Tải bản đầy đủ

1 tiểu luận lớp bồi dưỡng QLNN chương trình chuyên viên

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có nhận thức sâu sắc vai trò của đất đai đối
với kinh tế xã hội, coi đất đai là một thứ hàng hóa đặc biệt và khẳng định:
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố
các khu dân cư, xây dựng các cơ sở văn hóa, xã hội an ninh và quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu bảo vệ
được vốn đất đai như ngày nay (Lời nói đầu của Luật đất đai năm 1993).
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Điều 17
của Hiến pháp năm 1992.
Với vai trò và vị trí đã được xác định trong Hiến pháp và được cụ thể hóa
trong các văn bản Luật đất đai, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
đất đai trở thành một vấn đề quan trọng, cấp bách nhằm đưa công tác quản lý, sử
dụng đất đai đúng mục đích và có hiệu quả.
Hiến pháp năm 1992 và các luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung
của một số điều luật năm 1998; Luật sửa đổi bổ sung của một số điều luật năm
2001; Luật đất đai năm 2003 được ban hành, việc quản lý và sử dụng đất đai ở
nước ta nói chung và ở Hà Nội nói riêng từng bước đi vào ổn định, việc khai thác
sử dụng đất đai có hiệu quả, góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội. Tuy nhiên

trong thực tế vẫn còn nhiều khó khăn bất cập trong quản lý, sử dụng, cụ thể là hệ
thống pháp luật về đất đai chưa đồng bộ, công tác quản lý đất đai chưa nhất quán
triệt để, công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký thống kê đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, trong khi đó hành vi lấn chiếm đất đai
làm nhà trái phép, mua bán quyền sử dụng sai mục đích….ngày càng phổ biến
dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai ngày càng nhiều, với nội dung vụ việc ngày
1


càng phức tạp, khiếu nại tố cáo của các cá nhân, tổ chức một cách tràn lan, làm
ảnh hưởng đến đời sống kinh tế chính trị - xã hội của đất nước.Có những vụ tranh
chấp đất đai để các tổ chức lợi dụng, kích động giáo dân gây mất trật tự an ninh
chính trị tại Thủ đô Hà Nộ.Nguyên nhân chủ yếu là nhân dân chưa hiểu hết về
Luật đất đai Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành. Mặt khác
sự yếu kém về trình độ, và sự suy giảm về mặt đạo đức của các cán bộ công chức
trong quản lý nhà nước, các cấp có thẩm quyền chưa thực hiện đúng chức năng
của mình trong việc quản lý đất đai, trong việc sử dụng các vụ việc khiếu nại, tố
cáo về đất đai dẫn đến giảm lòng tin của nhân dân đối với đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Xuất phát từ thực trạng quản lý đất đai của cả nước nói chung, và Hà nội
nói riêng, cùng với sự hiểu biết qua các phương tiện thông tin đại chúng, và các
kiến thức đã được các thầy, các cô giáo trang bị trong quá trình học tập, với sự
giúp đỡ của bạn bè, tôi chọn tình huống: “Hướng giải quyết vụ khiếu kiện về
tranh chấp đất đai” để viết bài tiểu luận.
Do thời gian nghiên cứu có hạn và do những kiến thức của bản thân còn
hạn chế, nên tiểu luận này sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong các thầy, cô
thông cảm và đóng góp ý kiến để bài tiểu luận hoàn chỉnh hơn.

2


PHẦN I
NỘI DUNG
1. Mô tả tình huống
Ông Lê văn B có một người anh (cùng cha khác mẹ) là Lê văn C vào Nam
sinh sống từ năm 1955, đến năm 1980 Ông C trở về quê sinh sống, nhưng do
không có chỗ ở nên Ông C cho Ông B mượn một mảnh đất làm nhà ở tạm, với
diện tích là 200m

