Tải bản đầy đủ

BL những quy định của PL VN (BLDS 2005 và BLDS 2015) trong việc giải quyết XĐPL về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

MỞ ĐẦU VẤN ĐỀ
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, nhiều quan hệ
thừa kế vượt ra khỏi phạm vi của quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài. Tại Việt Nam, những quy định về pháp luật áp dụng cho quan hệ
thừa kế có yếu tố nước ngoài tập trung tại Bộ luật Dân sự. Trong thời điểm
BLDS 2015 chuẩn bị có hiệu lực vào ngày 01/07/2017, thay thế cho BLDS 2005,
giống như bước chuyển giao mùa có những điểm cần lưu ý về việc chọn luật áp
dụng giải quyết vấn đề thừa kế theo di chúc. Chính vì vậy em xin chọn đề số 03:
“BL những quy định của PL VN (BLDS 2005 và BLDS 2015) trong việc giải
quyết XĐPL về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài” để đi sâu tìm hiểu
vấn đề đã nêu ra cho bài tập của mình.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I-

NHỮNG VẤN ĐÊ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ

YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.
1. Các khái niệm cơ bản.
1.1 thừa kế và thừa kế theo di chúc.
Theo định nghĩa trong từ điển, Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã

chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Thừa kế có
hai hình thức đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho
người khác sau khi chết. Cụ thể di chúc là sự bày tỏ ý chí của người để lại di sản
nhằm định đoạt toàn bộ hay một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng

1


của mình được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi người để lại di sản
chết đi .1
Như vậy, quan hệ thừa kế theo di chúc là một chế định pháp luật dân sự, là
tổng hợp các quy phạm PL điều chỉnh việc chuyển dịch TS của ng chết cho
người sống theo di chúc.
1.2 QH Thừa kế theo di chúc có YTNN.
Quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người
sống theo di chúc khi có một trong các yếu tố sau xuất hiện: ít nhất một trong các
bên tham gia quan hệ là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài; tài sản liên quan đến quan hệ nằm ở nước ngoài; căn cứ
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước
ngoài.
1.3 XĐPL về QHTK theo di chúc có YTNN.
Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có
thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố
nước ngoài.
Theo đó, xung đột pháp luật về thừa kế theo di chúc có YTNN được hiểu là
hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều
chỉnh một quan hệ thừa kế theo theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Sự khác nhau
giữa các hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới trong
quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nói chung và trong quan hệ thừa kế theo di chúc
có yếu tố nước ngoài nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Điều này xuất phát

1 Luật gia:Tiến Thành, Những điều cần biết về di chúc và lâp di chúc, NXB Chính trị quốc gia, HN-2012.

2


từ nhiều nguyên nhân, có thể là do sự khác biệt về thể chế chính trị- kinh tế- văn
hóa- xã hội hay nhận thức, phong tục, đạo đức khác nhau.


II-

BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PL VN TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO DI

CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.
1. NhỮNG quy định trong BLDS 2005.
1.1 Về năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc.
Theo K1 đ 768 BLDS 2005 quy định “1. năng lực lập di chúc, thay đổi và
hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người đó là công dân”
Việc chuyển dịch di sản cho người thừa kế theo di chúc là dựa trên cơ sở ý
chí định đoạt của người lập di chúc khi còn sống. QH TK theo di chúc dc đặt ra
trong TH ng chết để lại di chúc và di chúc đó là hợp pháp.Di chúc có thể định
đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản. Theo ông nguyễn công khanh “ Năng lực của
cá nhân lập chúc cũng là năng lực HVDS. Đ 762 BLDS 2005 quy định ng nc
ngoài xác lập giao dịch DS tại VN dc coi là có NLHVDS như CD VN. Vì vậy,
PL nc ta cũng nên cho phép ng nc ngoài có năng lực lập di chúc như CD VN.”2
BLDS 2005 đã đưa ra những ngtac AD luật đối với cá ND liên quan đến
tính hợp pháp của di chúc. K1 Đ 768 BLDS 2005 xđinh hệ thuộc luật quốc tịch
( lex nationalis) để giải quyết XĐPL về năng lực lập di chúc. Cá nhân là công
dân của quốc gia nào thì pháp luật nước đó quy định về năng lực pháp luật nói
chuung và năng lực lập di chúc nói riêng. Vì vậy, việc cá nhân lập di chúc, sđ,
bsung, hủy di chúc phải tuân theo qđ của nước mà CD có quốc tịch. Quy định
này phù hợp với việc XĐ PL AD đối với năng lực hành vi dân sự của các cá
nhân và phù hợp với các HĐ TTTP mà VN đã kí kết. Trong TH ng VN lập di

