Tải bản đầy đủ

ĐỒ ÁN QUY HOẠCH HỆ THỐNG TƯỚI HUYỆN TAM ĐẢO VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------  ------T. L. U

NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Họ và
tên:

Phạm Văn Trình

Hệ đào
tạo:

Chính quy

Lớp:

55NQH

Ngành:


Kỹ thuật tài nguyên nước

Khoa:

Kỹ thuật tài nguyên nước

1. TÊN ĐỀ TÀI
QUY HOẠCH HỆ THỐNG TƯỚI HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC PA1
2. CÁC TÀI LIỆU CƠ BẢN
1, Đặc điểm tự nhiên khu vực.
2, Điều kiện kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu.
3, Tài liệu khí tượng, thuy văn của khu vực.
4, Bản đồ hệ thống.
5, Giáo trình: Quy hoạch và thiết kế hệ thống thủy lợi, Thủy văn công trình tập 1
và tập 2, Giáo trình Thủy lực.
6, Các quy phạm, tiêu chuẩn thiết kế công trình thủy lợi.
3. NỘI DUNG CÁC PHẦN THUYẾT MINH VÀ TÍNH TOÁN
Chương 1: Tình hình chung của khu vực.
Chương 2: Tính toán các yếu tố khí tượng thủy văn.
Chương 3: Tính toán chế độ tưới cho cây trồng.
Chương 4: Đề xuất phương án quy hoạch.
Chương 5: Tính toán điều tiết hồ Xạ Hương.
Chương 6: Thiết kế sơ bộ tràn xả lũ.


4. BẢN VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
1, Bản đồ khu vực - A0
2, Bình đồ khu tưới - A1
3, Bản vẽ giản đồ hệ số tưới - A1
4, Bản vẽ mặt cắt dọc, mặt cắt bằng, mặt cắt ngang tràn xả lũ và các khớp nối A1
5. GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Phần

Giáo viên hướng

dẫn
Toàn phần

TS. Nguyễn Văn Tính



6. NGÀY GIAO NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN
Ngày 25 tháng 07 năm 2017
Trưởng Bộ môn

Giáo viên hướng

(Ký và ghi rõ Họ tên)

(Ký và ghi rõ Họ

dẫn
tên)

Nhiệm vụ Đồ án tốt nghiệp đã được Hội đồng thi tốt nghiệp của Khoa thông qua
Ngày…tháng …năm 20…
Chủ tịch Hội đồng
(Ký và ghi rõ Họ tên)

Sinh viên đã hoàn thành và nộp Đồ án cho Hội đồng thi.
Ngày…tháng …năm 20…
Sinh viên thực hiên
(Ký và ghi rõ Họ tên)



Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Ngành Kỹ thuật tài

MỞ ĐẦU
Huyện Tam Đảo nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc cách thị xã Vĩnh Yên
10km về phía Đông Bắc. Địa hình huyện Tam Đảo tương đối đa dạng có vùng miền núi,
núi cao, có vùng đồi gò, có vùng đất bãi ven sông. Mỗi vùng đều có những điều kiện
tự nhiên đặc thù với những thuận lợi, khó khăn khác nhau trong phát triển sản xuất
nông, lâm nghiệp. Đặc biệt Tam Đảo nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa có mùa đông
lạnh và mùa hè mát mẻ thuận lợi cho nghỉ dưỡng và du lịch. Cùng với đó đây cũng có
nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng và thị trấn ở độ cao vô cùng đặc
biệt quanh năm sương phủ luôn mang đến sự lôi cuốn đặc biệt cho con người khám
phá. Nhìn chung đây là vùng có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi để phát triển du
lịch và nghỉ dưỡng. Nếu được đầu tư phát triển sẽ đem lại nguồn lợi không nhỏ cho
vùng cũng như người dân trong khu vực.
Tam Đảo có trữ lượng nước mặt tướng đối lớn và chiếm tổng thể toàn vùng. Tại
đây có sông Phó Đáy và nhiều suối nhỏ ở ven các chân núi. Những năm gần đây, rừng
được bảo vệ tốt hơn nên nguồn sinh thuỷ được cải thiện, nguồn nước tương đối dồi
dào. Đây là điều kiện thuận lợi về tưới nước, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp
hàng hoá. Mặc dù các năm gần đây hệ thống thuỷ lợi đã được nhà nước quan tâm đầu
hơn song việc đáp ứng nước cho các yêu cầu của sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được
đầy đủ và đồng bộ: vùng có lượng nước dồi dào, vùng thì thiếu nước làm ảnh hưởng
đến việc sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế của hệ thống thủy lợi Tam Đảo mang lại.
Do đó việc nên phương án quy hoạch hệ thống tưới để phân bổ và tăng hiệu quả sử
dụng nguồn nước là việc thiết yếu và cấp bách và đây là cơ sở em chọn đề tài đồ án tốt
nghiệp: “Quy hoạch hệ thống tưới huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc PA1”.

