Tải bản đầy đủ

Những sai lầm thường gặp trong làm văn miêu tả của học sinh lớp 5 (2018)

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGUYỄN THỊ LỤA

NHỮNG SAI LẦM THƢỜNG GẶP TRONG
LÀM VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này, tôi không thể tránh
khỏi những lúng túng, bỡ ngỡ. Nhƣng dƣới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
TS. Lê Thị Lan Anh, tôi đã từng bƣớc tiến hành và hoàn thành khóa luận với
đề tài: Những sai lầm thƣờng gặp trong làm văn miêu tả của học sinh
lớp 5.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Lan Anh và các
thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn cùng
toàn thể các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Thị Lụa


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn của cô Lê Thị Lan Anh. Các căn cứ có trong khóa luận là trung
thực. Đề tài này chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình khoa học
nào khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Thị Lụa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHỮNG SAI LẦM
TRONG LÀM VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5 ............................... 6
1.1. Cơ sở lí luận của văn miêu tả và đặc điểm của học sinh lớp 5 .................. 6
1.1.1. Cơ sở lí luận của văn miêu tả .................................................................. 6


1.1.1.1. Cơ sở văn học ....................................................................................... 6
1.1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ .................................................................................... 6
1.1.1.3. Cơ sở tâm lí .......................................................................................... 7
1.1.1.4. Cơ sở giáo dục...................................................................................... 8
1.1.2. Văn miêu tả và phân môn Tập làm văn ở tiểu học ................................. 9
1.1.3. Văn miêu tả ở tiểu học .......................................................................... 11
1.1.3.1.Khái niệm văn miêu tả ở tiểu học ....................................................... 11
1.1.3.2. Đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ...................................................... 12
1.1.3.3. Văn miêu tả ở tiểu học ....................................................................... 15
1.1.3.4. Văn miêu tả trong chƣơng trình Tập làm văn lớp 5........................... 18
1.1.4. Đặc điểm của học sinh lớp 5 ................................................................. 18
1.1.5. Những sai lầm trong làm văn miêu tả ................................................... 20
1.1.5.1. Thế nào là sai lầm trong làm văn miêu tả ......................................... 20
1.1.5.2. Những sai lầm trong làm văn miêu tả ............................................... 20


1.2. Cơ sở thực tiễn của văn miêu tả và những sai lầm trong làm văn miêu tả
của học sinh lớp 5............................................................................................ 25
1.2.1. Cơ sở thực tiễn của văn miêu tả ............................................................ 25
1.2.1.1. Chƣơng trình văn miêu tả ở tiểu học.................................................. 25
1.2.1.2. Quy trình dạy bài Tập làm văn ở lớp 5 .............................................. 26
1.2.2. Thực trạng những sai lầm trong làm văn miêu tả ................................. 29
1.2.2.1. Địa điểm tiến hành điều tra ................................................................ 29
1.2.2.2. Phƣơng pháp điều tra ......................................................................... 29
1.2.2.3. Cách thức tiến hành ........................................................................... 29
1.2.2.4. Kết quả điều tra ................................................................................. 29
Kết luận chƣơng 1 ........................................................................................... 31
CHƢƠNG 2. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM TRONG LÀM
VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5..................................................... 32
2.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ............................................................ 32
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học ....................................................... 32
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ....................................................... 32
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả ........................................................ 32
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi .......................................................... 33
2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp ........................................................ 33
2.2. Những biện pháp hƣớng dẫn học sinh viết bài văn đúng......................... 33
2.2.1. Giáo viên cần giúp học sinh nắm vững lí thuyết viết văn, đảm bảo
những yêu cầu quan trọng trong dạy văn miêu tả ........................................... 33
2.2.1.1. Giáo viên cần giúp học sinh nắm vững lí thuyết viết văn.................. 33
2.2.1.2. Đảm bảo những yêu cầu quan trọng trong dạy văn miêu tả ............. 35
2.2.2. Những biện pháp nâng cao năng lực nhập tâm – tích lũy kiến thức cho
học sinh khi dạy văn miêu tả ........................................................................... 42
2.2.2.1 Phát triển kĩ năng quan sát cho học sinh ............................................ 42


2.2.2.2. Hƣớng dẫn học sinh định hƣớng quan sát một cách có chọn lọc ...... 43
2.2.2.3. Quan sát là dùng các giác quan để thu nhận thông tin từ đối tƣợng . 44
miêu tả ............................................................................................................. 44
2.2.2.4. Dạy học sinh cách quan sát để gợi lên những liên tƣởng (tƣởng
tƣợng) trong tƣ duy, trong trí nhớ ................................................................... 46
2.2.2.5. Một số biện pháp phối hợp các giác quan khi quan sát ..................... 49
2.2.3. Tích lũy vốn từ ngữ và phát triển kĩ năng vận dụng các biện pháp nghệ
thuật trong bài văn miêu tả cho học sinh ........................................................ 49
2.2.3.1. Giáo viên giúp học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả ......................... 49
2.2.3.2. Hƣớng dẫn học sinh sử dụng từ ngữ một cách có chọn lọc, gọt dũa
khi miêu tả ....................................................................................................... 52
2.2.3.3. Hƣớng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật linh hoạt, sáng
tạo trong bài văn miêu tả ................................................................................. 52
2.2.4. Hƣớng dẫn học sinh lựa chọn nội dung và trình tự miêu tả.................. 53
2.2.4.1. Hƣớng dẫn học sinh lựa chọn nội dung miêu tả ................................ 53
2.2.4.2. Chọn trình tự miêu tả ......................................................................... 55
2.2.5. Tạo hứng thú học văn miêu tả và nuôi dƣỡng tâm hồn văn, phát triển
khả năng cảm thụ cái đẹp cho học sinh tiểu học ............................................. 56
2.2.6. Phát triển ở học sinh năng lực tƣ duy, tƣởng tƣợng và giúp các em tích
lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, hiện thực khách quan ....................... 58
2.2.6.1. Dạy học sinh tƣ duy, tƣởng tƣợng phù hợp với quy luật nhận thức
của con ngƣời .................................................................................................. 58
2.2.6.2. Khuyến khích học sinh tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và
hiện thực khách quan....................................................................................... 59
2.2.7. Phát triển cho học sinh năng lực cảm xúc và khả năng bộc lộ cảm xúc
với đối tƣợng miêu tả ...................................................................................... 60
2.2.8. Những biện pháp nâng cao năng lực sáng tác cho học sinh ................. 62


