Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệmbàn thêm về việc ra đề chấm trả bài tập làm văn

Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn

1.MỞ ĐẦU:
1.1 Lý do chọn đề tài:
Bộ GD- ĐT đã từng nhận xét tình hình giảng dạy ở môn Tập làm văn như sau:
“Thiếu sót lớn nhất trong việc giảng dạy Tập làm văn hiện nay là việc chấm bài.Bên
cạnh một số đông tận tụ, có một số giáo viên vẫn chưa có đầy đủ tinh thần trách nhiệm
trong việc chấm bài học sinh. Nhiều giáo viên chỉ chấm bài qua loa, nhận xét chung
chung, bỏ mặc nhiều lỗi của học sinh trong bài làm. Thậm chí một số giáo viên chấm
không đủ bài Tập làm văn theo quy định.Hiện nay có quá nhiều học sinh viết văn
kém.Tình trạng đó chính là hậu quả của việc chấm bài chưa đầy đủ tinh thần trách
nhiệm của giáo viên.
Đối với giáo viên chưa lo đến việc chấm bài thì phương pháp chấm cũng ít tác dụng
đối với học sinh. Giáo viên chưa yêu cầu học sinh tự chữa lỗi trong bài làm văn của
mình, chưa chú ý cân đối đến việc khích lệ những cố gắng và chỉ rõ những sai sót về
nội dung và hình thức diễn đạt trong bài làm của học sinh. Giáo viên chưa thực hiện
đúng yêu cầu quy định là cho học sinh làm bài vào vở (hoặc làm vào giấy rời thì đính
vào từng tập) để giáo viên có thể theo dõi sát sự chuyển biến của học sinh qua từng bài
làm”.
Theo công văn hướng dẫn dạy- học môn Văn- Tiếng Việt đã nhấn mạnh: “ Đối với
phân môn Tập làm văn, giáo viên phải hình thành kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn

ý và kĩ năng hành văn cho học sinh. Việc ra đề Tập làm văn phải có đáp án, sát hợp với
chương trình, làm sao đa số học sinh có học lực trung bình đều có thể làm được bài.
Việc chấm bài Tập làm văn phải được tiến hành nghiêm túc, chú ý gạn đục, khơi trong,
trân trọng những ý tưởng, những phát hiện mới lạ của học sinh. Những bài làm hoàn
chỉnh, hành văn lưu loát đáp ứng những yêu cầu của đề bài phải được cho điểm
cao( thang điểm 9, 10) đề khuyến khích các em vươn lên trong học tập”.
Qua quá trình giảng dạy, đã tiến hành dự giờ và tham khảo giáo án các đồng nghiệp
tôi nhận thấy:
- Về giáo án, một số giáo viên ra đề Tập làm văn cho học sinh đáp án biểu điểm
chấm hết sức tùy tiện, qua loa đại khái(hình thức đối phó gọi là “có”). Từ đó dẫn đến
việc chấm bài một cách cảm tính, thiếu chính xác.
- Về chấm bài, nhận xét, cho điểm qua loa đại khái thiếu tinh thần trách nhiệm :

Trang 1


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
+ Nhận xét chung chung không cụ thể: không sữa lỗi hoặc bỏ qua nhiều lỗi
trong bài làm của học sinh, viết tắt, cẩu thả trong phần “lời phê”.
+ Cho điểm: Chỉ tập trung điểm 4, 5, 6 ngại cho điểm 8 , 9, 10 làm cho một số
học sinh có bài làm tốt thiệt thòi trong quá trình làm văn, góp phần làm cho tâm lí các
em không thích học văn, vì cố gắng cũng chẳng bao giờ đạt điểm cao.
- Về trả bài: Tôi thấy một số thầy cô giáo chưa có sự chuẩn bị chu đáo để giờ trả bài
thực sự có hiệu quả: Giáo án tiết trả bài sọan quá ngắn gọn với những lời nhận xét
chung chung, bài nào cũng như bài nào, không có những nhận xét cho những bài làm
cụ thể. Nên khi lên lớp giáo viên chưa có những nhận xét xác đáng, trả bài thiếu tính
hệ thống, không có phần sữa lỗi trong bài làm của học sinh.
Do đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Bàn thêm về việc ra đề - chấm - trả bài tập
làm văn” để giáo viên Ngữ Văn cùng nhau bàn bạc thấu đáo để công việc này thực sự
có hiệu quả hơn.
1.2.Mục đích nghiên cứu:
- Mục đích của đề tài này là theo dõi sự tiến bộ của các em qua từng bài làm,
khắc phục những hạn chế trong bài làm của các em để điều chỉnh phương pháp dạy
phù hợp với đối tượng học sinh.Giúp học sinh học sinh đúc rút kinh nghiệm, phân tích
cái hay cái dở trong bài làm của mình, nêu phương hướng phấn đấu sửa chữa và vươn
lên ở những bài sau.Từ đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của các em góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn ở bậc THCS.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khối 6 đến khối 9 của Trường THCS Đăk Drô .
1.4. Phương pháp nghiên cứu:


- Nghiên cứu các tiết tập làm văn trong SGK, SGV, sách chuẩn kiến thức kĩ
năng môn Ngữ văn từ khối 6 đến khối 9.
Đọc, nghiên cứu tài liệu từ các nguồn: sách, báo, internet
- Thu thập dẫn chứng qua tiết dạy của bản thân và đồng nghiệp.
- Nghiên cứu và thực nghiệm việc ra đề, chấm , trả bài qua các tiết tập làm văn
cụ thể.
1.5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
- Về môn Ngữ văn có rất nhiều vấn đề để nghiên cứu song ở đây tôi chỉ chọn
nghiên cứu việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn mà thôi.

