Tải bản đầy đủ

Kế toán với công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản xuất tại công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

MỤC LỤC
Giá thành đơn vị.......................................................................33

Mức hạ: MTH.................................................................34
Tỷ lệ hạ: ∆T...................................................................34

SV: Nguyễn Thị Thu Hồng

Lớp: KTD - K9


1
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Nhà trường là nơi cung cấp kiến thức tạo nền móng ban đầu, nhung để đào tạo
kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên thi giai đoạn thực tập tại doanh nghiệp đóng vai
trò quan trọng. Thực tập là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với mỗi sinh
viên, thực tập không nhưng tạo cho sinh viên sống với môi trường thục tế, mà còn
hoàn thiện kỹ năng làm việc, khả năng xỷ lý các tình huống thực, cũng như việc rèn

luyện tác phong làm việc và ý thức làm việc cho sinh viên. Thông qua giai đoạn tốt
nghiệp, chúng em đã được tiếp cận với hoạt động kinh doanh và tổ chúc hạch toán
kế toán. Nhận rõ được tầm quan trong của giai đoạn thực tập tổng hợp, em đã tham
gia thực tập tại công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ.
Hiện nay có rất nhiều đối tượng cần sử dụng các thông tin tài chính với các
mục đích khác nhau. Đối với các nhà quản trị trong doanh nghiệp, tối thiểu hóa chi
phí, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sảm phẩm là một trong những
mục tiêu quan trọng. Nó tạo tiền đề nâng cao lợi nhuận và thúc đẩy sự phát triển của
mỗi doanh nghiệp. Mặt khác như chúng ta đã thấy, giá bán của các mặt hàng sản
phẩm của việt nam trên thị trương là khá cao, trong khi việt nam đang trên đà hội
nhập với thế giới thì sản phẩm của việt nam canh tranh được với thế giới là rất khó
khăn. vì vậy việc quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩn là một vẫn đề
cấp bách với các doanh nghiệp việt nam.
Công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ là một công ty sản xuất kinh
doanh, sản phẩm chính là sản xuất quạng manhêtít cung cấp cho các nhà máy tuyển
than tại Việt Nam để tuyển than. Trải qua gần 20 năm hoạt động, công ty luôn đứng
vững và đã khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế đất nước. Vì vậy
công tác kế toán về quản lý và sử dụng nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ có rất
nhiều đặc trưng đáng chú ý. với lý do đó em đã chọn đề tài: “ kế toán với công tác
quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản xuất tại công ty Phát Triển Công
Nghệ và Thiết Bị Mỏ” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


2
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

Báo cáo thực tập của em ngoài phần mơ đầu và kết
thúc gồm 3 phần:
Phần 1: Nhưng vẫn đề lý luận cơ bản về quản lý chi phí sản xuất và hạ giá
thành tại các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế thị trường.

Phần 2: Thực trạng quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành tại công ty phát
Triển Công nghệ và thiết Bị Mỏ.

Phần 3: Một số góp ý nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí và hạ giá
thành sản phẩm ở công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ



PHẦN 1
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1. Chi phi sản xuất kinh doanh.
Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh là sự chuyển dịch vốn của doanh
nghiệp và đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn kinh doanh của doanh nghiệp bỏ
vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các hao phí về lao động
sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình
hoạt động sản xuất, kinh doanh biêu hiện bằng tiền tệ, được tính trong thời kỳ nhất định.
Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thì chi phí sản xuất chiếm tỷ
trọng lớn và phức tạp nhất trong các khoản chi phí. Để tiến hành sản xuất kinh
doanh mỗi doanh nghiệp đều phải có ba yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu
sản xuất và sức lao động. Khi sản phẩm sản xuất hoàn thành thì chi phí doanh
nghiệp bỏ ra cấu tạo nên giá trị sản phẩm. Chi phí ảnh hương trực tiếp và trái chiều
với lợi nhuận. Do vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm tới việc quản lý
chi phí, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm nâng cao lợi nhuận để đảm bảo sự phát
triển của doanh nghiệp mình.
1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều cách phân loại để
phục vụ cho công tác quản lý, hạch toán kế toán, kiểm tra, phân tích có hiệu
quả quản lý chi phí tiến hành tiết kiệm chi phí hạ giá thành thì cần tiến hành
phân loại chi phí theo những yếu tố sau:
1.1.2.1. Phân loại chi phí theo yếu tố
Cách phân loại này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính chất
kinh tế vào cùng một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí phát sinh
ở đâu và có tác dụng như thế nào.
Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được chia ra làm 5 loại:
- Chi phí nguyên liệu và vật liệu: yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