2 Nguyễn công khanh, Phương hướng XD chế định thừa kế có yếu tố nc ngoài trong phần thứ 7 của BLDS,
Tạp chí dân chủ và pháp luật, HN-2002, trang 2.

3


chúc ở nc ngoài thì năng lực lập di chúc, thay đổi, hủy bỏ di chúc tuân theo quy
định PL VN.
Như vậy, để giải quyết xung đột pháp luật về năng lực lập, thay đổi và hủy
bỏ di chúc, Việt Nam áp dụng pháp luật của nước mà người lập di chúc là công
dân. Pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định năng lực chủ thể khi công
dân Việt Nam lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc, định đoạt di sản thừa kế, bất kể di
sản thừa kế là động sản hay bất động sản. Pháp luật Việt Nam sẽ không được áp
dụng đối với việc xác định năng lực chủ thể khi công dân nước ngoài lập, thay
đổi, hủy bỏ di chúc định đoạt di sản thừa kế, kể cả khi hành vi này được thực
hiện tại Việt Nam

1.2 Về hình thức của di chúc.
Khoản 2 Đ 768 BLDS 2005 quy định: “Hình thức của di chúc phải tuân
theo pháp luật của nước nơi lập di chúc.”
Hình thức của di chúc là sự thể hiện của di chúc trên thực tế, chứa đựng nội
dung di chúc. Hình thức của di chúc rất đa dạng như văn bản, miệng, ghi âm, ghi
hình,… PL của mỗi nước có quy định nhiều hình thức khác nhau, nên khi lập di
chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc. Bởi vì ngoài các hình
thức do pháp luật của nước đó quy định thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ
không thực hiện việc công chứng, chứng thực di chúc có hình thức khác.3
K2 đ 768 BLDS 2005 quy định hình thức của di chúc phải tuân theo pháp
luật của nước nơi lập di chúc ( hệ thuộc locus regit actum). K1 Đ 13 NĐ
138/2006/NĐ-CP quy định” Năng lực lập, ssd, bsung, thay thế, hủy bỏ di chúc
được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch. Trong
tH ng lập di chúc k có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch nc ngoài thì việc
3 TS Nguyễn Minh Tuấn, BLKH BLDS của nước CHXHCNVN, NXB Tư pháp ,hN-2015.

4


xác định PL AD TK theo di chúc tuân theo quy định tại Đ 760 của BLDS và NĐ
này.”Khác với nguyên tắc áp dụng luật đối với việc xác định năng lực lập, thay
đổi và hủy bỏ di chúc, hình thức của di chúc trong trường hợp có yếu tố nước
ngoài k căn cứ vào quốc tịch của ng lập di chúc mà căn cứ vào lãnh thổ nơi ng
để lại di sản lập di chúc. Để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức di chúc,
Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật của nước nơi lập di chúc. Nếu công dân Việt
Nam lập di chúc ở nước ngoài phải tuân theo những quy định của pháp luật nước
ngoài về hình thức di chúc; nếu công dân nước ngoài lập di chúc ở Việt Nam thì
bắt buộc phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức di chúc
Như vậy, nếu Công dân VN lập di chúc ở Lào thì phải tuân thủ những quy
định của PL Lào về hình thức di chúc;và nếu CD Lào lập di chúc ở VN thì phải
tuân thủ những quy định của PL VN cùng với đó là HĐTTTP được kí kết giữa
Việt Nam và Lào. Điều này hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ nhiều QG quy định di chúc
có hiệu lực khi dc đăng kí tại cơ quan NN có thẩm quyền, do đó cần phải tuân
theo các qđịnh của QG nơi lập di chúc về hình thức của di chúc.
Tuy nhiên có những qđiểm khác lại cho rằng theo Đ 770 BLDS 2005 hợp
đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng
theo pháp luật của nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước
ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam”. Do cách điều chỉnh này mà một số
ng đã kiến nghị đối với việc giải quyết XĐPL về hình thức của di chúc. Chẳng
hạn theo ông nGuyễn công khanh “ nếu di chúc đã lập trái với PL của nước nơi
lập di chúc, nhưng phù hợp với pháp luật VN thì được PL VN công nhận”4
Việc TK của CD VN đối với TS ở nước ngaoif, PL của nc ta k có các qđịnh
cấm trên mà thực tế NN cho phép và bảo hộ CD VN hiện đang cư trú trong nc dc
4 Nguyễn công khanh, Phương hướng XD chế định thừa kế có yếu tố nc ngoài trong phần thứ 7 của BLDS,
Tạp chí dân chủ và pháp luật, HN-2002, trang 2

