dựng kế hoạch giáo dục mới ở từng
môn học; lựa chọn, xây dựng nội dung, xác định cách thức thực hiện phù hợp với thực
tiễn nhà trường, đáp ứng yêu cầu phát triển các phẩm chất, năng lực của người học…
thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục toàn diện mà nhà trường đã đặt ra.
Sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của giáo viên, tính tích cực hoạt động, gắn kiến
thức trong nhà trường với việc phát hiện và giải quyết các vấn đề đặt ra của thực tiễn
đời sống…, qua đó hướng tới mục tiêu phát triển ở các em học sinh khả năng tư duy, óc
sáng tạo, năng lực cảm thụ cái đẹp và tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng.
3. Nâng cao hiệu quả sinh hoạt tổ/ nhóm chuyên môn theo các chuyên đề
Để một chuyên đề triển khai có hiệu quả, các chuyên đề phải thỏa mãn tối thiểu
các điều kiện sau :
-Phải được bắt nguồn từ việc giải quyết các vấn đề khó,hoặc các vấn đề mới phát
sinh trong thực tế giảng dạy.
- Bám sát định hướng đổi mới PPGD và KTĐG hiện nay
- Mang tính phổ biến và khả thi.
-Đảm bảo nguồn lực và các điều kiện cơ sở vật chất
Lập kế hoạch cho một chuyên đề sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn
Để lập kế hoạch nghiên cứu chuyên đề sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn có thể theo
5 bước sau đây:
* Xác định chuyên đề hay ý tưởng
– Các chuyên đề sinh hoạt tổ/ nhóm chuyên môn thông thường xuất phát từ các ý
tưởng: (1) trong quá trình dạy học gặp phải khó khăn nào đó, cần thiết phải cải tiến để
thoát khỏi những khó khăn; (2) muốn thử nghiệm một cái gì đó mới mẻ.
– Việc lựa chọn và đặt tên cho các chuyên đề cần đảm bảo các nguyên tắc ở mục 2
– Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH) cũng là hoạt động sinh
hoạt chuyên môn nhưng ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến
người học như: Học sinh học như thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học
tập? Nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh
không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh điều gì và
điều chỉnh như thế nào?
* Xây dựng tổ /nhóm chuyên môn thành tổ chức học tập
Thực hiện tốt việc chia sẻ, truyền thông, cung cấp, trao đổi thông tin giữa các GV
để mọi người có cơ hội lựa chọn những thông tin cần thiết cho công việc của mình. Tổ
chức học tập, sử dụng công nghệ truyền thông, thông tin để mọi GV được trao đổi trực
tiếp và biết lắng nghe

3


Tạo cơ hội cho GV tham gia các hoạt động của tổ nói chung và hoạt động sinh
hoạt chuyên đề nói riêng, phát huy vai trò tự chủ của GV trong chuyên môn.
Tạo cơ hội để họ cống hiến, thể hiện tài năng và sự sáng tạo. Giao trách nhiệm rõ
ràng khi thực hiện chuyên đề. Khẳng định thành tích của mỗi GV/ nhóm GV trong việc
thực hiện chuyên đề.
Để hoạt động sinh hoạt chuyên đề ở tổ bộ môn hiệu quả hãy bắt đầu từ việc xây
dựng kế hoạch hoạt động của tổ/nhóm. Ngoài ra, tổ/nhóm chuyên môn cần thống nhất
với nhau về việc sẽ ra quyết định thế nào khi giải quyết vấn đề và xác định các nguyên
tắc làm việc của tổ.
Những buổi họp là cách thức hiệu quả để bổi đắp tinh thần đồng đội và thói quen
làm việc theo nhóm của tổ chuyên môn. Để tạo sự đồng thuận mọi GV của tổ cần thống
nhất về việc phải nhắm tới các mục tiêu nào và bàn định các biện pháp thực hiện.
Phân công nhiệm vụ phù hợp, phát huy tối đa năng lực tiềm tàng và vai trò của
mỗi GV trong tổ: Mỗi GV sẽ cống hiến hết mình nếu họ được đánh giá đúng năng lực,
sử dụng đúng và được tin tưởng. Sự phân công rõ ràng trách nhiệm của từng GV sẽ là
yếu tố quan trọng tạo nên thành công của tổ chuyên môn.
Phát huy tốt vai trò của nhóm trưởng, nhóm trưởng giữ vai trò là nguồn sinh lực,
người liên hệ chính giữa tổ và các bộ phận khác trong trường, là người phát ngôn cho
nhóm.
Công tác quan sát, đánh giá, góp ý, trao đổi của giáo viên dự giờ cần chủ động và
tích cực hơn. GV cần có sự quan sát cụ thể và tích cực trong quá trình diễn ra của tiết
học, đặc biệt quan sát học sinh học lực yếu, và học sinh có học lực khá qua sự so sánh
đó có thể biết được mức độ nhận thức của các em và phương pháp giáo viên áp dụng có
phù hợp hay không.
Trong năm học Nhóm Chuyên môn Toán- Lí đã thực hiện được hiện được 10
chuyên đề có hiệu quả.
C. NỘI DUNG 3:
Module THCS 7 “HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH THCS.”
Nội dung 1:
QUAN NIỆM VỀ HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH
1. Hoạt động 1: Làm quen với khái niệm hướng dẫn, tư vấn cho học sinh.
1.1. Hướng dẫn và tư vấn cho học sinh
- Hướng dẫn là hoạt động được hiểu như là chỉ dẫn cho một vấn đề nào đó để đi
đến kết quả cuối cùng.
- Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê: “ Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề
được hỏi nhưng không có quyền quyết định”.
- Tư vấn mang ý nghĩa như giảng giải, đưa ra lời khuyên có tính chất quan hệ một
chiều.
- Như vậy, theo một ý nghĩa nào đó hướng dẫn hay tư vấn là hoạt động nhằm trợ
giúp cho học sinh khi các em hỏi về một vấn đề nào đó.
- Tư vấn là một tiến trình, là sự tương tác, là nguồn tiềm năng và sự tự quyết.
+ Các vấn đề xã hội là một tiền trình, cần phải có thời gian quan sát, theo dõi,
không chỉ trong quá trình tư vấn mà cả sau khi đã làm tư vấn; Là tiến trình giúp thân chủ
và nhà tư vấn phát triển; Là quá trình hướng tới đạo lí làm người; Là quá trình không
được làm hộ thân chủ.
+ Sự tương tác được thực hiện thông qua việc đối thoại giữa nhà tư vấn và thân
chủ, qua đó thân chủ hiểu được hoàn cảnh và khó khăn của mình, thân chủ cảm nhận
được vai trò của họ trong việc giải quyết vấn đề của họ.
4


+ Nguồn tiềm năng là quá trình nhà tư vấn phải khơi gợi được tiềm năng của thân
chủ, giúp thân chủ làm chủ được cảm xúc và thích nghi được với hoàn cảnh của mình.
+ Sự tự quyết là giúp cho thân chủ tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, tự tìm ra
cách giải quyết, nhà tư vấn chỉ giúp về mặt tinh thần hoặc soi sáng các vấn đề, khơi gợi
vấn đề.
- Tư vấn là một tiến trình tương tác nhằm giúp thân chủ hiểu được vấn đề của
mình và khơi dậy tiềm năng để thân chủ tự quyết định vấn đề của mình.
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến khái niệm tư vấn.
- Cố vấn: Là cuộc nói chuyện giữa một chuyên gia về một lĩnh vừc nhất định với
một hoặc nhiều người đang cần lời khuyên hay chỉ dẫn về lĩnh vực đó.
+ Mục đích của cố vấn giúp thân chủ ra quyết định bằng cách đưa ra những lời
khuyên “ mang tính chuyên môn" cho thân chủ.
+ Mọi quan hệ giữa nhà cố vấn và thân chủ không cỏ ý nghĩa/vai trò quyết định
bằng kiến thức và sự hiểu biết của nhà cố vấn về lĩnh vực mà thân chủ đang cần.
+ Quá trình cố vấn chỉ có thể diễn ra trong một lần gặp gỡ giữa thân chủ và nhà cố
vấn. Kết quả cố vấn không rõ rệt vấn đề sẽ lặp lại vì các nguyên nhân sâu xa của vấn đề
chưa đuợc thực sự giải quyết.
+ Nhà cố vấn làm chủ cuộc nói chuyện và đưa ra những lời khuyên.
- Trị liệu, trị liệu tâm lí
+ Trị liệu - tiếng Anh là therapy - được lấy từ gốc Hy Lạp là therapia có nghĩa là
chữa trị, làm lành. Trị liệu tâm lí có nghĩa là sự xóa bỏ rắc rối những bệnh lí mang tính
tâm lí. Tư vấn và trị liệu tâm lí có mối quan hệ khá mật thiết với nhau.
- Sự khác biệt giữa tư vấn và tham vấn
+ Tư vấn chủ yếu hướng tới giải quyết vấn đề hiện tại, còn hoạt động tham vấn
hướng tới mục tiêu lâu dài hơn, đó là giúp cá nhân nâng cao khả năng giải quyết vấn đề
sau khi được tham vấn.
+ Tư vấn thường là cung cấp thông tin hay đưa ra lời khuyên. Do vậy nó diễn ra
trong một thời gian ngắn, giải quyết vấn đề tức thời, còn tham vấn có thể diễn ra trong
thời gian có thể kéo dài hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm.
+ Trong tư vấn có thể là mối quan hệ trên- dưới giữa một người là được xem là “
uyên bác" với những thông tin chuyên môn, còn bên kia là người “ thiếu hiểu biết" về
vấn đề nào đó, bên cạnh mối quan hệ ở đây không đòi hỏi sự tương tác rất tích cực từ
phía đối tượng. Trong khi đó ờ tình huống tham vấn, mối quan hệ mang tính ngang bằng,
bình đẳng và đòi hỏi có sự tương tác rất chặt chẽ tích cực giữa hai bên, có thể nói nó
đóng vai trò như một công cụ quan trọng cho sự thành công của ca tham vấn.
+ Trong tư vấn, cách thức can thiệp chính là cung cấp thông tin và lời khuyên bổ
ích từ người tham vấn với kiến thúc chuyên sâu về vấn đề cần tư vấn. Trong tham vấn, sự
thành công phụ thuộc vào kỷ năng tương tác của nhà tham vấn để đối tương tự nhận
thức, hiểu chính mình và hoàn cảnh của mình để chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp
và thực hiện nó.
1.3. Mục đích, nhiệm vụ và các hình thức tư vấn
- Mục đích của tư vấn
+ Tư vấn để ý thức về mình, ý thức về thực tại, đặc biệt hiểu biết về cách phòng
vệ- cách thức mà bản thân và người khác thường dùng để phản ứng lại với những tác
động xung quanh.
+ Tư vấn để thống nhất trong con nguời, để thích nghi với môi trường, thích nghi
5