Trang 2


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
2. NỘI DUNG:
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề:
Làm văn là giờ học mang tính thực hành tổng hợp ở trình độ cao của ba phân môn :
Tiếng Việt- Đọc văn và làm văn.Đây là gờ học giờ học thể hiện rõ nhất kết quả dạy và
học môn ngữ văn của thầy và trò. Nó góp phần quan trọng trong việc trực tiếp hình
thành mục tiêu : Phát triển năng lực tạo lập văn bản với yêu cầu không những đúng mà
còn phải hay cho học sinh. Làm văn không những rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng
từ, đặt câu, thực hành và vận dụng những gì đã học trong giờ Ngữ văn vào tạo lập một
văn bản mà còn chứa đựng trong nó cả nhận thức, tình cảm, cá tính, tâm hồn, năng lực
tư duy của các em . Mỗi bài Làm văn là một sản phẩm tổng hợp về nhân cách cá tính
của mỗi học sinh. Do đó ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn là khâu quan trọng để đánh
giá khách quan những sáng tạo nhỏ của các em học sinh, đánh khả năng tiếp thu bài
học lý thuyết mà giáo viên truyền đạt cho để áp dụng vào thực hành. Đây cũng là
khâu quan trọng giúp cho học sinh nhận ra những ưu khuyết điểm trong bài làm của
mình để rút kinh nghiệm cho những bài viết lần sau tốt hơn.
Tuy nhiên trên thực tế, một số giáo viên còn coi nhẹ công tác ra đề - chấm- trả bài
Tập làm văn. Giáo viên ra đề chưa sát với đối tượng học sinh ở vùng miền mình giảng
dạy, chấm bài qua loa đại khái thiếu tâm huyết, tiết trả bài được thực hiên một cách
đơn giản chưa có sự chuẩn bị chu đáo để giờ trả bài thực sự có hiệu quả. Giáo án tiết
trả bài sọan quá ngắn gọn với những lời nhận xét chung chung, bài nào cũng như bài
nào, không có những nhận xét cho những bài làm cụ thể. Do đó, khi lên lớp, giáo viên
chưa có những nhận xét xác đáng, trả bài thiếu tính hệ thống, không có phần sữa lỗi
trong bài làm của học sinh. Từ đó, dẫn đến học sinh chưa ý thức đúng vai trò của tiết
trả bài. Chỉ mong ngóng mình được bao nhiêu điểm để mà buồn mà vui thôi chứ chưa
có ý thức phát huy những mặt tốt và khắc phục những thiếu sót trong bài làm của
mình.
Từ những vấn đề trên, để khắc phục những hạn chế của việc ra đề, chấm, trả bài Tập
làm văn tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Bàn thêm về việc ra đề - chấm - trả bài Tập
làm văn”.
2.2.Thực trạng của vấn đề:
Từ năm học 2008-2009, tôi được phân công về công tác tại trường THCS Đăk Drô
– xã Đăk Drô – huyện Krông Nô. Từ đó đến nay, tôi đã được giảng dạy môn Ngữ văn

Trang 3


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
từ khối 6 đến khối 9. Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy thực trạng của việc ra đề chấm - trả bài Tập làm văn như sau:
a.Thuận lợi khó khăn:
a.1.Thuận lợi:
Hiện nay, tất cả bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đang thực hiện đổi
mới một cách toàn diện trong đó có đổi mới phương pháp dạy học. Phương pháp dạy
học mới đòi hỏi: “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “phát huy tính tích cực chủ
động, sáng tạo của người học”. Để thực hiện tốt công tác đổi mới phương pháp dạy
học trong môn Ngữ văn, Phòng Giáo dục huyện Krông Nô, trường THCS Đăk Drô
thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên môn,
tay nghề cho giáo viên. Qua các buổi tập huấn này, tôi đã rút ra được nhiều bài học bổ
ích phục vụ cho công tác giảng dạy môn Ngữ văn cũng như thực hiện việc ra đề chấm - trả bài Tập làm văn..
- Mặt khác, hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, đây chính là
mảnh đất màu mỡ để tôi tự học hỏi, nghiên cứu khi thực hiện đề tài này.
- Bên cạnh đó,ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp, các em học sinh đã
tạo động lực to lớn cho tôi thực hiện đề tài này
a.2. Khó khăn:
- Học sinh yêu môn văn, học giỏi môn văn ngày ngày càng ít, giáo viên dạy văn
không được học sinh hưởng ứng nhiều. Chất lượng của các bài viết của học sinh chưa
cao, chưa rèn luyện được kỹ năng hoàn thành một bài viết. Bài viết của học sinh mắc
nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đề bài, không biết triển khai bài
viết theo hướng nào, cách dùng từ, đặt câu, dựng đoạn …thiếu trong sáng và không
hợp lí . Học sinh chưa thấy được những điểm mạnh, điểm yếu trong bài làm của mình.
Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện đề tài.
b.Thành công, hạn chế.
b.1.Thành công:
Đề tài này đã gúp tôi theo dõi sát sự tiến bộ, những hạn chế của các em qua từng
bài làm, để điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh. Đề tài đã
giúp học sinh học sinh đúc rút kinh nghiệm, phân tích cái hay cái dở trong bài làm của
mình, có phương hướng phấn đấu sửa chữa và vươn lên ở những bài sau. Do đó chất

Trang 4


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
lượng bài viết của học sinh được nâng cao rõ rệt, phát huy tính tích cực chủ động sáng
tạo của các em trong giờ học ,góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn
ở bậc THCS.
b.2. Hạn chế:
Một số học sinh chưa ý thức hết tầm quan trọng của tiết trả bài nên chưa có ý thức
rút kinh nghiệm cho bài viết lần sau của mình. Do đó trong các bài làm vẫn còn mắc
nhiều lỗi như dùng từ, đặt câu, triển khai các ý lộn xộn , sắp xếp bố cục bài làm chưa
khoa học…
c. Mặt mạnh, mặt yếu.
c.1. Mặt mạnh :
Là giáo viên được trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở tất cả các khối lớp của
bậc THCS, tôi có điều kiện để nắm rõ những mặt được và chưa được trong bài làm của
học sinh. Từ đó tôi luôn luôn có ý thức học tập trau dồi kiến thức, tìm hiểu nắm bắt đối
tượng học sinh của mình để thực hiện công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn một
cách tốt nhất.
c.2. Mặt yếu:
Tài liệu tham khảo bồi dưỡng về công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn còn rất
ít. Công tác ra đề, chấm trả bài Tập làm văn hầu như không có một tài liệu nào hướng
dẫn cụ thể mà hầu hết giáo viên tự mày mò, tự học hỏi để thực hiện.
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
Theo tác giả Lê Ngọc Trà, dạy văn tức là: “ khai trí, khai tâm”.Thật vậy, văn có một
tính chất đặc biệt, đó là tính toàn vẹn của nhận thức về thế giới, nó có cả nhận thức về
lí trí và tình cảm. Thực tế môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong nhà trường. Học
văn không chỉ học những tri thức về ngôn ngữ, về lí luận ,về lịch sử văn chương mà
cốt lõi của việc học văn là bồi dưỡng và phát huy năng lực của mỗi con người: năng
lực tư duy, năng lực cảm xúc và năng lực cảm thụ.Tầm quan trọng đó ai cũng biết. Thế
nhưng trên thực tế những năm gần đây, học sinh yêu môn văn ngày càng ít đi. Những
giờ dạy văn không còn được học sinh đón nhận một cách hứng thú say mê mà cảm
thấy chán nản, gò bó. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do nhiều nguyên nhân
nhưng theo tôi chủ yếu là bắt nguồn từ giáo viên.Một số giáo viên chưa biết cách dẫn
dắt, hướng dẫn học sinh cảm nhận một vấn đề văn chương hay có chăng cũng thực