4
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
mua, chi phí của nguyên vật liệu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công: là khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao
động, các khoản trích theo bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
của người lao động.
- Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả
TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bàng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Ý nghĩa: cách phân loại này cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loại chi
phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi phí doanh
nghiệp. Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí
sản xuất, xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về lao
động, vật tư, tài sản… trong doanh nghiệp. Là cơ sở để phân tích tình hình dự toán
chi phí sản xuất.
1.1.2.2. Phân loại chi phí theo hoạt động và công dụng kinh tế
Theo các phân loại này thì các loại chi phí có cùng mục đích và công dụng
kinh tế được xếp vào cùng một loại không phân biệt nội dung kinh tế như thế nào.
Như vậy ta có các loại chi phi sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí NVL được sư dụng trực
tiếp trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương
và các khoản phải trả cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo lương của công
nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, BHYT, BHXH.
- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sử dụng ở các phân xưởng,
bộ phận kinh doanh như: tiền lương và phụ cấp của giám đốc và nhân viên phân
xương, chi phí khấu hao TSCĐ ở phân xưởng, chi phi NVL, công cụ dụng cụ,
chi phi dịch vụ mua ngoài, chi phi bằng tiền phát sinh ở phân xương và bộ phân
sản xuất.
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Chi phi bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong
quá trình tiêu thụ sản phẩn hàng hoá, lao vụ như: tiền lương nhân viên bán
hàng, chi phi bao bì…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục
vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp như: chi
phí nhân viên quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng…
Ý nghĩa của cách phân loại: Phân loại chi phí theo hoạt động và công dụng
kinh tế giúp doanh nghiệp có thể tập hợp được một cách đầy đủ, chính xác các chi
phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất từng loại sản phẩm cụ thể, do đó tính
được giá thành cụ thể cho mỗi mặt hàng. Đồng thời, cách phân loại này giúp xác
định ảnh hưởng của sự biến động từng khoản mục chi phí đối với giá thành sản
phẩm, giúp doanh nghiệp phân tích đánh giá những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
có những chi phí bất hợp lý, từ đó đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm giảm chi
phí, hạ giá thành. Ngoài ra, cách phân loại này còn giúp doanh nghiệp có được tài liệu
tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và kế hoạch giá thành sản phẩm kỳ sau.
1.1.2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quy mô sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này chi phí kinh doanh của doanh nghiệp được chia
thành:
- Chi phí cố định (định phí): Là những chi phí, xét trong một quy mô sản xuất
nhất định, không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể) theo sự thay đổi của quy
mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm: chi phí
khấu hao TSCĐ (theo thời gian), chi phí tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản
lý và chuyên gia, lãi tiền vay phải trả, chi phí thuê tài sản, văn phòng...
- Chi phí biến đổi (biến phí): Là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi
của quy mô sản xuất. Thuộc loại chi phí này có: chi phí nguyên vật liệu, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ được cung cấp như
tiền điện, tiền nước, điện thoại....
Xem xét chi phí cố định và chi phí biến đổi tính cho 1 đơn vị sản phẩm
hàng hoá , dịch vụ thì lúc này, chi phí cố định đơn vị sẽ càng giảm khi quy mô
sản xuất kinh doanh tăng lên. Còn biến phí đơn vị tăng, giảm hay không đổi
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


6
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
phụ thuộc vào tương quan biến đổi giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng
biến phí của doanh nghiệp.
Ý nghĩa của cách phân loại: Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối,
song nó lại có một ý nghĩa rất quan trọng trong phân tích tình hình và rút ra
xu hướng biến động của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó
doanh nghiệp có thể tìm ra các biện pháp giảm hợp lý chi phí và xác định sản
lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh để đạt được hiệu quả cao nhất.
Ngoài các cách phân loại trên thi còn nhiều các cách phân loại khác. Mỗi
cách phân loại có một ý nghĩa khác nhau, mỗi quan hệ khác nhau giữa các loại
chi phí, phục vụ cho các các quản lý khác nhau của từng nhà quản lý khác
nhau.
1.2. Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động và
vật tư tính cho một khối lượng sản phẩm nhất định.
Giá thành sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống,
lao động vật hoá và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoang thành một khối
lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định.
Về mặt bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là
biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về
chất vì đều cùng biểu tượng bàng tiền những hao phí về lao động sống và
lao động vật hoá mà doanh nghiệp dẫ bỏ ra, nhưng khac nhau về mặt lượng.
Khi nói đến chi phi sản xuất là giới hạn cho chúng một thời kỳ nhất định,
không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chua, còn khi
nói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phi sản xuất nhất
định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
- Về mặt lượng: Giá thành sản phẩm được xác định theo công thức:
Z = Dđk + C- Dck
Trong đó:

Z: tổng giá thành sản phẩm

Dđk: Trị giá sản phẩm làm dở đầu kỳ
Dck: Trị giá sản phẩm làm dở cuối kỳ.
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
C: tổng chi phí phát sinh trong kỳ
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm là như nhau trong
trường hợp sản xuất theo đơn đặt hàng hay không có sản phẩm làm dở đầu và cuối
kỳ.
Công thức trên chỉ ra sự khác nhau song đồng thời cũng phản ánh mối quan hệ
giữa chi phí và giá thành: giá thành được xác định trên cơ sở tập hợp các chi phí
phát sinh còn các chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh lại chỉ thực sự có nghĩa khi
được tập hợp cho một khối lượng sản phẩm đã hoàn thành.
1.2.2. Phân loại giá thành.
Cũng như chi phí để đáp ứng yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản
phẩm được phân chia làm nhiều loại khác nhau, tuy theo các tiêu thức sử dụng để
phân loại giá thành:
1.2.2.1. Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
- Giá thành kế hoạch.
Cùng với giá thành thực tế kỳ trước, chi phí sản xuất và sản lượng kế hoạch là
cơ sở xây dựng giá thành kế hoạch, chỉ tiêu này vừa là mục tiêu phấn đấu, song
cũng là nhiệm vụ cần hoàn thành của các doanh nghiệp. Việc lập kế hoạck giá thành
của bộ phận kế hoạch ở thời điểm đầu kỳ dã tạo cơ sở cho sự phân tích đánh giá
tình hình thực hiện mục tiêu giá thành cũng như Việt Nam giá thành của doanh
nghiệp.
- Giá thành thực tế.
Xác định vào thời điểm quá trình sản xuất đã hoàn thành, trên cơ sở chi phí
phát sinh và sản lượng sản xuất thực tế trong kỳ, giá thành thực tế phản ánh tổng
hợp kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất kinh
doanh và hạ giá thành sản phẩm thông qua quá trình áp dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật - tổ chức và công nghệ sản xuất.
Được tính toán trên cả hai phương diện: Tổng giá thành và giá thành đơn vị,
giá thành thực tế không những là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước và các đối tác
liên doanh liên kết, mà còn là căn cứ quan trọng để xây dựng giá thành kỳ tiếp sau,
đảm bảo cho chỉ tiêu này ngày càng hợp lý.
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


8
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Giá thành sản phẩm định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Định mức chi phí
được xác định trên cơ sơ các định mức kinh tế-kỹ thuật củ từng doanh nghiệp trong
từng thời kỳ. Giá thành sản phẩm định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, phân loại giá thành theo cơ sở số liệu của thời điểm xác định cho
phép so sánh tình hình thực hiện giá thành cũng như việc chấp hành các kế hoạch
chi phí, kế hoạch giá thành mà doanh nghiệp đã đề ra. Từ đó thúc đẩy doanh nghiệp
cải tiến quản lý sản xuất kinh doanh thực hiện tiết kiệm hợp lý chi phí nhằm hạ giá
thành sản phẩm.
1.2.2.2 Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành.
Theo cách phân loại này, giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá
thành toàn bộ.
- Giá thành sản xuất sản phẩm: bao gồm toàn bộ những chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm. Giá thành sản xuất gồm
các khoản mục chi phí.
* Chi phí vật tư trực tiếp: như chi phí về nguyên nhiên vật liệu cấu thành thực
thể sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, tiền công, tiền bảo
hiểm xã hội, BHYT của công nhân sản xuất.
* Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phân xưởng như chi phí về vật
liệu, khấu hao, tiền lương, dịch vụ trong phạm vi phân xưởng.
- Giá trị toàn bộ, còn gọi là giá thành tiêu thụ, bao gồm những chi phí bỏ ra để
hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Z1 = Zsx + Cn
Trong đó:

Z1: là giá thành toàn bộ

Zsx: là giá thành sản xuất.
C1: là chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí quản lý và chi phí bán hàng.
Như vậy, giá thành toàn bộ được xác định trên cơ sở giá thành sản xuất của sản
phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ và các khoản chi phí cho việc bán hàng, chi phí

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán. Trong đó, chi phí bán hàng bao
gồm các khoản như tiền lương cho nhân viên bán hàng, khấu hao tài sản bộ phận
bán hàng.... Và các chi phí khác phục vụ việc tiêu thụ sản phẩm. Chi phí quản lý
doanh nghiệp bao gồm những chi phí cho bộ máy quản lý, chi phí cho chỉ đạo sản
xuất một cách gián tiếp như chi phí về tiền lương, các khoản trích theo lương, chi
phí khấu hao và các khoản chi phí khác bằng tiền phát sinh trong bộ máy quản lý.

1.3. Nhiện vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩn, sự

cần thiết phải quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
1.3.1. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phi sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ
thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý doanh nghiệpvà cố mỗi doanh
nghiệp mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được
chủ doanh nghiệp rất quan tâm.
Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học, hợp lý và
đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm. Việc
tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở tùng
bộ phận, từng đối tượng, góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền
vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi
phí hạ giá thành sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho
doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh.
Mặt khác giá thành sản phẩm còn là cơ sơ để định giá bán sản phẩm, là cơ sở
để hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời là căn cứ để xác định kết
quả kinh doanh kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm với nội dung chủ yếu là
về kế toán quản trị, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp,
song nó lại là khâu trung tâm trong toàn bộ công tác kế toán doanh nghiệp, chi phối
tất cả chất lượng của các phần hành kế toán khác cũng như chất lượng và hiệu quả
của công tác quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Kế toán doanh nghiệp cần xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc
tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