2



nằm trong khuôn viên 800m2 của gia đình Ông B đang sử

dụng. Ông C đã tiến hành xây dựng nhà ở (nhà cấp 4) và đã làm đầy đủ nghĩa vụ
nộp thuế đối với nhà nước trên diện tích 200m2 mà không có vấn đề gì xảy ra.
Năm 1985, tức là năm năm sau, ông C làm lại căn nhà cũ thành căn nhà 3
tầng khang trang, có các công trình phụ và cây ăn quả xung quanh ngôi nhà của
mình. Đến năm 1998, ông C bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn văn D để vào Nam sống cùng với các con. Trước hình như vậy, ông B đã
gửi đơn khiếu kiện đến cấp có thẩm quyền đề nghị giải quyết đòi lại diện tích mà
Ông đã cho người anh của mình mượn để xây nhà ở tạm.
Người đứng đơn kiện là ông Lê văn B.
Người bị kiện là ông nguyễn văn D.
Ông D cho rằng diện tích đất mà ông C bán và làm thủ tục chuyển nhượng
là hoàn toàn hợp pháp, vì trên diện tích này ông C đã xây dựng nhà ở, đã nộp đầy
đủ thuế cho Nhà nước và Ủy ban nhân dân phường đã chứng nhận quyền sử dụng
đất trước khi ông C bán cho ông. Do đó ông phản đối với việc ông B khiếu kiện
đòi lại diện tích đất đã nêu trên.
Ngày 10/05/2001, UBND Quận nhận được đơn của ông Lê văn B và đã
thành lập đoàn thanh tra đại diện gồm các phòng, ban chức năng của Quận tham
gia để giải quyết vụ việc này.
Trên cơ sở Đoàn thanh tra làm việc và có báo cáo UBND Quận đã ra quyết
định hành chính số /QĐ-UB về việc giải quyết đơn khiếu kiện của ông Lê văn B.
Trong nội dung quyết định có ghi: Đối với UBND phường V, việc chứng nhận
3


quyền sửa đất của ông Lê văn C, là sai nguyên tắc, trái với quy định khoản 2 ,
điều 24 của Luật đất đai ban hành ngày 14/7/1993. Vì vậy, UBND phường V phải
chịu trách nhiệm trước UBND Quận. Mặt khác ông C phải có trách nhiệm hoàn
trả lại số tiền 300 triệu đồng mà ông có được do bán nhà và chuyển quyền sử
dụng bất hợp pháp cho ông Nguyễn văn D. Ông D có trách nhiện hoàn trả lại toàn
bộ diện tích đất và nhà mà ông C đã chuyển nhượng. Ông B phải trả số tiền mà
ông C đã làm nhà ở và số cây ăn quả mà ông C đã tạo lập nên (theo thời điểm
năm 1980).
Trong quá trình thực hiện Quyết định của UBND Quận thì có những vấn đề
xảy ra : Ông nguyễn văn D không chấp nhận việc nhận lại số tiền mà ông lê văn C
trả lại như trong quyết định của UBND quận, vì ông cho rằng sau thời gian
chuyển nhượng nhà và đất đến nay đã 3 năm, ông đã tiến hành sửa sang lại nhà
cửa, làm lại công trình phụ, lát sân, trồng thêm một số cây ăn trái, mặt khác tại
thời điểm hiện nay đất đã có biến động, tăng rất nhiều so với giá đất tại thời điểm
chuyển nhượng. Chính vì vậy, Ông D đòi ông C phải trả lại cho ông số tiền là 500
triệu đồng (tăng 200 triệu đồng so với Quyết định của UBND Quận).
Ông C đã không chấp nhận mà chỉ thống nhất theo quyết định của UBND
Quận và ông cũng cho rằng mảnh đất mà ông chuyển nhượng cho ông D nguyên
là mảnh đất mà bố ông để lại cho hai anh em sử dụng, thực tế đã sử dụng mảnh
đất này được hơn 10 năm và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước.
Chính vì vậy, ông C không đồng ý trả lại lô đất trên cho ông B.
Từ những sự việc trên, Quyết định số 12/QĐ-UB ngày 29/5/2001 của
UBND Quận không được thực hiện và ông B tiếp túc khiếu kiện lên cấp có thẩm
quyền cao hơn.
2. Phân tích tình huống
Từ những tình huống nêu trên, cho thấy việc xảy ra tranh chấp dẫn đến
khiếu kiện kéo dài là do sự thiếu hiểu biết pháp luật về đất đai và các quy định về
giải quyết tranh chấp đất đai, do đó dẫn đến tình trạng sai phạm trong quá trình
giải quyết như:

4


Trường hợp của ông B: Nếu trước khi ông cho ông C ở trên mảnh đất thổ
cư của mình mà có liên hệ với cấp chính quyền địa phương làm đầy đủ các thủ tục
cần thiết hoặc làm hợp đồng, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, thì
có cơ sở pháp lý để lấy lại mảnh đất 200m 2 mà mình đã cho mượn, thuận lợi cho
việc giải quyết tranh chấp khi xảy ra, như tình huống đã nêu trên.
Ông C là người được ông B cho ở tạm khi không có nhà ở, trong quá trình
sử dụng đất ông đã làm đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước, sau đó sửa
sang lại nhà cửa nhưng ông B không có ý kiến gì. Vấn đề đặt ra là do không hiểu
biết về pháp luật, nên ông tưởng rằng UBND phường có thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng thực tế và theo quy định tại khoản 2 Điều
24 của Luật đất đai ngày 14/7/1993 (Luật này sửa đổi bổ sung năm 1998, năm
2001, năm 2003). Thì UBND Quận mới có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, chứ không phải là UBND phường.
Việc bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất giữa ông C và ông D là không
có giấy tờ nào để chứng minh mảnh đất trên là hợp pháp.
Từ những yếu tố trên, chúng ta thấy rằng: Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vụ
khiếu kiện kéo dài là sự thiếu xót trong việc tổ chức và hoạt động quản lý nhà
nước, sự thiếu hiểu biết, thiếu tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ thuộc
UBND phường, và Đoàn thanh tra của Quận. Để làm rõ những nguyên nhân dẫn
đến vụ khiếu kiện kéo dài, chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân của vụ việc từ các
bên đương sự có liên quan.
Quyết định số 12/QĐ-UB ngày 29/05/2001 của UBND Quận đã giải quyết
vụ việc theo đúng thẩm quyền được quy định tại mục a, khoản 2, điều 38 Luật đất
đai ngày 14/7/1993. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn có những điểm sai
sót và hạn chế do vậy quyết định trên là không khả thi, cụ thể là:
Việc tham mưu giải quyết tranh chấp do các cơ quan ban, ngành của UBND
Quận và UBND phường V để ra quyết định hành chính giải quyết vụ việc mà
không xem xét, nghiên cứu kỹ nội dung của vụ khiếu kiện, chưa xác định rõ
nguyên nhân, dẫn đến quyết định của UBND Quận trong việc giải quyết khiếu
kiện về đất đai là không đúng với tình hình thực tế khác quan, do đó các bên
5


đương sự không chấp hành quyết định và ngược lại tiếp tục khiếu kiện. Đây là
một trong những sai sót nghiêm trọng của UBND Quận và có thể coi đây là một
việc làm quan liêu, thiếu tinh thần trách nhiệm của một cơ quan hành chính cấp
Quận.
Đối với UBND phường V: Là một cơ quan hành chính cấp cơ sở và cũng là
nơi xảy ra tranh chấp. Sai sót cơ bản của nhân dân phường V là đứng ra chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê văn C, như vậy là trái với chức năng, thẩm
quyền dược quy định tại điều 26, và điều 23 của luật đất đai ngày 14/7/1993. khi
vụ khiếu kiện xảy ra, UBND Phường V đã không tiến hành hòa giải tốt cho các
bên đương sự, trong khi đó theo quy định của pháp luật thì theo khoản 1 điều 38
của Luật đất đai thì “ Nhà nước khuyến khích việc hòa giải các tranh chấp đất đai
trong nhân dân” hoặc trong trường hợp không giải quyết được vụ việc thì phải có
công văn đề nghị UBND Quận tiếp tục giải quyết tranh chấp của các bên.
PHẦN II
NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
1. Qua nghiên cứu tài liệu và đơn khiếu nại cho thấy nguyên nhân sâu
xa dẫn đến khiếu kiện của ông Lê văn B là vì:
1.1. Đối với Ông Lê văn B - Người đứng đầu đơn kiện
Thứ nhất, Ông Lê văn B cho anh trai của mình là Lê văn C, từ miền Nam
trở về không có chỗ ở, ở tạm trên diện tích đất mà gia đình ông sử dụng. Trong
quá trình cho ông C ở tạm, ông B không làm một thủ tục giấy tờ nào về vấn đề
này và cũng không đặt một điều kiện nào đối với ông C. Mặt khác thời gian ông C
ở trên diện tích đất này cũng khá lâu, hơn nữa ông C xây dựng lại nhà kiên cố,
trồng thêm cây ăn quả nhưng ông B cũng không có ý kiến gì, ngược lại còn tận
tình giúp đỡ. Quá trình sinh sống hai bên đã phân định ranh giới, điều minh chứng
là Ông C đã làm nghĩa vụ nộp thuế đất đối với phần đất mà mình đã sử dụng. năm
1998 do nhu cầu cuộc sống có sự thay đổi, Ông C chuyển vào Nam sống chung
với con, nên ông C đã chuyển nhượng diện tích đất và nhà của cho ông D, tranh
chấp vì thế mà phát sinh.
6


