Tải bản đầy đủ

6 tiểu luận cuối khóa lớp bồi dưỡng QLNN chương trình chuyên viên và chuyên viên chính

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU………………..…………………………….…….…

1

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG…….............……………….......…….…

3

1.1. Hoàn cảnh ra đời..………………………………….....................

3

1.2. Diễn biến tình huống........…………………………………..…..

4

II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.….....................................…...…

6


2.1. Cơ sở lý luận….......………………………………......................

6

2.2. Phân tích và xử lý tình huống……………………………….…..

9

III. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP…......................................…..…

13

IV. KẾT LUẬN…..................…....................................................…

14

TÀI LIỆU THAM KHẢO

16

1


Li m u
Quyết định quản lý hành chính nhà nớc là sản phẩm
hoạt động thực hiện quyền hạn do pháp luật quy định, nhng
là sản phẩm chứa đựng yếu tố quyền lực, quyền uy, thể
hiện ý chí của cơ quan ban hành. Nh vậy, quyết định quản
lý hành chính nhà nớc cũng giống nh mọi quyết định pháp
luật khác đều có tính ý chí, quyền lực và tính pháp lý.
Quyết định quản lý hành chính nhà nớc là kết quả sự
thể hiện ý chí, quyền lực Nhà nớc của các cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền, ngời có thẩm quyền, đợc ban hành trên cơ sở
và để thi hành luật theo thủ tục do pháp luật quy định,
nhằm định ra chủ trơng, chính sách, nhiệm vụ có tính
định hớng trong quản lý nhà nớc; hoặc đặt ra, sửa đổi, bãi
bỏ quy phạm pháp luật hiện hành, làm thay đổi hiệu lực của
chúng; hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dta các quan hệ
hành chính cụ thể, để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng


quản lý nhà nớc.
Quyết định quản lý hành chính nhà nớc là một loại
quyết định do cơ quan quản lý nhà nớc ban hành thể hiện ý
chí và tính quyền lực của quyết định quản lý hành chính
thể hiện ở chỗ

khi ra quyết định của các cơ quan hành

chính, ngời có thẩm quyền nhân danh Nhà nớc đại diện cho
quyền lực nhà nớc. Mục tiêu của quyết định quản lý hành
chính nhà nớc định ra, đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ các quy
phạm pháp luật hành chính hoặc làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể, để thực
hiện các nhiệm vụ các quyền hạn của quyền hành pháp nhà
nớc. Nói cách khác, các quyết định quản lý hành chính nhà

2


nớc nhằm đa ra các quy định chung hoặc tình trạng pháp lý
cụ thể, cá biệt cho công dân và tập thể. Do vậy các quyết
định quản lý hành chính trớc hết phải phù hợp với pháp luật
về nội dung và trình tự ban hành, đồng thời phải đảm bảo
tính hợp lý, nghĩa là phù hợp với đờng lối chính trị, nhu cầu
nguyện vọng của nhân dân trong thực tiễn, khả năng quản
lý của Nhà nớc trong từng giai đoạn cụ thể.
Tính hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý hành
chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi ban hành các
quyết định hành chính, các cơ quan hành chính Nhà nớc
phải đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý, nhờ đó văn bản đa ra
mới có khả năng thực thi và đợc xã hội chấp nhận.
Trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự phát triển của xã hội,
bên cạnh những mặt tích cực, cơ chế thị trờng, sự đa dạng
của các hoạt động kinh tế đã và đang bộc lộ những hạn chế
của mình. Và cùng với nó là sự ra đời của hàng loạt các quyết
định quản lý hành chính để điều chỉnh các mối quan hệ
này. Vấn đề đặt ra ở chỗ nhiều quyết định quản lý hành
chính vừa bất hợp pháp, vừa bất hợp lý. Những quyết định
sai trái này đã làm cho mối quan hệ vốn đã phức tạp trong cơ
chế thị trờng ngày càng trở nên phức tạp hơn. Và hậu quả
đáng tiếc của nó là làm lãng phí thời gian, tiền của nhân
dân, của các cơ quan nhà nớc. Nhng nghiêm trọng hơn cả là
nó làm suy giảm lòng tin của ngời dân vào Nhà nớc, vào Pháp
luật.
Bản thân tôi đợc học lớp Bồi dỡng kiến thức quản lý nhà
nớc chơng trình chuyên viên chính tổ chức tại Trờng Đại học
lâm nghiệp. Với những kiến thức đã đợc học tập, nghiên cứu

