Tải bản đầy đủ

Luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 (2018)

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGÔ THỊ LAN ANH

LUYỆN VIẾT CHỮ HOA
CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI – 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGÔ THỊ LAN ANH


LUYỆN VIẾT CHỮ HOA
CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Lê Thị Lan
Anh, ngƣời đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ chúng em trong suốt thời gian
nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu
học cùng các thầy cô của trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội 2 – những ngƣời
thầy, ngƣời cô luôn nhiệt tình giảng dạy, không chỉ truyền thụ những kiến
thức mà thầy cô còn cho chúng em những kinh nghiệm sống trong suốt quá
trình học tập tại trƣờng. Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong thƣ
viện nhà trƣờng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình tìm tòi
và nghiên cứu đề tài.
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo Chủ nhiệm và các em học
sinh lớp 3G trƣờng Tiểu học Uy Nỗ - Đông Anh - Hà Nội đã tạo điều kiện
cho em trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ của em – ngƣời đã luôn lo
lắng, quan tâm và động viên em vƣợt qua mọi khó khăn trong suốt thời gian
em học tập xa nhà.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những ngƣời bạn –
những ngƣời đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ và quan tâm em trong suốt
thời gian vừa qua.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Ngƣời thực hiện

Ngô Thị Lan Anh



LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và
các số liệu trong luận văn chƣa đƣợc công bố dƣới bất cứ hình thức nào. Tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Ngƣời thực hiện

Ngô Thị Lan Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 4
4. Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................... 4
5. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................... 4
8. Cấu trúc khóa luận .................................................................................... 5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LUYỆN
VIẾT CHỮ HOA CHO HỌC SINH LỚP 3 ................................................. 6
1.1. Cơ sở lí luận của việc luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3................ 6
1.1.1.Chữ viết ................................................................................................ 6
1.1.2. Một số vấn đề về việc dạy luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 ... 10
1.1.3. Kĩ năng và rèn kĩ năng luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 ......... 15
1.1.4. Đặc điểm của học sinh lớp 3 ............................................................. 17
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3.......... 21
1.2.1. Nội dung chƣơng trình và phân bố thời lƣợng.................................. 21
1.2.2. Những thuận lợi và khó khăn khi dạy chữ viết hoa cho học sinh lớp 3.... 24
1.2.3. Phƣơng pháp dạy tập viết chữ hoa .................................................... 28
1.2.4. Quy trình dạy một bài luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 .......... 31
1.2.5. Thực trạng dạy viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 ở trƣờng tiểu học .. 34
Kết luận chƣơng 1: ...................................................................................... 37
CHƢƠNG 2MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ HOA
CHO HỌC SINH LỚP 3 VÀ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ...................... 37
2.1. Một số biện pháp luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 .................... 37


2.1.1. Rèn chữ mẫu của ngƣời giáo viên..................................................... 37
2.1.2. Chú trọng đến điều kiện cơ sở vật chất ............................................. 41
2.1.3. Quy trình luyện viết chữ hoa............................................................. 47
2.1.4. Kĩ thuật rèn chữ hoa cho học sinh..................................................... 55
2.2. Thực nghiệm sƣ phạm .......................................................................... 59
2.2.1. Mục đích thực nghiệm ...................................................................... 59
2.2.2. Đối tƣợng thực nghiệm ..................................................................... 60
2.2.3. Địa điểm thực nghiệm ....................................................................... 60
2.2.4. Thời gian thực nghiệm ...................................................................... 60
2.2.5. Chuẩn bị thực nghiệm ....................................................................... 60
Chọn cả giáo viên và lớp thực nghiệm........................................................ 60
2.2.6. Tiến hành thực nghiệm...................................................................... 61
2.2.7. Nội dung thực nghiệm....................................................................... 61
2.2.8. Tiêu chí đánh giá ............................................................................... 70
2.2.9. Kết quả thực nghiệm ......................................................................... 70
Kết luận chƣơng 2: ...................................................................................... 72
KẾT LUẬN ................................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chữ viết là một trong những sáng tạo kì diệu của con ngƣời. Sự xuất hiện
của chữ viết đánh dấu một giai đoạn phát triển về chất của ngôn ngữ. Chữ viết
không chỉ là công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin mà nó còn là
phƣơng tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hóa, khoa học, đời
sống. Do vậy, việc dạy học sinh biết chữ và từng bƣớc làm chủ đƣợc công cụ
chữ viết để học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của môn
Tiếng Việt trong trƣờng tiểu học hiện nay.
Từ xa xƣa, vấn đề chữ viết đã rất đƣợc coi trọng. Cha ông ta dùng câu
thành ngữ “Văn hay chữ tốt” để khen ngƣời chữ đẹp, học rộng tài cao. Đặc
biệt, cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng cũng rất coi trọng vấn đề này: “Chữ viết
cũng là biểu hiện của nết ngƣời. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận,
viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự
trọng đối với thầy cô và bạn đọc bài vở của mình”. Điều đó chứng tỏ vấn đề
chữ viết đƣợc quan tâm nhƣ thế nào.
Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở tiểu
học, nhất là đối với các lớp đầu cấp. Phân môn Tập viết trang bị cho học sinh
tiểu học bộ chữ cái tiếng Việt và những yêu cầu về kĩ thuật để sử dụng bộ chữ
cái này trong học tập và giao tiếp. Với ý nghĩa này, tập viết không những có
quan hệ mật thiết tới chất lƣợng học tập của các môn học khác mà còn góp
phần rèn luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học tiếng Việt
trong nhà trƣờng đó là kĩ năng viết chữ.
Học sinh viết chữ đúng, viết chữ đẹp, có tốc độ nhanh là một trong những
thuận lợi để tiếp thu bài, có điều kiện để ghi chép bài học tốt, nhờ vậy kết quả
học tập trở nên cao hơn. Ngƣợc lại, các em viết xấu và viết chậm sẽ ảnh
hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng học tập. Nhƣ vậy, chúng ta có thể nói việc
1


