Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ MỨC SẴN LÒNG THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG HUYỆN CỦ CHI TPHCM

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

ĐÁNH GIÁ MỨC SẴN LÒNG THAM GIA CỦA CỘNG
ĐỒNG VÀO VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG HUYỆN CỦ
CHI TPHCM

LÊ THỊ BÍCH HỢP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh
07/2009


Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “Đánh Giá Mức Sẵn
Lòng Tham Gia Của Cộng Đồng Vào Việc Cải Thiện Môi Trường Huyện Củ Chi TP
HCM” do Lê Thị Bích Hợp, sinh viên khoá 2005 – 2009, nghành kinh tế tài nguyên

môi trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày ___________________ .

TS. ĐẶNG THANH HÀ
Người hướng dẫn,

_______________________________
Ngày

tháng

năm

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo

Thư ký hội đồng chấm báo cáo

_______________________________
Ngày tháng
năm

________________________
Ngày tháng
năm


LỜI CẢM TẠ
Để có được kết quả như ngày hôm nay, đầu tiên con xin chân thành cảm ơn cha
mẹ, người đã nuôi dạy và cho con trưởng thành như ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành
Phố Hồ Chí Minh cùng các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh Tế đã giảng dạy và
truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình học tại nhà trường.
Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc đến Thầy Đặng Thanh Hà,
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài.
Qua đây, tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn đến các anh chị trong ban quản lý môi
trường huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điền kiện giúp đỡ tận tình để tôi
có thể hoàn thành được đề tài này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn và giửi những tình cảm chân thành đến những bạn bè
luôn động viên, hỗ trợ trong suốt những năm học và thực tập tại nhà trường
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19/06/2009.



NỘI DUNG TÓM TẮT

LÊ THỊ BÍCH HỢP, “ Đánh giá mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng vào việc cải
thiện môi trường huyện Củ Chi TPHCM”.
Với mục tiêu chính là đánh giá mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng vào việc
cải thiện môi trường, đề tài ứng dụng phương pháp đánh giá ngẩu nhiên để hỏi về
mức sẵn lòng tham gia và mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng môi trường.
Bên cạnh đó đề tài còn đánh giá nhận thức của người dân và tìm hiểu tác động của yếu
tố cộng đồng lên việc quản lý ô nhiểm của các cơ sở sản xuất tại địa phương. Với số
khảo sát là 100 hộ gia đình, đề tài đã tính toán được mức sẵn lòng trả cảu người dân
huyện Củ Chi là 10.326.875.156 VND, và cũng đã tìm hiểu được các yếu tố tác động
đến mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng cũng như ảnh hưởng của cộng đồng đến
quản lý ô nhiểm tại địa phương. Từ đó đề ra các biện pháp để có thể quản lý môi
trường tốt hơn trong tương lai.


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH

x

DANH MỤC PHỤ LỤC

xi

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1

U

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1. Mục tiêu chung

2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

2

1.3. Phạm vi nghiên cứu

2

1.3.1. Phạm vi thời gian

2

1.3.2. Phạm vi không gian

2

1.3.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.3.4. Nội dung nghiên cứu

2

1.4. Cấu trúc khóa luận

3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

4

2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

4

2.2. Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

7

2.2.1. Các nội dung quan trọng trong bảng câu hỏi

9

2.2.2. Các kỹ thuật được ứng dụng trong quá trình thiết kế bảng câu hỏi

15

2.2.3. Những quy tắc để một cuộc phỏng vấn có chất lượng tốt

16

2.2.4. Vấn đề tổ chức điều tra

16

2.3. Khái quát điều kiện tự nhiên

17

2.3.1. Vị trí

17

2.3.2. Đặc điểm khí hậu

20

2.4. Các hoạt động kinh tế xã hội tại huyện Củ Chi

20

2.4.1. Sản xuất nông nghiệp

20

2.4.2. Sản xuất công nghiệp

20

2.4.3. Thương mại dịch vụ

22
v


2.4.4. Qui hoạch các khu đô thị

23

2.5. Đánh giá hiện trạng môi trường công nghiệp huyện Củ Chi

24

2.5.1. Khí thải công nghiệp

24

2.5.2. Nước thải công nghiệp

26

2.6. Các chương trình quản lý ô nhiễm tại địa phương
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lý luận

29
30
30

3.1.1. Khái niệm môi trường

30

3.1.2. Ô nhiểm môi trường

30

3.1.3. Khái niệm nhận thức

30

3.1.4. Khái niệm cộng đồng

30

3.1.5. Khái niệm về quản lý môi trường dựa vào cộng đồng

31

3.1.8. Khái niệm mức sẵn lòng trả

31

3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

32

3.2.1. Mô tả hiện trạng môi trường, tình hình kinh tế xã hội huyện Củ Chi

33

3.2.2. phương pháp đánh giá nhận thức cộng đồng

33

3.2.3. Đánh giá mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng

33

3.3.3. Đánh giá tác động của cộng đồng đến xác suất quản lý ô nhiểm của một cơ
sở sản xuất

35

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

37

U

4.1. Hiện trạng môi trường của khu vực

37

4.2. Nhận thức về ô nhiểm của người dân tại địa phương

38

4.2.1. Mức độ quan tâm của người dân về vấn đề môi trường tại địa phương.

38

4.2.2. Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của môi trường

39

4.2.3. Khảo sát mức độ ảnh hưởng của môi trường đến cộng đồng tại địa phương
40
4.2.4. Các vấn đề về môi trường người dân quan tâm