3


và qua tìm hiểu tình hình thức tế tại một số cơ quan đơn
vị về ra các quyết định quản lý hành chính, tôi nhận thấy
đây là một trong những vấn đề đang đợc quan tâm của
các cơ quan và của nhân dân. Để hiểu rõ vấn đề tôi đã
chọn tiểu luận: Quyết định hành chính và công tác
giải phóng mặt bằng của UBND Thị trấn A, tỉnh HT.
Để hoàn thành tiểu luận tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu
một số các văn bản pháp luật của Nhà nớc: Luật Đất đai; Pháp
lệnh xử phạt vi phạm hành chính; các Nghị định, Quyết
định về sử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực; tài
liệu bồi dỡng về Quản lý hành chính nhà nớc chơng trình
chuyên viên chính ...
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có hạn, về kiến thức
cũng nh trình độ khả năng hiểu biết của bản thân còn hạn
chế nên không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong đợc sự đóng
góp quý báu của các giảng viên và học viên.
Xin trân trọng cảm ơn!

i. mô tả tình huống
1.1. Hoàn cảnh ra đời.
MX là khu vực nổi tiếng với nghề trồng lúa và cung
cấp các sản phẩm nông nghiệp, nằm ở phía Tây tỉnh HT,
trên địa bàn Thị trấn A. Khu đất này có diện tích khoảng
25.000 m2 và là nơi sinh sống của 70 hộ gia đình với hơn
2000 nhân khẩu. Trớc năm 1945 đây là một vùng đất
hoang vắng, sau năm 1945 một số ngời (chủ yếu là dân
ngoại tỉnh và các vùng lân cận) đến khai hoang và cải tạo
thành đất ở. Đầu những năm 1960 diện tích nói trên có
4


một số chủ mới do các chủ cũ nhợng bán lại, từ đó khu vực
này dần chuyển thành đất ở và đến những năm 1980 1985 hình thành hẳn khu dân c khoảng 100 hộ với hơn
3000 nhân khẩu. Tất cả các hộ trên đều đợc chính quyền
sở tại thừa nhận có đăng ký hộ khẩu chính thức. 95 % số
hộ có giấy chuyển nhợng đất sử dụng từ các chủ cũ và
đều đóng đầy đủ thuế đất từ khi Luật Đất đai có hiệu
lực thi hành từ 01/01/1994 đến hết năm 2000 (thời điểm
thông báo giải phóng mặt bằng để xây dựng Khu công
nghiệp). Qua thời gian, khu vực MX ngày một thêm sầm
uất, các chủ cũ nhợng lại quyền sử dụng đất cho một số ngời khác và các hộ gia đình cứ thế mà đông dần lên.
Hiện nay, MX có vị trí khá lý tởng nằm sát quốc lộ, đờng giao thông đi lại dễ dàng và là nơi đang diễn ra
nhiều hoạt động kinh tế thơng mại sôi động. Đặc biệt
trong những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hoá
nhanh chóng giá đất tại khu vực này ngày càng tăng
nhanh. Chỉ tính trong vòng 1 vài năm trở lại đây giá đất
tại đây đã tăng lên 5 lần.
Ngày 17/10/2000 dân c trong khu vực MX nhận đợc
thông báo không số đề ngày 16/09/2000 do Chủ tịch
UBND Thị trấn A ký nội dung thông báo là giải toả khu đất
MX để bàn giao cho đối tác xây dựng Khu công nghiệp.
Trớc khi gửi thông báo này, chính quền địa phơng cha tổ
chức bất kỳ cuộc họp nào hay dới bất kỳ hình thức nào để
thông báo cho nhân dân địa phơng. Ngay sau khi có
thông báo các cơ quan địa phơng đôn đốc giải toả để
bàn giao khu đất cho Ban Quản lý Dự án Khu công nghiệp.
Quyết định trên đã gây ra phản ứng mạnh trong dân
5


