Tải bản đầy đủ

5 tiểu luận lớp bồi dưỡng QLNN chương trình chuyên viên và chuyên viên chính

LỜI MỞ ĐẦU
Được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông Thôn, Học viện Nông nghiệp Hà Nội đã phối hợp với Học viện Quản
lý Giáo dục tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình
chuyên viên chính cho cán bộ khối phục vụ - quản lý giáo dục của Học viện,
thời gian học từ 09/4 đến 19/6/2015 về bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức
làm công tác quản lý hành chính nhà nước.
Qua thời gian gần ba tháng học tập được Quý Thầy, Cô của Học viện
Quản lý Giáo dục truyền đạt những kiến thức và kỹ năng về quản lý hành chính
Nhà nước được chứa đựng trong 17 chuyên đề và 03 chuyên đề báo cáo với
những kiến thức bổ ích, cần thiết cho người cán bộ, công chức. Qua đó giúp cho
học viên nắm bắt được những vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác
quản lý nhà nước. Đồng thời, các kiến thức trên cũng cho thấy muốn đạt được
hiệu quả cao trong công tác quản lý hành chính nhà nước thì cần phải am hiểu,
biết áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới luật một cách
linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống để giải quyết có hiệu quả các nhiệm
vụ được giao.
Qua quá trình học, để vận dụng những kiến thức đã học từ lớp Bồi dưỡng
kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, tôi chọn tình
huống: “Tranh chấp tài sản thừa kế ” để áp dụng các kiến thức hành chính vào
để giải quyết vấn đề.

Thực tế cho thấy, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì việc giải
quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của công dân đúng cấp, đúng thẩm
quyền và kịp thời không những đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính
đáng của công dân mà còn góp phần ổn định an ninh - trật tự xã hội. Qua đó, góp
phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí của công và các tệ
nạn xã hội khác, xây dựng được khối đại đoàn kết trong nhân dân, tạo được niền tin
của nhân dân đối với hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước. Mặt khác, thông qua
1


việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ giảm thiểu tình trạng khiếu nại, khiếu
kiện vượt cấp. Đồng thời các cấp, các ngành cần kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn
những sai sót, lệch lạc, những yếu kém trong công tác quản lý hành chính, kiến
nghị với cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách, pháp luật sát với
thực tiễn cuộc sống, xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm hoặc
tránh né trách nhiệm và các hành vi tiêu cực khác trong quản lý hành chính.
Tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước là bài kiểm tra cuối khoá nhằm
đánh giá khả năng vận dụng kiến thức lý luận vào điều kiện thực tiễn của hoạt
động quản lý Nhà nước hiện hành. Thông qua đó, các học viên có vai trò như là
người cán bộ, công chức có chức năng, thẩm quyền đưa ra phương hướng xử lý
thực sự phù hợp với điều kiện thể chế; phong tục tập quán Việt Nam nói chung
và phong tục từng vùng, miền nói riêng.
Song, những yêu cầu của tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước không
đơn giản chỉ là việc giải quyết đơn thuần mà trong đó phải hàm chứa đầy đủ khả
năng phân tích cơ sở lý luận, các quy định; đánh giá ưu, khuyết điểm của từng
vấn đề để làm cơ sở cho việc đề xuất những kiến nghị theo từng nội dung. Do đó,
mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thân có
hạn, nên bài viết này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự
đóng góp ý kiến của Quý Thầy Cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

2


PHẦN I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
Ông Ngô Văn An, nghề nghiệp làm ruộng, cư trú tại Khu Bình Khê, Thị
trấn Mạo Khê, Huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh kết hôn với bà Vũ Thị Dân
hơn 4 năm nhưng không có con.
Năm 1980, ông An và bà Dân đến Trung tâm Cô Nhi Đông Triều xin con
nuôi đặt tên là Ngô Văn Đạt, 1 tuổi và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin nhận con nuôi.


Năm 1982, bà Dân qua đời vì tai nạn giao thông, trước khi chết Bà Dân có
tâm nguyện là ông An phải nuôi Đạt nên người, đồng thời cũng cho Đạt số di
sản thuộc phần của mình.
Năm 1986, ông An lập gia đình với bà Nguyễn Thị Hợi. Đến năm 1989
hai ông bà có thêm 01 con gái tên là Ngô Thị Hằng.
Đầu năm 1993, hộ gia đình ông An được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giao cho 04 ha đất nông nghiệp để trồng trọt. Ông An đã trồng cây ăn quả
lâu năm (vải thiều và cây na) hết diện tích đất nói trên. Hiện tại, diện tích đất
trên vẫn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vào năm 2007, anh Đạt lập gia đình và xin ra ở riêng tại khu Vĩnh Thông,
Thị trấn Mạo Khê, Huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh. Gia đình anh Đạt sinh
sống bằng nghề buôn bán nhỏ và làm ruộng, sau đó vợ chồng anh đã tự mua
được 0,5 ha đất để làm trang trại chăn nuôi.
Đầu năm 2010, ông An biết mình bị bệnh ung thư gan nên ông đã lập di
chúc thừa kế lại cho anh Đạt chiếc xe công nông và 01 ha đất hiện đang trồng
cây na và cây vải thiều. Di chúc thừa kế đó đã được Ủy ban nhân dân Thị trấn
Mạo Khê chứng nhận.
Cuối năm 2010, trước khi qua đời ông An đọc bản di chúc để thừa kế cho
anh Đạt.