41

4.2.5. Các nguyên nhân gây ô nhiểm môi trường theo phản ánh của người dân tại
địa phương

42

4.2.6. Nhận định của người dân về công tác quản lý môi trường của nhà nước

43

4.2.7. Mức độ tham gia công tác bảo vệ môi trường của người dân

44

vi


4.2.8. Các vấn đề môi trường cần được quan tâm tại địa phương

44

4.2.9 Xác định các bên liên quan

46

4.2.10. Mức độ đóng góp thời gian cho hoạt động bảo vệ môi trường

47

4.3. Đánh giá mức sẵn lòng tham gia của người dân vào chương trình quản lý ô
nhiểm dựa vào cộng đồng

48

4.3.1. Các yếu tố tác động đến mức sẵn lòng tham gia

48

4.3.2. Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình

49

4.4.3. Kiểm định tính hiệu lực của mô hình

51

4.4.4. Đánh giá mức sẵn lòng trả của người dân huyện Củ Chi vào chương trình
cải thiện môi trường

52

4.5. Đánh giá tác động của cộng đồng lên sự quản lý ô nhiểm của một cơ sở sản xuất
58
4.5.1.Lựa chọn mô hình

59

4.5.2. Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình

59

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

61

5.1 Kết luận

61

5.2 Kiến nghị

62

vii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Diện Tích, Dân Số Và Đơn Vị Hành Chánh Huyện Củ Chi

18

Bảng 2.2. Các Cơ Sở Và Giá Trị Sản Xuất Công Nghiệp Trên Địa Bàn Huyện
Củ Chi Năm 2005

21

Bảng 2.3. Giá Trị Sản Xuất Công Nghiệp Biến Động Qua Các Năm

21

Bảng 2.4. Tổng Doanh Thu Ngành Thương Mại, Dịch Vụ Qua Các Năm

23

Bảng 2.5. Kết Quả Đo Chất Lượng Không Khí Khu Vực Nhà Xưởng

24

Bảng 2.6. Kết Quả Phân Tích Nước Thải Một Số Đơn Vị SX Trên Địa Bàn
Huyện Củ Chi

26

Bảng 4.1. Lý Do Đồng Ý Tham Gia

48

Bảng 4.2. Lý Do Không Đồng Ý Tham Gia

48

Bảng 4.3. Một Số Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội Của Người Được Phỏng Vấn

49

Bảng 4.4. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit (Mô Hình Mức Sẵn Lòng Tham
Gia)

50

Bảng 4.5. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit (Mô Hình Mức Sẵn Lòng Tham
Gia-Ước Lượng Lại)

50

Bảng 4.6. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Mức Sẵn Lòng Trả( WTP)

55

Bảng 4.7. Ma Trận Tương Quan Giữa Các Biến

56

Bảng 4.8. Giá Trị Trung Bình Các Biến Của Mô Hình Mức Sẵn Lòng Trả(
WTP)

57

Bảng 4.9. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Đánh Giá Tác Động Của Cộng Đồng
59

Bảng 4.10. Danh Sách Các Sơ Sở Bị Phạt Quý 1 - 2009

viii

60


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Giá Trị Sản Xuất Công Nghiệp Qua Các Năm

22

Hình 2.2. Biểu Đồ Biểu Diển Nồng Độ Bụi Khu Vực Nhà Xưởng

25

Hình 2.3. Biểu đồ biểu diễn nồng độ SS Mẫu Nước Thải Công Nghiệp

27

Hình 2.4. Biểu Đồ Biểu Diễn Nồng Độ COD Mẫu Nước Thải Công Nghiệp
28
HÌnh 2.5. Biểu Đồ Biểu Diễn Nồng Độ BOD Mẫu Nước Thải Công Nghiệp
28
Hình 4.1. Mức Độ Quan Tâm Của Người Dân Về Vấn Đề Môi Trường Tại
Địa Phương

38

Hình 4.2. Nhận Thức Của Người Dân Về Tầm Quan Trọng Của Môi Trường
39
Hình 4.3. Mức Độ ảnh Hưởng Của Môi Trường Đến Cộng Đồng Tại Địa
Phương

40

Hình 4.4. Các Vấn Đề Môi Trường Mà Người Dân Quan Tâm

41

Hình 4.5. Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiểm Môi Trường Theo Phản Ánh Của
Người Dân Tại Địa Phương

42

Hình 4.6. Nhận Định Của Người Dân Về Công Tác Quản Lý Môi Trường
Của Nhà Nước

43

Hình 4.7. Mức Độ Tham Gia Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Của Người Dân
44
Hình 4.8. Mức Độ Đóng Góp Thời Gian Cho Hoạt Động Bảo Vệ Môi Trường
47
Hình 4.9. Mức Độ Cần Thiết Của Chương Trình Nâng Cao Nhận Thức Cộng
Đồng

52

ix


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CVM

Phương pháp đánh giá nhẩu nhiên

UNESCO

Tổ chức giáo dục khoa học, văn hoá Liên Hợp Quốc

GDMT

Giáo dục môi trường

WTP

Mức sẵn lòng trả

WTA

Mức sẵn lòng nhận đền bù

x


DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Mô Hình Logit Mô Hình Mức Sẵn Lòng Tham Gia
Phụ lục 2. Mô Hình Logit Mô Hình Mức Sẵn Lòng Tham Gia – Ước Lượng Lại
Phụ lục 3. Mô Hình Mức Sẵn Lòng Trả (WTP)
Phụ lục 4. Mô Hình Đánh Giá Tác Động Của Công Đồng