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Ngành Kỹ thuật tài

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là Đồ án tốt nghiệp của bản thân tác giả. Các kết quả
tính toán trong Đồ án tốt nghiệp này là trung thực và rõ ràng không sao chép từ bất kỳ
một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu
có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.
Tác Giả

Phạm Văn Trình

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Ngành Kỹ thuật tài

LỜI CÁM ƠN
Được sự phân công của khoa Kỹ thuật tài nguyên nước trường Đại học Thủy
Lợi và sự hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Văn Tính, em đã hoàn thành đồ án tốt
nghiệp với đề tài “Quy hoạch hệ thống tưới huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc PA1”.
Em xin chân thành cảm ơn: Ban Giám Hiệu nhà trường đã quan tâm tạo điều
kiện thuận lợi để chúng em học và tích lũy kiến thức và các thầy cô trong khoa kỹ
thuật tài nguyên nước cùng toàn thể các thầy cô đang làm việc tại trường đại học Thủy
Lợi đã tận tâm giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong trong quá trình học
tập.
Đặc biệt em xin cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Văn Tính đã luôn luôn quan tâm,
tận tình hướng dẫn và giảng giải cho em trong suốt thời gian hoàn thành đồ án tốt
nghiệp.
Do đồ án được thực hiện trong thời gian có hạn, kiến thức và kinh nghiệm bản
thân còn hạn chế nên đồ án không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong
nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn sinh viên để
đồ án của em có thể hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2017
Sinh viên
Phạm Văn Trình

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Ngành Kỹ thuật tài

MỤC LỤC

Trang

DANH MUC BẢNG BIỂU…………………………………………………………...
DANH MUC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ………..………….……………………….

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Ngành Kỹ thuật tài

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Ngành Kỹ thuật tài

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 10

Ngành kỹ thuật tài

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Tam Đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Vĩnh Phúc. Huyện lỵ tạm thời của
huyện Tam Đảo đóng trên địa bàn xã Hợp Châu, cách thị xã Vĩnh Yên 10km về phía Đông
Bắc.
- Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang.
- Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và tỉnh Thái Nguyên
- Phía Nam giáp huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên.
- Phía Tây giáp huyện Tam Dương và huyện Lập Thạch.
Trục Quốc lộ 2B chạy dọc huyện với chiều dài 20km, nối liền thị xã Vĩnh Yên
với khu nghỉ mát Tam Đảo, ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các trục tỉnh lộ 310,
tỉnh lộ 314 tạo ra mạng lưới giao thông tương đối liên hoàn. Tuy nhiên chất lượng mặt
đường chưa tốt, ảnh hưởng đáng kể đến tiến tình phát triển kinh tế-xã hội của huyện
trong những năm qua.
Huyện Tam Đảo được thành lập trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính một
số xã, thị trấn thuộc huyện Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch và thị xã Vĩnh Yên.
Hiện tại, huyện có 9 đơn vị hành chính cấp xã là: Xã Minh Quang, Xã Hợp Châu, xã
Hồ Sơn, Xã Tam Quan xã Đại Đình, Thị trấn Tam Đảo; Xã Đạo Trù, xã Bồ Lý, xã Yên
Dương, Ngoài ra còn một số tổ chức đóng trên địa bàn như: Lâm trường Tam Đảo,
Vườn Quốc gia Tam Đảo, một số đơn vị quốc phòng và một số doanh nghiệp nhỏ.
1.1.2 Đặc điểm địa hình khu vực
Địa hình huyện Tam Đảo tương đối đa dạng, phức tạp, có vùng miền núi và
núi cao, ngọn Tam Đảo cao trên 1.200 m và khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao trên
800 m so với mực nước biển. Mỗi vùng đều có những điều kiện tự nhiên đặc thù
với những thuận lợi, khó khăn khác nhau trong phát triển sản xuất nông, lâm