3


Anh Đạt đã nhận 01 ha đất, 01 xe công nông, sau đó anh Đạt đầu tư hệ
thống ống tưới tiêu để chăm sóc cho cây vải thiều và xây dựng hệ thống chuồng
trại để chăn nuôi gà và lợn.
Năm 2014, Anh Đạt làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng thì em gái
không đồng ý. Bà Hợi và chị Hằng đồng ký đơn gửi đến Ủy ban nhân dân Thị
trấn Mạo Khê khởi kiện đòi lại 01 ha đất mà Anh Đạt được hưởng thừa kế và 01
xe công nông với những lý do như sau:
- Gia đình có tài sản có giá trị duy nhất là 01 chiếc xe công nông đứng tên
ông An, để vận chuyển các sản phẩm khi thu hoạch từ trang trại nên không giao
cho anh Đạt.
- Đất trên là đất nông nghiệp thuộc các thành viên của hộ gia đình, chưa
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên anh Đạt không được thừa kế.
- Anh Đạt chỉ là con nuôi, mặt khác khi ông An ốm vợ chồng anh Đạt không
chăm sóc ông An nên không được quyền nhận thừa kế của ông An.
Sau khi nhận đơn của bà Hợi, Ủy ban nhân dân Thị trấn Mạo Khê đã
chuyển hồ sơ lên Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Huyện
Đông Triều. Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, Văn phòng Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân Huyện Đông Triều tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân
Huyện ký quyết định hành chính chấp thuận nội dung khởi kiện của bà Hợi,
buộc anh Đạt phải giao lại xe công nông và 01 ha trên cho bà Hợi. Bà Hợi
phải trả cho anh Đạt số tiền mà anh Đạt đã đầu tư để xây dựng hệ thống tưới
tiêu và chuồng trại để chăn nuôi trị giá 10 triệu đồng.
Bất ngờ trước quyết định của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Huyện Đông
Triều anh Đạt đã làm đơn khiếu nại gửi đến phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân
Tỉnh Quảng Ninh.
Để rõ vấn đề, chúng ta phân tích nguyên nhân và hậu quả để có được định
hướng chung trong việc đưa ra giải pháp xử lý cho thích hợp.

4


PHẦN II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1. Xác định mục tiêu xử lý tình huống
2.1.1. Mục tiêu chung
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo kỷ cương pháp luật,
phù hợp với nguyên tắc mà Hiến pháp và pháp luật đã đặt ra.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân, giảm tối đa các thiệt hại kinh tế.
- Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh
tế - xã hội.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
Tình huống được đưa ra là vụ kiện về tranh chấp tài sản thừa kế theo di
chúc giữa hộ gia đình bà Hợi và anh Đạt, do đó ta phải xác định rõ:
+ Đối tượng cần giải quyết
+ Cấp nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ khởi kiện trên đúng
theo quy định của pháp luật
+ Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vụ kiện được xác định như
thế nào.
+ Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp.
+ Làm thế nào để giải quyết nhanh, có hiệu quả cao đối với các vụ việc
hành chính trong bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, mang lại sự hài lòng
cho người dân.
2.2. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý để xử lý tình huống
2.2.1. Cơ sở lý luận
Đây là vụ tranh chấp về thừa kế tài sản trong gia đinh, nhưng do cách giải
quyết của chính quyền các cấp ở Huyện Đông Triều không đúng theo quy định
của pháp luật nên đã dẫn đến hậu quả là:

5


+ Vụ tranh chấp về thừa kế tài sản đã trở thành vụ khiếu nại đối với quyết
định hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
+ Làm phức tạp thêm tình hình, từ khởi kiện rồi đến khiếu nại kéo dài,
qua nhiều cấp, nhiều nơi giải quyết nhưng vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn
trong tranh chấp.
2.2.2. Cơ sở pháp lý để xử lý tình huống
Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật đất đai năm
2013 có hiệu lực thi thành từ ngày 01/7/2014.
Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật hôn nhân và
gia đình 2014.
Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật khiếu nại tố cáo
năm 2011.
Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2014.
Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ luật dân sự năm 2005.
2.3. Phân tích diễn biến tình huống
2.3.1. Tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mạo Khê
Đầu tiên ta phải xác định nội dung của vụ kiện giữa bà Hợi và anh Đạt là
tranh chấp tài sản thừa kế theo di chúc của ông An.
Thực tế là kiện đòi lại quyền sử dụng đất nông nghiệp, tài sản trên đất
cũng như tài sản là xe công nông. Theo quy định tại điều 202, Luật đất đai năm
2013 quy định:
“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc
giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi
đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

6


3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải
tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải
phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành
viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai
tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ
ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có
xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh
giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến
Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ
gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi
trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy
ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và
cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất.”
Như vậy, Ủy ban nhân dân thị trấn Mạo Khê sau khi nhận đơn của bà Hợi
đã không tiến hành tổ chức hòa giải giữa bà Hợi và anh Đạt mà chuyển ngay
đơn đến Ủy ban nhân dân Thị trấn Đông Triều là trái với quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 203, Luật đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền
giải quyết tranh chấp đất đai:
“1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các
loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền
với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