Trang 5


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
hiện một cách qua loa không đến nơi đến chốn, không có sự động viên, khích lệ dù đó
là sự sáng tạo,cảm thụ rất nhỏ bé của các em.
Đặc biệt trong việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn , một số giáo viên chưa thực
sự đầu tư và quan tâm đúng mức. Hơn nữa, giáo viên không có tài liệu soạn mẫu hay
mô hình bài soạn để tham khảo, thậm chí ngay cả các đợt tập huấn việc soạn giáo án
tiết trả bài như thế nào cũng không thấy đề cập. Chưa có sự thống nhất về cách soạn
giảng và chưa coi trọng đến mục tiêu và nhiệm vụ của công tác ra đề - chấm - trả bài
Tập làm văn. Tiết trả bài ít khi được dự giờ,đánh giá.Tổ chuyên môn chưa thực hiện
đầy đủ vai trò, chức năng của mình. Mặt khác, học sinh có thói quen học vẹt bài văn
mẫu mà không có kĩ năng viết văn . Bài viết mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định
được yêu cầu của đề bài , không biết triển khai bài viết theo hướng nào, cách dùng từ ,
đặt câu,dựng đoạn …thiếu trong sáng và không hợp lí . Học sinh chưa thấy được
những điểm mạnh, điểm yếu trong bài làm của mình.
Chính vì vậy công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn cần phải được nhìn nhận
đúng và thực hiện một cách nghiêm túc để đạt hiệu quả tốt hơn.
e. Phân tích, đánh giá thực trạng:
Theo khảo sát Ngữ văn năm 1991-1992 của sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho
thấy trong số 897 bài chỉ có 2% không có lỗi chính tả, 0,6% không có lỗi về câu và chỉ
có 4,5% viết sạch sẽ không tẩy xóa.
Còn bản thân tôi, khảo sát số học sinh trong hai năm học: 2011-2012, 2014-2015
thì: năm học 2011-2012: Trong 78 học sinh chỉ có 2,6% không có lỗi chính tả, 0%
không mắc lỗi về câu, 3,8% viết sạch đẹp không tẩy xóa. Năm 2014-2015: Trong 64
học sinh tôi khảo sát có 1,6% không có lỗi chính tả,1,6% không mắc lỗi về câu, 3,1%
viết sạch đẹp không tẩy xóa. Chất lượng của các bài viết của học sinh chưa cao, chưa
rèn luyện được kỹ năng hoàn thành một bài viết. Bài viết mắc nhiều lỗi chính tả,
không xác định được yêu cầu của đề bài, không biết triển khai bài viết theo hướng nào,
cách dùng từ , đặt câu, dựng đoạn …thiếu trong sáng và không hợp lí . Học sinh chưa
thấy được những điểm mạnh, điểm yếu trong bài làm của mình.
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa thật sự đầu tư thời gian và tâm sức vào việc ra
đề, chấm và trả bài Tập làm văn .
Để đỡ mất thời gian, giáo viên thường lấy những đề có sẵn trong sách giáo khoa,
sách những bài văn mẫu và ở các tài liệu khác để ra cho học sinh mà không cần quan

Trang 6


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
tâm đến đối tượng học sinh của mình. Đáp án, biểu điểm lập ra rất sơ sài ,không khoa
học mà để đối phó, để gọi là cho có.
Bên cạnh đó việc chấm bài, giáo viên cũng thực hiện chấm qua loa và thiếu chuẩn
xác:
- Chấm bài theo cảm tính, điểm thiếu chính xác, do không có đáp án và biểu
điểm chấm bài cụ thể.
- Chấm bài thiếu chính xác do không đọc kỹ, thiếu tôn trọng kết quả, công sức
làm bài của học sinh . Có khi chỉ đọc mở bài, kết bài, liếc sơ qua phần thân bài rồi cho
điểm.
- Nhận xét bài làm của học sinh qua loa đại khái, đôi khi không nhận xét chỉ
cho điểm. Nhiều giáo viên còn viết tắt, viết láu trong phần lời phê và bỏ qua phần gạch
lỗi trong bài làm của học sinh ( Đến lỗi chính tả cũng không gạch chân…)
Giờ trả bài,so với các giờ khác, có lẽ giờ trả bài lại là giờ hiệu quả kém nhất, giáo
viên thực hiện tùy tiện nhất, học sinh làm việc uể oải nhất. Hầu như giáo viên trả bài
không theo một hệ thống nào cả, trúng bài nào nhận xét bài đó, có giáo viên chỉ tập
trung cho học sinh lập dàn ý mà không nhận xét một cách cụ thể, không cho học sinh
sửa lỗi, trong khi đó lời phê lại rất chung. Kết quả là học sinh chẳng nắm được ưu,
khuyết điểm cụ thể trong bài làm của mình là gì để biết hướng sửa chữa và tiến bộ.
Các em chỉ ngồi chờ giáo viên phát bài, xem mình được điểm mấy để mà buồn hoặc
vui.Một số giáo viên cho học sinh làm bài trên giấy không chịu đính lại thành tập .
Còn có tình trạng học sinh xé bài làm,vứt bài bị điểm xấu một cách vô thức. Phần lớn
là do giờ trả bài chưa làm trọn yêu cầu của nó.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi mạnh dạn : Bàn thêm về việc ra đề - chấm - trả bài
Tập làm văn như sau.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Mục tiêu của đề tài này là theo dõi sự tiến bộ của các em qua từng bài làm,
khắc phục những hạn chế trong bài làm của các em để điều chỉnh phương pháp dạy
phù hợp với đối tượng học sinh. Giúp học sinh học sinh đúc rút kinh nghiêm, phân
tích cái hay cái dở trong bài làm của mình, nêu phương hướng phấn đấu sửa chữa và
vươn lên ở những bài sau.Từ đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của các em
góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn ở bậc THCS.

Trang 7


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
Để đạt được mục tiêu đó tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
b.1.Ra đề:
Trước đây, tất cả các giáo viên Ngữ văn đều phải ra đề, lập đáp án biểu điểm chấm
mới thấy được cái khó của việc ra đề tập làm văn.Ra được một đề văn không có gì sai
sót là việc đã khó rồi, tự mình lập một đáp án chính xác và lập biểu điểm chấm cho
đúng với trình độ của học sinh mình lại càng khó hơn. Đó là cái khó của một thời ít
các loại sách dàn bài, sách những bài văn mẫu, các bộ đề.
Ngày nay, các nhà sách bán nhan nhản các loại sách ra đề, có đáp án sẵn, giáo viên
chỉ cần dựa vào đề và đáp án có sẵn để ra đề và đánh giá học sinh. Làm như vậy rất
thuận tiện cho giáo viên và đỡ được bao nhiêu công sức của giáo viên. Nhưng có lẽ
chúng ta cần xem xét lại vì tôi thiết nghĩ: Việc giáo viên tự ra đề dựa trên thực tiễn học
sinh của mình, dựa vào yêu cầu của chương trình, hoàn cảnh dạy và học theo đúng
hoàn cảnh vùng miền, từ tình hình chính trị, văn hóa xã hội… Để ra một đề văn rồi
xây dựng đáp án biểu điểm chấm thích hợp sẽ có tác dụng bổ ích về nhiều mặt cho
giáo viên học sinh .
Ví dụ:Thay vì những có sẵn về văn thuyết minh như: “Cây lúa Việt Nam”, “Chiếc
nón lá việt Nam” , “Tà áo dài Việt Nam”… Giáo viên huyện Krông Nô có thể ra đề :
“Cây cà phê trên quê hương Đăk Nông” thật gần gũi và bổ ích cho cả giáo viên lẫn học
sinh.
Tiếc rằng đến nay số giáo viên tự ra đề Tập làm văn không nhiều. Bởi hầu hết chúng
ta chỉ chú ý đến sự tiện lợi, đỡ mất thời gian trong khâu ra đề mà quên mất rằng : Ra
đề là một thước đo năng lực văn chương, năng lực sư phạm và trình độ nhiều mặt khác
của người giáo viên Ngữ văn” (Giáo sư Phan Trọng Luận).
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến trong hội nghị đổi mới phương pháp dạy học văn và
những vấn đề bức thiết về dạy Tập làm văn ở bậc Trung học: “Đã đến lúc người giáo
viên cần nhận thức rõ : “Ra đề cho học sinh làm bài là một khâu hết sức quan trọng
cần được tiến hành một cách nghiêm túc và có tính toán kĩ”.
b.2. Yêu cầu của việc ra đề Tập làm văn:
“Cần đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học, tính sư phạm và vừa sức , xuất phát từ
kiến thức trung bình trong sách giáo khoa và trình độ trung bình của học sinh trong
từng lớp.Tránh tình trạng ra đề mà nhiều học sinh bị điểm dưới trung bình.”