xi


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Môi trường, trong mối quan hệ với toàn cầu hoá, vừa là tác nhân vừa là nạn
nhân của quá trình. Môi trường là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho phát
triển sản xuất, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại hàng hoá và dịch vụ, xúc
tác cho quá trình quốc tế hoá thương mại. Ngược lại, mức độ toàn cầu hoá càng sâu
rộng, thương mại quốc tế càng phát triển, môi trường càng có nguy cơ bị suy thoái.
Trong điều kiện toàn cầu hóa, ở Việt Nam hàng loạt dự án về kinh tế, du lịch
đang được triển khai đã làm phát sinh nhiều vấn đề về môi trường như phá vỡ cân
bằng sinh thái do phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch thống nhất, gia tăng ô nhiễm môi
trường, phát sinh lượng chất thải lớn do việc quản lý kém từ các cơ sở tư nhân, các khu
công nghiệp và các hoạt động du lịch.
Các biện pháp nhằm cải thiện điều kiện môi trường đã được nhiều chính quyền
địa phương triển khai thực hiện, tuy nhiên vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn.
Phần lớn các biện pháp chỉ chú trọng việc kiểm tra xử phạt các hành vi gây ô nhiễm
môi trường, còn thiếu các biện pháp hợp tác giữa thành phần, các bên liên quan để giải
quyết vấn nạn môi trường.
Củ Chi là một huyện đang trong giai đoạn phát triển kinh tế, có nhiều khu công
nghiệp và cơ sở sản xuất, từ đó thải ra một lượng chất thải đáng kể. Việc quản lý môt
trường của các ngành chức năng gặp nhiều khó khăn, không đồng bộ, thiếu sự tham
gia của cộng đồng và người dân đa số chưa có nhận thức cao về vấn đề bảo vệ môi
trường. Xuất phát từ thực tế đó, bài luận “Đánh giá mức sẵn lòng tham gia của cộng
đồng vào việc cải thiện môi trường huyện Củ Chi TpHCM” được thực hiện nhằm đánh
giá mức sẵn lòng tham gia của của cộng đồng, huy động cộng đồng cùng tham gia giải
quyết các vấn đề môi trường.


1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng vào việc bảo vệ môi trường khu
vực huyện Củ Chi TpHCM.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể


Tìm hiểu thực trạng môi trường hiện nay tại huyện Củ Chi Tp HCM.



Tìm hiểu công tác quản lý môi trường tại địa phương.



Đánh giá nhận thức của người dân về thực trạng môi trường tại địa phương.



Tìm hiểu vai trò của quản lý môi trường dựa vào cộng đồng.



Tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng vào việc bảo vệ môi trường trong khu

vực.


Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia của cộng đồng.



Đánh giá mức sẵn lòng trả của người dân.

1.3. Phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Phạm vi thời gian
Đề tài được thực hiện trong 4 tháng: từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 6 năm 2009.
trong đó, thời gian từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 5 tiến hành điều tra, thu thập số liệu thứ
cấp và sơ cấp. Thời gian còn lại tiến hành nhập số liệu, chỉnh sửa, xử lý số liệu, chạy
mô hình và viết báo cáo.
1.3.2. Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố HCM.
1.3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ dân và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thuộc
địa bàn huyện Củ Chi.
1.3.4. Nội dung nghiên cứu


Nêu lên thực trạng môi trường hiện nay tại huyện Củ Chi.



Đánh giá tác động của cộng đồng vào hành vi môi trường của cá nhân.



Đánh giá nhận thức của người dân về vấn đề môi trường.



Đánh giá mức sẵn lòng trả của người dân.



Nêu lên vai trò của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường.



Tìm hiểu các yếu tố tác động đến mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng.
2


1.4. Cấu trúc khóa luận
Chương 1: Mở đầu
Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên
cứu cũng như tóm tắt bố cục của luận văn.
Chương 2: Tổng quan
Chương này trình bày các nội dung sau:
Tổng quan về tài liệu nghiên cứu; tổng quan về phương pháp đánh giá CVM;
tổng quan về địa bàn nghiên cứu.
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này bao gồm cơ sở lí luận và nội dung nghiên cứu.
Phần cơ sở lý luận đề cập đến một số khái niệm có liên quan đến nhận thức,
môi trường v.v…
Phần nội dung nghiên cứu đề cập đến các nội dung sẽ được nghiên cứu trong
bài và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày các kết quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu bao
gồm các yếu tố tác động đến mức sẵn lòng tham gia của cộng đồng, mức sẵn lòng trả,
tác động của cộng đồng lên quản lý ô nhiễm của doanh nghiệp.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị

3


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Môi trường sống gắn bó một cách hữu cơ với cuộc sống của con người, cũng như với
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Tất cả mọi hoạt động sống của con người
đều diễn ra trong môi trường, con người sử dụng oxi trong môi trường để duy trì sự
sống, các hoạt động kinh tế, nông nghiệp,…đều xuất phát từ môi trường và thải ra
trong chính môi trường đó. Vì vậy có thể nói chính con người là tác nhân, đồng thời
cũng là nạn nhân trong các vấn đề ô nhiểm hiện nay. Mức độ ô nhiểm môi trường sống
ngày càng trở nên nghiêm trọng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiểm
môi trường sống hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta. Tuy nhiên, những nguyên
nhân tập trung chủ yếu do con người gây ra ở những phạm vi vĩ mô là do sự phát triển
xã hội theo quan điểm chiến lược lấy con người làm trung tâm, do sự phát triển xã hội
theo quan điểm duy kinh tế, do sự chưa hoàn thiện của kỹ thuật về công nghệ và một
nguyên nhân góp phần quan trọng là do sự nhận thức chịu nhiều hạn chế của con
người về giới tự nhiên. Nguồn:www.nea.gov.vn.2008
Có rất nhiều cách thức nhằm khắc phục hậu quả ô nhiểm môi trường do con người gây
ra như sử dụng các công cụ kinh tế, các công cụ pháp lý…Tuy nhiên những biện pháp
đó chỉ có thể ngăn chặn hành động gây ô nhiểm tạm thời, vấn đề cần phải giả quyết
triệt để ở đây chính là nhận thức của con người nói riêng và của cộng đồng nói chung
trong việc bảo vệ môi trường. bằng biện pháp nào đó chúng ta có thể giúp cho họ hiểu
rằng bảo vệ môi trường sống không phải chỉ cho khu phố của họ, nền kinh tế hay cho
chính phủ mà là để bảo vệ chính sức khỏe và cuộc sống bản thân, gia đình và con cháu
trong tương lai. Mặc dù giáo dục môi trường đã có từ rất lâu nhưng hai từ “giáo dục”
và “môi trường” được chính thức kết hợp với nhau lần đầu tiên vào khoảng giữa
những năm 1960. Nguồn: Matarasso M, M. Servaas v Allen, 2004.
4