rèn chữ viết là một việc đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập của học
sinh tiểu học.
Có thể nói chữ viết phần nào phản ánh đƣợc trình độ văn hóa của một con
ngƣời cũng nhƣ của một xã hội. Không những chữ viết làm phƣơng tiện giao
lƣu, học tập, nghiên cứu, truyền thụ tri thức,... mà chữ viết còn thể hiện óc
sáng tạo, tính cẩn thận và khiếu thẩm mĩ của con ngƣời. Ngày nay, mặc dù có
nhiều phƣơng tiện in ấn hiện đại song chữ viết vẫn có vai trò vô cùng quan
trọng đối với xã hội nhất là đối với công tác giáo dục “ Nét chữ- nết ngƣời”.
Chữ viết hoa theo mẫu hiện hành là chữ hoa đẹp nhƣng lại rất khó viết,
đặc biệt là đối với các em học sinh lớp đầu cấp, bởi các nét cong nét lƣợn
mềm mại trong một con chữ viết hoa thay đổi liên tục. Để tạo dáng thẩm mĩ
các nét cơ bản ở chữ cái viết hoa thƣờng có nhiều biến điệu, không “thuần
túy” nhƣ ở chữ cái viết thƣờng.
Đối với học sinh lớp 3, các em vừa mới từ lớp 2 lên, bƣớc đầu mới làm
quen với cách viết chữ hoa cỡ vừa và nhỏ, kĩ năng viết của các em còn nhiều
hạn chế. Các em chỉ mới viết ở mức độ tƣơng đối, nét chữ còn vụng về, tốc
độ viết còn chậm và độ điêu luyện chƣa cao. Khi các em lên lớp 3, yêu cầu về
chữ viết sẽ cao hơn, có chiều sâu hơn. Học lớp 3 các em một lần nữa đƣợc
củng cố chữ viết đặc biệt là chữ viết hoa.
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lƣợng viết chữ hoa cho học sinh lớp 3?
Đó là câu hỏi mà mọi giáo viên tiểu học cần phải quan tâm. Bản thân là một
ngƣời giáo viên tiểu học tƣơng lai, nhìn thấy tầm quan trọng của việc rèn chữ
nói chung và luyện viết chữ hoa nói riêng, tôi đã lựa chọn nghiên cứu và đi
sâu tìm hiểu đề tài “Luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu việc rèn luyện chữ viết cho học sinh tiểu học đã đƣợc nhiều tác giả
nghiên cứu:

2


Trong Tạp chí Giáo dục Tiểu học, số 4, năm 2000, tác giả Nguyễn Hữu
Cao đã đƣa ra kinh nghiệm về dạy chữ viết, rèn nết ngƣời. Đề cao sự gƣơng
mẫu về chữ viết của ngƣời giáo viên, bồi dƣỡng cho học sinh lòng yêu thích
và sự quyết tâm rèn luyện chữ viết.
Trong cuốn Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học, NXB Đại học Sƣ phạm,
năm 2002, tác giả Lê A đã nghiên cứu vấn đề về chữ viết, nguồn gốc của chữ
viết tiếng Việt. Đặc biệt, tác giả bàn kĩ về việc tổ chức dạy học Tập viết,
Chính tả ở Tiểu học và đã đƣa ra các bƣớc hƣớng dẫn luyện tập để học sinh
viết đúng, đẹp và nhanh hơn.
Trong cuốn Hướng dẫn luyện viết chữ đẹp, NXB Đại học Sƣ phạm, tháng
8 năm 2009, tác giả Đặng Thị Trà đã đƣa ra các nguyên tắc, các phƣơng pháp
và kinh nghiệm dạy luyện viết chữ đẹp. Đăc biệt, tác giả còn phân tích kĩ cấu
tạo, cách viết của từng chữ viết thƣờng và chữ viết hoa.
Trong cuốn Dạy và học tập viết ở Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam,
năm 2010 do Trần Mạnh Hƣởng chủ biên, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những
vấn đề về mục đích, nhiệm vụ, nội dung và các phƣơng pháp dạy học tập viết
trong phân môn Tập viết ở các lớp 1, 2, 3 theo chƣơng trình tiểu học mới. Tác
giả đƣa ra các nét cơ bản, nét hoa trong chƣơng trình tiểu học hiện hành, cách
gọi tên và phân loại các nét, quy trình viết các chữ cũng nhƣ hƣớng dẫn cơ
bản nhất về viết chữ. Ngoài ra, tác giả còn dành hẳn một phần để giới thiệu
một vài biện pháp viết chữ đẹp dành cho học sinh, giáo viên và gợi ý về một
số bài tập luyện viết cơ bản nhất.
Nhƣ vậy, từ lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta có thể thấy đƣợc việc
luyện viết chữ đẹp cho giáo viên cũng nhƣ học sinh là một vấn đề đang đƣợc
rất nhiều ngƣời, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên chƣa có ai nghiên
cứu sâu về vấn đề luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3, vì vậy chúng tôi