Trang 8


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
- Ra đề Ngữ văn phải kiểm tra được học sinh về các kĩ năng sau:
+ Kĩ năng sử dụng ngôn từ: dùng từ, đặt câu, lựa chọn ngữ liệu, sử dụng dấu câu.
+ KĨ năng văn học: Bài làm của học sinh là kết quả cụ thể của việc học tập văn
học ( các tiết văn bản) và ngôn ngữ ( các tiết tiếng Việt) của học sinh cũng chính là kết
quả cuối cùng để đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn.

Muốn vậy, đề phải đạt

những yêu cầu sau:
Thứ nhất: Đề Tập làm văn trước hết phải có tính tư tưởng:
Đề làm văn trước hết phải giáo dục cho học sinh một điều gì đó trong cuộc sống.
Đối với văn miêu tả, kể chuyện vấn đề không chỉ là tả cái gì, kể cái gì? Mà quan trọng
hơn là tả nhằm mục đích gì? Kể nhằm mục đích gì? Mục đích phải nằm ngay trong
điều mà các em tả, trong câu chuyện mà các em kể. Đối với văn nghị luận cũng vậy:
Mục đích về tư tưởng phải nằm ngay trong vấn đề ra cho các em nghị luận.
Muốn vậy cần ra những đề gắn liền với những sự việc, hiện tượng mà các em gần
gũi, những câu chuyện mà các em thấy và nghe được; những vấn đề văn học, chính
trị , xã hội có tính giáo dục các em về lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương , yêu đồng bào,
yêu bạn bè….
Lưu ý: Tính tư tưởng của bài phải phù hợp với nội dung cần tả, cần kể hoặc cần
nghị luận, không có tính chất gò ép.
- Tính tư tưởng cũng cần gắn với đời sống của các em trong hoàn cảnh đất nước
hiện nay.
Ví dụ: Ra đề miêu tả, mục đích miêu tả cần nằm ngay trong đối tượng được lựa
chọn miêu tả. Thường là cảnh, vật, con người… tươi vui, đẹp đẽ, đáng yêu, đáng mến:
“Tả một người thầy(cô) giáo mà em yêu quý”.
“Tả một người thân yêu trong gia đình”.
“Tả cảnh ngôi trường em đang học”.
“Tả cảnh bình minh trên quê hương em vào một buổi sáng đẹp trời”.
Ra đề kể chuyện:
“Kể lại một việc làm tốt của em hoặc bạn em.”
“Kể lại một buổi sinh hoạt lớp đầy ý nghĩa”.
“Kể lại niềm vui của em trong ngày khai trường”.
Kể cả những chuyện tưởng tượng cũng cần lưu ý dến tính tư tưởng :
“Cái bàn tự kể lại cuộc đời phục vụ các bạn học sinh học tập tốt”.

Trang 9


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
“Chiếc khăn quàng tự kể về cuộc đời mình”.
Ra đề thuyết minh:
“Cây bút nhỏ bé mà thật tiện ích. Hãy thuyết minh về cây bút”.
“ Cây cà phê trên quê hương Đắk Nông”.
Ra đề nghị luận:
“ Hãy phân tích một tác phẩm văn học mà em yêu thích”.
“ Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công
cộng làm ảnh hưởng tới môi trường. Em hãy đặt một nhan đề cho hiện tượng ấy và
viết bài văn nêu suy nghĩ của mình”.
Thứ 2: Đề Tập làm văn phải có tính khoa học:
* Về nội dung:
Vấn đề mà đề bài nêu ra phải cụ thể , phạm vi giới hạn vấn đề phải rõ ràng. Ngoài
ra, vấn đề của đề bài còn phải phù hợp với thể loại văn. (Đối với đề miêu tả cần phải
nêu rõ tả cái gì? Ở đâu? Lúc nào? Đối với văn kể chuyện phải nêu rõ kể việc gì? Của
ai? Lúc nào? Ở đâu?. Đối với văn thuyết minh : thuyết minh đối tượng nào? Yêu cầu
thuyết minh là gì? Đối với văn Nghị luận phải nêu rõ: Nghị luận vấn đề gì? Phạm vi
nghị luận (Vấn đề đưa ra nghị luận của tác giả nào?Ở sách nào hay ở đâu? Vấn đề nghị
luận thuộc lĩnh vực nào trong đời sống?...)
*Về hình thức:
Từ ngữ trong đề bài phải chọn lọc, trong sáng, dễ hiểu, tránh dùng những từ ngữ
chung chung mơ hồ làm học sinh dễ bị hiểu lầm. Kết cấu câu văn phải rõ ràng, đúng
ngữ pháp và không được sai chính tả. Nếu có xuất xứ (đối với bài văn nghị luận ) thì
phải tra cứu cẩn thận, không được ghi vào đề những điều mà giáo viên chỉ nhớ mang
máng, thiếu xác thực.
Thứ 3: Đề Tập làm văn phải có tính sư phạm và tính vừa sức:
Đầu tiên, đề Tập làm văn phải gây hứng thú cho học sinh. Điều đó thể hiện trước hết
trong nội dung đề bài. Đó là nội dung vừa nâng cao vốn hiểu biết, vốn sống cho học
sinh, vừa phát triển tư duy, giáo dục thẩm mĩ, tư tưởng cho các em.
Một đề văn có tính sư phạm cao còn thể hiện ở chỗ nó phù hợp với vốn hiểu biết, vốn
sống, vốn ngôn ngữ sẵn có của học sinh.Trước đề bài học sinh tự thấy nếu mình cố
gắng làm bài thì có thể làm được bài hay.