với công việc, để chấp nhận bản thân mình, để giúp cho cơ thể đưa ra quyết định vững
vàng, giúp giải tỏa các ẩn úc trong con người, xác định được đúng vấn đề đang khó chịu,
giúp giảm thiểu hậu quả của những sai lầm hoặc những biến cố tiêu cực, để biết yêu
mình hơn, yêu một cách đúng múc, đứng cách, biết tôn trọng bản thân, giúp loại bỏ
những “ rác rưởi" trong đầu, để tìm một hướng đi cho đời mình, làm sáng tỏ được các
giá trị, mục tiêu và phát huy được tiềm năng của bản thân, để thay đổi triết lí sống, thay
đổi cách nhìn nhận về con người, tìm lại ý nghĩa cuộc sống.
- Nhiêm vụ của tư vấn
+ Giúp thân chủ dám đối diện với những vấn đề của mình, với thực tại cuộc sống,
giúp đương đầu một cách có hiệu quả, tự gánh trách nhiệm. Giúp thân chủ củng cố và
phát triển các thói quen tốt, hạn chế hoặc sửa được các thói quen xấu hoặc giúp điều
chỉnh các suy nghĩ tiêu cực.
+ Giúp thân chú giảm bớt các cảm xúc tiêu cực trong hoàn cánh khó khăn, làm
dịu bớt những cảm xúc căng thẳng.
+ Giúp thân chú tăng hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình.
+ Giúp thân chú đưa ra những quyết định tích cực. Trợ giúp cho thân chủ xác định
được những cái cần thay thế nếu không giải quyết được; sàng lọc được các hậu quả của
mọi phương án thay thế, lường trước được sự việc, hướng dẫn thân chủ thực hiện các
quyết định.
+ Thực hiện các quyết định bằng cách hướng dẫn thân chủ. Giúp thân chủ lập ra
kế hoạch mang tính khả thi (hành vi), khuyến khích họ thực hiện theo kế hoạch do họ tự
đề ra; giúp thân chủ đánh giá kết quả.
- Các hình thức tư vấn
+ Tư vấn cá nhân: là quá trình trao đổi mang tính bí mật giữa các cá nhân nhằm
giải quyết các vấn đề có liên quan đến xúc cảm ( lo sợ, chán nản, đau k h ổ … ) t ự sát
hay cải tạo phục hồi (tâm trạng), nạo thai, vấn đề hành hung, hâm dọa, cưỡng bức...
+ Tư vấn gia đình: được hình thành dựa trên cơ sở lí luận cho rằng một thành viên
trong gia đình có vấn đề, nó là kết quả của toàn bộ mối quan hệ trong gia đình; mọi vấn
đề trong gia đình xuất hiện đều liên quan đến các thành viên trong gia đình.
+ Tư vấn nhóm: là tư vấn cho các đối tượng có cùng một nhu cầu và có những
quan tâm chung. Tư vấn nhóm tạo ra một sự hỗ trợ nhóm đối với mọi cá nhân, cung cấp
một sự hỗ trợ xã hội cho mỗi nhóm.
- Những điều kiện giúp cho cuộc tư vấn thành công
+ Quá trình tư vấn có được sự cộng tác của các thân chủ.
+ Cần có thời gian và sự kiên tâm.
+ Phải đảm bảo tính khách quan, tính rõ ràng (test).
1.4. Những lí do cơ bản gây ra vấn đề ở thân chủ
- Về mặt khách quan
+ Những sáo trộn, căng thẳng trong cuộc sống (stress);
+ Các giai đoạn lứa tuổi;
+ Hệ thống nhu cầu: không thỏa mãn nhu cầu (vật chất, tinh thần...);
+ Vấn đề kinh tế;
+ Vấn đề thất bại: nghề nghiệp, tình cảm, thích nghi;
+ Các áp lưc xã hội: thường là áp lực về môi trường (làm việc, sống, văn hóa, tôn
g i á o . . ) n h ữ n g vấn đề giai cấp, cạnh tranh chèn ép, kì thị, các vấn đề liên quan đến
đời sống cộng đồng, có thể thân chủ là nạn nhân hoặc cảm nhận mình là nạn nhân.
6


- Về mặt chủ quan
+ Những người thụ động, những người không làm gì cả, thiếu nghị lực trong hành
động (dựa dẫm vào các quyết định của người khác, thiếu ý chí..) những người làm việc
ngẫu hứng, không có mục tiêu;
+ Những người bất lực, không có khả năng gánh trách nhiệm, người hay đổ lỗi,
không cân bằng trong đời sống (lí trí, tình cảm...), luôn thay đổi ý kiến, những người rối
loạn về tình cảm, lí trí, hành động.
- Tiêu chí đánh giá vấn đề của thân chủ
+ Thân chủ thấy không hài lòng, khó chịu về một mối quan hệ nào đó ( hay phàn
nàn, than phiền...).
+ Có những ứng xử gây sự bất bình đối với những người xung quanh.
+ Xuất hiện những cá tính hiếm thấy ở bản thân.
+ Có những lo âu, buồn chán, sợ hãi... ảnh hưởng đến hoạt động sống.
+ Có tính phi lí trong nhận thức (người khác cho là không bình thường) khi thân
chủ biểu hiện qua hành động.
+ Không thích nghi hoặc khó thích nghi với môi trường, luôn hành động theo mục
tiêu cá nhân ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động bình thường của mình và của những
người xung quanh.
2. Hoạt động 2: Phân tích các giai đoạn tư vấn cho học sinh
Quá trình tư vấn chia thành năm giai đoạn
- Giai đoạn 1: Thiết lập mối quan hệ.
- Giai đoạn 2: Tập hợp thông tin, đánh giá và xác định vấn đề.
- Giai đoạn 3: Hỗ trợ để thân chủ tìm kiếm các giải pháp và lựa chọn giải pháp phù
hợp.
- Giai đoạn 4: Trợ giúp thân chủ thục hiện giải pháp.
- Giai đoạn 5: Kết thúc ca tư vấn.
3. Hoạt động 3: Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tư vấn cho học sinh
3.1. Nhóm các yếu tố thuộc về chủ thể tư vấn
- Sự say mê, hứng thú với công việc là một trong những nét tâm lí cá nhân luôn
đuợc xem xét tới trong hoạt động tư vấn. Người ta cũng thường xem đây như là một đặc
trưng đầu tiên của nhà tư vấn có thiên hướng.
- Kinh nghiêm thực tiễn, thâm niên công tác cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hiệu
quả của hoạt động tư vấn. Những kinh nghiệm sống hay kinh nghiệm nghề nghiệp đã tạo
cho nhà tư vấn một nền tảng tri thức để họ vận dụng vào công việc trợ giúp.
- Nền tảng kiến thức chuyên môn được đào tạo: kết quả của sự thực hiện tư vấn
chịu sự chi phối khá nhiều nét tâm lí cá nhân, đặc biệt là hứng thú nghề nghiệp và kinh
nghiệm thục tiễn của nhà tư vấn.
- Giá trị, thái độ đạo đức của nhà tư vấn: Trong tư vấn, giá trị, thái độ đạo đức của
nhà tư vấn luôn được xem như một yếu tổ ảnh hưởng khá lớn tới hành vi giúp đỡ, cách
thức ứng xử của họ với thân chủ.
3.2. Nhóm các yếu tố bên ngoài
+ Nhận thức của cha mẹ học sinh, nhà trường và xã hội về tư vấn.
+ Cơ chế chính sách đối với nhà tư vấn.
+ Cơ hội được tập huấn, bồi dưỡng về tư vấn, hướng dẫn cho học sinh.
+ Sự phát triển nghề tư vấn ở Việt Nam.
7