10
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Trước hết cần nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của kế toán chi phí và giá
thành sản phẩm trong toàn bộ kế toán doanh nghiệp, mỗi quan hệ với các bộ
phận kế toán liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế
toán chi phí và tính giá thành.
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản
xuất, loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản
lý cụ thể của doanh nghiệp để lụa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí
sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù
hợp với điều kiện của doanh nghiệp.
Căn cứ vào đặc điệm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm, khả
năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá
thành cho phù hợp.
Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ
ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc điểm
bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.
Thực hiện tổ chức chứng tư, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toán
phù hợp với các nguyên tắc kế toán chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng nhu
cầu thu nhận - xử lý - hệ thống hoá thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp.
Tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản
phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm, giúp
các nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp
với quá trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm.
1.3.2. Sự cần thiết phải quản lý chi phí sản xuất và hạ gía thành sản phẩm.
Tác động trực tiếp của việc quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh chính là
việc hạ giá thành sản phẩm. Hạ giá thành có ý nghĩa hết sức to lớn đối với công tác
quản lý chi phí nói riêng và quản lý doanh nghiệp nói chung:
* Thứ nhất, hạ giá thành giúp doanh nghiệp giảm bớt một lượng vốn lưu động
sử dụng vào sản xuất, bằng việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền
lương, chi phí quản lý ...doanh nghiệp đã tạo ra một khối lượng sản phẩm như cũ
với số vốn ít hơn, hay thu được sản lượng nhiều hơn so với số vốn bỏ ra như cũ.

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
* Thứ hai, hạ giá thành trong khi vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm là biện
pháp trực tiếp để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp bời vì cứ giảm được một đồng
chi phí (giá thành ) thì sẽ tăng được một đồng lợi nhuận. Đây là phương án tích cực
nhất để mở rộng khoảng cách giữa chi phí lao động cá biết của doanh nghiệp với chi
phí lao động xã hội, hay chính là giữ giá thành và giá bán. Như vậy, doanh nghiệp
có thể giữ nguyên giá bán để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, cũng có thể
thực hiện chiến lược giá thấp để tăng khối lượng tiêu thụ nhằm đạt được mục tiêu
ngắn hạn là tăng thị phần cho Công ty (trong khi vẫn có thể tăng thêm được lợi
nhuận).
* Thứ ba, giá thành là một trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu, hạ giá
thành là một biện pháp phát huy nội lực để chiến thắng các đối thủ cạnh tranh.
Doanh nghiệp có thể trực tiếp dùng giá cả (chiến lược giá thấp), cũng có thể vượt
lên trên đối thủ qua việc đạt mức lợi nhuận đơn vị cao hơn, kết quả của việc hạ giá
thành sản phẩm.
Như đã trình bày ở phần trên, về bản chất chi phí sản xuất kinh doanh và giá
thành sản phẩm là giống nhau. Giá thành sản phẩm cũng là một chỉ tiêu chất lượng
quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất và với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Trước hết đối với các doanh nghiệp.
* Giá thành là thước đo mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ
để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Để quyết định lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp
cần nắm được nhu cầu thị trường, giá cả thị trường và mức hao phí sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy mới xác định được hiệu quả sản xuất
loại sản phẩm đó để quyết định lựa chọn phương án cũng như khối lượng sản
xuất nhằm đạt lợi nhuận tối đa.
* Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá hiệu quả của các biện pháp tài chính
kỹ thuật, từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý và các
biện pháp thúc đẩy hơn nữa việc sử dụng vốn hiệu quả tiết kiệm.
Điều này thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa chi phí và giá thành, chi phí có
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


12
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
ảnh hưởng trực tiếp và thuận chiều với giá thành: Nếu như chi phí sản xuất một đơn
vị sản phẩm tăng lên thì giá trị sản phẩm đó cũng tăng lên và ngược lại. Song giá
thành không chịu ảnh hưởng của một cách thụ động, mà bản thân nó, từ việc phản
ánh rõ nét công tác quản lý chi phí, sẽ có những tác động tích cực trở lại đối với
công tác này. Trường hợp giá thành bằng hay thấp hơn kế hoạch đề ra chứng tỏ
công tác quản lý chi phí được thực hiện tốt, ngược lại giá thành thực tế không đạt
được kế hoạch, vượt hơn giá thành định mức thì yêu cầu đạt ra là lập tức phải xem
xét và điều chỉnh lại công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Đó là vai trò của chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm đứng trên
góc nhìn của doanh nghiệp. Đối với toàn xã hội, khi mỗi doanh nghiệp sử dụng hiệu
quả và tiết kiệm các yếu tố đầu vào chính là đã sử dụng hợp lý các nguồn lực của xã
hội, tăng tích luỹ cho nền kinh tế. Việc hạ giá thành của doanh nghiệp đã tạo ra một
động thái cạnh tranh lành mạnh và phát triển bền vững, hơn thế còn làm tăng nguồn
thu cho ngân sách thông qua thuế thu nhập. Đồng thời, lợi ích của người tiêu dùng
sẽ ngày càng được nâng lên cùng với sự hạ thấp của giá thành tăng chất lượng sản
phẩm. Như vây, tiền lương thực tế của người tiêu dùng có thể cao hơn trong khi tiền
lương danh nghĩa có thể không thay đổi. Suy rộng ra, đây cũng là một trong các
nhân tố góp phần tạo nên sự bình ổn của chỉ số giá!
Một vài nét tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng của chi phí và giá thành trong
phạm vi doanh nghiệp và toàn xã hội nói trên cho ta thấy quản lý chi phí, đặc biệt là
chi phí sản xuất, và giá thành sản phẩm là thực cần thiết.
1.4. Chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp
Kết quả của việc sử dụng hiệu quả, tiết kiệm chi phí được thể hiện ở việc hạ
giá thành sản phẩm. Việc hạ giá thành sản phẩm được xác định cho các sản phẩm so
sánh được, thể hiện qua 3 chỉ tiêu: Mức hạ giá thành, tỷ lệ hạ giá thành và tỷ xuất
lợi nhuận giá thành.
* Mức hạ giá thành: Là số tuyệt đối nói lên giá thành kỳ đánh giá hạ được
bao nhiêu so với giá thành kỳ gốc. Chỉ tiêu này như vậy cũng chỉ số lợi nhuận
tăng thêm do giảm giá thành một đơn vị sản phẩm (cứ hạ được bao nhiêu đồng
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång
n