7


2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có
một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ
được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy
định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp
có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố
tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải
ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực
thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các
bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.”
Do đó, hộ Ông An đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết
định hành chính giao cho 04 ha đất nông nghiệp để trồng trọt trước ngày
15/10/1993 và diện tích đất trên có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính,
8


nên theo quy định, khi đã tiến hành hoà giải mà không thành thì Ủy ban nhân
dân thị trấn Mạo Khê phải hướng dẫn cho các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện
đến Tòa án nhân dân chứ không được chuyển hồ sơ lên Ủy ban nhân dân huyện
Đông Triều.
2.3.2. Tại Ủy ban nhân dân Huyện Đông Triều
Theo quy định, sau khi nhận được đơn kiện của bà Hợi, do Ủy ban nhân
dân Thị trấn Mạo Khê chuyển đến, Ủy ban nhân dân Huyện Đông Triều phải
giải quyết như sau:
- Xem xét hồ sơ: nếu chưa thấy biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân thị
Trấn Mạo Khê thì phải trả hồ sơ lại và yêu cầu Ủy ban nhân dân Thị trấn Mạo
Khê tổ chức hòa giải giữa bà Hợi và anh Đạt theo quy định tại Điều 202 Luật đất
đai năm 2013.
- Nếu đã hòa giải rồi mà không thành thì chỉ đạo hướng dẫn các đương sự
nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết vụ khởi kiện tranh chấp.
Theo quy định tại khoản 5 và khoản 7 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự
2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp có liên quan đến quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Vậy, Ủy ban nhân dân Huyện Đông Triều chấp thuận theo nội dung đơn
kiện của bà Hợi là không đúng với quy định. Do đó, việc Uỷ ban nhân dân
huyện Đông Triều ra quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có gắn với tài sản
trên đất, cây vải thiều và hệ thống chuồng trại chăn nuôi là trái với thẩm quyền.
Nội dung xử lý đơn khởi kiện sai với quy định của Pháp luật. Cụ thể là:
1. Gia đình có 01 xe công nông làm phương tiện, do ông An đứng tên nên
không thể giao cho Anh Đạt. Nội dung kiện như trên là sai. Vì căn cứ vào Điều
631 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

9


“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài
sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc
theo pháp luật.”
Căn cứ theo Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005 về quyền của người lập di
chúc thì anh Đạt có đủ điều kiện để hưởng thừa kế của ông An để lại theo di chúc.
2. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được
phân chia tài sản, nội dung kiện này sai. Vì đầu năm 1993, đất của hộ gia đình
ông An đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giao đất và đã
sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1993 đến nay. Mặc dù hiện tại hộ gia đình ông
An chưa làm thủ tục để xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn là đất
được giao hợp pháp.
3. Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được thừa
kế cho con nuôi, mặt khác khi ông An ốm vợ chồng anh Đạt không chăm sóc
ông An nên không được quyền nhận thừa kế của ông An.
Vì đất nông nghiệp ở đây là đất trồng cây lâu năm (cây ăn quả). Căn cứ
theo quy định tại khoản 1, điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì:
“Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử
dụng đất theo quy định của Luật này.”.
Do đó, ông An có quyền để lại thừa kế cho anh Đạt trong phần diện tích
đất của ông trong thành viên hộ gia đình, 04 ha chia 04 người, gồm ông An, bà
Hơi, anh Đạt, và chị Hằng, mỗi người là 01 ha.
Vậy, Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều đã giải quyết vụ khởi kiện nói
trên không đúng quy định của pháp luật.

10


2.4. Nguyên nhân xảy ra tình huống
2.4.1. Nguyên nhân khách quan
Ở nước ta, chính quyền cơ sở (chính quyền Xã, Phường, Thị trấn) luôn
được coi là thực thể tồn tại khách quan, cần thiết trong hệ thống bộ máy chính
quyền Nhà nước, nó tồn tại như một tất yếu lịch sử, là cơ sở cho sự phát triển
Nhà nước, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực, tài lực cho sự phát triển mọi mặt
của đất nước. Vì vậy, chính quyền cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng đảm
bảo sự phát triển bền vững của quốc gia. Trong hệ thống chính quyền Nhà nước,
chính quyền cơ sở là chính quyền Nhà nước thấp nhất dưới cấp Xã, Phường, Thị
trấn không còn cấp hành chính lãnh thổ nào.
Đây là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương đường lối chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nếu Chính quyền cơ sở làm việc có hiệu quả thì
đường lối chính sách pháp luật của Đảng, và Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc
sống, trở thành hoạt động thực tế của nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, tin tưởng
của nhân dân vào Đảng và Nhà nước đồng thời tạo ra sự hiểu biết thông cảm lẫn
nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Ngược lại nếu chính quyền cở sở không
giải quyết một cách thấu đáo những vướng mắc của nhân dân, các cán bộ cơ sở
làm việc không tốt có thể làm bùng phát sự phản ứng tiêu cực của nhân dân đối
với Chính quyền, với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đặt trong mối liên hệ với môi
trường xã hội đã và đang phải đối mặt với trở ngại không nhỏ từ tâm lý duy trì
các mối quan hệ xã hội trên cơ sở tình cảm, chi phối bởi tình cảm mà ít khi dựa
trên cơ sở pháp luật. Việc không hiểu hết pháp luật của các cán bộ cơ sở đã làm
cho pháp luật có lúc, có nơi trở nên xa lạ, khó gần gũi, khó vận dụng.
Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều, việc phân
loại, hệ thống hóa pháp luật chưa được thực hiện, tính ổn định của hệ thống quy
phạm pháp luật còn yếu; hệ thống tư vấn, trợ giúp pháp luật cho nhân dân hầu
như không có hoặc có thì rất ít và hoạt động kém hiệu quả.
11