chúng. Nhân dân địa phơng đã khiếu kiện lên các cơ
quan chức năng nhng cha có kết quả. Điều này gây tâm lý
bất ổn trong dân và tạo nên ấn tợng không tốt về các cán
bộ, công chức Nhà nớc cũng nh chủ trơng quy hoạch xây
dựng Khu công nghiệp đã đề ra.
1.2. Diễn biến tình huống
Sau khi thông báo cho các hộ dân về việc giải phóng
mặt bằng, UBND Thị trấn A lại tiếp tục ra Thông báo không
số ngày 20/10/2000 yêu cầu các hộ dân nộp bản tự kê khai
tài sản để thực hiện chính sách đền bù.
Trong chính sách giải toả của mình, chính quyền
quyết định chỉ đền bù nhà cửa, vật kiến trúc, hoa mầu,
cây cối và hỗ trợ tiền di chuyển đối với các hộ gia đình,
không đền bù tiền sử dụng đất. Lý do của quyết định đó
là phần lớn số hộ gia đình ở đây là những hộ sinh sống
bất hợp pháp, "lấn chiếm, nhảy dù" nên không thuộc diện
đền bù. Việc giải phóng mặt bằng để bàn giao cho Ban
Quản lý Dự án xây dựng Khu công nghiệp chủ yếu là thu
hồi lại đất đai đã bị lấn chiếm.
Các hộ thuộc diện di dời sẽ đợc tái định c tại một khu
vực khác. Khu đất này nằm xa trung tâm Thị trấn, ch a có
quy hoạch cơ sở hạ tầng. Hệ thống giao thông, điện, nớc
sinh hoạt, chợ, trờng hoàn toàn không có. Nhân dân địa
phơng coi quyết định trên là không thấu tình đạt lý và
khiếu kiện lên các cơ quan có thẩm quyền đồng thời kiên
quyết không di chuyển khỏi địa bàn đang c trú để giải
phóng mặt bằng trao trả cho Ban Quản lý Dự án.

6


Các cơ quan có thẩm quyền đã có các buổi tiếp xúc
và trao đổi trực tiếp với nhân dân địa phơng tuy nhiên
cha thu đợc kết quả khả quan và cha tìm đợc tiếng nói
chung để giải quyết vấn đề. Biên bản của buổi tiếp xúc
thứ nhất cho thấy nội dung chủ yếu là thông báo về giải
pháp mặt bằng. Buổi gặp thứ hai là ghi nhận ý kiến của
bà con xung quanh việc giải phóng mặt bằng và sự bất hợp
lý của nó trong việc xây dựng khu công nghiệp.
Tuy nhiên sự việc không dừng lại tại đó. Sự việc đợc
đẩy lên cao trào khi để đẩy nhanh tiến trình giải phóng
mặt bằng, Ông chủ tịch UBND Thị trấn A ký Quyết định
số 378/QĐ - UB ngày 20 tháng 11 năm 2002 xử phạt vi phạm
hành chính đối với các hộ không chịu di dời trao trả mặt
bằng những nội dung chủ yếu sau:
* Về căn cứ:
- Căn cứ vào pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính
ngày 02/07/2002 và Nghị định số 04/NĐ ngày 10/01/1997
quy định về xử phạt hành chính về vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai.
- Căn cứ biên bản vi phạm hành chính lập ngày
22/12/2000.
- Căn cứ nội dung, tính chất, hành vi vi phạm hành
chính.
* Về điều khoản thi hành:
Điều 1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối
với các hộ dân không chịu giải phóng mặt bằng.
Tình tiết vi phạm: Vi phạm nhiều lần.