Thứ hai, Bố đẻ ra ông B và ông C, khi còn sống đã có di chúc bằng miệng,
nội dung của di chúc như sau: khi bố mất toàn bộ diện tích đất thổ cư được chia
cho anh em của ông để cùng ở, nhưng ông B phản đối và cho rằng di chúc miệng
của bố ông không có hiệu lực pháp luật.
Thứ 3, ông B cho rằng gia đình ông hiện nay có 2 con trai đã trưởng thành
và vừa lập gia đình, để cho các con ra ở riêng ông cần lấy lại mảnh đất mà ông đã
cho anh của ông là Lê văn C mượn.
Từ nguyên nhấn trên dẫn đến vụ khiếu kiện của ông B.Vụ khiếu kiện này
cho thấy ông B đã có chủ định trong việc khiếu kiện, bởi ông biết rằng mảnh đất
mà ông đang sử dụng không có đầy đủ cơ sở pháp lý để chứng minh quyền sử
dụng đất là hợp pháp, mặt khác nếu ông c cho rằng đất đó là do bố của ông để lại
thì cũng không có cơ sở để đưa ra chứng cứ. Tuy nhiên một vấn đề mà ông B
cũng không thể chứng minh được, đó là mảnh đất thuộc sở hữu của ông. Như vậy
theo quy định của pháp luật thì việc làm của ông B là không đúng pháp luật.
1.2. Đối với ông Lê văn C
Căn cứ vào đơn khiếu kiện của ông B thì ông không phải là người bị kiện
(bị đơn), nhưng thực chất của vấn đề thì ông mới là nguyên nhân chính dẫn đến
vụ khiếu kiện. Trong quá trình giải quyết vụ việc, ông luôn cho rằng mảnh đất thổ
cư mà ông đã ở và chuyển nhượng cho ông D là mảnh đất của bố ông đã để lại
thừa kế cho hai anh em ông, di chúc miệng, đều có mặt cả hai anh em cùng nghe.
Hơn nữa ông lập luận rằng mảnh đất mà ông đã ở chỉ bằng 1/4 tổng diện tích khu
đất mà bố ông đã để thừa kế lại cho hai anh em. Như vậy, mảnh đất ông đã ở trên
là hợp pháp, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở cho ông Nguyễn
văn D là hoàn toàn hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ việc, sau khi ông C nghe phân tích về Luật
đất đai, Nghị định số 17/1999/NĐ – CP ngày 29/3/1999 của chính phủ quy định
về “ thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,thừa kế quyền sử
dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất” thì việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của ông C cho ông D là không hợp pháp. Theo nghị
định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 của chính phủ thì “người sử dụng đất
7