Đã có rất nhiều định nghĩa giáo dục môi trường được đề xuất, hội nghị Quốc Tế và
giáo dục môi trường trong chương trình đào tạo của trường học do IUNC/ UNESCO tổ
chức tại Nevada (Mỹ) năm 1970 đã thông qua định nghĩa về giáo dục môi trường như
sau: “là quá trình nhận ra các giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng
và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người
với nền văn hóa và môi trường vật lý sinh xung quanh. Giáo dục môi trường cũng tạo
cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước
những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” (IUCN, 1970). Vào thời điểm
định nghĩa này được đưa ra thì người ta chỉ xem xét môi trường và các vấn đề môi
trường ở khía cạnh lý sinh. Năm 1975, cùng với sự hiểu biết nhiều hơn của con người
về môi trường, định nghĩa giáo dục môi trường của Martin đã nhấn mạnh hơn đến khía
cạnh chính trị trong giáo dục môi trường cũng như vấn đề đạo đức và giá trị: giáo dục
môi trường là sẽ không có giá trị pháp lý trừ khi nó bao gồm việc giáo dục nhằm thay
đổi môi trường sống của con người theo hướng tốt hơn thông qua sự hiểu biết về
những quá trình hoạt động chính trị mà ở đó con người có thể thực hiện việc thay đổi
môi trường với tư cách là “những công dân tham gia”; đồng thời thông qua việc trang
bị được quan điểm về đạo đức môi trường và kiến thức sinh thái cơ bản về cuộc sống,
làm cơ sở cho những đánh giá về giá trị môi trường”. nhưng chỉ đến hội nghị ở
Belgrade (1975), giáo dục môi trường mới được định nghĩa trên qui mô toàn cầu và
được cộng đồng quốc tế thừa nhận “là quá trình nhằm phát triển một cộng đồng dân cư
có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môi trường cũng như các vấn đề liên quan, có
kiến thức, kỹ năng, động cơ và sẵn sàng làm việc độc lập hoặc phối hợp để tìm ra giải
pháp cho những vấn đề hiện tại và phòng chống các vấn đề có thể nảy sinh trong tương
lai”. Cùng với sự phát triển của xã hội, ý nghĩa và trọng tâm của giáo dục môi trường
ngày nay đã được mở rộng rất nhiều khi mục tiêu chính là hướng tới phát triển bền
vững. Năm 2000, cùng với quan điểm ấy, Jonathon Wiley đã đưa ra định nghĩa tương
đối mới “giáo dục môi trường là một quá trình phát triển những tình huống dạy/ học
hiệu quả giúp người dạy và người học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường
liên quan, đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ.
Nguồn: Matarasso M, M. Servaas v I. Allen, 2004.

5


Mục đích của giáo dục môi trường là tăng cường nhận thức và sự quan tâm đến các
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa cc yếu tố kinh tế xã hội, chính trị và sinh thái ở
thành thị cũng như nông thôn, tạo cơ hội cho mọi người tiếp thu những kiến thức quan
điểm về giá trị, thái độ, ý thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường,
tạo ra các mô hình về hanhf vi thân thiện với môi trường cho từng cá nhân, cộng đồng
và xã hội và khuyến khích, củng cố và phát huy những thái độ và hành vi tích cực đối
với môi trường hiện có. Cùng với những mục đích đó, giáo dục môi trường sẽ đạt được
những mục tiêu thuộc 5 nhóm: kiến thức, nhận thức, thái độ, kỹ năng và sự tham gia.
Nguồn: Matarasso M, M. Servaas v I. Allen, 2004.
Về kiến thức, giáo dục môi trường cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến
thức, sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con
người và môi trường. Về nhận thức, sẽ thúc đẩy các cá nhân và cộng đồng tạo dựng
nhận thức và sự nhạy cảm đối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường. Về thái
độ, giáo dục môi trường khuyến khích các cá nhân cộng đồng tôn trọng và quan tâm
tới tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích cho họ tham gia tích cực vào việc cải
thiện và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, giáo dục môi trường còn cung cấp các kỹ
năng cho việc xác định, dự đoán, ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường. Và
giáo dục môi trường giúp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội tham gia tích cực trong
việc giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết định môi trường
đúng đắn. Nguồn: Matarasso M, M. Servaas v I. Allen, 2004.
Hiện nay có ba loại hình giáo dục môi trường chủ yếu, đó là chính quy, không chính
quy và thông thường.
Giáo dục môi trường chính quy là môn giáo dục môi trường được đưa vào kế hoạch
học tập chính khóa của các trường học và cơ sở giáo dục. ở Việt Nam cũng đã một số
luật và quy định quan trọng, hỗ trợ cho việc lòng ghép giáo dục môi trường vào hệ
thống giáo dục chính quy. Năm 1973, luật bảo vệ môi trường được thông qua giúp
thiết lập khung pháp lý quan trọng cho giáo dục môi trường trong các trường học phổ
thông Việt Nam. Đến năm 2002, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ban hành “Chính sách
và chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông giai đoạn
2001-2010”