7


Quy định mức phạt hành chính là 2.000.000 đồng
(hai triệu đồng).
Biện pháp khác: Buộc tháo dỡ công trình xây dựng
trái phép ra khỏi khu vực giải phóng mặt bằng.
Điều 2. Trong thời hạn 4 ngày kể từ khi đợc giao quyết
định này có trách nhiệm thi hành các quyết định ghi
trong Điều 1. Nếu không tự nguyện thì sẽ cỡng chế thi
hành.
Điều 3. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Phản đối lại quyết định này các hộ dân thuộc diện
di dời đã gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm
quyền. Phúc đáp lại đơn th khiếu kiện Chủ tịch UBND Thị
trấn A gửi công văn trả lời tái khẳng định tính đúng đắn
của quyết định đã ban hành và bác đơn khiếu nại của
các hộ có liên quan.
Hai quyết định trên đã gây ra sự phản đối mạnh mẽ
trong dân chúng và các hộ có liên quan kiên quyết không
thi hành quyết định. Họ đồng thời khởi kiện vụ việc ra
toà hành chính, bởi quyết định này không những ảnh hởng tới đời sống, sinh hoạt hàng ngày của bà con, không
đảm bảo quyền lợi chính đáng cho ngời dân mà còn
đồng thời vi phạm nghiêm trọng cả về hình thức lẫn nội
dung của văn bản pháp lý mà cụ thể là các quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đã nêu trên.
Ii. Giải quyết tình huống
2.1. Cơ sở lý luận
Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính tại khoản 2,3
Điều 1 đã quy định rõ ràng Xử phạt vi phạm hành chính
8


đợc áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc
vô ý vi phạm các quy tắc quản lý Nhà nớc mà cha đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt hành chínhCác biện pháp xử lý hành
chính khác đợc áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm
pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhng cha đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự đợc quy định tại các
Điều 21, 22, 23, 24 và 25 của Pháp lệnh này. Nh vậy muốn
truy cứu trách nhiệm hành chính trớc hết phải có hành vi vi
phạm pháp luật hành chính đợc quy định tại Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính năm 1995 và các Nghị định của
Chính phủ về việc quản lý các ngành nghề cụ thể.
Trách nhiệm hành chính do cơ quan Nhà nớc, ngời có
thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể vi phạm. Thực chất
đây là sự trừng phạt của Nhà nớc đối với chủ thể vi phạm.
Các cơ quan Nhà nớc, ngời có thẩm quyền áp dụng trách
nhiệm hành chính đợc quy định tại Điều 2,3 của Pháp
lệnh này. Những ngời có thẩm quyền chỉ đợc xử lý các vi
phạm hành chính trong phạm vi thẩm quyền của mình.
Ngoài ra Điều 4 của Pháp lệnh cũng nêu rõ trách nhiệm
đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính là trách nhiệm
của các cơ quan Nhà nớc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi chung là
tổ chức) và mọi công dân và nhấn mạnh Ngời có thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính phải nghiêm chỉnh tuân
thủ các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính. Nghiêm cấm việc lạm dụng quyền hạn, sách nhiễu,
dung túng, bao che, xử lý không nghiêm minh vi phạm hành
9


chínhViện Kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chínhHội đồng
nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận và mọi công dân có quyền giám
sát việc thi hành pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính,
phát hiện và tố cáo mọi hành vi vi phạm hành chính và
những hành vi vi phạm pháp luật của ngời có thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính.
Các biện pháp trách nhiệm hành chính và biện pháp cỡng chế đợc quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 1995; Pháp lệnh thanh tra 1 tháng 4 năm 1990,
Nghị định 04/NĐ ngày 10/01/1997 quy định về xử phạt
hành chính về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
v.v.
* Nội dung gồm:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền;
- Tớc quyền sử dụng giấy phép;
- Tịch thu tang vật, phơng tiện đợc sử dụng để vi
phạm hành chính.
Các biện pháp hành chính khác đợc quy định tại
Khoản 2, Khoản 3 Điều 11 của Pháp lệnh năm 1995. Đó là:
+ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay
đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ
công trình xây dựng trái phép.
+ Đình chỉ hành vi vi phạm và đề nghị cơ quan có
thẩm quyền tớc quyền sử dụng giấy phép thành lập doanh