Trang 10


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
Một đề văn vừa sức cần thể hiện: đúng trọng tâm chương trình, sát đối tượng học sinh,
vừa với mức độ trung bình thực học của học sinh trong từng lớp, ở từng thời gian cụ
thể: Kết hợp kiểm tra hiểu biết với khả năng vận dụng kiến thức, gắn với đời sống xã
hội và tâm lí lứa tuổi….
Một đề văn vừa sức học sinh cũng là đề văn được diễn đạt sáng rõ, ngắn , không
thừa ý, thừa lời, không tạo sự hiểu lầm làm học sinh xa đề, lạc đề khi làm bài.
Một đề văn có tính sư phạm còn thể hiện ở chỗ nó tạo điều kiện cho học sinh sáng
tạo, thể hiện cá tính của mình chứ không phải chép nguyên văn bài văn đã có sẵn.
Không ra những đề quá tầm suy nghĩ của các em, khiến các em phải có những suy
nghĩ già trước tuổi ( nhất là văn nghị luận).
b.3. Hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu đề, tìm ý để định hướng cho học sinh:
- Tìm hiểu đề: Trước hết phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu thể, loại văn của đề.
Thường thường, người ra đề nêu yêu cầu về loại, thể một cách trực tiếp nhưng đôi khi
người ra đề yêu cầu một cách gián tiếp, học sinh sẽ lúng túng nếu không được hướng
dẫn.
Ví dụ: Với văn miêu tả không nhất thiết phải cứ nêu rõ: “Hãy tả lại..” mà “ Hãy ghi
lại những điều quan sát của em về cảnh vật trên”, hoặc “ Cảnh vật trên đã hấp dẫn em
như thế nào?”
- Xác định nội dung cơ bản của đề: Đây là việc quan trọng nhất trong quá trình tìm
hiểu đề. Nội dung cơ bản của đề thường thể hiện trong một số từ ngữ quan trọng, cần
được đặc biệt chú ý. Học sinh cần tự hỏi: Đề yêu cầu tả cái gì? Kể cái gì? Thuyết minh
về cái gì? Nghị luận vấn đề gì? Từ ngữ nào yêu cầu kể, tả, thuyết minh, nghị luận đó?
Ví dụ: Đề ra: “Hãy tả lại vườn cà phê vào mùa hoa nở rộ”
Trong đề văn này có hai ý: Đối tượng miêu tả( vườn cà phê), thời điểm miêu tả (khi
mùa hoa nở rộ).
- Xác định giới hạn đề: hiện nay, học sinh chưa có thói quen tìm hiểu đề một cách
tỉ mỉ.Trước một đề văn, các em thường có thái độ coi thường cho là đề dễ, hoặc hoảng
sợ cho là đề khó. Nhất là văn nghị luận, các em có thể tìm được luận điểm chính song
khi phân chia luận điểm thành các luận cứ với mối quan hệ giữa các luận cứ, các em
lúng túng do không nắm chắc, giới hạn phạm vi vấn đề.
Đề miêu tả thường giới hạn về mục đích miêu tả,phạm vi nội dung miêu tả, về không
gian và thời gian miêu tả….

Trang 11


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
Đề kể chuyện thường giới hạn nhân vật, tình tiết, mục đích…
Đề thuyết minh thường có giới hạn về vấn đề thuyết minh, đối tượng thuyết minh,
mục đích thuyết minh…
Đề Nghị luận thường giới hạn vấn đề nghị luận, đối tượng nghị luận, nội dung nghị
luận, mục đích nghị luận.
Nắm chắc phạm vi giới hạn của đề, học sinh sẽ không bị xa đề một cách đáng tiếc.
- Tìm ý: Phương pháp tự đặt câu hỏi và tự trả lời là phương pháp tìm ý tốt nhất.
Ví dụ: Đối với văn miêu tả : nên quan sát đối tượng miêu tả theo trật tự nào? ( Trên
xuống? Dưới lên? Hay từ xa đến gần?)
Theo từng trật tự quan sát ta thấy có những chi tiết nào? Chi tiết nào đáng chú ý
nhất? Chi tiết có hình dáng , màu sắc , âm thanh gì? Nó diễn tả điều gì?

Dùng từ

ngữ, cách so sánh nào để diễn tả chi tiết đó?.....
Đối với văn kể chuyện: Câu chuyện cần có sự việc gì? Có nhân vật nào? Sự việc,
nhân vật chính nào? Cần sắp xếp theo thứ tự sự việc của các nhân vật như thế nào để
câu chuyện hấp dẫn? Cần mở đầu và kết thúc câu chuyện ra sao?...
Sau khi tìm ý xong giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý thành dàn ý, để từ đó
viết thành bài văn dựa trên dàn ý đã có. Đến đâ, điều chủ yếu là tập cho học sinh viết
đúng chính tả, dùng từ, đặt câu, dùng dấu câu cho đúng và cho thích hợp với từng thể,
loại văn.
Trong khâu diễn đạt, cần luyện cho học sinh biết chấm xuống dòng, biết dùng từ ngữ
chuyển đoạn , biết sơ kết đoạn, ý. Đặc biệt đối với phần mở bài và kết bài yêu cầu học
sinh viết nháp thành văn trước khi viết vào bài)
Cuối cùng là hướng dẫn các em đọc, kiểm tra lại bài viết của mình. Yêu cầu học
sinh dành khoảng 10 phút để thực hiện khâu này. Đây là khoảng thời gian cần thiết
giúp các em xem lại nội dung, chính tả, cách dùng từ, đặt câu để kịp thời chỉnh sửa,
bổ khuyết trước khi nộp bài. Rất nhiều học sinh coi thường, bỏ qua khâu này nên sau
khi nộp bài, trong bài làm của các em vẫn còn đầy rẫy lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,
dấu câu…
Lưu ý: Phần hướng dẫn học sinh làm bài giáo viên chỉ nên làm trong khoảng thời
gian từ 5 đến 7 phút, còn lại dành thời gian cho học sinh chủ động làm bài.
b.4. Chấm bài:

Trang 12


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
Chấm bài là để phát hiện những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, đánh giá kết
quả, rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời vạch phương hướng phấn đấu cho học sinh
trong mỗi bài làm của các em.
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa thật sự đầu tư thời gian và tâm sức vào việc
chấm bài, chấm qua loa và thiếu chuẩn xác:
- Chấm bài theo cảm tính, điểm thiếu chính xác, do không có đáp án và biểu
điểm chấm bài cụ thể.
- Chấm bài thiếu chính xác do không đọc kỹ, thiếu tôn trọng kết quả, công sức
làm bài của học sinh . Có khi chỉ đọc mở bài, kết bài, liếc sơ qua phần thân bài rồi cho
điểm.
- Nhận xét bài làm của học sinh qua loa đại khái, đôi khi không nhận xét chỉ cho
điểm. Nhiều giáo viên còn viết tắt, viết láu trong phần lời phê và bỏ qua phần gạch lỗi
trong bài làm của học sinh( Đến lỗi chính tả cũng không gạch chân…)
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của giáo sư Phan Trọng Luận: “ Để khắc phục tình
trạng chấm bài chưa tốt phải đi từ những vấn đề có ý nghĩa lí luận. Trước hết phải bàn
đến quan điểm, thái độ ứng xử của nhà giáo đối với bài làm của học sinh. Thường
thường giáo viên chỉ thấy bài làm như một kết quả học tập của học sinh phải nộp cho
giáo viên với nghĩa vụ là học trò . Và giáo viên có nghĩa vụ chấm bài đó. Trong khi đó
bài làm của các em là một sản phẩm lao động, một sản phẩm sáng tạo cực nhọc của
các em. Tiếp xúc với bài làm của các em là tiếp xúc với một tiếng nói, một con người,
đằng sau các dòng chữ các em đang hồi hộp chờ mong từng giâ, từng phút, từng giờ,
thầy cô giáo công bố kết quả lao động của mình. Với một cách nghĩ như vậy về học
sinh, giáo viên khi chấm bài sẽ có được một thái độ ứng xử đẹp đẽ, đúng đắn trước
mọi điều hay dở trong bài làm của học sinh. Nên trân trọng tìm tòi, cảm thông từng sai
sót, vừa nghiêm khắc vừa độ lượng trước từng khuyết điểm của học sinh….Thiếu cảm
thông trân trọng là điều cần tránh, đồng thời cần tránh thái độ gò ép cách suy nghĩ của
giáo viên cho học sinh. Giáo viên phải đọc kỹ, lắng nghe, tìm từng chữ, từng lời, từng
ý của học sinh trên bài làm. Không nên lấy cách nghĩ của mình để gạt bỏ phê phán học
sinh. Cần trân trọng những ý nghĩ độc đáo của học sinh để biểu dương , khuyến
khích… Tình trạng không hiểu học sinh, không thông cảm với học sinh, thiếu trân
trọng người làm bài văn nhiều khi đã tạo ra một thói quen quá khắt khe trong đánh
giá… Giáo viên thường lấy mình làm chuẩn để phán xét những bài văn của học sinh,