6


Giáo dục môi trường thông thường là loại hình không có kế hoạch xác định và hình
thức giáo dục được thực hiện khác nhau.
Đối với giáo dục môi trường không chính quy thì hoạt động giáo dục môi trường được
lập kế hoạch và thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGOs), và các đoàn thể nhân
dân như các hội khuyến nông, khuyến lâm, đoàn thanh niên v.v.
Và có thể nói một trong những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong
việc bảo vệ môi trường đó là giáo dục môi trường.
2.2. Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Theo Callan (2000) khi dữ liệu thị trường không có sẵn hoặc không đáng tin
cậy cho việc định giá một loại hàng hóa nào đó, các nhà kinh tế có thể áp dụng các
phương pháp thay thế khác dựa vào việc xây dựng một thị trường giả định. Thông qua
thị trường giả định đó các nhà nghiên cứu có thể thăm dò mức sẵn lòng trả (WTP) hay
sẵn lòng nhận đền bù (WTA) của các cá nhân cho một sự thay đổi trong chất lượng
môi trường. Cách tiếp cận dựa vào số liệu khảo sát để ước lượng các lợi ích hay thiệt
hại của một sự thay đổi chất lượng môi trường được gọi là phương pháp đánh giá ngẫu
nhiên (Contingent Valuation Method - CVM), gọi là “ngẫu nhiên” vì các kết quả sẽ
phụ thuộc hoặc thay đổi theo các điều kiện khác nhau được đưa ra trong thị trường giả
định.
Phương pháp CVM thường được sử dụng trong các lĩnh vực như: Chất lượng
nước, chất lượng không khí, những nơi có các hoạt động vui chơi giải trí (như câu cá,
săn bắn…) mà do một dự án nào đó sắp được triển khai gây ảnh hưởng đến chúng,
việc bảo tồn các khu rừng tự nhiên, các khu vực hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học,
bảo tồn loài (Bowker và Stoll (1988) đã ước lượng rằng các cá nhân có thể trả
22$/năm để bảo tồn loài sếu châu Mỹ, Boyle và Bishop (1987) chỉ ra rằng các cá nhân
sẽ trả 11$/năm để bảo tồn đại bàng trọc…) và những rủi ro đối với sức khỏe cộng
đồng…
Phương pháp CVM sẽ thích hợp hơn khi vùng nghiên cứu có những đặc điểm
sau: những sự thay đổi chất lượng môi trường không gây ảnh hưởng trực tiếp lên năng
suất, sản lượng…, khó theo dõi được một cách trực tiếp sở thích của người dân, khu

7


vực lấy mẫu là tiêu biểu, quan tâm, am hiểu tầm quan trọng của nghiên cứu và có nhận
thức cao về vấn đề đang được nghiên cứu…
a. Ưu điểm
Những người làm nghiên cứu thích phương pháp đánh giá ngẫu nhiên vì nó có
thể áp dụng được cho nhiều loại hàng hóa môi trường khác nhau. Bên cạnh việc ước
lượng được các giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp nó có thể đánh giá được giá trị
không sử dụng mà cụ thể là giá trị tồn tại hay giá trị lưu truyền. Như vậy có thể thấy
rằng CVM là một phương pháp rất linh hoạt, áp dụng được cho hầu hết các loại giá trị
của một hàng hóa môi trường hay một loại tài nguyên.
CVM là một phương pháp quan trọng để ước lượng các sản phẩm, dịch vụ của
tài nguyên môi trường khi không có thị trường tồn tại cho chúng. Đây là một ưu điểm
nổi trội của phương pháp CVM. Thông thường, các phương pháp định giá cần một thị
trường cụ thể về giá cả của một loại hàng hóa nào đó, để biết được các yếu tố môi
trường tác động lên giá cả của hàng hóa đó như thế nào? Các nhà nghiên cứu sẽ thu
thập nhiều thông tin liên quan đến đặc điểm của hàng hóa đó cùng với yếu tố môi
trường. Sau quá trình xử lí số liệu sẽ xác định được mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi
trường lên giá cả hàng hóa đó. Từ đó xác định được tổng lợi ích hay thiệt hại do yếu tố
môi trường mang lại. Các dạng phương pháp này có thể kể đến như là : Hedonic
Pricing Method, Replacement Cost Method, … Đối với các giá trị không sử dụng như
giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền, bảo tồn đa dạng sinh học… không có một thị trường
nào quyết định giá cả cho nó, vì thế muốn định giá được nó không có phương pháp
nào ngoài việc sử dụng CVM. Một thị trường giả định sẽ được xây dưng nên để ước
lượng cho các loại giá trị đó. Các kết quả sẽ thay đổi tùy thuộc vào các điều kiện giả
thiết đặt ra trong thị trường giả định.
b. Nhược điểm
Các kết quả nghiên cứu khi sử dụng phương pháp CVM bị phụ thuộc vào các
điều kiện của thị trường giả định, cách lấy mẫu, cách thức điều tra phỏng vấn… Đ.T.
Hà (2003) đã nêu ra một số sai lệch thường gặp trong việc ứng dụng phương pháp
CVM. (1) Sai lệch do chiến thuật (Strategic Bias): nếu người được điều tra cho là các
giá trị mà họ đưa ra có thể có một ảnh hưởng nào đó đến chính sách sẽ đề ra (ví dụ
chính sách đền bù thiệt hại) và có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì họ có thể
8