10


nghiệp, công ty, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh d ới
vốn pháp định.
+ Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng
ô nhiễm môi trờng sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm
hành chính gây ra đến 1.000.000đ.
+ Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con
ngời, văn hoá phẩm độc hại.
Việc áp dụng các biện pháp hành chính trên phải căn
cứ vào tính nguy hiểm của hành vi (tính nguy hiểm này
đợc đo bằng hậu quả nếu nó xảy ra) và mức độ thiệt hại
thực tế do hành vi đó gây ra.
- Với những trờng hợp có dấu hiệu tội phạm, thì
chuyển hồ sơ tài liệu sang cơ quan Điều tra để truy cứu
trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh việc quy định quyền hạn, và trách nhiệm
của các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính, Điều 87, 88, 89 Pháp lệnh cũng ghi nhận quyền của
công dân trong việc khiếu nại, tố cáo các sai phạm trong
việc xử lý vi phạm hành chính và nói rõ Ngời có thẩm
quyền xử lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vợt quá
thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi
phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thờng
theo quy định của pháp luật (Điều 91 Pháp lệnh).
Ngoài ra liên quan tới việc giải phóng mặt bằng, đền
bù và tranh chấp đất đai thì Điều 22 Luật Đất đai đã quy
định Ngời đang sử dụng đất hợp pháp là ngời đợc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngời có tên trong sổ
11


địa chính và còn đang trong thời hạn sử dụng. Do đó,
trong trờng hợp có tranh chấp về nhà ở, vật kiến trúc hoặc
cây lâu năm và có tranh chấp về quyền sử dụng đất
UBND và cơ quan quản lý đất đai tại địa phơng phải cho
biết việc sử dụng đó là hợp pháp hay không để làm cơ sở
giải quyết vấn đề.
2.2. Phân tích và xử lý tình huống
Trớc hết phải thống nhất về mặt quan điểm là chủ tr ơng xây dựng Khu công nghiệp là hoàn toàn phù hợp với đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc trong tiến trình
công nghiệp hoá, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Và trong quá trình đó việc quy hoạch lại, giải phóng
mặt bằng để xây dựng các cơ sở nh trờng học, bệnh
viện, khu công nghiệp là điều tất yếu. Quá trình này
không tránh khỏi việc đụng chạm đến lợi ích của các đối
tợng liên quan nh các hộ dân phải di dời để giải phóng
mặt bằng và các cơ quan hữu trách trong việc thực thi
pháp luật.
Việc giải phóng mặt bằng sẽ không trở nên quá phức
tạp nếu không có các quyết định sai trái của UBND Thị
trấn A về việc xử phạt hành chính đối với các hộ gia đình
thuộc diện di dời.
Quyết định số 378/QĐ-UB ngày 20 tháng 11 năm
2002 của Chủ tịch UBND Thị trấn A đã vi phạm cả về
hình thức lẫn nội dung của một văn bản pháp luật.
Thứ nhất, về mặt hình thức, Quyết định trên đã vi
phạm khoản 2 Điều 48 pháp lệnh xử phạt vi phạm hành