3


cũng mạnh dạn triển khai nghiên cứu vấn đề “Luyện viết chữ hoa cho học
sinh lớp 3”
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp luyện chữ hoa cho học sinh tiểu học, góp phần
nâng cao dạy học tập viết chữ hoa nói riêng và phân môn Tập viết nói chung.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Cách thức viết chữ hoa cho học sinh tiểu học.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ thời gian cho phép nên ở đề tài này chúng tôi dừng lại
nghiên cứu cách luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 ở trƣờng Tiểu học
Dƣơng Hà- huyện Gia Lâm- thành phố Hà Nội và trƣờng Tiểu học Uy Nỗhuyện Đông Anh- thành phố Hà Nội.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3
6.2. Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3
6.3. Đề xuất các biện pháp dạy luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3
6.4. Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận của chúng tôi đã sử dụng những phƣơng pháp sau:
Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
Phƣơng pháp quan sát
Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích
Phƣơng pháp điều tra
Phƣơng pháp thống kê
Phƣơng pháp đánh giá

4


8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luận có cấu trúc 2
chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc luyện viết chữ hoa
cho học sinh lớp 3
Chƣơng 2. Một số biện pháp luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3 và
thực nghiệm sƣ phạm

5


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LUYỆN
VIẾT CHỮ HOA CHO HỌC SINH LỚP 3
1.1. Cơ sở lí luận của việc luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3
1.1.1.Chữ viết
1.1.1.1. Lịch sử hình thành chữ viết
Chữ viết là một hệ thống kí hiệu bằng đƣờng nét đƣợc sử dụng để ghi
lại ngôn ngữ âm thanh theo dạng văn bản. Với sự ra đời của chữ viết, hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con ngƣời đƣợc chuyển từ dạng âm thanh –
thính giác sang dạng đƣờng nét – thị giác. Do đó, nó trở nên chính xác, chuẩn
mực hơn, có thể tiến hành trong một thời gian lâu bền, trong một không gian
rộng lớn. Nếu ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu thì chữ viết là hệ thống kí hiệu
của kí hiệu. Chữ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nhƣng không thể
đồng nhất ngôn ngữ với chữ viết.
Chữ Hán vào Việt Nam bắt đầu từ thiên niên kỉ thứ nhất trƣớc công
nguyên theo con đƣờng giao lƣu văn hóa. Hiện nay, ở Việt Nam còn lƣu giữ
đƣợc một số hiện vật có chữ Hán, nhƣ đỉnh cổ có khắc chữ tƣợng hình (chữ
Hán cổ). Điều này chứng minh đƣợc rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam
khá sớm và thực sự trở thành phƣơng tiện ghi chép và truyền thông trong
ngƣời Việt kể từ những thế kỉ đầu công nguyên trở đi. Đến thế kỉ VII – XI,
chữ Hán và tiếng Hán ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kì
này chữ Hán đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp, giao lƣu kinh tế
thƣơng mại với Trung Quốc. Đó là do Việt Nam bị ách đô hộ của triều đình
phong kiến phƣơng Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm vì vậy hầu
hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Qua đó, chúng ta có thể
thấy rằng chữ Hán có tầm ảnh hƣởng to lớn nhƣ thế nào đối với nền văn hóa
6


của ngƣời Việt Nam xƣa. Từ sau thế kỉ X, tuy Việt Nam giành đƣợc độc lập
tự chủ và thoát khỏi ách thống trị của triều đình phong kiến phƣơng Bắc
nhƣng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phƣơng tiện quan trọng để
phát triển nền văn hóa Việt Nam.
Trong quá trình phát triển đó đến đời Quang Trung, ngƣời Việt đã sáng
tạo ra chữ Nôm (Nôm theo âm Việt cổ đƣợc hiểu là Nam, âm này vẫn còn lƣu
giữ cho đến ngày nay trong một số thổ âm nhƣ ở Quảng Nam). Sự ra đời của
chữ Nôm đóng vai trò to lớn trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt. Khi
thực dân Pháp thiết lập nền đô hộ ở nƣớc ta, chữ Nôm đi vào thời kì suy tàn
và thay vào đó là sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ không phải do
ngƣời Việt sáng tạo ra mà do các nhà truyền giáo ngƣời châu Âu sáng tạo ra.
Theo tác giả Đoàn Thiện Thuật trong cuốn “Ngữ âm tiếng Việt”, lúc đầu các
nhà truyền giáo phƣơng Tây theo thói quen đã dùng chữ viết quen thuộc của
họ để ghi chép và học tiếng Việt vì mục đích truyền giáo chứ không phải vì
lợi ích và sự phát triển của dân tộc Việt. Vì tính chất tự phát ấy nên cách ghi
của các giáo sĩ cũng không có sự thống nhất với nhau. Trong tập thể các nhà
truyền giáo ấy, công lao đầu tiên phải nhắc đến các giáo sĩ ngƣời Bồ Đào
Nha. Chữ Quốc ngữ ở thời buổi đầu còn chịu nhiều ảnh hƣởng của cách ghi
âm theo tiếng nƣớc ngoài, chƣa phản ánh một cách khoa học cơ cấu ngữ âm
tiếng Việt. Trải qua bao công sức của nhiều thế hệ ngƣời Việt, qua nhiều giai
đoạn cách tân hợp lí hóa lối ghi tự mẫu Latinh của các cha cố phƣơng Tây,
chữ Quốc ngữ đã tỏ rõ sức mạnh thần kì của nó khi biểu thị cách phát âm đa
cung bậc của tiếng Việt (có 6 thanh) trình bày đƣợc tƣ tƣởng cùng bộc bạch
mọi tâm trạng cảm xúc của ngƣời Việt Nam. Nhƣ A.G. Haudricout đã chứng
minh rằng: “Tiếng Việt đã trải qua một quá trình phát triển từ không có thanh
điệu dẫn tới có một hệ thống thanh điệu nhƣ hiện nay”. Chữ Quốc ngữ là chữ
đơn giản về hình thể kết cấu, tiện lợi về mặt hành chức, sử dụng các chữ cái