đưa ra (trả lời) các giá trị quá cao hay quá thấp so với giá trị thực sự của họ. (2) Sai
lệch xuất phát từ các giả định chúng ta sử dụng khi xây dựng các hoạt cảnh (trường
hợp) ban đầu. (3) Sai lệch tổng thể và bộ phận: người được phỏng vấn cũng có thể
hiểu nhầm vấn đề được hỏi trong quá trình điều tra phỏng vấn và có thể đưa ra các giá
trị đánh giá một bộ phận của vấn đề ta quan tâm thành giá trị tổng thể và ngược lại. Ví
dụ: Thay vì trả lời mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng môi trường nước của
một đoạn sông, người được điều tra có thể đưa ra giá trị sẵn lòng trả cho việc cải thiện
chất lượng môi trường nước của cả dòng sông đó. (4) Sai lệch giữa mức sẵn lòng trả
và sẵn lòng nhận đền bù. (5) Sai lệch do điểm khởi đầu (Starting point bias) khi xây
dựng các bảng điều tra mức sẵn lòng trả. Bên cạnh đó cũng có thể có những sai lệch
do thông tin cung cấp cho người được điều tra, sai lệch do sự không hiểu giữa người
điều tra và người được điều tra, sai lệch do cách chọn phương thức đóng góp tiền khi
hỏi về mức sẵn lòng trả. Ngoài ra, để thực hiện được một nghiên cứu CVM đúng qui
cách cần phải có nhiều thời gian, tiền bạc và nguồn nhân lực.
2.2.1. Các nội dung quan trọng trong bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
(nghiên cứu CV) thường là những bảng câu hỏi tương đối dài và khó hiểu, đây là một
trong những lý do mà những nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu hoài nghi về khả
năng thực hiện nghiên cứu CV ở các nước đang phát triển, nơi mà trình độ dân trí còn
quá thấp. Ngay cả ở các quốc gia phát triển cũng không phải là ngoại lệ. Vì thế, việc
xác định các nội dung then chốt trong bảng câu hỏi nhằm làm cho bảng câu hỏi chặt
chẽ và dễ hiểu là một việc làm hết sức cần thiết. Có thể thấy rằng, 5 vấn đề quan trọng
nhất trong bảng câu hỏi CVM bao gồm:
a. Lựa chọn giữa hỏi mức sẵn lòng trả (WTP) hay mức sẵn lòng nhận đền bù
(WTA)
WTP thường được dùng trong các trường hợp mà ở đó chất lượng môi trường
cải thiện hoặc để bảo tồn một loại tài nguyên nào đó… và người dân sẽ sẵn lòng trả
bao nhiêu tiền để các dự án đó được tiến hành.
WTA thường được hỏi khi có một dự án mà có thể gây ô nhiễm một vùng nào
đó, và người ta muốn biết người dân sẽ nhận một mức đền bù là bao nhiêu để chấp
9


ận sống chung với ô nhiễm hay chấp nhận đền bù bao nhiêu khi dự án đó làm mất đi
một khu rừng, mất đi loài động vật mà họ thích ngắm…
Jack L Knestch (1983) cho rằng về mặt lí thuyết, mức sẵn lòng trả và nhận đền
bù có giá trị tương đương nhưng thực tế khác nhau hoàn toàn. Khi hỏi về mức sẵn lòng
trả người được hỏi thường trả lời mức sẵn lòng trả tối thiểu nhưng khi hỏi về mức sẵn
lòng nhận đền bù họ sẽ trả lời mức nhận đền bù tối đa vì mức sẵn lòng trả chịu ảnh
hưởng bởi giới hạn thu nhập của người được phỏng vấn còn mức sẵn lòng nhận đền bù
thì không bị ảnh hưởng. Điều này có thể được giải thích rằng sự ưa thích và lựa chọn
của con người không hoàn toàn giống nhau.
Hammack và Brown (1974) đã chỉ ra rằng người dân sẵn lòng trả một mức
trung bình là 274$ để bảo tồn một vùng đầm lầy nơi mà vịt sinh sống nhưng sẽ là
1044$ để họ chấp nhận từ bỏ khu vực đó. Kết quả này đã chỉ ra rằng sự chênh lệch
trong WTP và WTA là rất lớn.
Thông thường thì mức sẵn lòng trả được ứng dụng nhiều hơn trong các nghiên
cứu. Nói như thế không có nghĩa là hỏi WTP sẽ phản ánh đúng giá trị của tài nguyên
thiên nhiên vì WTP thường là mức tối thiểu, nhưng nếu hỏi về WTA sẽ đánh giá quá
cao giá trị của tài nguyên hoặc giá trị của ô nhiễm.
b. Tình huống giả định
Tình huống giả định là nội dung then chốt đối với bảng câu hỏi CV. Tình huống
giả định càng cụ thể, càng thực tế sẽ giúp cho việc phỏng vấn trở nên dễ dàng hơn và
các câu trả lời có độ tin cậy cao hơn. Các nghiên cứu CV có kết quả cao thường là
những nghiên cứu xây dựng được tình huống giả định phù hợp và thực tế.
c. Các cách hỏi WTP/WTA
Lựa chọn cách hỏi mức sẵn lòng trả trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp
CVM cũng là một điều đáng quan tâm đối với các nhà nghiên cứu, vì với các cách hỏi
mức sẵn lòng trả khác nhau có những ưu, nhược điểm khác nhau, cách xử lý số liệu
cũng khác nhau và có những sai lệch nhất định. Vì thế, phải lựa chọn phương pháp hỏi
phù họp nhất. Có 4 phương pháp hỏi mức sẵn lòng trả:
i) Open - ended question (câu hỏi mở)
Ngược trả lời sẽ được hỏi câu “anh/chị sẵn lòng trả bao nhiêu tiền để…” và số
tiền bao nhiêu là do người trả lời suy nghĩ và nói ra, phỏng vấn viên không đưa ra
10