Nội dung 2:
CÁC LĨNH VỰC CẦN TƯ VẤN, HƯỚNG DẪN CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ.
1. Hoạt động 1: Phân tích các lĩnh vực mà học sinh THCS cần tư vấn
Những lĩnh vực mà học sinh THCS cần tư vấn xuất phát từ những khó khăn tâm lí
bao gồm những lĩnh vục khó khăn tâm lí sau:
+ Khó khăn trong quan hệ ứng xử với thầy cô giáo
+ Giao tiếp với thầy cô (trạng thái tâm lí khi giao tiếp).
+ Sử dụng các phương tiện giao tiếp.
+ Tạo dựng mối quan hệ với thầy cô.
+ Ứng xứ phù họp với vị trí, vai trò của mình.
+ Khó khăn trong quan hệ ứng xử với bạn bè
+ Khó khăn trong quan hệ ứng xử với các thành viên trong gia đình
+ Khó khăn trong giao tiếp với cộng đồng
+ Khó khăn trong vấn đề hướng nghiệp
+ Khó khăn trong những công việc được tập thể giao phó
+ Những khó khăn trong các vấn đề về giới tính: Sự phát triển của cơ thể, những
vấn đề thầm kín của bản thân, những hiện tượng đồng tính luyến á i …
+ Khó khăn trong việc chấp hành những nội quy của nhà trường, của lớp.
2. Hoạt động 2: Một số nguyên tắc đạo đức khi thực hiện hoạt động tư vấn,
hướng dẫn
+ Nguyên tắc tôn trọng thân chủ trong quá trình tư vấn.
+ Nguyên tắc không phán xét đối tượng.
+ Nguyên tắc dành quyền tự quyết cho thân chủ.
+ Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật thông tin cho thân chủ.
Module THCS 12 “KHẮC PHỤC TRẠNG THÁI TÂM LÝ CĂNG THẲNG CHO
HỌC SINH THCS”
NỘI DUNG I. Khái quát chung về căng thẳng tâm lí (stress) và căng thẳng tâm lí
trong học tập.
1. Khái niệm chung về stress
1.1.Khái niệm về stress
Stress trong tiếng Anh có nghĩa là nhấn mạnh. Thuật ngữ này còn dùng trong Vật
lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu.
Thuật ngữ stress được W. Cannon sử dụng lần đầu tiên trong Sinh học, tuy nhiên,
người có công lớn trong việc nghiên cứu về stress là Hans Selye, người Canada. Ông là
người nghiên cứu khá hệ thống về stress. Năm 1936, thuật ngữ stress được ông đề cập
các công trình nghiên cứu của mình để miêu tả hội chứng của quá trình thích nghi với
mọi loại bệnh tật. Trong một số công trình của ông, ông đã nhấn mạnh “ Stress có tính
chất tổng hợp chứ không phải thể hiện trong một trạng thái phản ứng không đặc hiệu
của cơ thể với bất kì tín hiệu nào” Sau đó ông lại quan niệm: “ Stress là nhịp sống luôn
luôn có mặt ở bất kì thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta. Một tác động bất kì tới
một cơ quan nào đó đều gây ra stress. Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự
tổn thương, ngược lại có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: Stress bình thường
khỏe mạnh và stress độc hại …”

8


Tác giả Tô Như Khuê cho rằng: “ Stress tâm lí chính là phản ứng không đặc hiệu
xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lí xuất hiện trong các tình
huống mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không
chủ yếu do tác nhân kích thích mà do sự đánh giá chủ quan về các nhân tố đó.”
Có nhiều quan điểm khác nhau về stress, với các gốc độ khác nhau stress được
hiểu theo những cách khác nhau. Nhìn chung, các tác giả đều nhìn stress trên gốc độ tiêu
cực, chưa nhìn thấy mặt tích cực của nó đối với sự phát triển tâm lí con người.
1.2. Nguồn gốc gây ra stress
Có nhiều căn nguyên dẫn đến stress. Các nhà khoa học cho rằng, stress có tính
chất tích tụ nên nó xuất hiện thì cần phải kiểm soát và giải tỏa chúng. Nếu không, những
tác động nhỏ hằng ngày sẽ được dồn nén và khi bùng phát nó sẽ gây ra những tác hại
không nhỏ. Theo tác giả Võ Văn Bản, có thể chia nguồn gốc gây ra stress như sau:
* Nguồn gốc từ môi trường bên ngoài:
- Nguồn gốc từ cuộc sống gia đình: Những tác nhân gây stress từ phía gia đình đó
là những vấn đề có liên quan đến yếu tố kinh tế và tình cảm, những kì vọng của những
người trong gia đình đối với mỗi thành viên.
- Nguồn gốc từ môi trường xã hội: Đó là những yếu tố liên quan đến môi trường
sống, học tập và làm việc, những mối quan hệ, ứng xử xã hội, tâm lí xã hội…
- Nguồn gốc từ môi trường tự nhiên là những yếu tố như khí hậu, thời tiết, cảnh
quan…
* Nguồn gốc từ bản thân:
- Yếu tố sức khỏe: Những rối loạn bệnh lí mới xuất hiện, những bệnh lí ở giai
đoạn cuối hoặc những bệnh lí mãn tính, sự khiếm khuyết về thực thể.
- Yếu tố tâm lí: Đó là trình độ thích nghi của các thuộc tính tâm lí bao gồm năng
lực, ý chí, tình cảm, nhu cầu, trình độ nhận thức, kinh nghiệm của chủ thể.
2. Khái niệm về stress trong học tập.
2.1 Một số đặc điểm tâm lí đặc trưng của học sinh THCS
Học sinh THCS là những lứa tuổi từ 11 đến 15 đang học từ lớp 6 đến lớp 9. Đây
là thời kì phức tạp và quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, là thời kì
chuyển từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành. Có một số đặc điểm tâm lí cơ bản như sau:
Sự phát triển không cân đối giữa chiều cao và trọng lượng, giữa xương ống tay,
ống chân, xương ngón tay, ngón chân đã dẫn đến sự thiếu cân đối. Các em rất lóng
ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ.
Sự phát triển về mặt sinh lí cũng như sự biến đổi căn bản về mặt cơ thể, với nét
đặc trưng lớn nhất là sự phát dục đã dẫn đến nhiều biến đổi về mặt tâm lí
Điều kiện sống của các em cũng có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Trong gia đình, các
em có sự tham gia tích cực vào các hoạt động và nhiệm vụ của gia đình giao cho. Các em
thể hiện sự tích cực, chủ động và độc lập trong khi hoàn thành các nhiệm vụ như một
người lớn.
Học sinh THCS có nhu cầu muốn mở rộng các mối quan hệ với người lớn và
mong muốn người lớn nhìn nhận mình một cách bình đẳng, không muốn bị coi là trẻ con
như trước đây. Bên cạnh đó, nhười lớn lại không coi các em đã trở thành người lớn. Điều
này có thể gây ra xung đột tạm thời giữa thiếu niên với người lớn.
Đời sống tình cảm của học sinh THCS sâu sắc và phức tạp hơn so với học sinh
tiểu học. Các em rất dễ bị xúc động, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình
cảm mang tính bồng bột.
9


2.2 Bản chất của stress trong quá trình học tập ở học sinh THCS
Stress là sự phản ứng của cơ thể trước các tác nhân bên ngoài. Trong học tập, học
sinh chịu nhiều tác động , áp lực không chỉ ở yêu cầu, nội dung tri thức môn học mà còn
ở phương pháp giảng dạy, thái độ của giáo viên…. Những điều đó đã tạo nên stress cho
các em.
3. Tìm hiểu việc phân loại stress
3.1. Căn cứ vào mức độ stress
Theo Hans Selye, ông phân stress làm hai loại:
- Stress tích cực: phản ứng thích nghi với những tác động của môi trường
+ Giai đoạn báo động: Theo cơ chế sinh học, khi có kích thích cơ thể sẽ tiếp nhận
thông qua sự truyền dẫn của các dây thần kinh lên hệ thần kinh trung ương báo hiệu cho
biết là có kích thích đang tác động.
+ Giai đoạn kháng cự: Thường xảy ra sau giai đoạn báo động do các tác động của
các tác nhân gây stress thông qua hệ thần kinh trung ương, kích thích vùng dưới tuyến
yên, tuyến thượng thận… từ đó tác động lên toàn bộ chức năng của cơ thể.
- Stress tiêu cực: Cơ chế diễn ra cũng giống như các giai đoạn của stress tích
cực. Tuy nhiên do giai đoạn chống đỡ kéo dài, liên tục thất bại làm cho hệ tiết dịch trong
cơ thể hoạt động nhiều dẫn đến giảm khả năng miễn dịch của cơ thể mà suy kiệt.
3.2. Phân loại stress dựa trên nguyên nhân.
Stress có thể phân ra làm ba loại cơ bản:
- Stress sinh thái: Đây là loại stress mà yếu tố gây nên nó có nguồn gốc từ sinh
thái. Loại này phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể
nhằm tạo ra những phản ứng khác nhau với các tình huống nhất định giúp chủ thể có khả
năng thích ứng.
+ Rối loạn chu kì nhịp sinh học: là loại stress sinh thái cơ bản nhất, nguyên nhân
là do con người không chịu tuân theo những sắp đặt sẵn của tự nhiên. Với điều kiện và
khả năng của mình, qua việc tổ chức cuộc sống như vậy đã rơi vào trạng thái stress.
+ Rối loạn nhịp ăn và ngủ: Đây là loại stress cũng được nghiên cứu nhiều cụ thể
với chế độ lao động nặng kèm với ít ngủ hoặc không ngủ, kèm theo chế độ ăn giảm calo
thì khả năng lao động cũng như trạng thái tâm lí và sinh lí biến đổi, giảm chất lượng do
bị stress.
+ Stress do chấn thương và bệnh tật: Nó trực tiếp làm tổn hại, suy giảm đến
chức năng hoạt động của thực thể. Nếu người bệnh được giải thích và hiểu cặn kẻ về các
triệu chứng của bệnh thì các triệu chứng ấy càng ít gây ra stress và ngược lại.
+ Stress do tiếng ồn: Nó tác động và gây trở ngại cho các hoạt động cần thiết cho
con người. Nếu tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn, có cường độ cao, có thể làm tăng huyết áp,
giảm trí nhớ.
- Stress tâm lí xã hội: Những tác động của những biến cố được xem là rất lí
tưởng cũng có thể gây ra sự khởi phát stress, cụ thể:
+ Tâm lí xã hội, nhóm xã hội, trình độ tâm lí…. Là những yếu tố quan trọng tạo
ra những biến đổi trong đời sống tâm lí con người, gây nên stress tâm lí xã hội.
+ Sự thất vọng: Không đạt điều mong muốn sẽ gây nên sự khủng hoảng lòng tin.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất vọng nhưng nguyên nhân cơ bản là sự mất ổn
định chế độ, sự không phù hợp của chính sách kinh tế - xã hội
4. Xác định những ảnh hưởng của stress đến học tập của học sinh THCS
4.1. Ảnh hưởng của stress đến con người
10