M z = ∑[( Si1 × Z i1 ) − ( Si1 × Z io )]
i =1

Líp: KTD - K9


13
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
giá thành thì tăng được bấy nhiêu đồng lợi nhuận) hay chính là phản ánh khả
năng tích luỹ của doanh nghiệp.

Trong đó: Mức hạ giá thành sản phẩm hàng hoá so sánh được.
Zio : Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc.
Zi1: Giá thành dơn vị sản phẩm kỳ đánh giá.
Si1: Số lượng sản phẩm kỳ đánh giá.
i(l,n): Số loại sản phẩm so sánh được.
* Tỷ lệ hạ giá thành: Là số tương đối chỉ ra tốc độ giảm giá thành kỳ đánh giá
so với kỳ gốc là bao nhiêu phần trăm (%). Chỉ tiêu này là cơ sở để so sánh tình hình
hạ giá thành sản phẩm giữa các doanh nghiệp với nhau giữa các thời kỳ hạ giá thành
sản phẩm giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa thưòi kỳ khác nhau trong cùng
một doanh nghiệp. Như vây, tỷ lệ này phản ánh trình độ tổ chức quản lý và phấn
đấu hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong đó:

Tz =

Mz
n

∑( S

×100%

×Z )

i1
io
Tz: Tỷ lệ hạ giá thành sản
phẩm
so sánh
được.
i =1

Các chỉ tiêu mức hạ giá thành tính cho từng loại sản phẩm gọi là mưc hạ cá
biết và tỷ lệ hạ cá biệt. Nếu tính cho tonà bộ sản phẩm so sánh thì gọi là mức hạ giá
toàn bộ và tỷ lệ bình quân. Khi đánh giá trình độ quản lý chi phí kinh doanh và giá
thành sản phẩm cần sử dụng hai chỉ tiêu nói trên để tính toán cho từng loại sản
phẩm và cho toàn bộ sản phẩm so sánh của doanh nghiệp.
* Tỷ suất lợi nhuận giá thành.
Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp, là chỉ tiêu cuối cùng để dánh giá
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mức lợi nhuận cao hay thấp là kết qủa của
tất cả các hoạt động khác nhau bao gồm tự tác động của các yếu tố khách quan và
chủ quan, nó cũng là kết quả của các biện pháp về mặt kỹ thuật, tổ chức và quản lý
kinh doanh. Như vậy, để đánh giá trình độ quản lý chi phí kinh doanh và giá thành
sản phẩm chúng ta không thể không xem xét đến chỉ tiêu về tỷ xuất lợi nhuận mà cụ

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


14
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
thể là tỷ suất lợi nhuận giá thành.
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng chi phí bỏ vào sản xuất có thể mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Mỗi chỉ tiêu có ý nghĩa kinh tế khác nhau đánh giá trên một khía cạnh khác
nhau, do vậy chỉ khi nào doanh nghiệp hoàn thành đồng thời cả ba chỉ tiêu thì công
tác quản lý chi phí giá thành mới được coi là đã thành công.

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


15
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
PHẦN 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ VÀ HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG
TY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ MỎ

2.1. Tổng quan về công ty phát triển công nghệ và thiết bị mỏ.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ trước đây là công ty Tư Vẫn
Chuyển Giao Công Nghệ Mỏ trực thuộc Viện Khoa Học Công Nghệ Mỏ được thành
lập theo quyết định số 68/1988/QĐ-TTG ngày 27 tháng 3 năm 1999 và Quyết định
số 1834/QĐ-TTCB ngày 14 tháng 8 năm 2001 của Bộ Công Nghiệp. Do sự sắp xếp
lại tổ chức nên tháng 6 năm 2001 sát nhập Trung tâm thí nghiệm Hiệu chỉnh Điện
và Thiết Bị Mỏ vào Công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ theo quyết định
số 538/QĐ-TCCB ngày 31 tháng 5 năm 2001.
Vì điều kiện sát nhập nên sản xuất bị phân tán, trong giai đoạn này vừa sắp xếp
lại tổ chức vừa tiến hành sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩn đảm bảo đời sống của
công nhân viên công ty. Bứơc đầu hoạt động, công ty Phát Triển Công Nghệ Mỏ đã
có hiệu quả, nhưng về cơ bản chưa đủ mạnh để chủ động trong sản xuất kinh doanh
dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu ứng dụng do viện tạo ra. Với sự lãnh đạo của
ban giám đốc nên công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ đã dần đi vào ổn
định và phát triển phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của công ty.
Trụ sở chính của công ty đặt tại số 3 Phan Đình Giót- Phương LiệtThanh Xuân- Hà Nội.
Điện thoại: 04.386.7871
Fax: 04.3664.1487
2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh.
Công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ có những sản phẩn như sau:
a. Sản xuất bột quặng Manhêtít siêu mịn (Fe 3O4) với các tiêu chuẩn chất
lượng:
Hàm lượng từ ≥ 95%.
Cỡ hạt mịn ≤ 0,05 mm ≥ 95%.
Độ ẩm 5%.
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