2.2.8.1. Dạy học sinh cách liên kết câu ........................................................... 62
2.2.8.2. Hƣớng dẫn học sinh luyện nói ........................................................... 63
2.2.8.3. Hƣớng dẫn học sinh viết bài miêu tả hoàn chỉnh............................... 64
2.2.9. Đổi mới cách ra đề và tiêu chuẩn đánh giá một bài văn miêu tả ......... 65
2.2.9.1. Đổi mới cách ra đề bài văn miêu tả .................................................. 65
2.2.9.2. Đổi mới tiêu chuẩn đánh giá một bài văn miêu tả ............................ 67
Kết luận chƣơng 2 ........................................................................................... 70
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 72


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“… Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt
Nam có sánh vai với cƣờng quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần
lớn ở công học tập của các cháu…”. Những lí lẽ sáng suốt ấy của Ngƣời đến
nay vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, giáo dục đào tạo vẫn đƣợc coi là quốc
sách hàng đầu quyết định sự phát triển của đất nƣớc. Trong đó, cấp tiểu học
đƣợc coi là cấp học “nền tảng”, đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình
thành phát triển nhân cách và tƣ duy con ngƣời; là “mầm xanh” của “màu
xanh” trong tƣơng lai. Do vậy, việc dạy và học cấp tiểu học đƣợc các nhà giáo
dục rất quan tâm.
Học sinh tiểu học có một tâm hồn ngây thơ, trong sáng. Cách nhìn nhận
thế giới xung quanh vô cùng độc đáo và cách thể hiện cái nhìn ấy cũng rất
riêng. Đúng nhƣ nhận định của J.J.Rút Xô: “Mỗi lứa tuổi có một sức bật riêng
và trẻ em cũng có cách nhìn, cách suy nghĩ và cách cảm nhận riêng của nó”.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu cách suy nghĩ, cách cảm nhận và thể hiện cảm
nhận của học sinh tiểu học sẽ giúp giáo viên có những giờ dạy học hiệu quả
và đạt mục đích giáo dục.
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt ở tiểu học cung cấp cho
học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con
ngƣời, hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để
học tập và giao tiếp hằng ngày, góp phần rèn luyện các thao tác tƣ duy. Tập
làm văn là kết tinh “sản phẩm” của nhiều phân môn Tiếng Việt. Nó đòi hỏi ở
ngƣời học khả năng vận dụng linh hoạt các kiến thức học trong trƣờng và kiến
thức cuộc sống. Nó thể hiện sự sáng tạo trong tạo lập văn bản và mang đậm
dấu ấn cá nhân. Một bài văn có thể làm thƣớc đo năng lực văn học - tiếng

1


Việt, vốn sống, vốn hiểu biết, năng lực tƣ duy và kĩ năng tạo lập sản sinh văn
bản của học sinh.
Chƣơng trình Tập làm văn lớp 4,5 bao gồm nhiều thể loại nhƣ: miêu tả,
viết thƣ, kể chuyện… Trong đó, thể loại văn miêu tả đƣợc học sinh yêu thích
nhất nhƣng cũng là thể loại khó nhất. Hơn nữa, văn miêu tả phù hợp với đặc
điểm tâm lý tuổi thơ: thích nhận xét, ƣa quan sát, sự nhận xét thiên về cảm
tính… Văn miêu tả góp phần phát triển tƣ duy và ngôn ngữ cho trẻ, nuôi
dƣỡng tâm hồn và phát triển ở các em lòng yêu cái đẹp. Văn miêu tả mang
tính thực hành, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo.
Đối với học sinh lớp 5, các bài văn miêu tả chính thức có yêu cầu cao
hơn: học sinh quan sát, lập dàn ý, phát triển ý xây dựng đoạn văn, liên kết
đoạn thành bài, bộc lộ cảm xúc, sử dụng biện pháp tu từ. Đặc biệt lƣu ý trong
diễn đạt, hành văn là văn viết phải sinh động, “có hồn”. Ở giai đoạn này, các
em đã đƣợc học một cách tƣơng đối có hệ thống về kỹ năng xây dựng một bài
văn miêu tả hoàn chỉnh. Đây chính là giai đoạn nền tảng để các em có thể học
tốt khi lên các lớp trên.
Thực tiễn dạy học cho thấy, có rất nhiều bài văn miêu tả hay của
học sinh thể hiện khả năng tái hiện đời sống, tƣ duy linh hoạt, sáng tạo và trí
tƣởng tƣợng phong phú của các em. Tuy nhiên, những sai lầm mà các em mắc
phải khi làm bài văn miêu tả cũng không ít. Chúng tôi nhận thấy rằng, để dạy
và học văn miêu tả đƣợc tốt thì việc nghiên cứu các sai lầm và những khó
khăn mà học sinh gặp phải khi làm bài văn miêu tả là công việc rất cần thiết.
Nó giúp cho giáo viên cũng nhƣ các bậc phụ huynh có thể phát hiện ra những
hạn chế của học sinh khi làm bài văn miêu tả, từ đó có phƣơng pháp dạy học
văn miêu tả cho các em phù hợp và hiệu quả hơn.
Vì vậy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: Những sai lầm thường gặp
trong làm văn miêu tả của học sinh lớp 5.