Trang 13


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
lấy tư duy mình để đánh giá cách suy nghĩ của học sinh, lấy ngôn ngữ mình để đòi hỏi
học sinh, khiến học sinh xa cách với giáo viên, ngại công việc làm văn trong nhà
trường”.
Do đó , khi chấm bài, giáo viên cần lưu ý một số việc như sau:
Thứ nhất: Phải có thái độ đúng đắn với bài làm học sinh. Phải coi bài làm của học
sinh dù là học sinh yếu cũng là kết quả lao động sáng tạo của các em, trong đó thể hiện
những nét cá biệt về tâm hồn,hiểu biết của từng em học sinh. Sự đánh giá đúng sẽ làm
cho các em phấn khởi tin tưởng ở việc học của mình mà cố gắng vươn lên.
Thứ hai: Phải chuẩn bị tốt đáp án và biểu điểm ( tiêu chuẩn cho điểm). Nếu giáo
viên chuẩn bị tốt tiêu chuẩn cho điểm thì việc chấm sẽ nhanh và chính xác . Tiêu
chuẩn chấm Tập làm văn là phải căn cứ vào yêu cầu của đề bài vào trình độ của học
sinh. Vì vậy trước khi làm biểu điểm chấm, giáo viên cần nghiên cứu kỹ đề bài rồi đặt
ra tiêu chí cho hai mặt của bài làm: Nội dung của bài làm ( kiến thức cần đạt) hình
thức bài làm của học sinh ( chính tả, dùng từ, đặt câu, bố cục, trình bày..). Từ đó mới
vạch ra yêu cầu của từng thang điểm. Nếu giáo viên nào kỹ lưỡng thì nên đọc lướt
một số bài làm của học sinh trước khi làm thang điểm chấm bài trong biểu điểm. Vì
biểu điểm càng sát với tình hình thực tế bài làm của học sinh bao nhiêu càng dễ chấm
bấy nhiêu.
* Kỹ thuật chấm bài:
Biết chấm chưa đủ, còn phải biết chấm như thế nào?
Thứ nhất: Phát hiện ưu điểm và phát hiện lỗi trong bài làm của học sinh.
Chấm văn thì không thể đọc lướt qua mà đọc kỹ từ đầu đến cuối bài văn. Có thế,
giáo viên mới phát hiện được từng lời hay, ý đẹp, từng cách trình bày diễn đạt tốt cũng
như từng lỗi về nội dung kiến thức đến lỗi hình thức như sai chính tả, dùng từ đặt
câu…
Việc phát hiện để tuyên dương những ưu điểm trong bài làm của học sinh: Các em
có ý văn hay, nội dung sáng tạo hay cách dùng từ đặt câu độc đáo, cách lập luận sắc
sảo, cách xây dựng hình ảnh sinh động.. . cần được thể hiện rõ trong bài chấm để kịp
thời động viên các em trong quá trình làm bài tập làm văn.
Bên cạnh đó là việc chữa lỗi cho học sinh gồm các khâu: Phát hiện lỗi, nêu tên lỗi,
giúp học sinh chữa lỗi ( Trong tiết trả bài sau).

Trang 14


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
Cần chú ý là không nên sửa lỗi ngay trong bài làm của học sinh ngay cả với lỗi
chính tả.
Muốn làm tốt phần này, giáo viên cần có một hệ thống ký hiệu chấm bài ( Được quy
ước thống nhất giữa giáo viên với học sinh ngay từu đầu năm học). Việc đặt ra kí hiệu
chấm văn nhằm tiết kiệm thời gian cho giáo viên . Mặt khác, ký hiệu còn gúp cho giáo
viên tổng kết một cách nhanh chóng và khoa học tình hình mắc lỗi của học sinh để đưa
vào bài soạn của tiết trả bài. Vì vậy kí hiệu cần có tính khoa học: gọn, giá trị biểu thị
rõ.
Ví dụ: Gạch chân dưới chữ viết: Ký hiệu sai chính tả, gạch hai gạch dưới từ dùng rồi
ghi ngoài lề chữ “dt”: Ký hiệu lỗi dùng từ, “dđ”: Ký hiệu lỗi diễn đạt, gạch chéo trên
chữ: Ký hiệu lỗi dư từ, khoanh tròn chữ cái : Ký hiệu lỗi viết tắt, viết hoa sai quy định,
đánh dấu ngoặc ngoài lề rồi ghi “ý hay” hoặc “đạt”: Ký hiệu nội dung viết tốt hoặc
diễn đạt hay đáng khen.
* Lưu ý: Giáo viên chỉ được dùng ký hiệu ( viết tắt ) trong quá trình chấm trong bài
làm của học sinh còn khi ghi lời phê không được viết tắt, không được dùng kí hiệu.
Chấm bài chính là vấn đề chuẩn bị một cách khoa học cho việc soạn tiết trả bài và
tiến hành trả bài cho học sinh sau đó. Nếu không kết hợp một cách khoa học cho việc
chấm bài và chuẩn bị trả bài cho học sinh thì giáo án trả bài sẽ hết sức sơ sài, bỏ sót
nhiều ưu khuyết điểm của học sinh, kém tính khái quát, dẫn đến giờ trả bài trở nên khô
khan hình thức thậm chí trở nên vô bổ đối với học sinh.
Để lưu lại những ưu khuyết điểm trong bài làm của học sinh đưa vào giáo án tiết trả
bài, trong quá trình chấm bài, giáo viên nên có một quyển sổ tổng hợp các ưu khuyết
điểm, ghi lại những lỗi chính tả, lỗi dùng từ, diễn đạt… điển hình để tiện cho việc chữa
lỗi trong tiết trả bài cho học sinh.
Thứ hai: Việc ghi lời phê trong bài làm của học sinh:
Chấm bài xong phải ghi nhận xét trong phần “ lời phê” trước khi ghi điểm. Lời phê
vừa biểu dương khen ngợi những mặt tốt, vừa chỉ ra những thiếu sót chính trong bài
làm của học sinh. Cần tránh những nhận xét quá chung chung, ít bổ ích cho học sinh.
Cũng nên tránh những lời phê không khích lệ được học sinh.
Do đó, lời phê cần chu đáo thiết thực với học sinh. Lời phê cần đạt một số yêu cầu
sau:

Trang 15


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
- Khoa học: Đánh giá đúng,cụ thể những ưu khuyết điểm riêng của bài làm
bằng những câu nhận xét ngắn gọn, đủ ý nghĩa…
Hình thức, câu chữ phải ngay ngắn, rõ, đẹp: Câu văn ngắn gọn nhưng không được
sai ngữ pháp ,chính tả, cách dùng từ.
-Tư tưởng : Nghiêm khắc, đúng mực nhưng vẫn động viên được các em học
sinh
* Có thể phê theo trình tự sau:
+ Nhận xét tổng quát về ưu, khuyết điểm( nội dung, hình thức).
+ So sánh sự tiến bộ so với bài trước.
+ Vạch hướng phấn đấu trước mắt để học sinh cố gắng trong bài tiếp theo.
Giáo sư Phan Trọng Luận từng nói: “ Xem lời phê có thể đoán được người dạy văn đó
như thế nào”. Do đó, giáo viên Ngữ văn chúng ta cần hết sức lưu ý trong việc ghi lời
phê cho học sinh. Nên nhớ rằng những lời phê này không chỉ đánh giá sự tiến bộ trong
quá trình học Ngữ Văn của các em mà sẽ theo các em, lưu dấu ấn trong cuộc đời học
sinh của các em. Và đôi khi những lời phê ấy không phải chỉ có học sinh đọc mà còn
cả cha mẹ các em và những người khác nữa cùng đọc, cùng suy ngẫm.
Thứ ba: Việc ghi điểm:
Lời phê rất quan trọng nhưng “điểm” lại có sức hấp dẫn học sinh ( kể cả học sinh
lớn như học sinh lớp 8, 9). Điểm phải tương ứng với lời phê, không thể lời phê tốt mà
lại điểm yếu hay ngược lại ngược lại lời phê không tốt mà lại đạt điểm cao.
Phải cho điểm dứt khoát không nên kí hiệu (-) hay (+).
Không nên chữa đi chữa lại điểm đã cho.
Cần bỏ thói quen e ngại việc cho điểm tối đa ( thang điểm 9 hoặc 10) vì đọc kỹ
những yêu cầu trong thang điểm tối đa của bài Tập làm văn, không bao giờ yêu cầu bài
làm của học sinh phải tuyệt đối hoàn hảo.
b.5. Trả bài:
Giờ trả bài Tập làm văn có thể nói là một giờ hết sức quan trọng. Đây là giờ giáo
viên thấy rõ được kết quả cụ thể giảng dạy của mình về một loại văn, cũng là giờ mà
người giáo viên phải có trách nhiệm, phải tập trung uốn nắn những yêu cầu chưa đạt
cho học sinh đối với thể văn đó. Đây cũng là giờ mà giáo viên có thể phát huy tính chủ
động, tích cực của học sinh trong việc tham gia xây dựng dàn ý và sửa lỗi.

Trang 16


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
Thế nhưng hiện nay giờ trả bài, so với các giờ khác có lẽ giờ trả bài lại là giờ hiệu
quả kém nhất, giáo viên thực hiện tùy tiện nhất, học sinh làm việc uể oải nhất. Hầu
như giáo viên trả bài không theo một hệ thống nào cả, trúng bài nào nhận xét bài dó,
có giáo viên chỉ tập trung cho học sinh lập dàn ý mà không nhận xét một cách cụ thể,
không cho học sinh sửa lỗi, trong khi đó lời phê lại rất chung. Kết quả là học sinh
chẳng nắm được ưu, khuyết điểm cụ thể trong bài làm của mình là gì để biết hướng
sửa chữa và tiến bộ. Các em chỉ ngồi chờ giáo viên phát bài, xem mình được điểm
mấy để mà buồn hoặc vui. Một số giáo viên cho học sinh làm bài trên giấy không chịu
đính lại thành tập. Còn có tình trạng học sinh xé bài làm, vứt bài bị điểm xấu một cách
vô thức. Phần lớn là do giờ trả bài chưa làm trọn yêu cầu của nó. Muốn trả bài tốt cần
thực hiện hai khâu:
Khâu thứ nhất: Chuẩn bị cho giờ trả bài:
Giáo viên chuẩn bị nội dung cho tiết trả bài thật tốt trên giáo án( tiết trả bài) với các
mục đích sau:
a. Mục tiêu cần đạt
b. Xác định lại yêu cầu của đề bài( xây dựng dàn bài)
c. Khái quát ưu, nhược điểm của bài làm với những dẫn chứng điển hình.
d. Các lỗi điển hình cần sửa chữa ( lưu tên học sinh phạm lỗi cụ thể ở từng phần để
nhận xét).
e. Bài văn hay ghi rõ bài của em nào, lớp nào.
Các ưu và khuyết điểm, các lỗi hình thức về chính tả, dùng từ đặt câu.. trong quá
trình chấm, giáo viên chịu khó lưu vào một quyển sổ riêng, giúp giáo viên tổng hợp và
hệ thống lại trong bài soạn một cách nhanh chóng, chính xác, không mất thời gian lục
lại bài làm của học sinh ( Vừa mất thời gian vừa không hiệu quả).
Khâu thứ hai:Trả bài trên lớp:
Từ giáo án đã soạn, giáo viên có thể trả bài theo trình tự sau:
a. Giáo viên ghi lại đề trên bảng, học sinh ghi lại đề vào vở.
b. Giáo viên yêu cầu học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài, xây dựng dàn bài( lưu ý:
phần này chỉ làm từ 5 đến 7 phút).
Giáo viên nhận xét ưu khuyết điểm, nêu dẫn chứng điển hình ( giáo viên tổng kết bài
làm của học sinh về mọi mặt: tinh thần bài làm, những ưu điểm chính, những cá nhân
đáng biểu dương, những câu văn hay, những hiện tượng đáng chú ý…)

Trang 17


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
- Giáo viên hướng dẫn học sinh sửa lỗi: chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt…
( thuộc những lỗi điển hình trong thực tế bài làm của học sinh)
- Hướng dẫn học sinh về nhà sữa những lỗi còn lại trong bài làm mà giáo viên đã
nhận xét, đánh dấu ( yêu cầu sửa bằng bút chì).
d. Phát bài, cho học sinh hỏi trực tiếp giáo viên về bài làm của mình, kể cả thắc mắc về
số điểm.
đ. Công bố tỉ lệ điểm, động viên, khích lệ học sinh làm bài chưa được, có điểm kém.
Tuyên dương khen ngợi những bài làm tốt, cho học sinh đọc những bài văn hay.
Điều cần chú ý khi trả bài Tập làm văn là làm thế nào cho học sinh tích cực tham
gia xây dựng trả bài, mạnh dạn nêu ý kiến và xung phong chữa lỗi, tránh tình trạng học
sinh chỉ mong ngóng, xem điểm mà không quan tâm gì đến việc xây dựng dàn ý và
sửa chữa lỗi, kể cả lỗi trong bài làm của mình.
c. Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp:
Bất kì một công việc nào muốn thành công con người ta phải có tâm huyết phải có
ý chí nghị lực. Do đó để công việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn có hiệu quả đòi
hỏi người giáo viên Ngữ văn phải có tâm huyết, có trình độ chuyên môn vững chắc,
thường xuyên học hỏi và trau dồi chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân mình. Bằng
tâm huyết, bằng trình độ của mình hãy khơi dậy trong học sinh niềm say mê, sự hứng
thú đối với mỗi giờ học văn.Để mỗi bài viết văn của các em không chỉ là nơi thể hiện
sự tiếp thu kiến thức mà còn là nơi bồi dưỡng những phẩm chất, tâm hồn, tình cảm tốt
đẹp cho các em.
2.4. Kết quả thu được:
Qua thực tế nghiên cứu giảng dạy, rút kinh nghiệm,tôi nhận thấy: Khi thực hiện
đúng yêu cầu của việc ra đề - chấm - trả bài như tôi đã trình bày ở trên , kết quả chất
lượng bài viết Tập làm văn của học sinh tiến bộ rõ rệt qua từng bài viết:
Bài viết số 1.
Số lượng
học sinh
100