7


Latinh hầu nhƣ đã thông dụng trên toàn thế giới. Ở chữ Quốc ngữ, giữa chữ
và âm, giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp ở mức độ khá cao. Nhƣ vậy,
từ khi hình thành vào những năm đầu thế kỉ thứ XVII đến khi đƣợc công nhận
vào năm 1882, quá trình xây dựng chữ Quốc ngữ trải qua một thời gian dài
với gần hai thế kỉ. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, chữ Quốc ngữ đã
chứa trong mình nó những ƣu điểm và hạn chế nhất định.
1.1.1.2. Quá trình hoàn thiện chữ viết
Trƣớc Cải cách giáo dục năm 1981, mẫu chữ viết (chữ Quốc ngữ) đƣợc
dạy và học trong trƣờng tiểu học về cơ bản là mẫu chữ phổ biến, thƣờng dùng
trong xã hội. Hầu hết các chữ viết thƣờng, chữ viết hoa trong bảng chữ mẫu
đều có chiều cao 1 đơn vị (1 cor) và 2 đơn vị, chữ viết có nét thanh nét đậm.
Trong cải cách giáo dục, từ năm 1981 đến tháng 9/1986, mẫu chữ viết
dạy ở trƣờng Tiểu học có nhiều thay đổi với mẫu chữ thƣờng dùng nên dƣ
luận có nhiều ý kiến phê phán, nhất là chữ viết thƣờng bỏ đi những “nét
bụng”, “nét hất”, chữ viết hoa gần giống với chữ in hoa ở dạng đơn giản nhất,
chữ số viết tay gần với chữ số in.
Từ năm 1986 – 1987, Bộ giáo dục đã đƣa ra thông tƣ về việc nâng cao
chất lƣợng dạy và học viết chữ ở trƣờng phổ thông cơ sở. Theo đó, vẫn giữ lại
chiều cao các con chữ trong bảng chữ cái và chữ số nhƣ trƣớc đây nhƣng điều
chỉnh lại các chữ cái viết thƣờng trở lại có “nét bụng”, “nét hất”, riêng các
chữ hoa đơn giản và chữ số hầu hết nhƣ không có gì thay đổi so với chữ cải
cách giáo dục. Đáng lƣu ý ở thông tƣ này là đã đƣa ra bảng chữ hoa giới thiệu
cho học sinh các lớp cuối cấp 1 với chiều cao chữ cái hầu hết là 2,5 đơn vị,
riêng hai chữ G, Y có độ cao 4 đơn vị.
Thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X và chỉ thị của Thủ
tƣớng Chính phủ về tiến độ triển khai Chƣơng trình Tiểu học mới bắt đầu từ
lớp 1 năm học 2002 – 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã báo cáo với Thủ
8


tƣớng Chính phủ về kế hoạch điều chỉnh mẫu chữ viết trong nhà trƣờng tiểu
học khi triển khai chƣơng trình Tiểu học mới. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã tổ chức các cuộc hội thảo dạy và học chữ viết ở trƣờng tiểu học tại Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó đƣa ra dự thảo về bảng mẫu chữ
viết thƣờng dùng trong trƣờng tiểu học. Hội thảo đã nhận đƣợc nhiều ý kiến
đóng góp quý báu của các nhà nghiên cứu khoa học và nhân văn, khoa học sƣ
phạm, các giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục cùng nhiều lực lƣợng xã hội
về bảng mẫu chữ viết.
Ngày 14/6/2002, mẫu chữ viết trong trƣờng tiểu học đã đƣợc ban hành.
Mẫu chữ viết đáp ứng các nguyên tắc cơ bản sau: bảo đảm tính khoa học, tính
hệ thống; có tính thẩm mĩ (đẹp trong sự hài hòa khi viết liền các con chữ); bảo
đảm tính sƣ phạm (phù hợp với đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu
học); có tính kế thừa và phát triển, phù hợp với thực tiễn (kế thừa vẻ đẹp của
chữ viết truyền thống đồng thời tính đến sự thuận lợi khi sử dụng, viết nhanh,
viết liền nét, phù hợp với điều kiện dạy và học ở tiểu học).
1.1.1.3. Đặc điểm cơ bản của mẫu chữ viết hoa hiện hành
Chiều cao các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng hai chữ cái viết hoa
G, Y đƣợc viết với chiều cao 4 đơn vị. Ngoài 29 chữ cái viết hoa theo kiểu 1
thì bảng chữ cái viết hoa còn cung cấp thêm 5 mẫu chữ cái viết hoa kiểu 2: F,
Z, J, W, f để sau khi học xong học sinh có quyền lựa chọn và sử dụng.
Hình dạng của các chữ cái viết hoa trong bảng mẫu chữ viết trong
trƣờng tiểu học về cơ bản đã kế thừa và đƣợc chỉnh sửa lại từ bảng chữ hoa
giới thiệu cho học sinh các lớp cuối cấp tiểu học. Mỗi chữ cái viết hoa thƣờng
có nét cong, nét lƣợn, tạo dáng thẩm mĩ của hình chữ cái, bảo đảm cách viết
liền nét và hạn chế số lần nhấc bút. Vì vậy, so với chữ cái viết thƣờng, các nét
cơ bản của chữ cái viết hoa thƣờng biến điệu.