2


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn miêu tả là đề tài đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Trong cuốn Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả của nhà văn Tô Hoài,
Nxb Giáo dục, năm 2000 đã đƣa ra những kinh nghiệm và những sáng tạo của
mình trong viết văn miêu tả giúp cho chúng ta trả lời những câu hỏi thiết thực
khi viết văn miêu tả: quan sát thế nào? ghi chép thế nào? chữ nghĩa để thể
hiện sự ghi chép ra sao? bƣớc vào sáng tạo thế nào? ...
Cùng với nội dung này, phải kể đến là nhóm tác giả Vũ Tú Nam - Phạm
Hổ - Bùi Hiển - Nguyễn Quang Sáng với cuốn Văn miêu tả và kể chuyện
(2002). Tác giả Chu Thị Phƣợng với bài Để dạy học sinh viết được bài văn
hay - Tạp chí giáo dục số 159 (2004)…Ở những tác phẩm này, ngoài việc
nêu ra những kinh nghiệm viết văn miêu tả, các tác giả còn đƣa ra một số
trang văn miêu tả đặc sắc của các nhà văn tiêu biểu để bạn đọc tham khảo.
Ở tác phẩm Văn miêu tả và kể chuyện (2002), tác giả Phạm Hổ quan
niệm rằng miêu tả giỏi là khi chúng ta miêu tả đƣợc cả bên trong và bên ngoài
sự vật, sự việc hay chính là thế giới nội tâm của đối tƣợng. Nghĩa là đọc
những gì chúng ta viết, ngƣời đọc không chỉ nhƣ thấy đƣợc những cái đó hiện
ra trƣớc mắt mình: màu sắc, hình ảnh, âm thanh mà còn cả tâm trạng , cảm
xúc: vui, buồn, yêu, ghét,…của nó.
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Dạy Tập làm văn ở trường
Tiểu học, Nxb Giáo dục, năm 2000 cũng nêu những nét khái quát về văn miêu
tả nhƣ: thế nào là văn miêu tả? đặc điểm của văn miêu tả và văn miêu tả trong
trƣờng Tiểu học. Đồng thời Nguyễn Trí cũng đƣa ra phƣơng pháp dạy văn
miêu tả ở Tiểu học và một số kinh nghiệm dạy học sinh viết bài tập làm văn
cho tốt.
Ngoài ra, các tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) và tác giả Phạm Minh
Diệu với cuốn Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông (2003), đã phân tích

3


những nét khái quát về văn miêu tả, những yêu cầu và đặc điểm của văn miêu
tả. Tác giả tập trung giới thiệu văn miêu tả trong nhà trƣờng phổ thông theo
yêu cầu và chƣơng trình sách giáo khoa mới. Từ đó chỉ ra phƣơng hƣớng học
và làm tốt văn miêu tả. Đồng thời, sách còn giới thiệu một số ý kiến và một số
trang văn miêu tả của các nhà văn, chủ yếu là các nhà văn viết cho thiếu nhi,
có nhiều tác phẩm đƣa vào nhà trƣờng.
Trong cuốn giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb
Trƣờng ĐHSP Hà Nội 1, Lê Phƣơng Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh,
Nguyễn Trí đƣa ra nhận xét về vai trò và sự cần thiết của việc dạy văn miêu tả
ở trƣờng phổ thông, từ đó trình bày một vài giải pháp để nâng cao chất lƣợng
dạy và học văn miêu tả. Giáo trình còn nêu lên một số vấn đề chung của việc
dạy học văn miêu tả và một số vấn đề cụ thể về dạy - học văn miêu tả ở
lớp 4,5.
Tuy nhiên, chƣa cuốn sách nào đề cập đến những sai lầm thƣờng gặp
trong làm văn miêu tả của học sinh lớp 5, chƣa có tác giả nào đi sâu nghiên
cứu vấn đề này và đó chính là khoảng trống cho chúng tôi nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng các bài văn miêu tả của học sinh lớp 5,
chúng tôi đã thống kê, khảo sát, phân tích, từ đó tìm ra những sai lầm mà học
sinh thƣờng mắc phải, đề xuất các biện pháp khắc phục những sai lầm đó góp
phần nâng cao chất lƣợng dạy học văn miêu tả nói riêng và dạy học tiếng Việt
nói chung ở trƣờng Tiểu học.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Những sai lầm thƣờng gặp trong làm văn miêu tả của học sinh tiểu học.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong thời gian khuôn khổ làm khóa luận, chúng tôi đã tiến hành điều tra,
khảo sát thực tế ở Trƣờng Tiểu học Uy Nỗ (huyện Đông Anh – Hà Nội), nơi
mà chúng tôi đã thực tập sƣ phạm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài Những sai lầm thƣờng gặp trong làm
văn miêu tả của học sinh lớp 5, chúng tôi tập trung vào việc giải quyết
những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Đề xuất biện pháp khắc phục những sai lầm đó
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp phân tích
- Phƣơng pháp tổng hợp
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luận còn
bao gồm:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của những sai lầm trong làm văn
miêu tả của học sinh lớp 5
Chƣơng 2. Biện pháp khắc phục những sai lầm trong làm văn miêu tả
của học sinh lớp 5