Công nghiệp hóa gắn liền với đô thị hóa ở nước ta hiện nay đang từng ngày
làm thay đổi diện mạo đất nước, cung cấp các loại hình dịch vụ thương mại, khu
công nghiệp, nhà cao tầng, … Mặt khác do sức ép về sự gia tăng dân số một cách
nhanh chóng làm cho bất động sản ngày càng trở nên có giá trị, làm cho con
người bị lu mờ ý chí bởi giá trị của nó đem lại. Bố mẹ, anh chị em có thể “kiện
tụng, chém giết nhau vì đất cát” dẫn đến sự tranh chấp quyền sử dụng đất ngày
càng trở nên phổ biến, nhưng người dân chưa hiểu hết trách nhiệm - nghĩa vụ và
quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật. Mặt khác do thủ tục hành chính
rườm rà, khó hiểu, không đưa ra được quy trình giải quyết từng công việc cụ thể,
việc tư vấn của các cán bộ chưa rõ ràng còn mang tính chung chung.
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan
Để đảm trách những nhiệm vụ của chính quyền cơ sở thì lực lượng có
trọng trách lớn lúc này chính là Cán bộ công chức cấp Xã, Phường, Thị trấn.
Chính quyền cơ sở hoạt động như thế nào, có hiệu quả hay không… là phụ
thuộc vào chính năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ này. Muốn
có một đội ngũ Cán bộ công chức có năng lực có phẩm chất đạo đức tốt thì việc
sử dụng và quản lí cán bộ công chức là vấn đề quan trọng góp phần vào hiệu quả
hoạt động của chính quyền cơ sở.
Là những người gần dân nhất, những người đại diện Nhà nước ở cấp cơ
sở phải giải quyết các công việc đa dạng phức tạp của dân sao cho không trái
pháp luật nhưng có hiệu quả cao nhất. Cán bộ công chức cơ sở trong công việc
phải thực sự vì dân, thương dân, lấy dân làm gốc, không thể lấy cái toàn cục mà
quên đi hoàn cảnh điều kiện của mỗi người dân, nhưng cũng không vì mỗi
người dân cụ thể mà làm trái pháp luật, trái với đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước. Có như vậy mới phát huy được vai trò của Chính quyền cơ sở thật
sự là chính quyền gần dân nhất, hiểu dân nhất. Vì thế sử dụng và quản lí cán bộ
công chức cấp Xã, Phường, Thị trấn tốt sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của
chính quyền cơ sở, còn nếu sử dụng và quản lí cán bộ công chức cấp Xã,

12


Phường, Thị trấn không tốt sẽ làm hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ
sở thấp không phát huy được vai trò của chính quyền cơ sở.
Trong tình huống này hoặc do đưa đẩy, tránh né trách nhiệm hoặc do thiếu
hiểu biết về pháp luật của cán bộ công chức ở cơ sở (như công chức xây dựng –
địa chính Thị trấn Mạo Khê) đã làm cho vụ việc trở nên phức tạp. Đó là một
trong những nguyên nhân của tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài gây khó
khăn không đáng có.
Người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật nên đã kiện sai nhưng không
được giải thích ngay từ cơ sở; cán bộ quản lý hành chính nhà nước không nắm
chắc các quy định của pháp luật nên đã tự tiện giải quyết vụ việc không thuộc
thẩm quyền của mình do đó dẫn đến việc ra quyết định hành chính sai.
2.5. Hậu quả của tình huống
Do cách giải quyết của chính quyền các cấp ở Huyện Đông Triều không
đúng theo quy định của pháp luật nên đã dẫn đến hậu quả là:
+ Vụ tranh chấp về thừa kế tài sản đã trở thành vụ khiếu nại đối với quyết
định hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
+ Làm phức tạp thêm tình hình, từ khởi kiện rồi đến khiếu nại kéo dài,
qua nhiều cấp, nhiều nơi giải quyết nhưng vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn
trong tranh chấp.
Qua phân tích diễn biến tình huống trên ta thấy: vụ kiện giữa bà Hợi và
anh Đạt có thể giải quyết thông qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mạo
Khê như vậy sẽ hạn chế tình trạng kiện tụng, khiếu nại đến nhiều nơi, nhiều cấp
gây phức tạp mà vẫn không giải quyết được theo đúng quy định của pháp luật.
Từ vụ tranh chấp về thừa kế tài sản đã trở thành vụ khiếu nại đối với quyết định
hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