khi thực hiện quyền của mình phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do tổng
cục quản lý ruộng đất trước đây hoặc Tổng cục địa chính phát hành”, như vậy
trường hợp của ông C có chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND phường V là
không hợp pháp, vì ủy ban nhân dân phường V không có thẩm quyền được làm
việc này phải là UBND Quận.
Ông C cũng cần nhận thấy những sai sót của mình là chưa tìm hiểu kỹ về
Luật đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan, đồng thời cũng chưa liên hệ
với cơ quan chức năng,để làm hồ sơ các thủ tục cần thiết khi bán nhà chuyển
quyền sử dụng đất cho ông nguyễn văn D.
1.3. Đối với ông nguyễn văn D người bị khiếu kiện (Bị đơn)
Ông Nguyễn văn D là người bị khiếu kiện, qua nghiên cứu nội dung vụ
kiện thì thấy rằng thực tế ông Nguyễn văn D không phải là bị đơn theo đúng
nghĩa vủa nó. Việc Ông D đòi bồi thường khoản tiền vượt mức so với quyết định
của UBND Quận về việc giải quyết khiếu kiện như ông trình bày là hoàn toàn có
cơ sở. Tuy nhiên ông Nguyễn văn D cũng phải thấy rằng việc mua bán nhà và
quyền sử dụng đất giữa ông với ông Lê văn C là hoàn toàn không hợp pháp, vì
chưa làm thủ tục mua bán theo quy định của pháp luật, mặt khác mảnh đất chưa
có chứng cứ xác định thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông C.
2. Hậu quả của vụ việc
Từ nguyên nhân trên, các bên đương sự không thực hiện Quyết định số
12/QĐ-UB ngày 29/5/2001 của UBND Quận, do đó làm ảnh hưởng đến uy tín của
các cơ quan chức năng của Nhà nước, làm mất lòng tin của nhân dân, làm cho
nhân dân không tin tưởng vào đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước.
PHẦN III
CÁC PHƯƠNG ÁN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Các phương án giải quyết

8


Qua phân tích sự việc và xử lý tình huống ở phần trên, chúng ta có thể lựa
chọn một trong số các phương án để giải quyết vụ khiếu kiện tranh chấp đất đai
giữa các bên đương sự như nhau:
- Phương án 1: UNND Quận giải quyết
Thực tế vụ việc đã được phân tích cho thấy, phương án này là không thể
chấp nhận được, vì chỉ giải quyết một cách chung chung, phiến diện, giải quyết
trên cơ sở có tình mà không có lý dẫn đến không thoả mãn các bên tranh chấp và
sự rắc rối, tiếp tục kéo dài, làm mất lòng tin của nhân dân, làm cho nhân dân
không tin tưởng vào đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng và pháp Luật
Nhà nước.
- Phương án 2: Phương án này giải quyết vụ việc ngược lại với phương án
1 tức là có lý mà không có tình, điều đó có nghĩa là giải quyết theo quy dịnh của
pháp luật, do đó dẫn đến sự không thoả mãn của các bên đương sự, nhất là hai anh
em ông Lê văn B và Lê văn C.
- Phương án 3: Vì cả hai phương án trên đều không hợp lý,có nghĩa là thoả
mãn được bên này thì ảnh hưởng đến bên kia và ngược lại. Do vậy, phương án 3
phải là phương án tối ưu, làm thoả mãn các bên đương sự, giải quyết vụ việc vừa
có tình vùa có lý, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật nói chung, và Luật đất
đai nói riêng, đảm bảo được tính khả thi của Pháp luật.
Như vậy phương án 3 là phương án có tính khả thi, là phương án giải quyết
vụ khiếu kiện này.
2. Hướng giải quyết tình huống
Trên cơ sở phân tích những tình tiết có liên quan của vụ khiếu kiện, đồng
thời để đảm bảo giải quyết tranh chấp đất đai theo luật định và làm cơ sở cho các
bước xử lý tiếp theo, căn cứ vào khoản 6 Điều 26 và khoản 2 Điều 36 Luật đất
đai, Điều 38 Luật Tổ chức Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thì trước hết phải ra quyết định thu hồi các quyết định sau:
- Không công nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND
Phường V đã cấp cho ông Lê văn C, Vì UBND Phường V đã làm trái thẩm quyền
theo quy định tại Điều 26 và Điều 36 Luật đất đai ban hành ngày ngày 14/7/1993.
9