5


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHỮNG SAI
LẦM TRONG LÀM VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5
1.1. Cơ sở lí luận của văn miêu tả và đặc điểm của học sinh lớp 5
1.1.1. Cơ sở lí luận của văn miêu tả
1.1.1.1. Cơ sở văn học
Miêu tả trong văn chƣơng là một trong những hình thức miêu tả của nghệ
thuật. Tuy không thể sử dụng một cách trực tiếp những âm thanh, màu
sắc…nhƣng trong văn miêu tả dùng từ ngữ gợi ra tất cả những biểu hiện vật
chất của đối tƣợng một cách cụ thể và sinh động. Nó có khả năng tạo dựng
hình tƣợng văn học.
Theo M.Gorki “Con ngƣời sinh ra đã mang phẩm chất nghệ sĩ trong tâm
hồn. Chỉ có điều cái vốn ấy đƣợc đánh thức và phát huy hay không? Dạy văn
miêu tả cho học sinh tiểu học cũng chính là thức tỉnh cái phẩm chất nghệ sĩ
trong tâm hồn các em”.
Đối với học sinh tiểu học, các em đang ở tuổi lớn, đang dò dẫm khám phá
thiên nhiên, thế giới vạn vật xung quanh thì các bài văn miêu tả là cầu nối để
các em đến với muôn loài, muôn vật, muôn cảnh sắc và hƣơng vị quê hƣơng.
Qua đây, các em đƣợc thƣởng thức những áng văn đẹp, giúp các em thêm yêu
tiếng mẹ đẻ của mình. Đồng thời, dạy văn miêu tả cho các em cũng chính là
đánh thức niềm hứng thú và năng khiếu văn chƣơng còn tiềm ẩn trong tâm
hồn trẻ thơ, thôi thúc các em quan sát, cảm nhận thế giới xung quanh, tái hiện
bằng con chữ, lời nói với cái nhìn riêng, sự lựa chọn riêng và bản sắc riêng.
1.1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống gồm nhiều yếu tố hay cấp độ khác nhau từ ngữ
âm, từ vựng đến ngữ pháp…là những cấp độ, yếu tố để làm cơ sở ngôn ngữ
của việc dạy tập làm văn, đặc biệt là văn miêu tả ở cấp tiểu học. Những cơ sở
đó bao gồm:

6


Dạy tập làm văn ở tiểu học góp phần phát triển các dạng lời nói khác
nhau cho học sinh tiểu học. Dựa vào phƣơng thức sử dụng, lời nói phân thành
nhiều dạng mà trong số các môn học ở trƣờng tiểu học chỉ có phân môn tập
làm văn coi nhiệm vụ trên là chính và có hƣớng phát triển đầy đủ nhất.
Cụ thể, theo quan niệm khoa học và chính xác hiện nay, làm văn không
chỉ phát huy ở các em lời độc thoại mà còn giúp các em tập và nắm vững các
loại văn thuộc ngôn ngữ nghệ thuật và phi nghệ thuật. Đặc điểm chƣơng trình
Tập làm văn ở trƣờng Tiểu học hiện nay rất chú trọng phát triển ở trẻ ngôn
ngữ nghệ thuật thông qua các tác phẩm văn chƣơng, thông qua các bài văn
miêu tả.
Bên cạnh đó, các quy tắc sử dụng từ và câu cũng là cơ sở quan trọng của
việc dạy văn miêu tả ở cấp tiểu học. Bởi từ và câu là vật liệu ngôn ngữ để tạo
nên đoạn, bài văn miêu tả. Kiến thức về từ và câu phong phú cho phép các em
lựa chọn để có bài miêu tả đặc sắc, giàu hình ảnh và cảm xúc. Bên cạnh đó, tri
thức về từ và câu giúp giáo viên có căn cứ để phân tích cách viết câu và dùng
từ của học sinh, chỉ ra chỗ đúng sai và cách sửa chữa. Từ đó, giúp các em
thấy đƣợc vẻ đẹp, sự giàu có của tiếng Việt, tiến tới làm chủ tiếng Việt, sử
dụng tiếng Việt một cách chuẩn xác, có văn hóa và giàu tính thẩm mĩ.
1.1.1.3. Cơ sở tâm lí
Trẻ em là một thực thể hồn nhiên, vô tƣ và tiềm tàng khả năng phát triển.
Các em tiếp xúc với thế giới vạn vật xung quanh, đánh giá và nhận xét thế
giới ấy theo chuẩn mực của bản thân. Tất cả hiện tại và tƣơng lai trƣớc mắt
các em rất đơn giản nhƣng cũng hết sức bí ẩn và hấp dẫn đối với các em. Dạy
văn miêu tả cho học sinh tiểu học là cần thiết, phù hợp với tâm lí ham tìm tòi,
khám phá, quan sát và nhận xét của các em.

7


Trƣớc khi đến trƣờng, trẻ đã đƣợc tiếp xúc với các đoạn văn miêu tả qua
lời kể hay những khúc hát ru của bà, của mẹ… Nó hấp dẫn và kích thích trí
tƣởng tƣợng của các em về thế giới xung quanh.
Bƣớc vào lớp 1, các em tiếp tục thu thập vốn sống, tích lũy kinh nghiệm
bằng việc quan sát rất tỉ mỉ, rõ ràng các sự vật hiện tƣợng xung quanh và thể
hiện những nhận thức của mình cho ngƣời khác biết. Ví dụ nhƣ: lớp học của
em gồm những ai, đặc điểm của mỗi bạn thế nào, cô giáo em trông thế nào…
Tuy nhiên, sang lớp 4 và lớp 5 các em mới thực sự đƣợc học văn miêu tả ở
mức “ban đầu”. Lúc này, các em đã có vốn sống nhất định, đã bƣớc đầu phân
tích mới quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong những môi trƣờng khác nhau, có
thể thể hiện những sự kiện mà các em đã quan sát thấy trong cuộc sống bằng
ngôn từ của chính các em.
Mặt khác, bƣớc vào lớp 5 (11-12 tuổi) sự cân bằng trong cơ thể trẻ đang
bị phá vỡ, các em rất dễ xúc động. Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến cho trẻ
ở tuổi này có sự thay đổi đáng kể. Nếu nhƣ ở giai đoạn trƣớc, hoạt động sáng
tạo mà trẻ yêu thích là vẽ thì ở giai đoạn này lại là sáng tạo bằng lời. Trẻ yêu
thích sáng tạo văn học, điều này đƣợc thể hiện qua các trang văn miêu tả của
các em. Những trang văn miêu tả của trẻ là một thế giới trong sáng vô ngần
mà ở đó ta sẽ thấy những cái vừa đơn giản vừa mới lạ. Đọc, cảm nhận và chia
sẻ những cảm xúc, những rung động, những lời đề nghị hết sức thân ái và xúc
động của trẻ mà đôi khi chúng ta không để ý, thờ ơ… Bởi theo L.X.Vƣgôtxki
thì “Lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn gấp nhiều lần những quan hệ phức
tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động logic, sự phúc tạp của sự
kiện”.
1.1.1.4. Cơ sở giáo dục
Khi trẻ cắp sách tới trƣờng cũng là lúc trẻ bắt tay vào việc lĩnh hội văn
hóa của nhân loại. Nếu nhƣ trƣớc đây, trẻ chỉ cần biết những điều cần cho các