Điểm giỏi

Điểm khá

2%

9%

Điểm
bình
45%

trung Điểm yếu
34%

Điểm kém
10%

Bài viết số 2.
Số lượng

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm

trung Điểm yếu

Trang 18

Điểm kém


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
học sinh
100

5%

15%

bình
47%

25%

8%

Bài viết số3.
Số lượng
học sinh
100

Điểm giỏi

Điểm khá

10%

20%

Điểm
bình
50%

trung Điểm yếu
15%

Điểm kém
5%

- Thái độ của học sinh qua các tiết trả bài:
+ Ở tiết trả bài số 1: Đa số học sinh không quan tâm đến việc nhận xét ưu
khuyết điểm trong bài làm mà giáo viên nêu ra: chỉ mong ngóng chờ phát bài, xem
điểm.
+ Đến bài viết số 2: Các em có ý thức hơn trong việc đóng góp ý kiến xây dựng
lại dàn bài, chịu khó hơn trong việc nghe giáo viên nhận xét ưu khuyết điểm trong bài
làm văn song vẫn còn một số em nôn nóng chờ điểm.
+ Đến bài viết số 3: Đại đa số học sinh có tiến bộ rõ rệt trong việc đóng góp ý
kiến xây dựng lại dàn bài, chủ động, tích cực trong việc sửa chữa trong bài làm văn mà
giáo viên đã nêu ra trong phần nhận xét, không có tình trạng học sinh mong ngóng chờ
điểm.
Điều quan trọng hơn cả là sau khi thực hiện xong đề tài này, các em học sinh không
còn thờ ơ đối với môn Ngữ văn mà có niềm say mê hứng thú hơn trong học tập bộ
môn. Những bài văn hay ngày càng nhiều. Tâm hồn, tình cảm của các em đã thực sự
đã được bồi đắp lớn lên thêm . Các em biết yêu thương bạn bè, kính trọng thầy cô cha
mẹ… biết sống có trách nhiệm. Đó cũng chính là kết quả lớn nhất mà tôi - người kĩ sư
tâm hồn đạt được khi thực hiện đề tài này.

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận:
Việc “Ra đề - chấm – trả bài Tập làm văn” đã nhiều người bàn bạc, Bộ Giáo dục và
Đào tạo cũng đã bao lần định hướng, bao giáo viên Ngữ văn đã từng trăn trở , nhưng
trên thực tế, công việc này vẫn là một bài toán nan giải. Bởi thực tế nó vẫn mang sẵn

Trang 19


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn
3 “kh”: khó khô, khổ. Để vượt qua nó, mỗi giáo viên chúng ta phải “lao tâm, khổ tứ”.
Mỗi học sinh là mỗi cách làm văn khác nhau, ưu điểm, nhược điểm riêng. Nếu giáo
viên không có trình độ làm văn, nhất định sẽ không đánh giá được những ưu khuyết
điểm của học sinh, không khuyến khích hay sửa chữa được bài làm của học sinh,
không giúp học sinh dần dần nâng cao năng lực, trình độ viết văn của mình. Chỉ có
tinh thần cầu thị , chịu khó học hỏi, nâng cao kiến thức mới thực sự giúp ích cho mỗi
giáo viên Ngữ văn trong quá trình dạy Tập làm văn cho học sinh.
Tôi xin phép được mượn lời của giáo sư Trần Thanh Đạm để thay cho lời kết đề tài
này:
“Trong dạy văn nói chung, dạy làm văn nói riêng, không có “cẩm nang” thích ứng
cho mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp, không có tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng nào thay
thế được sự học tập thường xuyên của thầy cô giáo về các vấn đề cơ bản của Ngữ học
và văn học. Cũng không có thầy giáo dạy văn nào có thể hiểu biết mọi điều và giải
quyết được mọi vấn đề thực tiễn làm văn văn đặt ra, mọi thắc mắc của việc viết văn
và mọi thắc mắc của học sinh. Học sinh có thể học tập ở thầy cô tinh thần thường
xuyên học tập để giải quyết các vấn đề xuất hiện trong giảng dạy. Theo tôi, đó là thái
độ nên có trong môn dạy khó khăn như môn làm văn”. Mà việc: Ra đề - chấm - trả bài
Tập làm văn lại là vấn đề khó nhất, khổ nhất trong quá trình dạy Tập làm làm văn, đòi
hỏi mỗi giáo viên Ngữ văn phải thực sự nỗ lực, tận tụy, tự rút kinh nghiệm trong quá
trình giảng dạy.”
3.2. Kiến nghị:
Kính mong phòng GD- ĐT huyện Krông Nô mở hội thảo, chuyên đề về việc “Ra đề
- chấm - trả bài Tập làm văn ở trường THCS” cho giáo viên trong toàn huyện cùng
thảo luận đóng góp ý kiến để tìm ra phương pháp tốt hơn trong việc “Ra đề - chấm trả bài Tập làm văn ở trường THCS”.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đăk Drô, Ngày 25 tháng 12 năm 2016
Người thực hiện

Trần Thị Tâm

Trang 20


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ sách giáo khoa ngữ văn 6,7,8,9; NXB Giáo dục
2. Bộ sách chuẩn kiến thức kĩ năng môn lớp 6 đến lớp 9 , NXB Giáo dục.
3. Hướng dẫn dạy họcTập làm văn ở trường Phổ thông cấp II- tập I của viện khoa
học giáo dục.
4. Phan Trọng Luận(Chủ biên) , Phương pháp giảng dạy văn học .
5. Tài liệu hội nghị : Đổi mới phương pháp dạy học văn và những vấn đề bức thiết
về dạy Tập làm văn bậc THPT.

Trang 21


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………...................................
.........................................................................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XẾP LOẠI:………………………………..
Ngày……tháng……năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
(Ký tên, đóng dấu)

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………...................................
.................................................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XẾP LOẠI:………………………………..
Ngày……tháng……năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
(Ký tên, đóng dấu)

Trang 22


Sáng kiến kinh nghiệm:Bàn thêm về việc ra đề - chấm- trả bài Tập làm văn

Trang 23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×