-Thu hồi lại Quyết định số 12/QĐ-UB ngày 29/5/2001 của UBND Quận vì
nội dung của Quyết định không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật, do
đó Quyết định không có tính khả thi.
Sau khi thực hiện các bước trên, phải tiến hành phân tích các nguyên nhân
dẫn đến việc khiếu kiện kéo dài của các bên đương sự, đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật.
Qua những tình tiết nêu trên, chúng ta nhận thấy hậu quả để lại của các cơ
quan nhà nước ở cấp quyền và cấp quận là rất nghiêm trọng, làm giảm lòng tin
của nhân dân, làm cho nhân dân không tin tưởng vào đường lối chủ trương chính
sách của Đảng và pháp Luật của Nhà nước. Đặc biệt UBND Quận đã ra quyết
định hành chính mà không dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý vụ việc, làm
cho các bên đương sự không thoả mãn, dẫn đến chống lại Quyết định của cơ quan
Nhà nước và vụ việc tiếp tục bị khiếu kiện kéo dài, lên cấp có thẩm quyền cao
hơn.
Xét về góc độ khác để đánh giá vụ việc, thì không hẳn là do lỗi chủ quan
của UBND Phường V và Quận, mà do trình độ quản lý của cơ quan hành chính
Nhà nước nói chung và mức độ bồi dưỡng pháp luật về đất đai nói riêng ở các cấp
cơ sở còn hạn chế. Hơn nữa công tác kiểm tra thanh tra ở các cấp các ngành lại
chưa thường xuyên, liên tục, kịp thời, để phát hiện những sai sót trong quá trình
giải quyết vụ việc. Mặt khác, UBND Phường V và UBND Quận phải kiểm điểm,
rút kinh nghiệm trong việc quản lý nhà nước ở địa phương mình quản lý.
2.1. Đối với ông Lê văn B:
Để giải quyết đơn khiếu kiện của ông được ổn thỏa, trước hết phải nhận
thấy rằng,việc giải quyết của UBND Quận không làm ông B thỏa mãn và ông tiếp
tục gửi đơn khiếu kiện lên cấp có thẩm quyền cao hơn giải quyết là hợp lệ. Tuy
nhiên, việc Ông cầu cấp có thẩm quyền giải quyết vụ việc mà ông khiếu kiện là
thu hồi lại mảnh đất đang tranh chấp và giao lại cho Ông là không thể thực hiện
được vì:
- Không có đủ chứng cứ để chứng minh: khu đất 800m 2 mà bố ông để lại
cho hai anh em ông hay cho riêng bản thân ông toàn quyền sử dụng. Anh trai của
10