12


chính năm 1995 và khoản 3 Điều 56 xử phạt vi phạm hành
chính năm 2002.
Khoản 2 Điều 48 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 1995 về Quyết định xử phạt quy định:
Quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết
định; họ, tên, chức vụ ngời ra quyết định; họ, tên, địa
chỉ, nghề nghiệp của ngời vi phạm hoặc tên, địa chỉ của
tổ chức vi phạm; những tình tiết liên quan đến việc giải
quyết vụ vi phạm; điều khoản, tên văn bản pháp luật đợc
áp dụng, hình thức xử phạt hành chính; các hình thức xử
phạt bổ sung, các biện pháp xử lý tang vật, ph ơng tiện;
biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); thời hạn, nơi thi
hành quyết định xử phạt và chữ ký của ngời ra quyết
định xử phạt.
Trong quyết định xử phạt cũng phải ghi rõ, nếu cá
nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện thi hành thì
bị cỡng chế thi hành; quyền khiếu nại, nơi và thời hạn
khiếu nại.
Trong Quyết định của Chủ tịch UBND huyện CM
không ghi quyền và nơi khiếu nại, khởi kiện. Nh vậy quyết
định trên đã không đảm bảo về mặt hình thức cần có
đối với các quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Thứ hai, về nội dung:
Căn cứ đầu tiên của Quyết định là Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002. Trong khi đó thời điểm diễn
ra quyết định giải toả là năm 2000. Nh vậy theo quy
định của khoản 1 Điều 75, khoản 2 Điều 76, khoản 1 Điều
80 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp Luật thì sự việc
13


xảy ra vào thời điểm nào, thì áp dụng văn bản pháp luật
đang có hiệu lực tại thời điểm đó.
Khoản 1 Điều 75 quy định Luật, Nghị quyết của
Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ Ban Thờng vụ
Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nớc ký lệnh công
bố, trừ trờng hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực
khác.
Khoản 2 Điều 76 nêu rõ Không đợc quy định hiệu
lực trở về trớc đối với các trờng hợp sau đây:
a. Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi
mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không
quy định trách nhiệm pháp lý.
b. Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
Theo khoản 1 Điều 80 thì văn bản quy phạm pháp luật
đợc áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm
pháp luật đợc áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm
mà văn bản đó đang có hiệu lực.
Trong trờng hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về
trớc, thì áp dụng theo quy định đó.
Do vậy căn cứ cần áp dụng ở đây là Pháp lệnh xử
phạt vi phạm hành chính năm 1995 chứ không phải là Pháp
lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002. Điều này có
liên quan trực tiếp đến khoản tiền phạt và các tình tiết
giảm nhẹ của khung phạt vi phạm hành chính và ảnh hởng
tới quyền lợi của các bên liên quan.
Căc cứ thứ hai của quyết định phạt vi phạm hành
chính



biên

bản

vi

phạm

22/12/2000:
14

hành

chính

lập

ngày


Điều 47 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm
1995 về Lập biên bản về vi phạm hành chính quy định:
1. Khi phát hiện vi phạm hành chính, ngời có thẩm
quyền xử phạt phải kịp thời lập biên bản, trừ trờng hợp xử lý
theo thủ tục đơn giản.
2. Biên bản về vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày,
tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ ng ời
lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp ngời vi phạm
hoặc tên, địa chỉ tổ chức vi phạm; ngày, tháng, năm,
địa điểm xảy ra vi phạm; nội dung vi phạm; các biện pháp
ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt
(nếu có); tình trạng tang vật, phơng tiện bị tạm giữ (nếu
có); lời khai của ngời vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi
phạm; nếu có ngời làm chứng, ngời bị thiệt hại hoặc đại
diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ
lời khai của họ.
3. Biên bản phải đợc lập thành ít nhất là hai bản; phải
đợc ngời lập biên bản và ngời vi phạm hoặc đại diện tổ
chức vi phạm ký; nếu có ngời làm chứng, ngời bị thiệt hại
hoặc đại diện tổ chức vi phạm, thì họ cũng phải ký vào
biên bản; nếu ngời làm chứng, ngời bị thiệt hại từ chối ký
thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Trong trờng hợp biên bản gồm nhiều tờ thì những ngời
nói tại khoản 3 Điều này phải ký vào vào từng tờ.
4. Biên bản lập xong phải trao cho cá nhân, tổ chức vi
phạm một bản; nếu ngời lập biên bản không có thẩm quyền
xử phạt thì họ phải gửi biên bản đó đến ngời có thẩm
quyền xử lý.
15