8


trò chơi hay những công việc phục vụ thì giờ đây các em phải tập trung chú ý,
lĩnh hội tri thức, phải tìm tòi tri thức từ lời giảng của giáo viên và thực tiễn
cuộc sống xung quanh… Việc học tập nhƣ vậy sẽ kích thích mạnh mẽ sự phát
triển các chức năng của não và khả năng tƣ duy, đặc biệt là tƣ duy trừu tƣợng.
Dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên, trẻ sẽ dần lĩnh hội các tri thức khoa học về
tự nhiên, xã hội, con ngƣời. Đồng thời, các em còn lĩnh hội đƣợc các cơ sở
của phƣơng pháp cũng nhƣ các thao tác tƣ duy.
Tuy nhiên, ở lứa tuổi này, học sinh thƣờng dựa vào kinh nghiệm cảm
tính những biểu tƣợng và ấn tƣợng của bản thân các em. Do vậy, cần dẫn dắt
trẻ suy nghĩ và tìm ra các mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, hiện
tƣợng. Điều này đòi hỏi trẻ phải đƣợc rèn luyện thông qua các hoạt động học
tập theo chƣơng trình dạy học ở nhà trƣờng. Cụ thể ở môn Tiếng Việt thì các
phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu… giúp học sinh có năng lực
sản sinh ngôn bản. Nhờ đó, học sinh biết cách sử dụng tiếng Việt làm công cụ
tƣ duy, học tập, giao tiếp. Riêng phân môn Tập làm văn có tính chất thực
hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo. Vì Tập làm văn đƣợc xây dựng trên
thành tựu của nhiều môn khoa học khác nhau trong đó nổi bật là lí thuyết hoạt
động lời nói, các hiểu biết về ngôn ngữ, ngữ pháp văn bản, logic học, lí luận
văn học… Vì vậy, cần rèn cho học sinh tiểu học năng lực chú ý bền vững,
năng lực điều chỉnh hoạt động, học tập và có ý thức vƣơn lên làm chủ hoạt
động học tập của mình.
1.1.2. Văn miêu tả và phân môn Tập làm văn ở tiểu học
1.1.2.1. Vị trí, tính chất và nhiệm vụ phân môn Tập làm văn
a. Khái niệm
“Văn” trong Tập làm văn đƣợc hiểu là những lời chúng ta nói hoặc viết
ra khi giao tiếp. “Văn” ở dây chính là ngôn bản. Vì vậy, Tập làm văn chính là

9


tập sản sinh, tạo lập ngôn bản. Dạy học Tập làm văn là dạy học sinh cách tạo
lập, sản sinh ngôn bản.
b. Vị trí, tính chất
Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn
bản. Nó có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi:
Thứ nhất, Tập làm văn là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng
hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác
Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành.
Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngôn
bản, nhờ đó tiếng Việt không chỉ đƣợc xem xét từng phần, từng mặt qua từng
phân môn mà trở thành một công cụ để giao tiếp. Vậy, phân môn Tập làm văn
đã thực hiện đƣợc mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất của dạy học tiếng
mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, tƣ duy, học tập.
Phân môn Tập làm văn có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và
sáng tạo.
c. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là giúp cho học sinh tạo ra
đƣợc các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chƣơng trình
quy định. Nói cách khác, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành và
phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh. Năng lực tạo lập ngôn bản
đƣợc phân tích thành các kĩ năng bộ phận nhƣ: xác định mục đích nói, lập ý,
triển khai ý thành lời dƣới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài. Ở tiểu học,
phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lời
nói: nói, viết các ngôn bản thông thƣờng và viết một số văn bản nghệ thuật
nhƣ kể chuyện, miêu tả.
Một nhiệm vụ quan trọng khác của phân môn Tập làm văn đó là góp
phần rèn luyện tƣ duy và hình thành nhân cách cho học sinh. Phân môn Tập