Stress là căn bệnh của thời đại mà xuất phát của nó chủ yếu là từ môi trường, từ
điều kiện, cách thức sinh hoạt và tổ chức cuộc sống của con người.
Stress có nhiều mức độ khác nhau, sự ảnh hưởng của nó cũng biểu hiện vô cùng
phong phú. Mặc dù rất hiếm khi stress gây chết người một cách trực tiếp. Nhưng hậu quả
của nó gây ra vô cùng to lớn, nó có thể phá vỡ sự cân bằng
Cơ thể, dẫn đến những biến loạn về tâm lí, sinh lí, sinh hóa của cơ thể gây nên
nhiều căn bệnh dai dẳng và nguy hiểm như đường máu, bệnh tim mạch, rối loạn tiêu
hóa…. ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động và chất lượng cuộc sống con người.
Cuộc sống luôn luôn biến động, stress luôn luôn tồn tại trong đời sống hằng ngày
trong suốt quá trình phát triển nhân cách mỗi cá thể. Cuộc sống văn minh, xã hội càng
phát triển thì con người có thể càng gặp nhiều stress hơn. Do đó việc hiểu biết về stress
và những ảnh hưởng của nó đối với sức khỏe con người cũng như các biện pháp phòng
ngừa stress để có thể sống chung với stress là việc làm cần thiết và hữu ích nhằm mang
lại sức khỏe cho bản thân, cho cộng đồng, giúp con người thích ứng với điều kiện sống
tốt hơn.
4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến stress trong học tập của học sinh
- Các yếu tố khách quan – môi trường tâm lí _ xã hội
Trong thời đại thông tin bùng nổ, kiến thức được cập nhật nhanh chóng, hiện đại.
Những phát minh khoa học tiên tiến không phải chờ đến khi đưa vào sách học sinh mới
biết mà nó đến với các em hằng ngày thông qua mạng thông tin, sách báo điện tử… Bên
cạnh những điều kiện thuận lợi, môi trường xã hội cũng có thể mang đến nhiều bất lợi.
Những tệ nạn xã hội ở mọi biến động của thời đại đang liên tục tác động mạnh mẻ tới
mọi tầng lớp trong xã hội.
- Các yếu tố chủ quan:
+ Về mặt sinh lí: Bị mắc các chứng bệnh đau đầu, đau lưng khi ngồi vào bàn học,
sức khỏe kém.
+ Về mặt tâm lí:
Nhận thức của học sinh trước các tình huống học tập: Vốn hiểu biết có mâu thuẩn
với nhiệm vụ học tập vừa mới, vừa khó trong khi trình độ nhận thức còn hạn chế.
Thái độ của học sinh trước các nhiệm vụ của môn học đề ra, thấy mình không có
khả năng học, không hứng thú với môn học, không tìm thấy phương pháp học tập thích
hợp.
Đó là các yếu tố quan trọng có thể làm tăng thêm mức độ hay giảm mức độ stress
trong học tập của học sinh.
NỘI DUNG II. Biểu hiện và mức độ stress trong học tập của học sinh THCS
1. Phân tích các biểu hiện của stress trong học tập của học sinh THCS
1.1 Biểu hiện cụ thể của stress trong học tập của học sinh THCS
Stress của học sinh THCS được biểu hiện ở các trạng thái ứng phó tâm lí. Do đó,
nó vô cùng đa dạng và phức tạp. Trước yêu cầu của nhiệm vụ học tập, học sinh không
hoàn toàn bị động, sự tiếp nhận hay chống lại những nhiệm vụ ấy tạo nên những biến đổi
đồng loạt của các phẩm chất, nhân cách cụ thể:
- Biểu hiện về nhận thức trong học tập: Thể hiện ở sự biến đổi trong nhận thức
về môn Toán: ghi nhớ kém, hay nhầm lẫn trong tính toán…
- Biểu hiện về mặt sinh lí: Đau đầu, chán ăn, mê sảng, ác mộng, chân tay run,
toát mồ hôi, khó thở…

11


- Biểu hiện về mặt tâm lí: Thể hiện sự không tập trung, mặc cảm tự ti về năng lực
bản thân, cảm thấy buồn bã, chán nản hay cáu gắt với người khác…
1.2 Mức độ stress trong học tập của học sinh THCS
* Mức độ stress
- Stress bình thường: Là chương trình thích nghi bình thường, đảm bảo hoạt động
sống bình thường, không có biểu hiện rối loạn.
- Mức độ stress cao: Là chương trình thích nghi xuất hiện những biến đổi tâm,
sinh lí nhất định khi có tác nhân gây stress từ mức nặng đến cực hạn.
Mức độ stress trong học tập của học sinh THCS được đánh giá trên cơ sở của các
quá trình nhận thức và mức độ khó hay dễ của nhiệm vụ học tập đối với mỗi học sinh
NỘI DUNG III. Phương pháp và kĩ năng ứng phó với stress trong học tập. các
phương pháp hỗ trợ tâm lí cho học sinh phát hiện và ứng phó với stress trong học
tập ở học sinh thcs
1. Làm quen với một số phương pháp ứng phó với stress trong học tập
- Stress mãn tính có thể phá vỡ cuộc sống của chúng ta và thậm chí có thể gây ra
tử vong. Vì vậy, chúng ta cần tạo ra cách để xử lí stress.
- Việc đầu tiên là học sinh phải biết nhận ra các dấu hiệu của stress: Những bất
thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội như bổng nhiên thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau
đầu, mất ngủ hoặc là ngủ quên, tâm trạng bất an, giận dữ hoặc sợ hãi…
- Giảm mức độ cao của stress để có một sức khỏe tốt trong học và thi. Muốn có
sức khỏe tốt trước hết hãy lưu ý đến phương pháp học tập, ôn tập, nghỉ ngơi, thư giãn
hợp lí. Cần tránh hiện tượng học dồn, thi mới học, học đêm ngủ ngày. Trí não của con
người chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong vòng 45 phút đến 1 giờ sau đó cần được nghỉ
ngơi, giải lao hoặc làm những công việc chân tay từ 15 đến 20 phút sau đó hoạt động trí
não lại.
- Cần có chế độ ăn đầy đủ và cân bằng dưỡng chất. Chú ý dùng các thực phẩm
như sữa, trứng, thịt, rau, quả. Ngoài ra nên dùng thêm các loại dầu thực phẩm như dầu
đậu nành, dầu mè…
- Cà phê, trà đậm là chất có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương làm cho
tỉnh táo, chống lại cơn buồn ngủ, nếu uống ban ngày, đặc biệt là buổi sáng. Tuy nhiên
trong thời gian học thi hoàn toàn không nên lạm dụng. Buồn ngủ là dấu hiệu báo cho cơ
thể đã mệt mỏi, cần sự nghỉ ngơi để lấy lại cân bằng. Nếu giai đoạn này dùng chất kích
thích, cơ thể sẽ mệt mỏi không còn sức tập trung để có thể ghi nhớ.
2. Một số biện pháp làm giảm stress có hại
- Ngâm tắm: Nước có tác dụng xoa dịu các cơ và xương khớp bị đau mỏi, giúp tế
bào được phục hồi, chất độc được đưa ra ngoài cơ thể. Trong khi tắm nên giảm các yếu
tố gây kích thích thị giác, hãy bật những chương trình nhạc nhẹ hoặc loại nhạc mà mình
yêu thích.
- Hát: Hát kích thích hoạt động cơ hoành, cơ cổ, nhờ đó trung tâm thần kinh sinh
dưỡng thuộc phần bụng được phục hồi. Ngoài ra còn cung cấp thêm ôxi cho cơ thể.
- Chơi đùa với thú nuôi: Thú nuôi rất có ích cho việc giải tỏa stress cho con
người. Người ta có thể tâm sự những buồn vui với vật nuôi trong nhà.
- Thư giãn: Sau mỗi công việc căng thẳng, cần có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn
với tất cả những loại hình mà mình thíc
- Cười: Không chỉ mang lại sự vui vẻ, thoải mái mà cơ thể còn tiết ra monphine tự
nhiên, tạo khả năng chống stress.
12