Biên bản vi phạm hành chính lập tại MX về mặt hình
thức không đảm bảo yêu cầu pháp lý và nh vậy không thể
là căn cứ để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Trong biên bản không chỉ ra căn cứ pháp luật của việc vi
phạm, không có chữ ký của ngời vi phạm, không có đầy đủ
chữ ký của các thành viên tham gia và chữ ký của ng ời làm
chứng.
Điều này cũng vi phạm quy định tại Thông t 278/TTĐC
ngày 07/03/1997 hớng dẫn Nghị định 04 ngày 10/01/1997
(mục II điểm 1) là trong trờng hợp ngời vi phạm cố ý không
ký biên bản vi phạm hành chính về pháp luật đất đai thì
ngời lập biên bản phải ghi rõ lý do (có ngời làm chứng ký
tên) và biên bản này vẫn là cơ sở pháp lý để quyết định
xử phạt.
Ngoài ra trong biên bản bàn giao cho ngời vi phạm
không có dấu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của
Chính quyền địa phơng.
Thứ ba, về các điều khoản thi hành: Nội dung Điều 2
của quyết định xử phạt có quy định: Trong thời hạn 4
ngày kể từ khi có quyết định nàynếu không tự nguyện
thi hành quyết định này thì sẽ cỡng chế thi hành. Điều
khoản này vi phạm khoản 1 Điều 54 Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính năm 1995.
Khoản 1 Điều 54 về Thi hành quyết định xử phạt vi
phạm hành chính của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 1995 quy định cụ thể nh sau: Cá nhân, tổ
chức bị xử phạt vi phạm hành chính phảit hi hành quyết
định xử phạt trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày đ ợc giao

16


quyết định xử phạt, trừ trờng hợp pháp luật có quy định
khác.
Ngoài ra, theo quy định của Tổng cục Địa chính
(Công văn số 647) thì những ngời quản lý và sử dụng đất
từ năm 1993 đến nay mà không có tranh chấp, khiếu
kiện, quy hoạch thì có đủ điều kiện làm giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nếu đóng thuế đầy đủ. Nh vậy
những ngời dân đang sử dụng đất này là hợp pháp và nếu
phải di dời thì phải đợc đền bù thiệt hại theo luật định.
Nói tóm lại Quyết định số 378/QĐ - UB ngày
20/11/2002 do Chủ tịch UBND Thị trấn A ký về việc xử
phạt vi phạm hành chính không đảm bảo cả về mặt hình
thức lẫn nội dung theo quy định của pháp luật về việc xử
phạt vi phạm hành chính.
Do vậy quyết định trên là sai trái và phải huỷ bỏ.
Trình tự huỷ bỏ cần đợc tiến hành theo quy định của
pháp luật. Trong trờng hợp cần thiết phải xác định trách
nhiệm của ngời ra quyết định để có các hình thức xử lý
thích hợp theo quy định tại Điều 91 Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính năm 1995.
Chuyển vụ việc lên cơ quan cấp trên để xem xét và
giải quyết.
Ngoài ra chính quyền địa phơng phải trực tiếp gặp
gỡ, đối thoại với nhân dân để chia sẻ tâm t nguyện vọng
đồng thời giải thích về chủ trơng của Đảng, Nhà nớc trong
việc giải phóng mặt bằng và xây dựng khu công nghiệp.
Iii. Kiến nghị và giải pháp