13


PHẦN III. XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT
Qua câu truyện trên để giải quyết vấn đề tranh chấp trên, theo cá nhân tôi
xin đề xuất 02 phương án để giải quyết tình huống sau:
1. Phương án 1: Đình chỉ quyết định hành chính và tiến hành giải quyết các
công việc từ đầu theo đúng quy trình của pháp luật.
Trong thực tế nhiều khi do cán bộ công chức cấp cơ sở thiếu kiến thức,
năng lực về chuyên môn nên đã giải quyết các vấn đề tranh chấp thiếu cơ sở
pháp lý và mang nặng tính chủ quan của mình làm cho khiếu kiện xảy ra và gây
lãng phí tiền của và gây mất niềm tin của nhân dân, do đó cần phải tổ chức xem
xét, giải quyết lại từ đầu vụ việc trên.
Ưu điểm: Thực hiện đúng kỷ cương, phép nước, giải quyết được tận gốc
mâu thuẫn của vấn đề, do đó thể hiện được tính nghiêm minh của Pháp luật và
quyền lực của nhà nước đem lại niềm tin cho nhân dân.
Khuyết điểm: Mất nhiều thời gian, nếu xử lý không công bằng thì đây là
cơ hội phát sinh cho tiêu cực, nhũng nhiễu.
2. Phương án 2: chuyển toàn bộ hồ sơ tới Tòa án nhân dân
để Tòa giải quyết.
Trong trường hợp này, do các cán bộ Ủy ban Nhân dân Tỉnh thiếu trách
nhiệm nên đùn đẩy giải quyết vụ việc này cho Tòa án nhân dân.
Sau khi nhận được đơn và các hồ sơ pháp lý liên quan của người khởi
kiện, căn cứ vào các quy định của Pháp luật Toà án nhân dân xem xét đưa ra
biện pháp giải quyết cụ thể.
Ưu điểm: Giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, đảm bảo nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Khuyết điểm: Có thể mất đi tình cảm gia đình, làng nghĩa xóm và kỷ
cương pháp luật dễ bị xem nhẹ nếu xử lý không hợp lý.
Qua ưu và khuyết điểm của hai phương án trên, theo tôi nên chọn phương
án 1 thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
14


PHẦN IV. KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN 1
Bước 1: Chuyển hồ sơ và đưa ra ý kiến chỉ đạo đối với UBND Huyện
Đơn của anh Đạt là đơn khiếu nại đối với quyết định hành chính đầu tiên,
theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2011 thì Ủy ban
nhân dân Tỉnh Quảng Ninh chuyển đơn này về Ủy ban nhân dân Huyện Đông
Triều để giải quyết khiếu nại.
Mặt khác, khi phát hiện Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều ra quyết định
hành chính không đúng thẩm quyền, bỏ qua trình tự hòa giải từ cơ sở. Do đó, Ủy
ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo Ủy ban nhân dân Huyện Đông Triều ra
quyết định tạm đình chỉ việc thi hành Quyết định hành chính của mình. Đồng
thời yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Đông triều chỉ đạo Ủy ban nhân dân Thị
trấn Mạo Khê giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật (căn cứ vào Điều
202 Luật đất đai năm 2003).
Bước 2: Đình chỉ Quyết định Hành chính và chuyển hồ sơ về UBND Thị trấn
Mạo Khê
Sau khi nhận được đơn khiếu nại của anh Đạt do Ủy ban nhân dân Tỉnh
Quảng Ninh chuyển đến và cùng với các ý kiến chỉ đạo, thì Ủy ban nhân dân
huyện Đông Triều cần căn cứ theo điều 35, Luật khiếu nại tố cáo năm 2011
“Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành
chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại
phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó. Thời hạn tạm đình
chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn giải quyết. Quyết định tạm
đình chỉ phải gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, nghĩa
vụ liên quan và những người có trách nhiệm thi hành khác.”
- Do đó, Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều nhanh chóng ra quyết định
tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính của mình.

15


- Chuyển đơn của hộ gia đình bà Hợi cùng hồ sơ đến Ủy ban nhân dân Thị
trấn Mạo Khê, chỉ đạo Ủy ban nhân dân thị trấn Mạo Khê tiến hành hòa giải
tranh chấp quyền thừa kế tài sản ở cấp cơ sở theo quy định của Pháp luật.
Bước 3: Tổ chức hòa giải ở cơ sở
Sau khi nhận lại đơn của gia đình bà Hợi do Ủy ban nhân dân Huyện
Đông triều chuyển đến, ủy ban nhân dân thị trấn Mạo Khê tiến hành mời đương
sự và các bên liên quan tiến hành hòa giải theo quy định của Pháp luật về quyền
thừa kế tài sản, Luật đất đai, luật hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình hòa giải phải luôn luôn tôn trọng ý kiến của mỗi bên
đương sự tham gia khiếu kiện.
Nếu như các bên đương sự khởi kiện (hộ bà Hợi và anh Đạt) cùng thống
nhất ý kiến và kết quả giải quyết khác so với ban đầu thì cũng phải ghi biên bản
hòa giải thành theo ý kiến mà họ đã cùng thống nhất, lập biên bản hòa giải thành
công và kết thúc vụ việc.
Trường hợp việc hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải không
thành và hướng dẫn các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân
để giải quyết theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên.
Bước 4: Chuyển hồ sơ và biên bản hòa giải không thành công tới Tòa án nhân dân:
Nếu hòa giải không thành ở Ủy ban nhân Thị trấn Mạo Khê thì Tòa án
nhân dân tiến hành tổ chức hoà giải giữa gia đinh bà Hợi và anh Đạt.
Trường hợp hòa giải không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp
luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về chủ thể tham gia vụ kiện: tất cả các thành viên, bà Hợi, chị Hằng và
anh Đạt đều đủ năng lực hành vi để tham gia xét xử trước Tòa.
Chị Hằng là giáo viên mầm non, vẫn chưa lập gia đình, phụ giúp công
việc cùng bà Hợi.