- Thưởng thức nghệ thuật: Ngắm nhìn một bức tranh, nghe một bản nhạc mà
mình yêu thích.
- Massage: Mỗi ngày dành 30 phút để làm việc này sẽ làm cho hiện tượng co cơ
giảm đi một cách rõ rệt.
- Tập thể dục buổi sáng, đi bộ: Làm lưu thông khí huyết, hít thở không khí trong
làn
- Thiền: Luyện cho tinh thần và cơ thể tránh những căng thẳng thường nhật, tăng
cường hoạt động có hiệu quả của hệ tuần hoàn và tim mạch, giúp các khớp trong cơ thể
có độ đàn hồi, ngăn ngừa bệnh loãng xương, chống được sự mất ngủ, lo lắng, buồn
phiền.
3. Làm quen với một số phương pháp trợ giúp học sinh THCS ứng phó với
stress trong học tập.
3.1 Những nguyên tắc trợ giúp về mặt tâm lí
- Chăm sóc cho sức khỏe và tránh những nguy hiểm có thể có.
- Can thiệp sớm một cách trực tiếp, chủ động và bình tĩnh.
- Tập trung vào những vấn đề của hiện tại.
- Cung cấp những thông tin chính xác về những gì đã xảy ra.
- Không nói những điều không có khả năng thực thi.
- Tìm ra những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.
- Đoàn tụ gia đình.
- Cung cấp và đảm bảo về những trợ giúp tâm lí.
- Tập trung vào những lợi thế và khả năng phục hồi của nạn nhân.
- Khuyến khích sự tự lực.
- Quan tâm đến cảm xúc của những người xung quanh.
3.2 Sự trợ giúp từ tham vấn tâm lí học đường
- Tham vấn tâm lí học đường là một quá trình diễn ra với nhiều giai đoạn khác
nhau từ việc xây dựng mối quan hệ, khai thác, tìm hiểu, xác định vấn đề đến giải quyết
vấn đề thuộc lĩnh vực tâm lí.
- Mục tiêu của tham vấn tâm lí học đường là giúp đỡ học sinh hiểu được cảm xúc,
suy nghĩ của chính các em, từ đó có thể giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.
- Hoạt động tham vấn tâm lí học đường diễn ra trên cơ sở mối quan hệ tương tác
tích cực giữa nhà tham vấn và học sinh, được thực hiện chủ yếu trong tương tác trực tiếp
tại phòng tâm lí học đường hoặc tại lớp học.
- Nhà tham vấn tâm lí học đường có thể là người làm chuyên nghiệp hoặc bán
chuyên nghiệp. Song họ đều cần có kiến thức về tâm lí, kĩ năng, thái độ nghề nghiệp
tham vấn tâm lí để thực hiện hoạt động tham vấn tâm lí một cách tốt nhất.
- Đối tượng được tham vấn tâm lí học đường có thể là cá nhân học sinh có nhu
cầu cần được tham vấn tâm lí. Ngoài ra còn có thể là nhóm học sinh, hoặc tập thể học
sinh với các vấn đề nổi cộm của lớp như học tập, đánh nhau, quan hệ bạn khác giới, sự
phát triển của cơ thể, quan hệ của lớp với giáo viên.
- Các giai đoạn trong quá trình tham vấn tâm lí học đường bao gồm:
+ Thiết lập mối quan hệ: xây dựng mối quan hệ tốt trong tham vấn là khâu then
chốt. Nếu không có mối quan hệ tốt thì thông tin và trách nhiệm không thể trao đổi được.
Để đạt được những yêu cầu trên, nhà tham vấn tâm lí phải có các kĩ năng chuyên môn,

13


những phẩm chất đạo đức, thực hiện đúng nguỵen tắc cũng như phải biết tiếp cận đối
tượng.
+ Tập hợp thông tin, đánh giá và xác định vấn đề: Mục đích của giai đoạn này là
tìm hiểu những mối quan tâm chủ yếu của đối tượng, xác định những mặt mạnh và hạn
chế sẽ ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề. Để đạt mục đích đó, nhà tham vấn cần
tìm hiểu hoàn cảnh đối tượng, gồm cả môi trường xã hội, giáo dục, gia đình, tình cảm,
thể chất, tâm lí.
+ Hỗ trợ để học sinh tìm kiếm các giải pháp và lựa chọn giải pháp phù hợp:
Mục tiêu nổi bật của giai đoạn này là nhà tham vấn trợ giúp đối tượng xác định phương
hướng thiết thực cho cuộc sống. Trong giai đoạn này, nhà tham vấn và đối tượng xác
định các gốc độ khác nhau để giải quyết vấn đề, cố gắng chia nhỏ những vấn đề có qui
mô lớn thành các bước nhỏ dễ xử lí hơn.
+ Trợ giúp đối tượng thực hiện giải pháp: Trong quá trình thực thi các giải pháp,
nhà tham vấn cần kiểm tra quá trình thực hiện theo định kì. Trong quá trình này, nhà
tham vấn và đối tượng cần kịp thời phát hiện, xử lí những những khó khăn mới phát sinh
trong quá trình thực hiện.
C. KẾT THÚC: Giống như nhiều dịch vụ khác, khi giải pháp và điều kiện thỏa
thuận hai bên đạt được, những đối tác có liên quan đến dịch vụ đó sẽ đi đến kết thúc.
Tham vấn tâm lí cũng không phải là ngoại lệ. Khi đối tượng tự giải quyết được vấn đề,
bước kế tiếp là kết thúc dịch vụ tham vấn tâm lí.
Module THCS 23 “KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC
SINH”
A. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG
Hoạt động 1: Tìm hiểu các khái niệm về đánh giá trong giáo dục.
Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông
tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ
vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và
hành động giáo dục tiếp theo.
Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập thông tin, xử lí thông tin và diễn giải
hiện trạng, nguyên nhân, hiệu quả, chất lượng giáo dục theo 2 khía cạnh khác nhau: kết
quả học tập đạt được của học sinh so với kết quả học tập của học sinh khác và kết quả
học tập đạt được của học sinh so với mục tiêu giáo dục đã đặt ra.
Hoạt động 2: Tìm hiểu mục tiêu đánh giá.
Mục tiêu đánh giá cần phải căn cứ và thống nhất với mục tiêu giáo dục. Mục tiêu
tổng quát của đánh giá có thể bao gồm:
- Đánh giá sơ bộ
- Đánh giá quá trình
- Đánh giá tổng kết..
Hoạt động 3: Tìm hiểu các hình thức đánh giá.
- Đánh giá chẩn đoán
- Đánh giá từng phần
- Ra quyết định
- Đánh giá tổng kết
Hoạt động 4: Tìm hiểu chức năng của đánh giá.
* Kiểm tra, đánh giá có ba chức năng:
- Chức năng đánh giá
- Chức năng phát hiện lệch lạc
- Chức năng điều chỉnh
Như vậy, kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực trạng,
14


nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục thông qua việc điều chỉnh phương
pháp dạy học của giáo viên và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá để điều chỉnh phương
pháp học tập.
* Thông qua các chức năng này, đánh giá kết quả học tập sẽ là điều kiện cần thiết để:
- Giúp giáo viên nắm đuợc tình hình học tập, mức độ phân hoá về trình độ học lực
của học sinh trong lớp, từ đó có biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém và bồi dưỡng học
sinh giỏi, giúp giáo viên điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp dạy học.
- Giúp học sinh biết đuợc khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương
trình, xác định nguyên nhân thành công cũng như chưa thành công, từ đó điều chỉnh
phương pháp học tập, phát triển kĩ năng tự đánh giá.
- Giúp cán bộ quản lí giáo dục đề ra phuơng pháp quản lí phù hợp để nâng cao
chất lượng giáo dục.
- Giúp cha mẹ HS và cộng đồng biết được kết quả GD của từng HS, từng lớp và
của cả cơ sở giáo dục
Hoạt động 5: Tìm hiểu mục đích, ý nghĩa và vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của HS
* Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá
- Công khai hoá nhận định về năng lực và kết quả học tập của mọi học sinh và tập
thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự
tiến bộ của mình; khuyến khích, động viên việc học tập.
- Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu
của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và
hiệu quả dạy học.
* Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt
là đối với cán bộ quản lí.
+ Đối với học sinh: việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên, cung cấp kịp thời
những thông tin “liên hệ ngựợc" giúp người học điều chỉnh hoạt động học.
+ Đối với giáo viên: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin
“liên hệ ngược ngoài" giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy.
+ Đối với cán bộ quản lí giáo dục: kiểm tra, đánh giá cung cấp cho cán bộ quản lí
giáo dục những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có
những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng
kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục.
* Vai trò của kiểm trar đánh giá
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chú trọng đến dạy cái gì mà
cần quan tâm đến dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu
cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất luợng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy
học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ từ đổi mới nội dung chương trình sách giáo
khoa, phuơng pháp dạy học cho đến kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học. Kiểm tra, đánh
giá có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao chất lương đào tạo. Kết quả của kiểm tra,
đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lí giáo dục. Nếu
kiểm tra, đánh giá sai sẽ dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo, tác hại to lớn trong
việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới kiểm tra, đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết
của ngành Giáo dục và toàn xã hội ngày nay. Kiểm tra, đánh giá đúng thực tế, chính xác
và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học
tập.

15


Hoạt động 6: Tìm hiểu vị trí của hoạt động kiểm tra, đánh giá trong quá trình giáo dục.

Kiểm tra, đánh giá" hoặc “đánh giá thông qua kiểm tra" để chứng tỏ mối quan hệ
tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau giữa hai công việc này.
Hoạt động 7: Tìm hiểu mối quan hệ giữa giảng dạy và đánh giá
Giảng dạy và đánh giá thường được xem là hai mặt không thể tách rời của hoạt
động dạy học và chúng có tác dụng tương hỗ lẫn nhau
- Đánh giá học tập cần phải dựa trên nền tảng thông tin mà hoạt động giảng dạy
cung cấp.
- Chất lương giảng dạy đuợc phát triển liên tục trên cơ sở thường xuyên xử lí
thông tin từ đánh giá học tập, từ sự tìm hiểu yêu cầu, ưu - nhược điểm của người học và
từ đánh giá giảng dạy cùng các yếu tố tác động đến học tập của nó.
Hoạt động 8: Yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức,
kĩ năng của môn học.
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là thành phần của chương
trình giáo dục phổ thông nên việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến
thức, kĩ năng sẽ tạo nên sự thống nhất, hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm
nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với chuẩn kiến thức, kĩ năng vào dạy học, kiểm tra,
đánh giá; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm, tạo điều kiện cơ bản,
quan trọng để tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá và thi theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Hoạt động 9: Tìm hiểu yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới công tác
kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học.
* Yêu cầu đối mới công tác kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
của môn học
- Giáo viên đánh giá đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và
hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình;
- Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lí hình thức tự luận với hình
thức trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh,
chuẩn bị tốt cho việc đổi mới các kì thi theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện đúng quy định của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở,
học sinh trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tiến hành đủ số lần
kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra học kì cả lí thuyết và thực hành
- Điểm kiểm tra thực hành điểm hệ số 1, giáo viên căn cứ vào quy trình thí nghiệm
một bài thực hành (được thống nhất trước trong toàn tỉnh) theo hướng dẫn, rồi thu và
16