9


Ví dụ, chữ o khi viết thƣờng thì chữ o đƣợc tạo bởi nét cong kín (nét cơ
bản) nhƣng khi viết chữ O hoa thì ngoài nét cong kín còn có nét lƣợn vào
trong ở phần cuối chữ.
1.1.1.5 Cách thể hiện mẫu chữ viết hoa trong bảng mẫu chữ hiện hành
Mẫu chữ đƣợc thể hiện ở 4 dạng: chữ viết đứng, nét đều; chữ viết đứng,
nét thanh nét đậm; chữ viết nghiêng, nét đều; chữ viết nghiêng, nét thanh nét
đậm.
Mẫu chữ cái viết hoa trong bảng mẫu chữ đã ban hành đƣợc trình bày
trên khung kẻ ô vuông để dễ dàng xác định tọa độ, cụ thể: mỗi đơn vị chiều
cao hay chiều rộng đều đƣợc tách làm đôi, tạo thành 4 ô vuông nhỏ. Do đó
nếu coi những đƣờng kẻ ngang trong khung chữ là những dòng kẻ trong vở ô
li của học sinh thì các chữ cái trong bảng mẫu chữ chính là chữ viết theo cỡ
chữ vừa. Cách trình bày nhƣ vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học
tập viết ở trƣờng tiểu học (dễ xác định điểm đặt bút, điểm dừng bút, quy trình
viết chữ, có sự tƣơng ứng nhất định với vở ô li của học sinh).
1.1.2. Một số vấn đề về việc dạy luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3
1.1.2.1. Một số quy định về dạy và học viết chữ hoa
Vụ Giáo dục Tiểu học đã có công văn số 5150/TH ngày 17/6/2002 nêu
rõ về một số quy định dạy và học viết chữ trong trƣờng tiểu học nhằm hƣớng
dẫn thực hiện mẫu chữ viết trong trƣờng tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành.
Trong trƣờng Tiểu học, học sinh học viết chữ viết hoa theo kiểu chữ
viết đứng, nét đều là chủ yếu. Ở những nơi có điều kiện thuận lợi, giáo viên
có thể dạy hoặc giới thiệu thêm cách viết chữ thƣờng, chữ viết hoa theo kiểu
chữ viết nghiêng, nét thanh, nét đậm.

10


Việc dạy chữ viết hoa đƣợc tiến hành theo một quá trình từ nhận diện,
tập tô, tập viết nét cơ bản đến viết từng chữ cái; từ viết đúng đến viết thành
thạo, viết đẹp.
Căn cứ vào chƣơng trình Tiểu học, nội dung và yêu cầu dạy học phân
môn Tập viết ở từng lớp đƣợc xác định trong sách giáo khoa Tiếng Việt, từ đó
thiết kế thành bài học cụ thể trong vở Tập viết và hƣớng dẫn dạy học trong
sách giáo viên tƣơng ứng cho mỗi lớp.
1.1.2.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Tập viết
a. Mục tiêu
Phân môn Tập viết trang bị cho học sinh bộ chữ cái Latinh, là cơ sở cho
việc ghép vần và nhận diện mặt chữ, đồng thời nó cũng đƣa ra những yêu cầu
kĩ thuật để sử dụng bộ chữ cái đó trong học tập và giao tiếp. Kết quả của phân
môn Tập viết có liên quan đến chất lƣợng của môn học khác. Do vậy, phân
môn Tập viết có vai trò quan trọng ở trƣờng Tiểu học.
Tập viết giúp cho học sinh rèn luyện năng lực đọc thông viết thạo để
làm tiếng nói về mặt văn tự. Học sinh phải đƣợc rèn luyện năng lực đọc thông
viết thạo bởi vì hai năng lực này có quan hệ mật thiết với nhau. Đây chính là
điểm khác biệt giữa ngƣời đƣợc học với ngƣời không đƣợc học Tiếng Việt.
Tập viết là một phân môn thiên về thực hành do đó rèn kĩ năng viết
đúng, viết đẹp cho học sinh là việc làm cần thiết.
b. Nhiệm vụ
- Về kiến thức
Truyền thụ, trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về chữ viết
và kĩ thuật viết chữ. Về chữ viết, học sinh có thể biết đƣợc cấu tạo của bộ chữ
cái Latinh ghi âm tiếng Việt. Học sinh biết vị trí của dấu thanh, dấu phụ, các
khái niệm về liên kết chữ cái, khái niệm về dòng kẻ, đƣờng kẻ, về tọa độ viết