trước một mức giá nào cả. Ba trường hợp có thể xảy ra khi sử dụng phương pháp này:
(1) Tiết lộ mức WTP thật: người trả lời có thể phát biểu WTP cực đại thật của họ, mức
này phản ánh đúng giá trị thực tế tài nguyên đó mang lại cho họ. Đây là điều mà tất cả
những nhà nghiên cứu CVM đều mong muốn. (2) Đánh giá thấp: điều này có thể diễn
ra do những nguyên nhân khác nhau. Nếu người trả lời cảm thấy rằng mức trả của họ
có thể liên quan đến mức trả thực tế, nhưng thực tế thì họ muốn trả thấp hơn như vậy,
họ sẽ đưa ra một mức giá thấp (Samuelson, 1954), nhưng trên thực tế giá trị mà tài
nguyên đó mang lại cho họ cao hơn rất nhiều (Marwell và Amé, 1981; Brubaker,
1982). Hơn nữa, tính không quen với câu hỏi mở có thể dẫn đến những người trả lời
theo chiến lược không thích rủi ro có xu hướng phát biểu mức sẵn lòng trả thấp, hoặc
người trả lời không biết mức sẵn lòng trả là bao nhiêu để trả lời.
ii) Payment Card
Một loạt các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời được yêu cầu chọn một
mức giá. Cách hỏi này thường đem lại mức sẵn lòng trả thấp, vì trong một loạt mức
giá được ghi trên thẻ thì các mức giá thấp thường được người trả lời chú ý hơn.
iii) Bidding Games
Phỏng vấn viên đưa ra mức giá đầu tiên và yêu cầu người được phỏng vấn trả
lời. Nếu được trả lời “Có”, phỏng vấn viên sẽ đưa giá ngày càng cao cho đến khi
người được phỏng vấn trả lời “Không” và ngược lại. Đây chính là mức sẵn lòng trả tối
đa của người trả lời. Với cách hỏi này, thông thường trong các nghiên cứu, người tổ
chức thường chia số mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm và mỗi nhóm sẽ có một mức
giá khởi đầu khác nhau.
Chales Griffin (1993) đã áp dụng hình thức hỏi Bidding game với 3 mức giá
khởi đầu khác nhau trong nghiên cứu về mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện các dịch
vụ xã hội ở Tazania. 1/3 người được phỏng vấn nhận được một trò chơi đặt giá với
một chuỗi những câu hỏi mà bắt đầu với 1 mức giá thấp là 1000Tsh. 1/3 khác nhận
một trò chơi mệnh lệnh thứ hai bắt đầu với một mức giá trung bình là 25000 Tsh và
1/3 cuối cùng nhận 1 trò chơi mệnh lệnh thứ 3 bắt đầu với mức giá 50000 Tsh.
Mục đích của việc làm này là để kiểm tra xem liệu rằng mức sẵn lòng trả của
người được hỏi có bị ảnh hưởng bởi giá khởi đầu khác nhau hay không và nếu khác thì
ảnh hưởng như thế nào. Có 2 trường hợp xảy ra:
11


Thứ nhất: Nếu thay đổi giá khởi đầu cụ thể là tăng lên từ 1000 Tsh – 25000
Tsh – 50000 Tsh làm cho câu trả lời về mức sẵn lòng trả của 3 nhóm này khác nhau
thì điều này chứng tỏ rằng những người được hỏi bị ảnh hưởng rất lớn bởi giá cả ban
đầu. Và kết quả nghiên cứu này rất thiên lệch.
Thứ hai: Nếu thay đổi giá khởi đầu như trên nhưng kết quả không khác nhau
giữa ba nhóm, điều này giúp chúng ta hiểu rằng những người được phỏng vấn đã tiết
lộ mức sẵn lòng trả thật sự của họ vì họ không bị ảnh hưởng bới sự thay đổi của giá
khởi đầu. Họ nghĩ rằng hàng hóa đó xứng đáng với mức giá mà họ đã bỏ ra.Và kết quả
của nghiên cứu này cho thấy rằng không có sự khác nhau lớn lắm về mức sẵn lòng trả
của các mức khởi đầu khác nhau. Tuy nhiên với mức khởi đầu 25000 Tsh có nhiều
người trả lời yes hơn hai mức khởi đầu kia. Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn mức
giá khởi đầu hợp lí sẽ hạn chế sự sai lệch trong mức sẵn lòng trả của người được hỏi.
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra trong mức giá
khởi đầu. Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quả cuối
cùng của nghiên cứu.
iv) Câu hỏi đóng (Dichotomous Choice hay Close- Ended Question)
Có hai cách hỏi sau đây
Single – bounded dichotomous choice: Tiến hành phân khoản từ mức WTP kì
vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất. Tại mỗi mức giá này, sẽ tiến hành hỏi một
nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn sẽ được trả lời “đồng ý” hay
“không đồng ý” với mức giá này.
Ưu điểm của cách hỏi này: giúp người trả lời dễ quyết định
Nhược điểm: phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên.
Double – bounded dichotomous choice: Trong phương pháp này, người được
phỏng vấn được hỏi một câu hỏi “Có – Không” về việc họ sẵn lòng trả một khoản tiền
nhất định cho mục đích mà nó đã được mô tả. Nếu họ trả lời “có” thì câu hỏi này sẽ
được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trả lời “không” thì câu hỏi thứ hai sẽ hỏi
một khoản tiền nhỏ hơn. Điều này được lặp lại cho đến khi WTP cuối cùng được xác
định.
Jack L Knestch (1983) cho rằng việc sử dụng cách hỏi về mức sẵn lòng trả
khác nhau thường dẫn đến những kết quả khác nhau (đặc biệt là cách hỏi “bidding
12