10


làm văn góp phần rèn luyện tƣ duy hình tƣợng từ óc quan sát đến trí tƣởng
tƣợng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát đƣợc đến khả năng nhào
nặn các chất liệu trong đời sống thực tế để xây dựng nhân vật và cốt truyện.
Trên thực tế, khi giao tiếp cần có thái độ đúng đắn với đối tƣợng giao
tiếp. Phân môn Tập làm văn khi dạy các nghi thức lời nói cũng đồng thời dạy
cách cƣ xử với mọi ngƣời nhƣ sự lễ phép, lịch sự trong nói năng. Để viết văn
cần có tình cảm với đối tƣợng đƣợc viết. Vì vậy, phân môn Tập làm văn tạo
cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên đất
nƣớc, con ngƣời và vạn vật xung quanh. Từ đó, nuôi dƣỡng, phát triển tâm
hồn và nhân cách cho các em.
1.1.3. Văn miêu tả ở tiểu học
1.1.3.1.Khái niệm văn miêu tả ở tiểu học
Theo Từ điển tiếng Việt – Nxb KHXH, Hà Nội (1997) thì “miêu tả” có
nghĩa là: “Thể hiện sự vật bằng lời nói hay nét vẽ”. Theo Đào Duy Anh trong
Hán-Việt từ điển, “miêu tả” là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân
tướng của sự vật ra”.
Viết về văn miêu tả, có nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra khái niệm văn
miêu tả và các khái niệm này về cơ bản là thống nhất về nội dung. Theo tác
giả Hoàng Phê (chủ biên) trong Từ điển tiếng Việt – Nxb Đà Nẵng (1999)
định nghĩa: “miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một số phương tiện nghệ thuật
nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật hoặc thế giới
nội tâm của con người”. [12,181]
Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: “miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta
viết, người đọc như nhìn thấy cái gì đó hiện ra trước mắt mình: một con
người, một con vật, một tiếng nói, một dòng sông… Người đọc còn có thể
nghe cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy. Thậm chí còn ngửi thấy được
mùi mồ hôi, mùi sữa, mùi hương hoa, hay mùi rêu, mùi ẩm mốc.v.v. Nhưng đó

11


mới chỉ là miêu tả bề ngoài. Còn có sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu
tả tâm trạng vui buồn, yêu ghét của con người, con vật và cỏ cây”. [7,4]
Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, con ngƣời… bằng ngôn ngữ một
cách sinh động, cụ thể. Văn miêu tả giúp ngƣời đọc nhìn rõ chúng, tƣởng
tƣợng nhƣ đang xem tận mắt, bắt tận tay những đối tƣợng miêu tả. Những
hình ảnh do văn miêu tả tạo nên không phải những bức ảnh chụp lại, sao chép
một cách vụng về. Nó là kết tinh của những nhận xét tinh tế, sự rung động sâu
sắc mà ngƣời viết đã thu lƣợm đƣợc khi quan sát thực tế cuộc sống.
Mỗi tác giả có cách nhìn nhận riêng về miêu tả và văn miêu tả. Theo
chúng tôi văn miêu tả là một loại văn dùng để diễn tả sự vật, hiện tƣợng, con
ngƣời một cách sinh động, cụ thể nhƣ nó vốn có. Văn miêu tả không phải sự
sao chép một cách khách quan mà đó là kết quả của quá trình lao động công
phu: quan sát, ghi chép, nhận xét, đánh giá, tƣởng tƣợng hết sức phong phú
của ngƣời viết.
1.1.3.2. Đặc điểm cơ bản của văn miêu tả
a. Văn miêu tả là một sáng tác nghệ thuật
Mỗi bài Tập làm văn là sản phẩm của từng cá nhân, nó mang dấu ấn chủ
quan của các em trƣớc đối tƣợng miêu tả. Ngƣời đọc cảm nhận đƣợc tâm hồn,
suy nghĩ, tình cảm của các em qua từng trang miêu tả đƣợc diễn đạt bởi
những suy nghĩ, cách thức diễn đạt hoặc khả năng sáng tạo… khác nhau. Vì
vậy, có thể nói, văn miêu tả là thể loại văn sáng tác hay một sáng tác
nghệ thuật.
Dù các nhà giáo dục không chủ định dạy các em sáng tác nhƣng làm văn
miêu tả thực sự là một quá trình sáng tác, có thể tạm coi là tác phẩm nghệ
thuật. Ở đó, chất liệu ngôn từ, ánh nhìn tinh tế và cảm nhận sâu sắc các em đã
vẽ lên thế giới của thiên nhiên vạn vật sinh động với cả đƣờng nét, hình khối
của nó. Đó là thế giới huyền mộng, êm dịu, hiền hòa, ngập tràn hƣơng sắc. Ở

12


đó, vạn vật và con ngƣời đều có mối giao cảm thân thiết. Để thể hiện đƣợc
điều đó cần một tâm hồn đa cảm, trong trẻo và cả quá trình tƣ duy từ suy nghĩ
cho đến trình bày bài viết.
b. Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình
Đặc điểm quan trọng này chƣa đƣợc làm rõ trong các tài liệu về văn
miêu tả dùng trong nhà trƣờng tiểu học hiện nay nhƣng đây lại là phẩm chất
rất cần thiết của một bài văn miêu tả. Nhà văn M.Gorki có lần phân tích:
“Dùng từ để tô điểm cho người và vật là một việc. Tả họ một cách sinh động,
cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta muốn sờ mó các nhân
vật” trong “Chiến tranh và hòa bình” của Lép - ton - xtoi, đó là một việc
khác”.
Một bài văn miêu tả đƣợc coi là sinh động và tạo hình khi các sự vật,
phong cách, con ngƣời… đƣợc miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng trong
cuộc sống thực, tƣởng nhƣ nắm đƣợc, có thể nhìn, ngắm hoặc sờ mó đƣợc
nhƣ cách nói của Gorki.
Gorki đã có lần nói lên sự khâm phục của mình trƣớc những trang miêu
tả thần diệu của Ban- dắc trong tác phẩm Miếng da lừa: “Tôi thực sự kinh
ngạc khi đọc những trang miêu tả bữa tiệc khi ở nhà ông chủ nhà băng trong
tiểu thuyết “Miếng da lừa” của Ban- dắc. Ở đó, có đến vài chục người cùng
nói, tạo nên cảnh ồn ào, hỗn độn và tôi tưởng như nghe thấy những âm thanh
phức tập ấy. Nhưng cái chính là tôi không chỉ nghe thấy mà tôi còn trông
thấy ai nói như thế nào. Tôi thấy con mắt, nụ cười, điệu bộ của họ mặc dù
Ban-dắc không tả mặt mày, hình dáng các vị khắc của ông chủ nhà băng”.
Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống,
gây ấn tƣợng đặc sắc…Tƣớc bỏ chúng đi, bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt,
vô vị. Bài văn sẽ trở ra nhƣ một bộ xƣơng khô. Đọc nó tƣởng nhƣ bắt gặp nụ
cƣời nhợt nhạt của một ngƣời không còn sinh khí.