ông là Lê văn C không có nhà tại thời điểm bố của các ông mất, nên mặc nhiên
mình được quyền trông coi và quyền sử dụng mảnh đất trên.Thời gian sau,
năm1980, anh trai ông là lê văn C từ Nam trở về, ông đã cho ở trên một phần diện
tích 200m2 trên tổng số 800m2 như vậy cũng có thể hiểu mảnh đất 200m 2 là của
ông C.
- Trong thời gian ông B nói rằng cho anh trai của ông là ông Lê văn C ở
tạm trên mảnh đất của gia đình ông đang sử dụng, Ông Lê văn C đã làm nhà cấp
4, sau đó lại làm nhà 3 tầng, có các công trình phụ, trồng cây cối , hoa màu, phân
định ranh giới và đã nộp thuế sử dụng đất đối với nhà nước, nhưng ông Lê văn B
không có ý kiến gì phản đối thậm chí còn tình nguyện giúp đỡ. Như vậy là ông đã
thừa nhận việc sử dụng hợp pháp đối với mảnh đất mà ông đã ở và tước quyền sử
dụng đất của chính mình đối với mảnh đất 200m 2.
- Xét về giấy tờ để chứng minh nguồn gốc đất, ông Lê văn B và ah trai là
Lê văn C đều không có một loại giấy tờ nào chứng minh tính hợp pháp của mảnh
đất mà các ông đang tranh chấp. Như vậy mảnh đất 200m 2 đang bị tranh chấp,
không thể bị thu hồi giao lại cho ông B sử dụng.
Xét về hoàn cảnh gia đình ông Lê văn B, hiện tai có hai người con trai đều
lập gia đình, muốn sống riêng, độc lập, đủ điều kiện tách hộ, trước hết các con
ông phải có đơn xin đất xây dựng nhà ở gửi UBND Phường. Trên cơ sở quỹ đất
quy hoạch khu dân cư của phường hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
UBND phường xem xét đề nghị UBND Quận cấp giấy xây dựng nhà ở cho các
con ông theo luật định.
2.2. Đối với ông Lê văn C:
Trên cơ sở phân tích nội dung và nguyên nhân của vụ khiếu kiện cho thấy
ông Lê văn C không có một loại giấy tờ gì để chứng minh mảnh đất đang tranh
chấp của ông đang sử dụng là hợp pháp, mặc dù ông đã nộp đầy đủ thuế sử dụng
đất đối với nhà nước và đã làm thủ tục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở
UBND phường V, nhưng việc UBND phường V cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông C là trái với thẩm quyền và vi phạm Luật đất đai. Từ đó chúng
ta thấy rằng nguyên nhân sai phạm của ông Lê văn C là khi đăng ký quyền sử
11


dụng mảnh đất mà ông đang ở không bàn bạc với em trai ông là Lê văn B để xác
định rõ nguồn gốc của mảnh đất cũng như việc thừa kế khu đất của bố ông để lại
cho anh em của ông sử dụng. Mặt khác khi ông chuyển nhượng nhà và đất ở cho
ông Nguyễn văn D, ông Lê văn C cũng không tìm hiểu pháp luật của Nhà nước để
làm các thủ tục cần thiết cho luật định, dẫn đến việc vi phạm pháp luật cũng như
ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn văn D.
Như vậy, xét về thực tế và qua phân tích sự việc nêu trên,Ông Lê văn C
không còn diện tích đất nào khác để ở ngoài đất đang tranh chấp, do đó việc công
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông là hợp tình hợp lý.
Qua phân tích vụ việc cho thấy ông Nguyễn Văn D là người bị kiện nhưng
thực chất ông không phải là người bị kiện như bị đơn, vụ việc chủ yếu là sự tranh
chấp giữa hai anh em ông Lê Văn B và Lê Văn C. Nhưng vấn đề đặt ra là ông
cũng phải nhận thấy rằng việc chuyển nhượng đất giữa ông và ông Lê Văn C là
ông không đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.
PHẦN IV
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Tình huống nêu trên là một trong nhiều tình huống diễn ra trong quá trình
giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay ở nhiều địa phương. Tình huống đó cho
thấy, mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành các Đạo luật ,Pháp lệnh, Nghị định
hướng dẫn về vấn đề đất đai cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, nhằm
đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đòi hỏi các cơ quan chức năng
phải giải quyết khiếu nại đúng các quy định của pháp luật, làm cho nhân dân tin
tưởng vào đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, và Pháp luật của Nhà
nước.
Qua tình huống này cho thấy, sở sĩ các bên đương sự tiếp tục khiếu nại kéo
dài đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao hơn là vì việc giải quyết của cấp
dưới thiếu khách quan, không dựa vào thực tế nơi xảy ra tranh chấp, không
nghiên cứu sự việc một cách khách quan, chưa tìm hiểu nguyên nhân của vụ khiếu
kiện, dẫn đến sai phạm trong việc ra quyết định xử lý.
12