16
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
b. Sản xuất bột quặng MNT mịn (Fe3O4) với tiêu chuẩn chất lượng.
Hàm lượng từ ≥ 95%.
Cỡ hạt mịn ≤ 0,075 mm ≥ 95%.
Độ ẩm 5%.
c. Ngoài sản xuất các mặt hàng trên thì Công ty còn có một lĩnh vực nữa
là thí nghiệm hiệu chỉnh và sửa chữa lắp đặt các thiết bị điện có cấp điện áp từ
35 KV trở xuống.
Bột quặng Manhêhít mịn và siêu mịn sản xuất ra chủ yếu cung cấp cho các nhà
tuyên than Việt Nam để làm tuyển than (làm huyên phù tuyên than). Do tỷ trọng của
than nhẹ hơn nên than nổi trong dung dịch huyên phù không bị lẫn đất và làm sạch
than đảm bao đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
Quặng nguyên liệu Manhêtít thô đầu vào Fe 3O4 tiêu chuẩn về hàm lượng từ
≥ 90% cỡ hạt mịn ≤ 0,1 mm ≥ 95%, độ ẩm 10% được đưa vào máy nghiền bi
(nghiền gián đoạn) với thời gian 70 phút vào nước. Sau khi nghiền song được đổ ra
và xả vào hố bơm, từ đây quặng được đua lên từ máy tuyển từ để làm sạch quặng,
quặng từ máy tuyển từ được tuyển kèm theo một giàn phun nước, phần quặng bẩn
lẫn bùn được đua bể bùn thải, phần quặng tinh được đưa vào bể lắng.
- Phần bùn thải được đóng tải sợi p.p để khô và đưa ra bãi thải.
- Phần quặng tinh sau khi lắng được xúc đóng bao ép nước và sấy khô, hoặc
phơi tới độ ẩm 5% bằng lò sấy quặng hoặc sân phơi vào mùa có nắng
- Quặng sau khi phơi kiểm tra đạt tiêu chuẩn đươc đưa vào kho đóng bao sợi
p.p với quy cách 50kg/bao.
- Phần nước trong sử dụng được tận dụng thu qua bể nước tuần hoàn để cấp
nước lại cho hệ thốn tuyển từ.

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Hình 1.Sơ đồ quá trình sản xuất quặng Manhêtít
Bể nước+ hệ
thống cấp
nước

Quặng
Manhêtít
thô
Máy nghiền
bi
Máy tuyển
từ
Cấp nước
rủa quặng

Bể chứa
bùn thải

Đồ thải

Bể quặng
Manhêtít siêu
mịn

Đưa
nước
vào bể
chứa

Bể thu
nước tuần
hoàn

Đóng bao
quặng ướt để
ráo khô
Phơi ở sân
hoặc sấy khô
tới 5% độ ẩm
Vận chuyển
vào kho đóng
bao bì
Xếp vào kho

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


18
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
2.1.3. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh.
Hình 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.

Giám đốc

Phó giám
đốc kỹ
thuật

p.Tổ
chức lao
động tiền
lương

Phó giám
đốc nội
chính

P.tài
chính kế
toán

Đội
TNHC 1

P.kế
hoạch

Đội
TNHC 2

Xưởng SC
và PHTB
Mỏ

P.Kỹ
thuật

P. vật tư

Xưởng SX
bột quặng
MNT

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty là tổng hợp các bộ phận lao động
quản lý khác nhau, có mỗi liên hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá và có
trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí thành các cấp bậc khác nhau nhầm
đảm bảo các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung của công ty. Hiện nay
công ty bao gồn các phòng ban và đội sau:
- Ban giám đốc: giám đốc là người điều hành cao nhất, Phó giám đốc kỹ thuật
chịu trách nhiệm điều hành sản xuất. Phó giám đốc nội chính là người chịu trách
nhiệm tổ chúc quản lý.
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