13


c. Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của
người viết
Ngƣời viết bao giờ cũng đánh giá đối tƣợng miêu tả theo một quan điểm
thẩm mĩ, gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm cá nhân của mình. Do vậy, từng
chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tƣợng cảm xúc chủ quan. Đặc điểm này
làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trong môn Khoa học thƣờng
thức hoặc Tìm hiểu tự nhiên và xã hội.
Văn miêu tả muốn hay, ngƣời viết cần phải có tài quan sát và thể hiện
bằng các từ ngữ, hình ảnh, bằng lối so sánh, ví von độc đáo… và còn phải
có tình.
Cái tình ấy có thể là tấm lòng say đắm, là thái độ và tình cảm chân
trọng, mến yêu đối với cái đẹp, cái thiện, cái trong sáng, cao thƣợng, vĩ đại…
nhƣng cũng có thể là sự căm ghét, khinh bỉ đối với cái ác, cái xấu, cái lố
lăng, kệch cỡm ở đời.
d. Văn miêu tả hướng dẫn cho học sinh nhận thức về cuộc sống và thể hiện
nhận thức ấy bằng ngôn từ
Trong quá trình làm văn miêu tả, bao giờ ngƣời viết cũng sử dụng quy
luật của nhận thức, bài văn miêu tả không phải sự lắp ghép của ngôn từ. Làm
văn miêu tả là nhận thức thế giới, khám phá, phát hiện từ đối tƣợng miêu tả
những nét đẹp, đáng yêu, những cái mới lạ, độc đáo. Vì vậy, dạy văn miêu tả
là bồi dƣỡng cho các em tâm hồn, cảm xúc, là dạy cho các em biết cảm thụ và
rung động trƣớc cái hay, cái đẹp. Các em sẽ không thờ ơ, vô cảm khi đứng
trƣớc một cánh đồng lúa chín. Ngƣợc lại, tâm hồn các em sẽ khắc sâu một vẻ
đẹp thoáng đãng nơi thôn dã. Lúc này, khoảng không gian bao la ấy đối với
các em mới thú vị làm sao. Gió thổi nhẹ, hƣơng thơm mùa lúa chín ngào ngạt
khắp cánh đồng làm các em vui sƣớng. Bởi, vụ mùa năm nay không phụ công
những ngƣời nông dân vất vả…

14


Tóm lại, dạy văn miêu tả là dạy các em biết yêu. Yêu quý thiên nhiên,
vạn vật, con ngƣời và cảm nhận cái đẹp của thế giới vạn vật ấy.
e. Ngôn ngữ văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh
Miêu tả trong văn chƣơng không giống nhƣ miêu tả trong khoa học, hội
họa. Nó có ƣu thế riêng so với miêu tả bằng đƣờng nét, màu sắc của hội họa.
Ngôn ngữ miêu tả có khả năng diễn tả cảm xúc của ngƣời viết. Đối tƣợng
miêu tả hiện ra sinh động và giàu sức tạo hình.
Qua tìm hiểu các bài văn miêu tả của học sinh đƣợc tuyển chọn và các
tác phẩm văn học do các nhà văn sáng tác, chúng ta thấy ngôn ngữ miêu tả
giàu các tính từ, động từ, thƣờng hay sử dụng phép nhân hóa, so sánh, ẩn dụ.
Do sự phối hợp của các tính từ (màu sắc, phẩm chất…), của các động từ với
các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng
ngƣời đọc, gợi lên trong lòng họ những xúc cảm, tình cảm ấn tƣợng, hình ảnh
về sự vật đƣợc miêu tả.
1.1.3.3. Văn miêu tả ở tiểu học
Một bài văn miêu tả hay không những phải miêu tả sinh động, rõ nét đối
tƣợng miêu tả mà còn thể hiện đƣợc trí tƣởng tƣợng, cảm xúc và đánh giá của
ngƣời viết với đối tƣợng đƣợc miêu tả. Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu
cầu tả các đối tƣợng mà các em yêu mến, thích thú. Vì vậy, qua bài văn miêu
tả, học sinh phải gửi gắm tình cảm của mình với đối tƣợng đƣợc tả.
Miêu tả trong chƣơng trình tiểu học bao gồm:
Tả đồ vật
Tả cây cối
Tả con vật
Tả cảnh
Tả ngƣời