11


chữ và tên gọi của các nét chữ. Từ đó hình thành cho học sinh biểu tƣợng về
hình dạng, kích thƣớc, độ cao, sự cân đối cũng nhƣ tính thẩm mĩ của chữ viết.
- Về kĩ năng
Rèn cho học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, gồm
kĩ năng viết các nét, kĩ năng liên kết nét để tạo chữ cái hoặc chữ ghi tiếng, kĩ
năng xác định khoảng cách vị trí cỡ chữ trên vở ô li để hình thành thuyết ứng
mẫu rõ ràng, nhanh và đẹp.
- Về thái độ
Thông qua hoạt động luyện viết chúng ta còn rèn luyện cho học sinh
những phẩm chất đạo đức nhƣ: cẩn thận, kiên trì, khiếu thẩm mĩ, óc quan sát.
Luôn có ý thức rèn luyện chữ viết cho học sinh trong mọi lúc, mọi nơi,mọi
tiết học. Giúp các em trở nên yêu thích, hứng thú học tập và rèn luyện chữ
viết, tạo tâm lí thoải mái nhất cho các em luyện viết trong các tiết học.
1.1.2.3. Các nguyên tắc dạy luyện viết chữ hoa
Nguyên tắc dạy học tập viết là sự cụ thể hóa của các nguyên tắc dạy
học tiếng Việt cho phù hợp với đặc thù của phân môn. Do vậy, có thể kể tới
ba nguyên tắc dạy học Tập viết là phát triển lời nói, phát triển tƣ duy và tính
đến đặc điểm của học sinh.
Trong phân môn Tập viết, nguyên tắc phát triển lời nói yêu cầu giáo
viên phải cho học sinh rèn luyện một cách tỉ mỉ và kĩ lƣỡng các kĩ năng viết
chữ từ đơn giản đến phức tạp, từ viết nét cơ bản đến liên kết các nét thành chữ
cái, từ liên kết các chữ thành chữ ghi âm, ghi vần hoặc ghi tiếng, từ viết đúng
quy trình, tọa độ đến viết đẹp và nhanh.
Việc rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh cần đƣợc thực hiện phối hợp với
các kĩ năng khác nhƣ tập đọc, tìm hiểu nội dung của từ ngữ và bài viết ứng
dụng. Có nhƣ vậy, kĩ năng viết chữ và các kĩ năng lời nói khác của học sinh
mới đƣợc hình thành một cách đầy đủ và vững chắc.

12


Ví dụ, tuần 16 của lớp 3, khi dạy viết bài ứng dụng:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Ngoài việc rèn cho học sinh viết đúng chữ M hoa, liên kết chữ M với
chữ a đứng sau, liên kết các chữ cái thành chữ ghi âm, vần, tiếng, giáo viên
còn cần giải thích ngắn gọn ý nghĩa của câu tục ngữ để các em hiểu nội dung
cơ bản của bài viết ứng dụng, thêm vốn vào hành trang ngôn ngữ cho các em
giao tiếp sau này.
Ngoài ra, nguyên tắc phát triển lời nói còn đòi hỏi giáo viên phải sử
dụng linh hoạt hệ thống câu hỏi mở giúp học sinh tìm hiểu chữ viết và kĩ thuật
viết chữ, từ đó hỗ trợ cho việc hình thành kĩ năng viết chữ ở các em.
Khi dạy học tập viết, nguyên tắc phát triển tư duy yêu cầu gáo viên
phải làm cho học sinh biết và hiểu ý nghĩa của các từ ngữ, câu và bài ứng
dụng mà các em đƣợc luyện viết.Do vậy, giải nghĩa từ khó là việc làm vô
cùng cần thiết trong quá trình dạy tập viết. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần
phải rèn luyện các thao tác, phẩm chất tƣ duy trong quá trình dạy tiếng. Để
thực hiện đƣợc các yêu cầu đó, giáo viên cần gợi ý cho học sinh phân tích và
nhận xét chữ viết, sau đó so sánh tìm kiếm tƣơng đồng và sự khác biệt giữa
các chữ. Chính việc làm này làm cho nhận thức về cấu tạo chữ, kĩ năng viết
chữ của học sinh đƣợc hình thành một cách vững chắc ở học sinh.
Trong hoạt động dạy luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3, nguyên tắc
tính đến đặc điểm của học sinh yêu cầu trƣớc hết là giáo viên cần tìm hiểu đặc
điểm tâm lí và sinh lí của học sinh để có các biện pháp dạy học cho phù hợp.
Ví dụ, khi quan sát chữ viết, học sinh chủ yếu thƣờng tập trung nhìn nhận
hình dáng của chữ mà ít chú ý đến quy trình viết. Chính vì vậy, nhiều em
không viết đúng quy trình do không xác định đƣợc chính xác vị trí, chiều
hƣớng của nét chữ, không viết liền mạch các nét hoặc các chữ cái. Giáo viên

13


cần phải nắm đƣợc điểm này để hƣớng dẫn học sinh không chỉ quan sát hình
dáng, kích thƣớc của chữ viết hoa mà còn phải quan sát cả quy trình viết chữ,
kĩ thuật liên kết các nét chữ, xác định điểm đặt bút và dừng bút để từ đó biết
viết chữ đúng kĩ thuật. Bên cạnh đó, học sinh tiểu học không có khả năng tập
trung chú ý lâu, chóng mệt mỏi, mau chán học vì vậy mà cần phải biết cách tổ
chức giờ học một cách nhẹ nhàng, thay đổi hình thức hoạt động, cho học sinh
nghỉ ngơi ngắn hoặc có thể kết hợp với các trò chơi một cách hợp lí để tạo sự
thoải mái cho các em. Mặt khác, để việc dạy học đạt kết quả tốt, cũng cần
phải tính đến trình độ tiếng Việt của học sinh khi dạy các em tập viết. Giáo
viên cần phân loại học sinh thành các nhóm theo trình độ hiểu biết về tiếng
Việt nói chung, về chữ viết nói riêng để giao nhiệm vụ vừa sức với từng nhóm
học sinh. Tất cả những đặc điểm trên của học sinh nếu đƣợc giáo viên quan
tâm đúng mức sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học luyện viết chữ hoa nói
riêng, dạy học tiếng Việt nói chung.
Do có đặc điểm riêng về nhiệm vụ và nội dung dạy học, hoạt động dạy
luyện viết chữ hoa cần tuân theo nguyên tắc phối hợp các bộ phận cơ thể và
nguyên tắc thực hành.
Trong hoạt động luyện viết chữ hoa cho học sinh, nguyên tắc phối hợp
các bộ phận cơ thể yêu cầu học sinh phải phối hợp một cách đúng mức các bộ
phận cơ thể với nhau trong quá trình viết. Hoạt động viết có liên quan đến
nhiều bộ phận của cơ thể: mắt để xác định mẫu chữ, tƣ thế ngồi, phổi và lƣng,
cách cầm bút liên quan đến các ngón tay, bàn tay và cánh tay, hình dáng kích
thƣớc chữ trong vở có liên quan đến mắt nhìn. Do vậy, khi hƣớng dẫn học
sinh tập viết giáo viên cần phối hợp đồng bộ cho các em theo đúng quy định:
ngồi đúng tƣ thế, cầm bút đúng cách, khoảng cách với vở là 30 cm để đầu học
sinh không cúi quá, không tì sát vào bàn, ngồi thẳng lƣng, vị trí ngồi viết phải
đủ ánh sáng.