16


Loại đất để thừa kế là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (cây vải và cây
na) của hộ gia đình đã có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, sử dụng ổn định từ năm 1993 đến nay. Do đó, đất được sử dụng hợp
pháp, được quyền để thừa kế.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1, điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì:
“Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo
quy định của Luật này.”.
Do vậy, các thành viên trong gia đình đều là đồng sở hữu diện tích đất
tương ứng và được nhận thừa kế, để lại thừa kế cho người khác sau khi chết.
Hộ gia đình anh Đạt là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp nên thuộc đối
tượng được sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm.
Di chúc của ông An được lập trước khi ông qua đời và đã được uỷ ban
nhân dân thị trấn Mạo Khê chứng nhận. Vậy di chúc đó là hợp pháp.
Anh Đạt không phải con ruột của vợ chồng ông An, nhưng ông An cùng
người vợ trước (bà Dân) làm đủ thủ tục xin nhận con nuôi và được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin nhận con nuôi,
do đó anh Đạt là con nuôi hợp pháp.
Trước khi lập gia đình anh Đạt đã từng tham gia canh tác, trồng trọt, chăm
sóc các hoa màu trên diện tích đó; do vậy, anh Đạt vẫn có quyền được hưởng 01
ha đất trong 04 ha mà được Nhà nước giao cho hộ ông An vào năm 1993 (đồng
sở hữu) vì tại thời điểm đó là giao đất canh tác cho số nhân khẩu trong một hộ
gia đình.
Căn cứ theo điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005 thì anh Đạt có quyền
hưởng thừa kế theo di chúc của ông An.

17


Diện tích đất 01 ha để lại cho anh Đạt theo di chúc là phần đất của ông An
trong khối tài sản chung của hộ gia đình (04 ha chia đều cho bốn người, mỗi
người là 01 ha).
Di chúc luôn thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc, di chúc của
riêng ông An nên không cần sự thống nhất của vợ và con. Do đó, căn cứ vào điều
669 Bộ luật dân sự năm 2005: Về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
của di chúc: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật,
trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho
hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối
nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền
hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Do vậy, quyết định việc phân chia 01 ha đất và 01 xe công nông do ông
An để lại trong di chúc như sau:
Căn cứ vào điều 674 Bộ luật dân sự năm 2005, thừa kế theo pháp luật là
thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định và
căn cứ vào điều 676 của Bộ luật này thì những người thừa kế theo pháp luật
được quy định theo thứ tự hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,
cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, Bà Hợi là vợ, Chị
Hằng là con ruột và Anh Đạt là con nuôi đều là hàng thừa kế thứ nhất.
Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì 01 ha đất nông nghiệp của ông An để
lại được chia ra làm 3 phần:
Bà Hợi được hưởng 0,33 ha;
Chị Hằng được hưởng 0,33 ha;
Anh Đạt được hưởng 0,33 ha.

18


Nhưng Ông An đã lập di chúc để lại toàn bộ 1 ha cho Anh Đạt. Do vậy,
theo quy định tại điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 bà Hợi chỉ được hưởng hai
phần ba của suất thừa kế của một kỉ phần bắt buộc, theo pháp luật tương đương
với 2/3 x 0,33 = 0,22 ha và Anh Đạt được hưởng 0,78 ha, chị Hằng không được
hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện chị đang là giáo viên của trường
mần non khu Vĩnh Hòa.
Theo quy định tại khoản 1 điều 33 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy
định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung
hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản
chung.”
Và theo quy định tại khoản 1 điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014: “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần
hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này;
nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”
Do đó, chiếc xe công nông tuy do ông An đứng tên nhưng Tòa án đã xác
định đây là tải sản chung trong thời kỳ hôn nhân với bà Hợi. Vậy, sau khi tính
giá trị của chiếc xe là 9.000.000 đồng thì ông An và bà Hợi được chia đôi, mỗi
bên được hưởng 4.500.000 đồng.
Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì 4.500.000 đồng tiền giá trị của chiếc
xe công nông ông An để lại được chia ra làm 3 phần:
Bà Hợi được hưởng 1/3 x 4.500.000 = 1.500.000 đồng;
Chị Hằng được hưởng 1/3 x 4.500.000 = 1.500.000 đồng;
Anh Đạt được hưởng 1/3 x 4.500.000 = 1.500.000 đồng