5


nhận các di sản TK mà ng thân của họ để lại ở nc ngoài. Đối với việc TK theo
DC của CD VN ở nc ngoài Điều 660 BLDS qđịnh những dchuc bằng VB dưới
đây cũng có gtri như DC dc công chứng NN chứng nhận hoặc UBND xã, p, TT
chứng thực: “Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của
người chỉ huy phương tiện đó..”Đối với TH nếu CD VN lập DC ở nc ngoài theo
PL của nc ngoài thì các di chúc này dc coi là hợp pháp nếu PL nc ngoài dc áp
dụng để lập di chúc không trái vwois các nguyên tắc cơ bản của PL nc
CHXHCNVN ( K3Đ 759 BLDS)
PL VN về QH Thừa kế k quy định cá nhân có thể lập bnhei di chúc. Vì Dc
chỉ phát sinh hiệu lực PL kể từ khi ng lập di chúc chết và nếu 1 ng lập nhiều bản
di chúc thì bản di chúc cuối cùng sẽ có hiệu lực thi hành.
1.3 Hạn chế, bất cập của BLDS 2005 về những quy định giải quyết
XĐPL về thừa kế theo di chúc có yếu tố nc ngoài.
Khoản 1 Điều 768 BLDS 2005 quy định: “năng lực lập, sửa đổi, hủy bỏ di
chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân”. Quy
định trên không cho thấy rõ ràng về thời điểm để xác định pháp luật của nước mà
người lập di chúc mang quốc tịch. Vì thế, nếu thời điểm lập di chúc và thời điểm
người để lại di chúc chết không trùng nhau thì theo khoản 1 Điều 768 BLDS
2005 chúng ta có thể hiểu theo hai hướng đó là pháp luật của nước mà người để
lại di chúc là công dân vào thời điểm người đó lập di chúc hoặc pháp luật của
nước mà người đó là công dân vào thời điểm người đó chết đều có thể được áp
dụng.
Về hình thức di chúc, khoản 2 Điều 768 BLDS 2005 quy định “hình thức di
chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc”. Ngoài ra, khoản 2 Điều
13 Nghị định 138/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành phần thứ VII BLDS 2005
còn quy định một trường hợp ngoại lệ đó là di chúc của người Việt Nam lập ở
6


nước ngoài cũng sẽ được coi là hợp pháp nếu tuân theo quy định của Pháp luật
Việt Nam về hình thức di chúc. Với quy định này pháp luật Việt Nam đã thu hẹp
khả năng có hiệu lực của di chúc, chưa tạo điều kiện tốt nhất để di chúc có hiệu
lực và trên thực tế nếu áp dụng quy định này thì sẽ có rất nhiều trường hợp di
chúc sẽ không có hiệu lực pháp luật bởi một công dân Việt Nam hay công dân
của bất kỳ một quốc gia nào thông thường họ sẽ am hiểu những quy định của
pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch hoặc nước mà họ cư trú vào thời điểm
chết hoặc thời điểm lập di chúc nhưng có rất nhiều trường hợp họ lại không thể
lập di chúc tại nước mà họ mang quốc tịch hoặc cư trú, lúc này nếu bắt buộc di
chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc thì không hợp lý bởi
người này không am hiểu quy định của pháp luật nước nơi lập di chúc.
Về nội dung của di chúc, pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra
nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng .

2. Theo BLDS 2015.
2.2. Về năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc.
Điều 681. Khoản 1 BLDS 2015 quy định:
“1. Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo
pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi
hoặc hủy bỏ di chúc.”
Năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc BLDS 2015 cũng thừa nhận việc giải
quyết XĐPL về xác định năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc theo nguyên tắc
luật quốc tịch. Tuy nhiên, BLDS 2015 quy định về năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ
di chúc tại Khoản 1 Điều 681 thì Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc huỷ bỏ di
7


chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch
tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc. (thay vì theo pháp luật của nước
mà người lập di chúc là công dân như BLDS 2005).
Như vậy, với quy định này, BLDS 2015 đã áp dụng hoàn thiện hơn nguyên
tắc luật quốc tịch trong việc giải quyết xung đột pháp luật về xã định năng lực
lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài. Theo đó, thì với mỗi thời điểm lập di chúc, thay đổi di chúc, hủy bỏ di
chúc sẽ áp dụng theo luật quốc tịch của người đó vào thời điểm đó đang mang
quốc tịch của quốc gia nào.
Quy định này đã khắc phục được hạn chế của BLDS 2005 đã được trình bày
ở trên. Đây là điểm tiến bộ trong tư duy xây dựng của nhà làm luật, đảm bảo
quyền để lại di sản thừa kế cho mội cá nhân. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa
hoàn toàn phù hợp với quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong
quan hệ dân sự có yếu tố nước người tại Khoản 2 Điều 674 BLDS 2015. Hạn chế
này tồn tại từ BLDS 2005 nhưng vẫn chưa được nhà làm luật nhìn nhận lại và
sửa đổi cho phù hợp. Để phù hợp hơn, theo em nhà làm luật cần bổ sung thêm
trường hợp ở Khoản 2 Điều 674 vào Điều 681 BLDS 2015 để đảm bảo tính
thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
2.2 Về hình thức của di chúc.
- Quy định cụ thể về hình thức của di chúc như sau:
Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc
được lập. Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp
với pháp luật của một trong các nước sau:

8


+ Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời
điểm người lập di chúc chết.
+ Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại
thời điểm người lập di chúc chết.
+ Nước nơi có BĐS nếu di sản thừa kế là BĐ
Di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản trước khi chết cho người
khác hưởng một phần hoặc toàn bộ TS của mình. Ý chí đó phải được thể hiện
dưới một hình thức do luật qđ và PL tôn trọng việc thể hiện ý chí đó của người
có TS. Việc lập di chúc, thay đổi, hủy bỏ di chúc xác định PL nc mà người lập di
chúc có quốc tịch.
Hình thức của di chúc là phương tiện thể hiện nội dung di chúc cho nên rất
đa dạng, tuy nhiên PL mỗi nc chỉ công nhận một số loại hình thức nhất định, vì
vậy hình thức của di chúc xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập.
Hình thức di chúc BLDS 2015 bên cạnh kế thừa theo nguyên tắc luật nơi
lập di chúc trong việc xác định hình thức của di chúc ở BLDS 2005 thì đã quy
định mở rộng thêm về hình thức di chúc trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước
ngoài cũng được công nhận tại Việt Nam. BLDS 2015 đã quy định cụ thể hơn
trong việc giải quyết XĐPL về xác định hình thức di chúc trong quan hệ thừa kế
theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Đây là một điểm tiến bộ của BLDS 2015, nó
đã khắc phục được hạn chế đã được nêu ở trên của BLDS 2005, việc quy định
này góp phần vào việc giải quyết XĐPL được hiệu quả hơn và bảo đảm quyền
được để lại di sản cho cá nhân người nước ngoài khi ở Việt Nam.
Về nội dung của di chúc, BLDS 2005 không đưa ra nguyên tắc xác định
pháp luật áp dụng . Thiết nghĩ, nhà làm luật nên đưa thêm quy định Nội dung di
9


chúc nên được điều chỉnh bởi chính hệ thống pháp luật điều chỉnh năng lực lập,
hủy bỏ, thay đổi di chúc nhưng phải đảm bảo điều kiện không vi phạm các quy
phạm pháp luật bắt buộc trong pháp luật quốc gia mà người để lại di sản có quốc
tịch vào thời điểm lập, hủy bỏ, thay đổi di chúc.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×