chấm lấy điểm thực hành.
- Các bài kiểm tra định kì (kiểm tra 1 tiết kiểm tra học kì và kiểm tra cuổi năm học)
cần được biên soạn trên cơ sở thiết kế ma trận cho mỗi đề.
- Bài kiểm tra 45 phút nên thực hiện ở cả hai hình thức: trắc nghiệm khách quan và
tự luận. Bài kiểm tra cuổi học kì nên tiến hành dưới hình thức 100% tự luận. Trong quá
trình dạy học, giáo viên cần phải luyện tập cho học sinh thích ứng với cấu trúc đề thi và
hình thức thi tốt nghiệp phổ thông mà Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hằng năm.
* Định hướng chỉ đạo về đổi mới kiểm tra, đánh giá
- Phải có sự hướng dẫn, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp quản lí giáo dục
- Phải có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhất là giáo viên cùng bộ môn
* Cần lấy ý kiến xây dựng của học sinh để hoàn thiện phương pháp dạy học và
kiểm tra, đánh giá:
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá phải đồng bộ với các khâu liên quan và nâng cao các
điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học
* Phát huy vai trò thúc đẩy của đổi mới kiểm tra, đánh giá đổi với đổi mới
phương pháp dạy học
- Phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá gắn với các phong trào khác
trong nhà trường:
- Định hướng và yêu cầu chung về đổi mới đánh giá trong chương trình giáo
dục phổ thông
- Đánh giá kết quả giáo dục của học sinh ở các môn học và hoạt động giáo dục
trong mọi lớp và cuối cấp học nhằm xác định mức độ đạt đuợc mục tiêu giáo dục phổ
thông, làm căn cứ để điều chỉnh quá trình giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, động viên, khuyến khích học sinh chăm học và tự tin trong học tập.
- Đổi mới đánh giá phải gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Nói không với tiêu
cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục" và gắn với phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực".
- Thực hiện đúng quy định của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh; đảm bảo tính
khách quan, chính xác, công bằng.
- Phải đảm bảo sự cân đối các yêu cầu kiểm tra về kiến thức (nhớ, hiểu, vận dụng),
rèn luyện kĩ năng và yêu cầu về thái độ với học sinh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh
giá kết quả học tập, rèn luyện năng lực tự học và tư duy dộc lập.
Hoạt động 10: Tìm hiểu những cơ sở của việc đánh giá kết quả học tập của học
sinh.
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích
học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết
quả học tập:
* Mục đích học tập là những điều học sinh cần có được sau khi đã học xong một đơn vị
kiến thức, một quy tắc nào đó.
- Hệ thống các kiến thức khoa học, gồm cả các phương pháp nhận thức.
- Hệ thống kĩ năng, kĩ xảo.
- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế.
- Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội.
* Mục tiêu của môn học là những điểu học sinh cần phải đạt đuợc sau khi học xong môn
học
- Lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhìên và xã
hội.
- Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc
sống.
- Thu thập những kinh nghiệm sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu và hoạt động
17


sau này.
Hoạt động 11: Tìm hiểu những yêu cầu cần đạt được của việc kiểm tra, đánh giá.
Bốn trụ cột của một nền giáo dục là: Học để biết, học để làm, học để chung sống
và học để khẳng định mình. Phương pháp và nội dung đánh giá còn cần phải hướng đến
những mục tiêu đáp ứng cả 4 trụ cột trên, có thể xem đây là những định hướng thể hiện
tính nhân bản của đánh giá học tập vì chúng hướng đến sự phát triển toàn diện của con
người.
Hoạt động 12: Tìm hiểu việc triển khai kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh trung học phổ thông.
* Quy trình đánh giá gồm những nội dung sau:
- Trình bày vấn đề và mục đích đánh giá
- Xác định đối tượng
- Xác định các loại hình và kĩ thuật đánh giá
- Khai thác và xử lí thông tin
* Quy trình biên soạn đề kiểm tra trong kiểm tra, đánh giá tổng kết
- Xác định mục tiêu của đề kiểm tra
- Xác định chuẩn kiến thức kĩ năng
- Thiết lập ma trận 2 chiều
Hoạt động 13: Tìm hiểu xu thế "đánh giá là để học".
- Tự đánh giá giúp cho giáo viên và học sinh đánh giá được mức độ năng lực nhận
thức của học sinh. Đẩy mạnh tính hướng đích, tạo điều kiện để người học đạt được mục
tiêu học tập.
- Quá trình học tập được mở rộng thông qua việc sử dụng phương pháp tự đánh
giá, kĩ thuật đánh giá trong việc đánh giá quá trình và kết quả học tập của mình.
- Bằng việc thực hành tự đánh giá, người học tham gia đánh giá chính bản thân họ
và chia sẽ gánh nặng đánh giá đối với giáo viên.
- Với việc thành công trong đánh giá bản thân, họ sẽ khẳng định ảnh hưởng tích
cực của tự đánh giá đối với quá trình học tập của mình.
- Tự đánh giá là một thành tố cơ bản là phuơng tiện để học sinh có trách nhiệm
hơn đối với việc học tập của chính mình.
* Một số biện pháp quan trọng phát triển khả năng tự đánh giá mà giáo viên sử dụng có
hiệu quả
- Chia sẽ các mục tiêu học tập của bài học với học sinh.
- Lập kế hoạch và khuyến khích phản ánh về việc học đã xảy ra và xảy ra như thế
nào.
- Khuyến khích học sinh ước định công việc của chính mình.
- Cố gắng tạo ra bầu không khí thuận lợi bên trong lớp học sao cho việc mắc lỗi đuợc
nhìn nhận như là cách thức cải thiện việc học chứ không phải là ghi nhận sự thất bại của
cá nhân.
- Lồng ghép các mục tiêu học tập vào các cuộc thảo luận với học sinh.
- Hỗ trợ học sinh nhận thức được các bước tiếp theo của họ và chia sẻ các chuẩn môn
học mà học sinh cần đạt.
- Có những hỗ trợ, động viên cần thiết và kịp thời giúp học sinh cải thiện việc học
của mình.
* Những yêu cầu sư phạm cần tuân thủ khi đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
- Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định.
- Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
- Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
* Những nguyên tắc khi đánh giá kết quả học tập của học sinh
18


- Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện
dưới dạng những điều có thể quan sát được.
- Giáo viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng
công cụ đánh giá một cách có hiệu quả.
- Khi đánh giá, GV phải biết đây chỉ là phuơng tiện để đi đến mục đích, chứ không
phải là mục đích.
- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của HS, nghĩa là trước tiên phải chú ý
đến việc học tập của học sinh. Sau đó mới kích thích sự nổ lực học tập của học sinh, cuối
cùng mới đánh giá bằng điểm số.
- Đánh giá bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết những sai sót của
mình về kiến thức, kĩ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu, trau dồi thêm kiến
thức.
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát hiện ra
những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách dạy sao cho phù
hợp.
- Trong đánh giá, nên sử dụng nhiều phuơng pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng
độ tin cậy và chính xác.
- Lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá.
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để kiểm tra, đánh giá giúp HS
định hướng khi trả lời.
- Phải dựa trên những cơ sở của phương pháp dạy học mà xem xét kết quả của một
câu trả lời, một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết định về mặt sư
phạm.
- Trong các câu hỏi về mặt định lượng, giáo viên thông qua các câu hỏi yêu cầu học
sinh giải thích bằng lời để xác định rõ nhận thức của học sinh.
- Phương pháp và cách thức tiến hành kiểm tra, đánh giá phải diễn ra trong không khí
thoải mái, học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt
- Không nên đặt những câu hỏi mà bản thân giáo viên không thể trả lời một cách
chắc chắn được.
- Nên luôn nghi ngờ về tính khách quan và mức độ chính xác của bộ câu hỏi để từ đó
chúng ta có thể đưa ra kết quả tối ưu nhất.
B. VẬN DỤNG
Nội dung 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh
1. Trình bày cách hiểu của bạn về kiểm tra, đánh giá, đo lường kết quả học tập.
Chỉ ra các đặc trưng của đo lường kết quả học tập, minh họa những đặc trưng này trong
thực tiễn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở trường THCS
- Kiểm tra là quá trình thu thập thông tin làm cơ sở cho đánh giá.
- Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập xử lý thông tin về trình độ, khả
năng người học thực hiện. Đo lường kết quả học tập là quá trình đối chiếu các thông tin
thu được với tiêu chuẩn hoặc tiêu chí. Việc đo lường mang tính phức tạp, có một số đặc
trưng như định tính và định lượng, trực tiếp và gián tiếp.
2. Phân tích vai trò của đánh giá kết quả học tập, minh họa bằng thực tiễn để
chứng minh cho vai trò đã phân tích
a. Vai trò của kiểm tra đánh giá học sinh trong quá trình dạy và học
Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình, SGK phổ thông từ năm 2015 theo
yêu cầu của Bộ GD&ĐT, thì “mắt xích” cần phải tập trung, nỗ lực nhiều nhất, đầu tư
nhiều thời gian, trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá
học sinh. Trước hết chúng ta phải hiểu kiểm tra đánh là bộ phận không thể tách rời của
quá trình dạy học bởi đối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy học phải xác
19