19


Nhưng Ông An đã lập di chúc để lại chiếc xe cho anh Đạt. Do vậy, theo
quy định tại điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 bà Hợi chỉ được hưởng hai phần
ba của suất thừa kế của một kỉ phần bắt buộc theo pháp luật tương đương với
2/3 x 1.500.000 = 1.000.000 đồng và Anh Đạt được hưởng 3.500.000 đồng, chị
Hằng không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện chị đang là giáo
viên của trường mần non khu Vĩnh Hòa.
Nếu anh Đạt toàn quyền sở hữu chiếc xe công nông thì anh Đạt phải trả
cho bà Hợi một số tiền: 4.500.000 + 1.000.000 = 5.500.000 đ
Nếu bà Hợi toàn quyền sở hữu chiếc xe công nông thì bà Hợi phải trả cho
anh Đạt số tiền: 3.500.000 đ
Căn cứ vào các quy định trên của pháp luật, Tòa án sẽ xử lý vụ kiện như sau:
+ Bảo vệ quyền được hưởng 01 ha đồng sở hữu và hưởng thừa kế 0,78 ha đất
do ông An để lại theo di chúc cho anh Đạt, tổng cộng anh Đạt được hưởng 1,78 ha.
+ Anh Đạt được quyền sở hữu xe công nông do Ông An để lại theo di
chúc với điều kiện phải trả cho bà Hợi số tiền là 5.500.000 đồng (năm triệu năm
trăm nghìn đồng).
Hoặc bà Hợi được quyền sở hữu xe công nông do Ông An để lại với điều kiện
phải trả cho anh Đạt số tiền là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
+ Bà Hợi được hưởng 01ha đất đồng sở hữu và được hưởng thừa kế 0,22
ha đất do ông An để lại theo di chúc, tổng cộng bà Hợi được hưởng 1,22 ha.
+ Chị Hằng chỉ được hưởng 01ha đất theo quy định.

PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
20


1. Kết luận
Tất cả các vụ khởi kiện về tranh chấp thừa kế tài sản có thể giải quyết
ngay ở cấp cơ sở (cấp Xã, Phường, Thị trấn) khi cán bộ quản lý hành chính nhà
nước cấp cơ sở thông hiểu pháp luật, có kiến thức chuyên môn và có tinh thần
trách nhiệm cao.
Ngược lại, nếu không sẽ làm cho sự việc trở nên rắc rối; phát sinh khiếu
nại từ cơ sở, gây ra sự mất đoàn kết, và mất niềm tin của nhân dân vào các cán
bộ quản lý hành chính, vào các văn bản quy phạm pháp luật.
Do đó, xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn
phù hợp với từng nhóm cán bộ công chức; áp dụng hệ thống đánh giá công tác
một cách khách quan, khoa học, sát thực; chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật,
kỷ luật ở mọi cấp, mọi ngành; tạo cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp
luật trong các cơ quan và trong nhân dân; trừng trị nghiêm theo pháp luật những
hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức ở bất kỳ cương vị nào; ... là
những yêu cầu đặt ra nhằm đảm bảo pháp trị hành chính. Thực tế đang đòi hỏi
phải nâng cao ý thức đạo đức, tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức; tăng
cường giáo dục pháp luật cho công dân, tạo lòng tin và nếp sống làm việc theo
pháp luật của cán bộ công chức cũng như của các tầng lớp nhân dân; phát huy
vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí để không chỉ là phương tiện phổ
biến thông tin một cách chính xác, kịp thời mà phải trở thành công cụ hữu hiệu
để phân tích, dự báo, phản biện chính sách cho xã hội và là diễn đàn để nhân dân
trao đổi, bày tỏ ý kiến tham gia quản lý nhà nước.
Cần tăng cường tổ chức việc giáo dục pháp luật đến tận cơ sở; làm cho
mọi người dân thông hiểu pháp luật. Thực hiện chủ trương “Sống và làm việc
theo Hiến pháp và Pháp luật”. Giáo dục pháp luật cho công dân phải được thực
hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi.

2. Kiến nghị
21


Tất cả các địa phương cần tổ chức điều tra, khảo sát, đánh giá một cách
khách quan về thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở và dự báo
nhu cầu cán bộ, công chức cơ sở một cách khoa học; đồng thời tiến hành xây
dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở cho từng
giai đoạn, phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng địa phương; trên cơ sở đó
lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụ thể từng năm cho từng loại cán bộ, công
chức theo quy hoạch.
Nâng cao mặt bằng dân trí nói chung và trình độ học vấn của đội ngũ cán
bộ, công chức cơ sở các tỉnh, thành phố trong vùng nhằm khắc phục tình trạng
tụt hậu về giáo dục, nhiệm vụ đầu tiên là các địa phương trong vùng cần tập
trung nghiên cứu, rà soát lại việc thực hiện các chủ trương, chính sách về giáo
dục - đào tạo của cả Trung ương và địa phương trong thời gian qua có vần đề gì
không còn phù hợp, vấn đề gì cần thiết để tạo bước đột phá cho công tác giáo
dục - đào tạo trong vùng, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển về dân trí và nâng
cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở.
Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công
chức cơ sở, nên giảm nội dung lý luận, tăng cường các nội dung mang tính thực
tiễn, cập nhật đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước có liên quan đến hoạt động ở cơ sở, chú ý tăng cường bồi dưỡng kỷ năng
chuyên môn, nghiệp vụ cho từng loại cán bộ, công chức. Đa dạng hóa các loại
hình đào tạo, bồi dưỡng để phù hợp với điều kiện, đặc điểm của cán bộ, công
chức từng vùng.
Cần có chính sách tạo nguồn để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn cán
bộ. Cụ thể đối với các địa phương trong vùng cần quan tâm phát hiện nguồn
thông qua các hoạt động của phong trào quần chúng ở cơ sở, lựa chọn số học
sinh đã tốt nghiệp phổ thông, số bộ đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự đưa vào
diện quy hoạch nguồn để đào tạo chuyên môn nghiệp vụ theo nhu cầu sử dụng
của từng địa phương trong từng giai đoạn. Sau khi đào tạo về số sinh viên này
được bố trí vào đội ngũ cán bộ không chuyên trách hoặc cán bộ khu phố để dự
22