17


Đây là vụ kiện hành chính có liên quan tới việc ra các
quyết định hành chính không hợp lý của các cơ quan chức
năng. Bởi vậy trớc hết cần huỷ bỏ quyết định trên và ra
quyết định mới hợp pháp và hợp lý nh đã trình bày.
Ngoài ra trong trờng hợp cần thiết phải xác định trách
nhiệm của ngời ra quyết định để có các hình thức xử lý
thích hợp theo quy định tại điều 91 của Pháp lệnh xử phạt
vi phạm hành chính năm 1995.
Tuy nhiên do bởi những tình tiết phức tạp và nguyên
nhân sâu xa của vụ việc, thiết nghĩ cần phải giải quyết
vấn đề ở cả những khía cạnh khác cụ thể là.
* Về phía chính quyền và các cơ quan quản lý
nhà nớc ở địa phơng:
- Cần rút kinh nghiệm trong việc tiến hành ra các
quyết định hành chính đặc biệt là các quyết định xử
phạt vi phạm hành chính.
- Cần nghiêm túc xem xét tính khả thi về việc quy
hoạch Khu công nghiệp tại khu vực MX (các yếu tố kinh tế,
xã hội, môi trờng).
- Cần xem xét phơng án đền bù cho các hộ dân thuộc
diện giải toả để đảm bảo tính công bằng xã hội, cho dù ở
mức độ tơng đối.
- Có chính sách trợ giúp các hộ dân trong việc tái
định c và ổn định cuộc sống tại khu vực mới chuyển
đến.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực tái định c và
đảm bảo các điều kiện cho sinh hoạt bình thờng của bà
con.
18


* Về phía nhân dân:
- Chấp hành chủ trơng, đờng lối của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nớc trên tinh thần tự nguyện tự
giác, ý thức xã hội cao vì các thế hệ tơng lai.
- Có tinh thần hợp tác với các cấp chính quyền và các
cơ quan chức năng để giải quyết vụ việc một cách hiệu
quả.
- Chủ động trong việc di dời giải phóng mặt bằng sau
khi đã đạt đợc các thoả thuận trên nguyên tắc.
* Về phía cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh
vực giải phòng mặt bằng xây dựng:
- Xây dựng khung đền bù cụ thể, phù hợp cho các hộ
bị di dời.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan tới công tác
di dời và giải phóng mặt bằng.
IV. Kết luận
Qua nội dung đã trình bày về thực trạng và giải pháp
trong công tác ra các Quyết định quản lý hành chính nhà
nớc trong công tác giải phòng mặt bằng còn có những vấn
đề cha nói hết về thực trạng còn tồn tại trong công tác ra
các Quyết định quản lý hành chính nhà nớc. Pháp luật chỉ
có thể phát huy đợc hiệu lực của mình và điều chỉnh
một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội khi dựa trên cơ sở
vững chắc của pháp chế, nghĩa là đảm bảo mọi hành vi
vi phạm pháp luật đều bị xử lý, mọi công dân đều bình
đẳng trớc pháp luật. Xử đúng ngời, đúng tội, ra các quyết
định quản lý chính xác, đúng đắn, kịp thời là góp phần

19


hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và củng cố lòng tin của
nhân dân vào Nhà nớc và Pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của nền kinh
tế đất nớc vận hành theo cơ chế thị trờng, có cả sự phát
triển về văn hoá rộng khắp trong các nớc trên thế giới (đa
phơng hoá, đa dạng hoá nhiều mặt) theo định hớng xã hội
chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc từng bớc hớng tới mục
tiêu của Đảng và Nhà nớc đặt ra là: Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc. Để thực hiện tốt mục tiêu, đờng lối
của Đảng và Nhà nớc vạch, cùng với cơ chế đổi mới, chính
sách đúng đắn của Đảng và Nhà nớc, cùng với sự phát triển
không ngừng của đất nớc trên mọi lĩnh vực. Công tác ra các
Quyết định quản lý hành chính nhà nớc hơn bao giờ hết
càng giữ vị trí, vai trò qua trọng của mình trong mọi
hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nớc./.

20


Tài liệu tham khảo
*

1. Luật Đất đai.
2. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1995,
2002.
3. Các Nghị định, quyết định về sử phạt vi phạm hành
chính trong các

lĩnh vực y tế, môi trờng, xây dựng

4. Tài liệu bồi dỡng về quản lý hành chính Nhà nớc chơng trình

chuyên viên chính - Học viện Hành

chính Quốc gia, 2005.
5. Thời báo kinh tế Việt Nam 2001, 2002, 2003.
6. Tạp chí Luật s ngày nay./.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×