- Phòng tổ chức lao động tiền lương: lưu trữ hồ sơ của cán bộ công nhân viên
toàn công ty, tham mưu cho giám đốc, đào tạo tay nghề cho công nhân, xây dựng sủa
đổi định mức lao động, đơn giá tiền lương cho phù hợp từng giai đoạn nhằm khuyến
khích sản xuất.
- Phòng tài chính kế toán: giúp giám đốc chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác
thống kê kế toán, quản lý hoạt động tài chính của công ty, điều hoà phân phối tổ chức
sư dụng vốn, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, là nơi phân bổ
nguồn thu nhập, tích lỹ. Theo dõi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
dưới hình thức vốn để phản ánh cụ thể chi phí đầu vào và đầu ra.Phòng kế hoạch: có
nhiện vụ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, ngắn hạn, điều động sản
xuất, xây dựng, sủa đổi định mức tiêu hao NVL
- Phòng kỹ thuật: phụ trách quy trình công nghệ sản xuất, hướng dẫn, kiểm tra,
giám sát quá trình thực hiện thi công các công trình, tiến độ thi công và tạo quan hệ
với khách hàng.
- Phòng vật tư: có nhiệm vụ cung ứng đầy đủ vật tư cho sản xuất.
- Xưởng sản xuất Manhêtít: sản xuất bột quặng Manhêtít mịn và siêu mịn Fe304
để cung ứng cho các nhà máy tuyển than việt nam.
- Đội thí nghiệm hiệu chỉnh 1: có nhiệm vụ thí nghiệm và hiệu chỉnh các thiết bị
điện biến áp của mỏ lộ thiên.
- Đội thi nhiệm hiệu chỉnh 2: có nhiệm vụ thhí nghiệm và hiểu chỉnh ccác thiết
bị điện biến áp cuả mỏ hầm lò.
- Đội sửa chữa và phục hồi thiết bị mỏ: bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa và lắp đặt
các thiết bị, máy biến áp trạm mạng hạ thế của tất cả các đơn vị trong và ngoài ngành
than.
Trong công ty tuỳ theo trách nhiệm cụ thể mà các phòng ban có chức năng,
nhiệm vụ khác nhau đảm bảo cho hoạt động của công ty được thông suốt.
2.1.4.công tác tổ chức bộ máy kế toán của công ty.
2.1.4.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Công tác kế toán giữ một vị trí quan trọng trong việc tổ chức quản lý hoạt động
sản xuất kinh doanh. Công ty Phát triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ đã tổ chứcc bộ
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


20
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
máy kế toán như sau:
Bộ máy kế toán gồm 6 người:
- Kế toán trưởng- Trưởng phòng TCKT: là người giúp giám đốc tổ chức bộ
máy kế toán của công ty, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc, chịu trách nhiệm
chỉ đạo, điều hành toàn bộ công tác kế toán, thông kê của doanh nghiệp theo đúng
pháp lệnh hiên hành, tham gia thực hiện đầy đủ các thủ tục về giải quyết các nguồn
vốn và thanh quyết toán các hoạt động của công ty.
- Kế toán tổng hợp- phó trưởng phòng: có nhiệm vụ thay mặt trưởng phòng
điều hành công việc khi trưởng phong vẵng mặt đồng thời là kế toán tổng hợp, tính
giá thành, trích lập quỹ và lập báo cáo tài chính.
- Kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng: có nhiệm vụ kế toán chi tiết các
nghiệp vụ liên quan tới tiền mặt và tiền gửi ngân hàng.
- Kế toán NVL và TSCĐ: có nhiệm vụ kế toán chi tiết các nghiệp vụ chi tiết
liên quan tới nguyên vật liệu và tài sản cố định như tăng giảm nguyên vật liệu, tài
sản, tình hình khấu hao tài sản.
- Kế toán thuế kiêm thủ quỹ: chịu trách nhiệm thu chi tiền mặt của công ty và
theo dõi thuế, tính thuế, lập bảng khai thuế, định kỳ đối chiếu với kế toán tổng hợp
về vẫn đề liên quan.
- Kế toán công nợ khách hàng và tiền lương: chịu trách nhiệm theo dõi các
hoạt động thanh toán với khách hàng, tính các khoản trích theo lương như BHYT,
BHXH, KPCĐ trên các sổ chi tiết, tính lương,BHXH theo quy định và theo dõi các
nghiệp vụ liên quan tới doanh thu.
2.1.4.2. Chính sách kế toán áp dụng tại công ty.
Công ty Phát Triển Công nghệ và Thiết Bị Mỏ áp dụng chế độ kế toán theo
quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính, hệ
thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, luật kế toán số 3/2003/QH11 ngày 17/6/2003
của Quốc hội Nươc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
- Hình thức kế toán áp dụng: theo hình thức Nhật ký chúng từ.
- Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01/01 đến 31/12
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Phương pháp tính thuế GTGT: theo phương pháp khấu trừ.
- Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: theo phương pháp nhập trước xuất
trước.
- Phương pháp tính khấu hao TSCĐ: theo phương pháp đường thẳng.
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường
xuyên.
- Tỷ giá sư dụng trong quy đổi tiền tệ: theo tỷ giá thực tế.
2.1.4.3. Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ.
- Phần hành vốn băng tiền: phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm ứng, giấy
thanh toán tiền tạm ứng, giấy đề nghị thanh toán, biên lai thu tiền, bảng kê thu tiền,
giấy uỷ nhiệm thu, giấy uỷ nhiệm chi, giấy báo cáo…
- Phần hành tiền lương: bảng chấn công, bảng thanh toán lương, bảng thanh
toán tiền thưởng, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, bảng kê
trích nộp các khoản theo lương, bang phân bổ tiền lương và BHXH
- Phần hành hàng tồn kho: phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, hoá đơn bán hàng,
bảng phân bổ NVL, bảng kê mua hàng, biên bản kiểm kê vật tư…
- Phần hành tài sản cố định: biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý
TSCĐ, biên bản bàn giao TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, biên bản kiểm kê tài sản
cố định, bảng tính và phân bổ khấu hao…
- Phần hành thanh toán: hoá đơn bán hàng, bảng đối chiếu công nợ, tờ khai
thuế GTGT, biên bản đối chiếu nộp BHXH, bảng tổng hợp tình hình loa động, quỹ
tiền lương…
- Phần hành tiêu thụ và xác nhận kết quả tiêu thụ: phiếu nhập kho, phiếu
xuất kho, biên bản kiểm nghiệm, phiếu báo thành phẩm còn lại cuối kỳ, biên
bản kiểm kê hàng hoá.
2.1.4.4. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Công ty Phát Triển Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ sử dụng hệ thống tài khoản
theo chế độ kế toán áp dụng theo quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày
01/11/1955 của bộ tài chính ban hành. Từ tháng 4 năm 2006 công ty sư dụng hệ
thống tài khoản theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của bộ trưởng
SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