14


Nguyên tắc thực hành trong dạy luyện viết chữ hoa có cơ sở là nhiệm
vụ của phân môn Tập viết và các nội dung dạy học Tập viết. Trong phân môn
Tập viết không có tiết lí thuyết riêng về chữ viết và kĩ thuật viết chữ. Các kiến
thức và kĩ năng đƣợc hình thành một cách tự nhiên thông qua việc luyện viết.
Vì vậy, viết là một công việc đòi hỏi sự làm việc cẩn thận, tỉ mỉ, có trách
nhiệm cao, theo một quy trình nghiêm ngặt, cần phải coi trọng nguyên tắc
thực hành tức là coi dạy luyện viết là dạy một kĩ năng. Chữ hoa gồm nhiều
nhóm chữ có đặc điểm riêng về cấu tạo, từ đó có quy trình viết chữ không
giống nhau. Do vậy, nên thực hành viết các chữ theo nhóm chữ hoa có cùng
cấu tạo, kĩ năng viết chữ hoa sẽ mau chóng đƣợc nâng cao. Để các kĩ năng
viết chữ hoa của học sinh đƣợc hình thành một cách tự nhiên và chắc chắn,
nên cho các em thực hành luyện viết ở hai mức độ. Mức độ thứ nhất, tập viết
đúng hình dáng, cấu tạo, quy trình viết các nét chữ và chữ hoa. Mức độ thứ
hai, tập liên kết các chữ hoa với các chữ cái (viết liền mạch). Trong quá trình
luyện kĩ năng viết chữ hoa cho học sinh, giáo viên cần chú ý cho các em phân
tích chữ mẫu và quy trình viết chữ viết hoa. Cần nhắc học sinh ngồi đúng tƣ
thế, để vở, cầm bút đúng cách, phối hợp một cách uyển chuyển các bộ phận
cơ thể tham gia vào viết chữ. Việc đánh giá sản phẩm chữ viết hoa của học
sinh phải gắn liền với việc đánh giá các hoạt động viết chữ hoa của học sinh.
1.1.3. Kĩ năng và rèn kĩ năng luyện viết chữ hoa cho học sinh lớp 3
1.1.3.1. Kĩ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng. Những định nghĩa này
thƣờng bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của ngƣời
viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kĩ năng đƣợc hình thành
khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kĩ năng học đƣợc do quá trình
lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kĩ năng luôn
có chủ đích và định hƣớng rõ ràng.

15


Vậy, kĩ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục
một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh
nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
1.1.3.2. Viết chữ
Viết đƣợc hiểu là việc vạch những đƣờng nét tạo thành chữ.
Viết chữ là ghi ra những nội dung muốn nói đã đƣợc sắp xếp theo quy
tắc chính tả để diễn đạt ý tƣởng đó.
1.1.3.3. Chữ hoa
Chữ hoa là hệ thống kí hiệu thể hiện chữ viết bằng các nét cong nét
lƣợn mềm mại, tạo dáng thẩm mĩ của hình chữ viết, thƣờng có nhiều biến
điệu trong các nét cơ bản. Chữ hoa thƣờng dùng để viết các chữ cái đầu âm
tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh hay tên riêng, tên địa lí, tên cơ quan tổ
chức và hơn thế chữ hoa còn thể hiện biện pháp tu từ trong tiếng Việt.
Chữ cái viết hoa đƣợc xem là chữ hoa viết đẹp phải có đƣợc sự cân đối
về kích thƣớc trong từng con chữ và chữ viết có độ nghiêng (độ xiên) đồng
đều. Khi viết, cần có sự linh hoạt giúp cho đƣờng nét chữ cái viết hoa có đƣợc
sự mềm mại, uyển chuyển.
Chữ hoa viết đẹp ở mức cao hơn nữa là thể hiện đƣợc những nét hoa
mĩ, nét viết có thanh đậm, thể hiện đƣợc cá tính, cảm xúc của ngƣời viết. Học
viết chữ hoa đẹp là học phƣơng pháp viết mới đồng thời là quá trình sửa bỏ
thói quen viết cũ.
1.1.3.4. Kĩ năng luyện viết chữ hoa
Kĩ năng viết chữ hoa là khả năng hay năng lực của chủ thể triển khai
đúng đắn các hành động viết và kĩ thuật viết để tạo ra sản phẩm chữ viết hoa
theo những mục đích yêu cầu cụ thể trên cơ sở chủ thể (học sinh) đã biết về
các thao tác thực hiện hành động viết.
1.1.3.5. Biện pháp rèn kĩ năng luyện viết chữ hoa cho học sinh