nguồn thay thế dần cho cán bộ chuyên trách và công chức. Cần phải có chính
sách tiền lương phù hợp với trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ này.
Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ để cùng với ngân sách địa phương bảo
đảm các điều kiện cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ sở,
kể cả đào tạo nguồn, đào tạo chuẩn hóa và đào tạo nâng cao trình độ. Làm sao số
học sinh thuộc diện đào tạo nguồn và số cán bộ, công chức cơ sở đựơc đưa đi
đào tạo, bồi dưỡng ở các trường được trợ cấp các khoản chi phí liên quan đến
việc học như: tiền tài liệu học tập, tiền ăn ở, đi lại...
Cùng với việc thực hiện chính sách hỗ trợ trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng, Chính phủ cần có chính sách "đầu ra" để giải quyết số cán bộ, công chức
hiện nay không đủ điều kiện để đào tạo chuẩn hóa, do trình độ năng lực hạn chế,
tuổi cao, sức khỏe yếu... như chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định
132/2007/NĐ-CP của Chính phủ mà chúng ta đang thực hiện đối với cán bộ,
công chức, viên chức nhà nước, vì thực tế hiện nay trong đội ngũ cán bộ, công
chức cơ sở của các địa phương trong vùng còn chiếm một tỷ lệ lớn thuộc diện
này nhưng chưa có cách giải quyết.
Thực hiện chính sách thu hút, sử dụng số sinh viên mới ra trường về cơ sở
theo các ngành nghề đào tạo mà cơ sở đang cần, đồng thời đẩy mạnh việc thực
hiện chính sách luân chuyển cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh về đảm nhiệm các chức
danh chủ chốt ở cơ sở theo chủ trương chung, để số cán bộ này vừa có điều kiện
tiếp cận, nắm bắt tình hình thực tiễn vừa để giúp những cơ sở còn thiếu cán bộ.
Cần có các hình thức, biện pháp tuyên truyền pháp luật và phát huy hiệu
quả của việc tuyên truyền pháp luật như:
Việc tuyên truyền bằng miệng được sử dụng rộng rãi theo hướng tăng
cường thảo luận, đối thoại và cần tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phổ biến giáo dục
pháp luật qua các kênh của Đài phát thanh và Truyền hình Trung ương và địa
phương. Hiện nay, gần 100% xã, phường, thị trấn trong cả nước đều có hệ thống
loa truyền thanh cơ sở, thời điểm phát sóng phù hợp với khu dân cư do đó cần

23


được khai thác hệ thống loa đài này đề phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục
pháp luật cho người dân.
Cán bộ các cấp cần được đào tạo một cách bài bản, và được cung cấp tài
liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật phong phú, mặt khác cần chú trọng về hình
thức và nội dung để thu hút người đọc và người nghe.
Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật cần được đổi mới về cách thức và thực
hiện qua nhiều phương tiện.
Tăng cường phổ biến pháp luật thông qua hình thức tư vấn pháp luật và trợ
giúp pháp lý, đẩy mạnh tư vấn, trợ giúp lưu động cho đồng bào dân tộc tiểu số,
các địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo
để đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận luật pháp.
Cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân thông qua việc hòa
giải ở cơ sở, thông qua việc hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ đã góp
phần giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, góp phần giữ gìn an
ninh trật tự ở địa phương.
Cần đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục pháp luật trong nhà
trường. Ví dụ như sách giáo khoa môn học “Giáo dục công dân” và nội dung,
giáo trình “Nhà nước và Pháp luật đại cương”
Cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua hoạt động xét
xử lưu động tại địa bàn xảy ra vụ án hoặc nơi có người phạm tội cư trú để nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn.
Cần lồng ghép phổ biến giáo dục pháp luật với việc xây dựng thực hiện
hương ước, quy ước, các phong trào, lễ hội truyền thống của xã, phường, thị
trấn. Cần cho ký cam kết không vi phạp pháp luật đối với mọi đối tượng như
học sinh, sinh viên, dân cư ở tổ dân phố, khu dân cư, cụm dân cư, trường học….
Cần phải hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo cho
các văn bản quy phạm pháp luật không bị chồng chéo, thuận lợi cho việc phổ
biến và áp dụng pháp luật vào cuộc sống.

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ luật dân sự năm
2005.
2. Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật đất đai năm
2013 có hiệu lực thi thành từ ngày 01/7/2004.
3. Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật hôn nhân và gia
đình 2014.
4. Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.
5. Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Luật khiếu nại tố cáo
năm 2011.
6. Học viện Hành chính Quốc gia – Tài liệu bồi dưỡng Ngạch chuyên viện
chính – Nhà xuất bản Bách Khoa – Hà Nội.
7. Học viện Hành chính Quốc gia - Giáo trình quản lý hành chính nhà nước
năm 2008 – Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
8. Một số tài liệu khác.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×