định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá
trình dạy học sao cho hiệu quả. Muốn biết có hiệu quả hay không, người giáo viên phải
thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp
dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học. Như vậy,
kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói kiểm
tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học.
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý….
Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển
năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều. Quá trình
đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác
trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác
làm được mình cũng sẽ làm được”… Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành
công của mỗi học sinh trong tương lai.
b. Tại sao người ta nói kiểm tra đánh giá rất quan trọng và kiểm tra đánh giá thế
nào thì việc dạy học sẽ bị lái theo cái đó.
* Nếu chúng ta chỉ tập trung đánh giá kết quả như một sản phẩm cuối cùng của
quá trình dạy và học, thì HS chỉ tập trung vào những gì GV ôn và tập trung vào những
trọng tâm GV nhấn mạnh, thậm chí những dạng bài tập GV cho trước… HS chỉ việc thay
số trong bài toán mẫu, bắt trước câu văn mẫu … để đạt được điểm số tối đa theo mong
muốn của thầy/cô giáo. Và như vậy, kiểm tra đánh giá đã biến hình không còn theo đúng
nghĩa của nó. Bởi khi xây dựng chương trình, người ta cần làm rõ triết lý kiểm tra đánh
giá… tức là xác định rõ mục tiêu của kiểm tra đánh giá là gì? Kiểm tra đánh giá xem HS
có đạt mục tiêu học tập, giáo dục, có đạt được kết quả mong đợi theo chuẩn? Và sử dụng
kết quả kiểm tra đó để làm gì? Làm thế nào để GV cải tiến nâng cao chất lượng quá trình
dạy và học nếu không có đánh giá phản hồi từ HS?
* Đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục
tiêu đã đề ra sau một giai đoạn học tập. Nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
quá trình giáo dục:
- Thể hiện kết quả của quá trình GD và đào tạo: kết quả từng giai đoạn, từng học
kỳ, từng năm học
- Tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường : giúp giáo
viên trong việc đánh giá xếp loại năng lực học sinh, kịp thời có những quyết định khen
thưởng – kỷ luật hợp lý.
- Giúp bản thân HS thấy được kết quả học tập của mình, đồng thời thúc đẩy họ
học tập tiến bộ hơn.
* Để đánh giá được kết quả học tập, người giáo viên cần phải thu thập thông tin,
đối chiếu, so sánh và đi đến kết luận phù hợp.
* Muốn quá trình thu thập thông tin có hiệu quả, giáo viên cần phải quan sát học
sinh, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, cho đề học sinh làm bài. Để có thể đi đến kết luận
chính xác, giáo viên cần phải đối chiếu câu trả lời hay bài làm của học sinh với các đáp
án, thang điểm hợp lý.
3. Các chức năng của đánh giá kết quả học tập là gì? Đưa ra các minh họa cụ thể
để chứng minh cho từng chức năng của đánh giá
- Chức năng xác nhận: Xác định mức độ của người học, làm căn cứ cho các quyết
định phù hợp. Cung cấp những số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hay chưa
hoàn thành của khóa học
- Chức năng định hướng: Xác định điểm mạnh và điểm yếu của HS, giúp GV đưa
ra các quyết định có liên quan đến các kế hoạch, nội dung, phương pháp, sắp xếp nhóm
học tập, bồi dưỡng năng khiếu….
20


- Chức năng hỗ trợ: Quá trình dạy học là 1 tiến trình dài. Học sinh thường khó bảo
toàn toàn bộ kiến thức. Vì vậy, kiểm tra đánh giá góp phần điều chỉnh, hỗ trợ, giúp cho
quá trình học tập có hiệu quả.
4. Nhận xét việc thực hiện các chức năng của đánh giá kết quả học tập của học
sinh trong thực tiễn ở nhà trường mà bạn được biết.
Trong nhà trường THCS hiện nay, việc tiến hành đánh giá kết quả học tập của học
sinh diễn ra một cách đồng bộ, nhịp nhàng và thường xuyên, đảm bảo thể hiện đầy đủ
các chức năng ở các loại hình kiểm tra
- Kiểm tra miệng ở đầu mỗi tiết học
- Kiểm tra 15 phút
- Kiểm tra 1 tiết ở cuối chương, hoặc cuối 1 giai đoạn
- Kiểm tra giữa học kỳ
- Kiểm tra học kỳ
5. Phân tích các yêu cầu đối với kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
THCS
- Đảm bảo sự phù hợp của phương pháp kiểm tra đánh giá với các mục tiêu đã xác
định
- Đảm bảo tính giá trị, những thông tin thu được phải là những bằng chứng để đi
đến những kết luận phù hợp
- Đảm bảo tính tin cậy: phản ánh đúng kết quả học tập của người học
- Đảm bảo tính công bằng: tạo điều kiện cho tất cả học sinh có cơ hội như nhau
6. Phân tích thực trạng và yếu điểm của kiểm tra đánh giá học sinh tại các trường phổ
thông hiện nay
Điểm yếu nhất của kiểm tra đánh giá giáo dục phổ thông hiện nay là chưa xác
định rõ triết lý đánh giá: đánh giá để làm gì, tại sao phải đánh giá, đánh giá nhằm thúc
đẩy, hình thành khả năng gi ở học sinh?...
Đánh giá trước hết phải vì sự tiến bộ của học sinh, giúp học sinh nhận ra mình đang ở
đâu trên con đường đạt đến mục tiêu bài học/chuẩn kiến thức, kỹ năng… Đánh giá không
làm học sinh lo sợ, bị thương tổn, mất tự tin. Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình
dạy học, giúp học sinh liên tục được phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở
điểm nào để cả giáo viên và học sinh cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá
phải tạo ra sự phát triển, phải nâng cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình
thành khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau… để phát triển năng lực tự học. Hiện nay
rất nhiều giáo viên, các cán bộ quản lý giáo dục chưa thấu hiểu triết lý đánh giá, chủ yếu
mới chỉ tập trung vào đánh giá kết quả học tập, để xếp loại học sinh…Giáo viên cũng
gặp rất nhiều khó khăn khi phải đánh giá các hoạt động giáo dục (không biết đánh giá
các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đánh giá đạo đức, giá trị sống, kỹ năng sống
như thế nào…). Nếu đánh giá chỉ là kiểm tra sự học thuộc bài (ghi nhớ), làm lại theo các
kiểu, dạng bài mẫu thầy đã cho… sẽ triệt tiêu sự phát triển, sự nỗ lực vươn lên ở người
học.
Điểm yếu khác trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá (chấm điểm) mà
không có sự phản hồi cho học sinh. GV chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểm hoặc chỉ
phê “sai”, “làm lại” hay chỉ viết ký hiệu sai hay ký hiệu đúng chứ chưa giải thích được rõ
cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào. Một số GV chấm bài có sự phản hồi nhưng
phản hồi không đủ, phản hồi tiêu cực, không mang tính xây dựng (Vi dụ, GV phê: làm
sai, làm ẩu, không hiểu…làm học sinh mất niềm tin, không có động lực để sửa lỗi), làm
cho người học chán nản… Khi phản hồi của GV đối với bài làm của HS mang sắc thái
xúc cảm âm tính, tiêu cực, có thể làm học sinh xấu hổ, mất tự tin. Bên cạnh đó, nếu GV
có phản hồi chung (chữa bài kiểm tra trên lớp) lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách
tư duy “áp đặt” của GV, mà không giúp phân tích mổ sẻ những cách tư duy chưa phù hợp
21


của học sinh dẫn đến sự sai sót. Đánh giá lại khuôn vào một số kiểu loại bài toán, dạng
bài văn, không nhằm bộc lộ năng lực suy nghĩ, sự trải nghiệm đa dạng, phong phú của
người học, tức tập trung vào một số kiểu đề thi và chỉ để đáp ứng các kỳ thi, điều này
làm cho quá trình dạy học bị bóp méo chỉ để phục vụ mục đích thi cử, nên mới xảy ra
hiện tượng mọi học sinh “muốn thi đỗ phải đến lớp luyện thi” nhưng thi xong chẳng còn
nhớ gì hết.
Một trong những điểm yếu nữa là hiện nay, giáo viên sử dụng hầu như rất hạn chế
các hình thức đánh giá mới, hiện đại, phần lớn những đánh giá GV đang sử dụng có tính
truyền thống: dựa vào viết luận, làm các bàì tập như kiểm tra 15 phút, 1 tiết… , và thông
qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính giáo viên cũng không rõ mình
định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh. Khi giáo viên chưa đa dạng hóa các
kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập trở nên nhàm chán, sẽ khó phát triển các
năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng
tạo…). Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các
hình thức đánh giá: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, vấn
đáp… đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình/trình bày, thông
qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống
bài tập, các hình thức tiểu luận, …, thì giáo viên chưa làm được vì chưa được đào tạo.
7. Những khó khăn hay bất cập trong kiểm tra đánh giá học sinh hiện nay nên
hiểu thế nào để tìm cách khắc phục
Thực tế việc triển khai ứng dụng đổi mới kiểm tra đánh giá ở các trường phổ
thông còn gặp rất nhiều khó khăn. Bởi từ trước đến nay GV thường kiểm tra đánh giá
dựa trên những kinh nghiệm, soạn câu hỏi kiểm tra miệng, hay bài kiểm tra 15 phút, bài
thi 1 tiết hoặc học kỳ phần lớn dựa trên kinh nghiệm. Giáo viên thường ra đề kiểm tra, đề
thi dựa trên theo lối mòn (kinh nghiệm, thói quen…) mà ít khi để ý đến cơ sở khoa học,
tính quy chuẩn của việc thiết kế đề thi hay đề kiểm tra. Các đề thi/kiểm tra chủ yếu là
nhằm đánh giá việc nhớ, hiểu kiến thức, kỹ năng thực hành, mà ít chú ý đánh giá khả
năng học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống,
ít chú ý đến việc đánh giá năng lực người học theo chuẩn mong đợi.
Giáo viên chọn kiểu câu hỏi, cách thức ra đề thi đánh giá học sinh chủ yếu do bắt
trước những đề mẫu, theo “sách”… mà ít khi để ý đến mục tiêu đo lường, đánh giá, ít khi
suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc ra đề thi hay đề kiểm tra là nhằm kiểm tra kiến thức,
kỹ năng gì, đặc biệt là kiểm tra năng lực gì trong đó, họ không định hình rõ ràng. Chính
vậy mà GV sưu tầm một số đề cảm thấy “hay” trong sách GK hay sách tham khảo, trên
cơ sở đó bắt chước cách làm. Còn các kiến thức được tập huấn về thiết kế đề thi như thế
nào cho khoa học,… nhiều lúc còn mới lạ với họ. GV không đủ thời gian để làm những
cái đó, mặt khác GV cũng không được các cấp quản lý như sở, phòng, BGH, tổ bộ môn
hỗ trợ về thời gian, kinh phí, cũng như bồi dưỡng cho GV các kỹ thuật để xây dựng các
đề kiểm tra, đề thi... theo một quy trình, dựa trên cơ sở khoa học đo lường và đánh giá.
Điểm nữa là, sau mỗi bài kiểm tra/ kỳ thi, giáo viên thường chỉ quan tâm đến
điểm số của học sinh để lên bảng điểm, xếp loại, đánh giá, chứ không nghĩ rằng cần phân
tích đánh giá chất lượng các đề kiểm tra/thi để rút kinh nghiệm… giúp phát hiện những
thiếu hụt gì ở học sinh, để điều chỉnh hoạt động dạy và học. Nhiều giáo viên chỉ quan
tâm, kiểm tra đánh giá để có điểm, thực hiện yêu cầu theo quy chế…mà quên rằng kiểm
tra đánh giá còn có nhiều chức năng khác…
8. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh
THCS
Muốn nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS, đánh giá
phải tạo ra động lực để đối tượng được đánh giá vươn lên. Do vậy, đánh giá phải linh