16


Là các biện pháp đƣợc thực hiện trong quá trình dạy học viết chữ hoa
cho học sinh để giải quyết vấn đề các em gặp phải trong quá trình học viết, để
học sinh đạt đƣợc sự phát triển kĩ năng viết chữ hoa đúng, đẹp giúp các em
cải thiện kĩ năng viết chữ hoa.
1.1.4. Đặc điểm của học sinh lớp 3
1.1.4.1. Đặc điểm nhận thức
Ở giai đoạn này, nhận thức của học sinh lớp 3 tồn tại cả về nhận thức
cảm tính và nhận thức lý tính.
Các cơ quan cảm giác: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác
của trẻ đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.
Tri giác của học sinh lớp 3 mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang
tính không chủ định. Trong quá trình tri giác, trẻ thƣờng tập trung vào một vài
chi tiết nào đấy của đối tƣợng và cho đấy là tất cả. Quá trình tri giác của trẻ
chỉ dừng lại ở việc nhận biết và gọi tên đối tƣợng chứ không đi sâu vào từng
chi tiết, bộ phận của nó. Vì thế, trẻ khó phân biệt đƣợc một cách chính xác
các đối tƣợng, khi viết chữ hoa học sinh hay bị mắc lỗi chữ có độ cao 2,5 li
viết thành gần 3 li. Đó cũng chính là lí do khiến cho học sinh khó xác định tọa
độ của con chữ nên nét chữ không đủ độ rộng, độ cao và không đúng mẫu.
Ở học sinh lớp 3, tri giác của các em thƣờng gắn với hành động, với
hoạt động thực tiễn của trẻ. Đối với các em, tri giác sự vật có nghĩa là phải
làm một cái gì đó với sự vật, nhƣ cầm, nắm, sờ,... và những gì phù hợp với
nhu cầu, những gì tham gia trực tiếp vào cuộc sống và hoạt động, những gì
giáo viên chỉ dẫn thì mới đƣợc các em tri giác.
Nhận thấy điều này giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động
mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thƣờng, khi đó sẽ
kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.

17


Tƣ duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ƣu thế ở tƣ duy trực quan
hành động. Các phẩm chất tƣ duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tƣ duy trừu
tƣợng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần. Tuy nhiên, hoạt động
phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng cho nên trẻ thƣờng phải dựa vào từ
để tìm ra chữ, dựa vào câu để tìm ra các từ và thƣờng lĩnh hội tài liệu học tập
cục bộ, một chiều.
Tƣởng tƣợng của học sinh lớp 3 đã phát triển phong phú hơn so với học
sinh lớp 1, lớp 2 nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy
dặn. Tuy nhiên, tƣởng tƣợng của các em còn đơn giản, chƣa bền vững và dễ
thay đổi.
Qua đây, giáo viên phải phát triển tƣ duy và trí tƣởng tƣợng của các em
bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc,
đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các
hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình
nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.
Ở lứa tuổi học sinh lớp 3, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng
kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chủ
định chiếm ƣu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến
những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều
tranh ảnh,trò chơi,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững,
chƣa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. Vì vậy,
các em sẽ dễ quên điều cô giáo dặn vào cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ,
bỏ sót từ trong câu.
Biết đƣợc điều này giáo viên nên giao cho trẻ những công việc hay bài
tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian, điều này là vô
cùng quan trọng và ảnh hƣởng trực tiếp đến kết quả bài viết của trẻ.
1.1.4.2. Đặc điểm tâm lí

18


Tâm lý học sinh lớp 3 chƣa ổn định, có thể thay đổi dƣới tác động giáo
dục của gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Trẻ thƣờng thiếu tính kiên trì luyện
tập, khó thực hiện đƣợc các động tác đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ. Trong khi đó,
việc rèn luyện các thao tác tập viết chữ hoa lại đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và
khéo léo cao. Ở học sinh lớp 3, tính bắt chƣớc cũng là đặc điểm quan trọng,
trẻ bắt chƣớc ngƣời lớn, bạn bè cũng nhƣ các nhân vật trong phim, trong
sách,... Thực chất, bắt chƣớc là “con dao” hai lƣỡi. Trẻ bắt chƣớc cả cái xấu
lẫn cái tốt. Cho nên, mọi hành động, cử chỉ, nét chữ của giáo viên cần phải
mẫu mực để học sinh noi theo.
1.1.4.3. Đặc điểm sinh lí
Bộ xƣơng của trẻ đang trong giai đoạn cốt hóa, các cơ bắp và dây
chằng phát triển nhanh chóng. Những cơ lớn phát triển sớm hơn các cơ nhỏ.
Do đó, trẻ dễ thực hiện các cử động tƣơng đối mạnh nhƣng lại khó thực hiện
các cử động nhỏ, đòi hỏi sự khóe léo và tỉ mỉ cao. Đó cũng chính là lí do giải
thích tại sao học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện kĩ thuật viết
chữ hoa.
Hệ xƣơng còn nhiều mô sụn, xƣơng sống, xƣơng hông, xƣơng chân,
xƣơng tay đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,... Do đó
kích thƣớc bàn ghế, tƣ thế ngồi học sẽ ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển cơ thể
của trẻ, trẻ ngồi bàn quá cao hay quá thấp, ngồi viết không đúng tƣ thế,... sẽ
làm vẹo cột sống, để lại di chứng cả đời. Vì thế mà trong các hoạt động vui
chơi, trong các tiết học giáo viên cần phải chú ý quan tâm, chú ý đến tƣ thế
ngồi học, dáng đi, chạy nhảy ở các em để đề phòng cong vẹo, gù xƣơng ở trẻ.
Không nên cho các em mang vác các vật quá nặng, trách để học sinh ngồi viết
quá lâu, làm những việc quá tỉ mỉ sẽ gây mệt mỏi ở các em.
Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ. Các cơ và xƣơng bàn tay
của trẻ đang trong độ phát triển nhiều chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×