22
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
bộ tài chính
Danh mục tài khoản kế toán doanh nghiệp đang sử dụng. (phụ lục mục 2)
2.1.4.5. Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán
-Công ty áp dụng hình thức kế toán: nhật ký–chứng từ và làm kế toán thu
công.
-Các loại sổ kế toán: nhật ký - chứng từ, bảng kê, sổ cái, sổ hoặc thẻ kế toán
chi tiền.
-Trình tự ghi sổ:
1. Hàng ngày căn cứ vào chứng từ hợp lệ để ghi vào nhật ký chứng từ liên
quan hoặc bảng kê, bảng phân bổ liên quan.
2. Các chứng từ cần hạch toán chi tiết mà chua phản ánh trong các bảng kê,
nhật ký chưng từ thì đồng thời ghi vào sổ kế toán chi tiết.
3. Các chứng từ liên quan tới thu chi tiền mặt thì ghi vào sổ quy sau đó ghi vào
bang kê, nhật ký chứng từ có liên quan.
4. Cuối kỳ căn cứ vào số liệu từ các bảng phân bổ để ghi vào bảng kê, nhật ký
chứng từ liên quan rồi từ các nhật ký chứng từ ghi vào sổ cái. Căn cứ vào sổ kế toán
chi tiết lập các bảng tổng hợp số liệu cần thiết.
5. Cuối tháng kiểm tra đối chiếu số liệu giữa các nhật ký chứng từ với nhau,
giữa các nhật ký chứng từ với bảng kê, giữa sổ cái với các bảng tổng hợp chi tiết.
6. Căn cứ vào số liệu từ nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ cáI và tổng hợp số liệu
chi tiết để lập báo cáo tài chính.
2.1.4.6. Tổ chức vận dụng hệ thống báo cáo kế toán.
- Kỳ lập báo cáo theo quý, năm.
- Các loại báo cáo tài chính doanh nghiệp sử dụng:
Bảng cân đối kế toán.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Thuyết minh báo cáo tài chính.
Công ty sử dụng các loại báo cáo quản trị

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Công ty Phát Triên Công Nghệ và Thiết Bị Mỏ nộp báo cáo tài chính chi đơn
vị cấp trên là Viện Khoa Học Công Nghệ Mỏ.
Các chứng từ công ty sư dụng (phụ lục 2,3)
2.1.5 Tình hình sử dụng tài sản cố định của công ty
Tài sản cố định chủ yếu của Công ty là những thiết bị tham gia trực tiếp hay
gián tiếp vào quá trình sản xuất, quản lý của doanh nghiệp làm ra hiệu qủa kinh tế.
Việc quản lý tài sản cố định căn cứ vào hồ sơ và đánh giá thực tế của từng tài
sản, tiến hành đăng ký khấu hao theo quyết định số 166/1999/20 ngày 30/12/1999
của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Tình trạng máy móc thiết bị tính đến ngày 31/12/2009 của Công ty như sau:
Bảng số 1: Báo cáo kiểm kê tài sản cố định của Công ty - năm 2009.
Đơn vị: 1000 đồng
Giá trị còn

Nhóm tài sản

Nguyên giá

Đã khấu hao

I Tài sản dùng trong SXKD
1.Máy móc thiết bị
2. thiết bị và Phương tiện vận tải
3.Máy móc thiết bị quản lý
4.Nhà cửa vật kiến trúc
II.TSCĐ không cần dùng
III.TSCĐ hư hỏng chờ xử lý
IV.Đất đai, TSCĐ không KH
Tổng cộng

6.922.240
3.130.979
1.252.392
94.428
2.444.440

4.482.510
1.718.666
905.141
86.178
1.772.523

lại
2.439.730
1.412.313
347.251
8.249
671.917

5.295.920
12.218.160

0
4.482.510

5.295.920
7.735.650

Qua số liệu trong bảng 1 tính được ta thấy tình trạng thiết bị Công ty tốt,
thiết bị được lắp đúng theo thiết kế và hoạt động đúng công suất. Điều đó cho
phép khẳng định hiện nay công ty sử dụng và quản lý tốt tài sản cố định.
Nhưng ta cũng thấy tài sản khấu hao gần hết chưng tỏ tài sản được đầu tư đã
lâu, hay thiết bị máy móc của công ty cũ, lạc hậu về khoa học kỹ thuật. Tài
sản của Công ty được hình thành từ 3 nguồn chủ yếu:
Nguồn ngân sách cấp
Nguồn vốn bổ xung
Nguồn vay của Tổng công ty

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


24
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
2.1.6. kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2008 và năm 2009

SV: NguyÔn ThÞ Thu Hång

Líp: KTD - K9


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x