Trong những năm qua, việc quản lý và sử dụng đất ở thành phố Hà Nội đã
có những kết quả đáng khích lệ, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội nói
chung và xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại nói riêng. Tuy nhiên
trong công cuộc đổi mới hiện nay, việc quản lý và sử dụng đất đã phát sinh nhiều
vấn đề mới mà pháp luật về đất đai chưa quy định, hoặc quy định chưa cụ thể, nên
khi giải quyết còn nhiều khó khăn lúng túng. Cán bộ và nhân dân chưa nắm rõ
pháp luật về đất đai, dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai ngày càng
phổ biến. Cơ quan quản lý về đất đai đã được tăng cường nhưng chưa đủ mạnh để
tham mưu cho UBND các cấp giải quyết kịp thời, dứt điểm các vi phạm pháp luật
về đất đai.
Vì vậy việc nâng cao vai trò hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai, góp
phần hoàn thành pháp luật về đất đai, nâng cao hiểu biết của nhân dân trong quá
trình sử dụng đất để họ tự giác chấp hành pháp luật, và mạnh dạn đấu tranh,
phòng chống những hành vi, vi phạm pháp luật về đất đai là một trong những
công việc cấp bách hiện nay, nhằm góp phần tăng cường, củng cố nâng cao hiệu
quả để việc quản lý đất đai đủ mạnh, giúp ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt
việc quản lý nhà nước về đất đai ở thủ đô Hà nội, góp phần thành công sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
2. Kiến nghị
Ngay từ đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng đã chỉ ra yêu cầu
cấp bách phải đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tăng cường
bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương thành một thể thống nhất, nhằm
thực hiện một cơ chế quản lý Nhà nước, bảo đảm sự tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng trong hệ thống chính trị. Đại hội lần thứ VII thứ VIII và ban chấp hành
trung ương khóa VII ,VIII đã tiếp tục cụ thể hóa những quan điểm, phương hướng
chủ trương nhiệm vụ cụ thể nhằm đổi mới hoạt động của Nhà nước để đạt được
những yêu cầu cơ bản là:
Xây dựng một nhà nước của dân do dân vì dân, bảo đảm ngày càng thực
hiện đầy đủ nền dân chủ XHCN. Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nhà

13


nước phải đảm bảo tất cả quyền lực Nhà nước và xã hội của nhân dân, tất cả vì
hạnh phúc của nhân dân.
Xây dựng một Nhà nước có đủ khả năng, năng lực quản lý kinh tế, quản lý
xã hội có hiệu quả.
Xây dựng Nhà nước có bộ máy gọn nhẹ, đủ mạnh được tổ chức chính quy,
có cơ chế làm việc khoa học, bảo đảm kiểm tra giám sát và điều hành hoạt động
của xã hội cũng như hoạt động của bản thân bộ máy.
Xây dựng bộ máy Nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản
lý nhà nước bằng pháp luật, giữ vững kỷ cương pháp luật trật tự an toàn xã hội.
Xây dựng một Nhà nước có đội ngũ cán bộ, công chức, trong sạch, toàn
tâm toàn ý phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với dân, đồng thời có bản lĩnh chính
trị, loại trừ các bệnh quan liêu, tham nhũng đặc quyền, đặc lợi vi phạm quyền làm
chủ của nhân dân trong bộ máy của Nhà nước.
Để thực hiện các yêu cầu mà Đảng đề ra, đề nghị nhà nước cần quan tâm
hơn nữa việc phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật trong tất cả cán bộ , đảng
viên và nhân dân, đặc biệt là pháp luật vế đất đai để cán bộ, đảng viên, nhân dân
hiểu và thực hiện tốt các quyền , nghĩa vụ của mình. Nhà nước cần có biện pháp
đào tạo lại đội ngũ cán bộ, cán bộ công chức quản lý hành chính Nhà nước về đất
đai, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ cho việc tiếp dân,
giải quyết các vụ khiếu kiện của nhân dân về tranh chấp đất đai, nhằm nâng cao
trình đọ chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ cho việc tiếp dân, giải quyết các vụ
khiếu kiện của nhân dân về tranh chấp đất đai ngày càng có hiệu quả. Đây là
nhiệm vụ cấp bách của UBND các cấp.
Đất đai là tài sản đặc biệt, luôn biến động trong quá trình đổi mới của đất
nước. Do đó việc tăng cường quản lý đất đai và hoàn thiện pháp luật về đất đai là
vấn đề cần thiết của Nhà nước ta, nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế vững
mạnh, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực, kinh tế thế giới.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×