22


hoạt, mềm dẻo có tác dụng khích lệ, động viên. Tiêu chí đánh giá cũng như kết quả đánh
giá phải được công bố công khai và kịp thời cho học sinh.
Nội dung 2: Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học
sinh
1. Bạn hãy quan sát thực tiễn việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
trong nhà trường và nhận xét việc thực hiện các yêu cầu của giáo viên khi tiến hành
phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận. Hãy đề xuất ý kiến để khắc phục những hạn
chế này
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường hiện nay
thường được tiến hành với nhiều hình thức:
- Phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận
- Phương pháp kiểm tra trắc nghiệm khách quan
- Phương pháp kiểm tra vấn đáp
- Phương pháp quan sát.
Khi tiến hành phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận, người giáo viên thường
cho ít câu hỏi, mỗi câu hỏi cần nhiều thời gian để trả lời, cho phép một sự tự do tương
đối để trả lời các vấn đề đã đặt ra. Phương pháp này có thể đánh giá được mức độ hiểu
sâu, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng giải thích hoặc tổng hợp các sự kiện. Tuy
nhiên, một bài kiểm tra viết dạng tự luận thường có ít câu hỏi, do đó khó có thể đánh giá
tổng thể một lượng kiến thức cần đánh giá. Hơn nữa, khi làm bài viết tự luận, học sinh
thường chỉ tập trung vào một số chủ đề, thể loại, các mối quan hệ, cách tổng hợp sắp xếp
thông tin. Việc chấm điểm một bài tự luận thường gặp 1 số khó khăn và tốn thời gian.
Theo tôi, để giảm các hạn chế nói trên, trong kiểm tra đánh giá, giáo viên nên kết hợp các
phương pháp khác với nhau. Có như thế thì kết quả kiểm tra đánh giá học sinh mới mang
tính chính xác, khách quan, hiệu quả và toàn diện.
2. Hãy nhận xét về việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để đánh
giá kết quả học tập của học sinh trong thực tiễn hiện nay
Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của
học sinh là 1 phương pháp hiệu quả, có khả năng đo được nhận thức của học sinh (biết,
hiểu, vận dụng, phân tích , tổng hợp, đánh giá ). Điểm số có độ tin cậy cao. Bài kiểm tra
trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề có thể đại diện cho lượng kiến thức
cần đánh giá. Tuy nhiên, bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan cũng gặp không ít khó
khăn trong việc đo lường khả năng diễn đạt, sắp xếp, trình bày và đưa ra ý tưởng mới.
Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống câu hỏi đòi hỏi nhiều ở khâu chuẩn bị và tốn thời gian.
3. So sánh phương pháp kiểm tra viết dạng tự luận và phương pháp trắc nghiệm khách
quan. Nêu những căn cứ để lựa chọn và sử dụng có hiệu quả từng phương pháp
Phương pháp kiểm tra dạng tự luận
-Ít câu hỏi, chỉ tập trung ở 1 số chủ đề, thể
loại do đó không thể kiểm tra tổng thể
lượng kiến thức cần đánh giá
-Điểm số khó đánh giá 1 cách tuyệt đối, có
thể bị thiên lệch giữa các giám khảo
-Có thể đánh giá mức độ hiểu sâu, khả
năng nắm bắt thông tin, khả năng sắp xếp,
diễn đạt, đưa ra ý tưởng mới

Phương pháp trắc nghiệm khách quan.
-Nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề do đó có thể
kiểm tra tổng thể lượng kiến thức cần đánh
giá
-Điểm số có độ tin cậy cao, mang tính khách
quan
-Khó đo được mức độ diễn đạt, sắp xếp, trình
bày và đưa ra ý tưởng mới

4. Thảo luận về thực trạng sử dụng phương pháp vấn đáp trong kiểm tra, đánh
giá kết quả của học sinh hiện nay

23


Kiểm tra vấn đáp là 1 phương pháp được sử dụng phổ biến trong kiểm tra, đánh
giá kết quả của học sinh hiện nay. Phương pháp này giúp giáo viên thu được tín hiệu từ
mọi đối tượng học sinh một cách nhanh chóng. giúp cả giáo viên và học sinh kịp thời
điều chỉnh các hoạt động. Phương pháp này thật sự cần thiết, có thể kích thích học sinh
học bài mỗi ngày,giúp học sinh tự kiểm tra tri thức thông qua câu trả lời của mình hoặc
của bạn. Phương pháp này có thể được sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học, cũng như
ở mỗi cuối học kỳ hoặc cuối năm khi học sinh cần trình bày, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói.
Tuy nhiên, kiểm tra vấn đáp còn gặp 1 số hạn chế, đòi hỏi người giáo viên phải nêu câu
hỏi rõ ràng, dễ hiểu, phải khéo léo trong dẫn dắt học sinh đi đến trả lời. Kiểm tra vấn đáp
đôi khi tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện kế hoạch của giáo
viên và học sinh. Kết quả kiểm tra vấn đáp đôi khi còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan
của người hỏi và tâm trạng hay sự bình tĩnh của người trả lời
5. Trình bày phương pháp đánh giá thực hành sử dụng trong đánh giá kết quả học
tập của học sinh, so sánh với bài kiểm tra viết tự luận
Phương pháp thực hành quan sát có nhiều thuận lợi trong đánh giá thái độ hoặc kỹ năng
của học sinh. Phương pháp này hướng các em đi vào các hoạt động, tạo cơ hội cho các em thể
hiện những điều đã học theo những cách khác nhau, qua đó thể hiện được tính sáng tạo của học
sinh. Thông qua các hoạt động quan sát, đánh giá thực hành, giáo viên có thể nắm bắt 1 số thông
tin có giá trị. Tuy nhiên phương pháp này chỉ thu được những biểu hiện trực tiếp, bề ngoài. Kết
quả quan sát còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người quan sát, số lượng quan sát không
nhiều. Giáo viên thường mất nhiều thời gian đầu tư cho các bài tập hay và xây dựng các tiêu chí
đánh giá. Học sinh mất nhiều thời gian để hoàn thành nhiệm vụ

Đánh giá thực hành
Kiểm tra viết tự luận
- Thuận lợi trong đánh giá thái độ hoặc - Thuận lợi trong đánh giá mức độ hiểu sâu,
kỹ năng của học sinh….tạo cơ hội cho khả năng suy luận, sắp xếp, tổng hợp…tạo cơ
các em hoạt động thể hiện tính sáng tạo hội cho các em sáng tạo, thể hiện ý tưởng mới
- Còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan - Còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của từng
của người quan sát
người chấm
Module THCS 24 “KỸ THUẬT KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC.”
A. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG
* Kỹ thuật biên soạn đề kiểm tra
Để biên soạn một đề kiểm tra, người ra đề cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi
học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học, nên người biên
soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ
năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm
tra cho phù hợp.
Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm tra
Đề kiểm tra có các hình thức sau:
- Đề kiểm tra tự luận;
- Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;
- Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi
dạng trắc nghiệm khách quan. Trong trường hợp này nên ra đề riêng cho phần tự luận và
phần trắc nghiệm khách quan độc lập với nhau.

24


Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý
các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao
hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn.
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm tra phần
trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài kiểm tra phần tự luận: làm phần trắc
nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần tự luận.
Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần
đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết,
thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao).
Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm,
số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi.
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh
giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức,
từng cấp độ nhận thức.
Bước 4. Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: mỗi câu hỏi chỉ
kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm; số lượng câu hỏi và tổng số câu hỏi do
ma trận đề quy định.
Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả mãn các
yêu cầu sau: (ở đây trình bày 2 loại câu hỏi thường dùng nhiều trong các đề kiểm tra)
Các yêu cầu đối với câu hỏi có nhiều lựa chọn:
1) Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số
điểm tương ứng;
3) Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
4) Không trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;
5) Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;
6) Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến
thức;
7) Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của
học sinh;
8) Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác
trong bài kiểm tra;
9) Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
10) Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;
11) Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có
phương án nào đúng”.
Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận:
1) Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×