15


a. Tả đồ vật
Đối tƣợng của văn miêu tả đồ vật là những vật gần gũi, thân thiết, với
các em. Những đồ vật đó có thể là cái trống, cái cặp, cái bút, cái bàn… Chúng
là những đồ vật vô tri vô giác nhƣng lại rất gần gũi và có ích đối với các em.
Yêu cầu của các bài văn miêu tả lớp 5 là: văn tả đồ vật yêu cầu học sinh
biết quan sát và rút ra đƣợc các đặc điểm và hình dáng, kích thƣớc, màu sắc,
công dụng… của đồ vật mà mình miêu tả. Đối với những đồ vật có nhiều bộ
phận, các em cần tập trung tả những bộ phận quan trọng nhất. Đó chính là
những nét tiêu biểu để phân biệt đồ vật này với đồ vật khác. Và tình cảm của
các em phải gửi gắm vào những đồ vật đó. Có nhƣ vậy, các đồ vật ấy mới
hiện lên trong cuộc sống một cách sinh động, hấp dẫn.
b. Tả cây cối
Mục đích của các đề văn tả cây cối là nhằm giúp cho học sinh tập quan
sát và thể hiện bằng ngôn từ thế giới thực vật quen thuộc xung quanh mình.
Đối tƣợng của văn miêu tả cây cối là những cây trồng xung quanh học
sinh. Đó có thể là cây cho bóng mát, cây hoa, cây ăn quả… Chúng đều là
những cây có ích và gần gũi, thân thiết với các em. Mỗi loại cây có một hình
dáng, đặc điểm, lợi ích nhất định. Vì vậy, khi miêu tả các em cần làm nổi bật
những đặc điểm này. Ví dụ: tả cây ăn quả cần tập trung tả hình dáng của cây
và mùi vị của quả, tả cây lấy hoa cần tả màu sắc, mùi hƣơng của hoa…
Cây cối luôn nằm trong một cái nền khung cảnh thiên nhiên. Vì vậy,
khi miêu tả cây cối cần gắn với miêu tả khung cảnh xung quanh nhƣ chim
chóc, mây trời, ao hồ… và cả con ngƣời. Cần làm nổi bật lợi ích của chúng
cũng nhƣ tình cảm yêu mến, gắn bó của mình đối với chúng, thể hiện một
cách sinh động đối tƣợng miêu tả.

16


c. Tả loài vật
Mục đích của các đề văn tả loài vật nhằm giúp học sinh tập trung quan
sát, phát hiện những đặc điểm của các loài động vật quen thuộc xung
quanh mình.
Đối tƣợng của văn miêu tả loài vật là những con vật quen thuộc, gần gũi
với học sinh nhƣ: con mèo, con chó, con lợn hay con gà… Mỗi con vật đều có
những đặc điểm riêng về hình dáng, đặc tính giống nòi riêng. Vì vậy, khi
miêu tả cần chú ý miêu tả những nét tiêu biểu của loài vật nhƣ màu sắc, hình
dáng, tính nết… Những con vật đƣợc miêu tả là những con vật gần gũi, thân
thiết và có ích. Vì vậy, bài văn phải thể hiện đƣợc tình cảm yêu mến, sự chăm
sóc của học sinh đối với chúng.
d. Tả cảnh
Mục đích của bài văn tả cảnh giúp các em biết quan sát và tái hiện cảnh
vật bằng ngôn từ, làm cơ sở để các em học tốt các bài văn tả cảnh sinh hoạt và
cảnh thiên nhiên ở lớp 6 cũng nhƣ tạo cơ sở để các em nhận thức và cảm thụ
tổng quát đối với thế giới xung quanh.
Đối tƣợng của bài văn tả cảnh là những cảnh vật quen thuộc xung quanh
các em. Đó có thể là một cánh đồng, một dòng sông, một đêm trăng hay là
những danh lam thắng cảnh của đất nƣớc… Mỗi cảnh đều nằm trong một
không gian và thời gian, nó làm nền cho cảnh vật đƣợc miêu tả. Khi tả cần
nêu đƣợc khung cảnh chung này và đặc biệt tập trung tả nét tiêu biểu của
cảnh. Khi tả có thể lồng với tả ngƣời, tả vật… cho bài văn thêm sinh động và
làm cho ngƣời đọc thấy đƣợc cảm xúc trƣớc những cảnh đó. Cần làm cho
cảnh vật ấm tình ngƣời.

17


e. Tả người
Mục đích của các bài văn tả ngƣời ở lớp 5 nhằm giúp học sinh tập trung
quan sát và miêu tả con ngƣời với tất cả những đặc điểm về ngoại hình và
tính nết.
Đối tƣợng miêu tả là những ngƣời thân trong gia đình, họ hàng, bạn bè,
thầy cô, những tấm gƣơng ngƣời tốt, việc tốt để lại nhiều ấn tƣợng tốt đẹp cho
các em.
Để tả ngƣời, trƣớc tiên các em cần chú ý quan sát ngƣời định tả. Khi
làm bài, các em các em cần hình dung đƣợc những gì đã quan sát đƣợc về
hình dáng, cử chỉ, tính nết… về ngƣời đó, thể hiện nó một cách sinh động,
tế nhị.
1.1.3.4. Văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn lớp 5
Văn miêu tả đƣợc dạy ở lớp 5 trong 30 tiết (7 tiết ở học kì I, 23 tiết ở học
kì II). Sau khi đƣợc làm quen với các kiểu bài miêu tả ở lớp 4: tả đồ vật, tả
cây cối, tả con vật, các em lần lƣợt đi sâu hơn vào từng kiểu bài đó và đƣợc
học thêm 2 kiểu bài nữa là: tả cảnh và tả ngƣời.
Trong các kiểu bài nói trên, học sinh đều đƣợc rèn luyện các kĩ năng cơ
bản: quan sát đối tƣợng miêu tả, lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả, xây dựng
đoạn văn và bài văn miêu tả. So với các bài tập miêu tả đơn giản ở lớp 4, học
sinh lớp 5 đƣợc học một cách hệ thống về kĩ năng xây dựng văn bản hành
chính (gồm ba phần: mở bài, thân bài và kết bài).
1.1.4. Đặc điểm của học sinh lớp 5
Cấp tiểu học là cấp học nền tảng, tạo dựng cho học sinh tất cả những gì
thuộc về năng lực, phƣơng pháp, cách thức ban đầu, tạo dựng một sức sống
dài lâu trong cuộc đời của nó.
Ở cấp học này, đặc biệt là học sinh lớp 5, các em có quan hệ giao lƣu
rộng hơn, hiểu biết phong phú đa dạng hơn (so với những lớp dƣới). Vì vậy,

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×