games”), hỏi theo hình thức trưng cầu dân ý (referendum) cho những ước lượng cao
gấp hai lần so với cách hỏi đóng (closed ended - tức là câu hỏi có những câu trả lời
nhất định để lựa chọn). Tác giả đã đưa ra một loạt các thử nghiệm đã thực hiện để
chứng minh các cách hỏi khác nhau dẫn đến những kết quả khác nhau. Và, kết luận
các mức WTP thu được từ những phương thức hỏi trong CVM không đúng với giá trị
kinh tế thực của loại hàng hóa đó. Mức WTP này phụ thuộc vào loại hàng hóa đó là
riêng lẻ hay kết hợp với một hàng hóa khác.
Kealy và Turner (1993) đã báo cáo kết quả sự khác nhau của hai cách hỏi
“referendum” và “closed ended”và nhận thấy rằng cách thứ nhất cung cấp những ước
lượng cao gấp hai lần so với cách thứ hai. Nghiên cứu tương tự trước đó cũng được
trình bày bởi Devuoges và những đồng sự (1992).
d. Xác định WTP/WTA khởi đầu hoặc WTP/WTA cao nhất
(Nếu sử dụng cách hỏi là payment card, bidding game hay dichotomous choice v.v)
Việc đưa ra mức sẵn lòng trả hay sẵn lòng nhận đền bù khởi đầu luôn khó và
đây cũng chính là một trong những nhược điểm của phương pháp CVM. Những sai
lệch do điểm khởi đầu (Starting point bias) khi xây dựng các bảng điều tra về mức sẵn
lòng trả sẽ dẫn đến các kết quả khác nhau trong mức sẵn lòng trả của người dân.
Mức khởi đầu trong các bảng câu hỏi đánh giá ngẫu nhiên ảnh hưởng rất lớn
đến việc đo lường phúc lợi. Boyle et al. (1985), Desvousges et al. (1983), Samples
(1985), Rowe et al. (1980) và Thayer (1981) đã chỉ ra rằng các điểm khởi đầu ảnh
hưởng rất lớn đến quyết định cuối cùng của người trả lời trong phương pháp hỏi
Dichotomous – choice.
Để khắc phục nhược điểm này khi xác định mức sẵn lòng trả hay nhận đền bù
khởi đầu, các nhà nghiên cứu thường đi thu thập số liệu về các đặc điểm kinh tế xã hội,
mức thu nhập v.v của dân cư ở vùng nghiên cứu. Bên cạnh đó còn tham khảo ý kiến
của cán bộ địa phương, các chuyên gia và đặc biệt là tổ chức các buổi thảo luận với
người dân về chủ đề và mục tiêu của dự án. Thông qua đó người dân sẽ bày tỏ quan
điểm của mình về dự án, đồng thời tiết lộ mức sẵn lòng trả/nhận đền bù làm cơ sở để
xác định các mức khởi đầu. Nguồn :Churai Tapvong và Jittapatr Kruavan, 1999.

13


e. Xác định phương thức trả tiền hay nhận đền bù
Khi mức sẵn lòng trả hay nhận đền bù đã được người dân chấp nhận. Việc xác
định phương thức để người dân trả tiền/nhận đền bù phù hợp sẽ giúp việc thực thi dự
án được dễ dàng hơn, khuyến khích mức sẵn lòng trả của người dân, tạo cơ sở cho các
nhà làm chính sách đưa ra những biện pháp quản lí nguồn ngân sách đóng góp một
cách hiệu quả nhất. Xác định phương thức trả tiền hay nhận đền bù phải đảm bảo 2
yếu tố. Nguồn : Churai Tapvong và Jittapatr Kruavan, 1999; Bateman I.J.1 và các
cộng sự, 1995.
i) Trả tiền như thế nào?
Trả theo hàng tháng, hàng năm, hay chỉ trả 1 lần, trả theo từng hộ gia đình hay
từng thành viên trong gia đình, lượng tiền trả là cố định hay thay đổi phụ thuộc vào
một yếu tố nào đó có liên quan (dựa vào lượng nước hay điện sử dụng v.v.).
ii) Và, ai là người thu số tiền đó và số tiền đó sẽ làm gì?
Hơn ai hết, người dân muốn biết số tiền mà họ bỏ ra sẽ đi về đâu? Ai giữ? Và
họ sẽ làm gì với số tiền đó? Nên việc mô tả rõ cơ quan nào nhận trách nhiệm thu tiền
cũng như sẽ sử dụng chúng như thế nào sẽ giúp người được phỏng vấn yên tâm hơn và
sẵn sàng đưa ra mức sẵn lòng trả của mình.
Bateman I.J.1 và các cộng sự (1995) đưa ra một số phương thức trả tiền như
sau: (1) Quỹ từ thiện (DONATE), (2) Quỹ tài trợ chi trả để bảo vệ hệ thống bảo vệ lũ
lụt ở Broadland (FUND), (3) Trả trực tiếp bằng thuế (TAX). Và kết quả thu được từ 3
cách hỏi này là: Cách chi trả thông qua quĩ từ thiện có tới 46.5% người được phỏng
vấn đưa ra mức sẵn lòng trả bằng 0. Nó kết luận rằng cách định nghĩa phương thức chi
trả không rõ ràng dẫn đến người trả lời không chắc chắn rằng sự đóng góp của họ có
được sử dụng hiệu quả hay không. Tóm lại phương thức chi trả không đem lại sự đáng
tin cậy trong thị trường giả thiết bởi vậy nên loại bỏ. Phương thức chi trả bởi các quĩ
tài trợ cũng được thực hiện không hiệu quả bởi mức chi trả bằng 0 có tỉ lệ cao tới
23.1% và cũng tạo ra mức giá cải biến cao hơn nhiều so với các phương thức khác.
Cách chi trả của các quỹ tài trợ cũng nên loại bỏ. Cách trả bằng thuế tạo ra mức sẵn
lòng trả bằng 0 thấp nhất có tỉ lệ là 11.8% và thực hiện tốt hơn trong hệ thống giá cải
biến so với phương pháp FUND và cũng tốt hơn phương pháp DONATE. Nó cũng
được ủng hộ bởi trong thực tế nếu hệ thống bảo vệ lũ lụt được xây dựng thì công trình
14


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×