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 11

Ngành kỹ thuật tài

nghiệp. Vùng miền núi và núi cao có diện tích khoảng 11.000 ha, chủ yếu do vườn
Quốc gia Tam Đảo quản lý.
1.1.3 Đặc điểm khí tượng
Tam Đảo nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, mùa hè mát mẻ. Do
địa hình tương đối phức tạp nên khí hậu thời tiết ở Tam Đảo được chia thành 2 tiểu
vùng: Tiểu vùng khí hậu Tam Đảo núi quanh năm mát mẻ và tiểu vùng khí hậu vùng
thấp mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến vùng Đông Bắc Bắc bộ.
Theo tài liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn đặt tại thị xã Vĩnh Yên và
thị trấn Tam Đảo về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khi hậu như sau:
a, Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình tháng trong nhiều năm là 24.03 0C. Ở độ cao 1000 m so với
mực nước biển có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn các vùng từ 3-4 oC do chịu ảnh
hưởng của yếu tố địa hình nhưng mang lại một điều đặc biệt cho khu nghỉ dưỡng tại
thị trấn Tam Đảo. Từ tháng 5 đến tháng 9 có nhiệt độ lớn nhất do đón nhận lượng bức
xạ lớn từ mặt trời.
Bảng 1.1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng nhiều năm trạm Vĩnh Yên (oC)
Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Vĩnh Yên 17.6 18.3 20.0 25.0 27.3 28.6 29.2 29.3 27.9 25.1 21.4

18.7

b, Lượng mưa
Lượng mưa trung bình nhiều năm là 1569 mm/năm. Lượng mưa phân bố không
đều trong năm, thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm phần lớn
tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng
mưa chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng mưa trong năm. Từ số liệu thu thập nhiều
năm ta có:
Lượng mưa năm cao nhất: 2518.2 mm (năm 2005).
Lượng mưa năm thấp nhất: 834.7 mm (năm 2011).

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 12

Ngành kỹ thuật tài

Nhìn chung lượng mưa tại khu vực tương đối lớn rất thuận lợi cho việc tích trữ
nước cũng như sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên do phân bố không đều nên rất cần
biền pháp điều tiết phân bổ nguồn nước cho hợp lý.
Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình tháng tại trạm Vĩnh Yên (mm/tháng)
Tháng
Vĩnh
Yên

1

2

3

31.7

30

4

5

6

7

8

9

10

48.9 79.8 190.5 298 238.4 259.2 155.6 144.6

11

12

6
9

23.4

c, Ánh sáng
Tổng số giờ nắng bình quân ngày trong nhiều năm là 4 giờ. Trong đó từ tháng 6
đến tháng 9 có số giờ nắng trung bình ngày cao nhất từ 5,1 đến 5,7 giờ. Những tháng
đầu năm là tháng 1, 2 có số giờ nắng ít nhất từ 1,6 giờ dến 2,1 giờ.
Bảng 1.3: Số giờ nắng tổng cộng trung bình ngày nhiều năm trạm Vĩnh Yên (h/ngày)
Tháng
Vĩnh Yên

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

2.1

1.6

1.4

3.3

4.7

5.1

5.7

5.7

5.7

4.9

4.7

3.5

d, Chế độ gió
Về chế độ gió, hướng gió thịnh hành phân chia thành 2 mùa rõ rệt là gióa mùa
đông nam và gió mùa đông bắc. Gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió
mùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2.
Bảng 1.4: Tốc độ gió trung bình tháng trong nhiều năm trạm Vĩnh Yên (m/s)
Tháng
Vĩnh Yên

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1.8

2.0

1.8

1.9

1.9

1.7

1.5

1.4

1.6

1.7

1.7

1.9

e, Độ ẩm
Độ ẩm tương đối trong tháng trung bình nhiều năm là 83%. Vùng núi cao quanh
năm có sương mù tạo nên cảnh quan mờ ảo rất đẹp. Nhìn chung độ ẩm không có sự

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 13

Ngành kỹ thuật tài

chênh lệch nhiều qua các tháng trong năm giữa vùng núi với vùng trung du và vùng
đồng bằng của khu vực Tam Đảo.
Trong năm 2009 có tháng 3 độ ẩm lớn nhất đạt 94%, năm 2011 vào tháng 11 và
tháng 12 có độ ẩm nhỏ nhất đât 74,7%.
Bảng 1.5: Độ ẩm tương đối tháng trung bình nhiều năm trạm Vĩnh Yên (%)
Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Vĩnh Yên 82.1 83.9 87.8 85.2 82.6 84.6 83.0 84.5 81.5 82.5 78.4

79.5

f, Bốc hơi
Lượng bốc hơi bình quân nhiều năm trên khu vực biến đổi từ vùng cao xuống
vùng thấp, lượng bốc hơi đạt cực đại vào các tháng 5và tháng 6, thấp vào các tháng
mùa lạnh và đạt cực tiểu vào tháng 2.
Bảng 1.6: Lượng bốc hơi tháng trung bình nhiều năm trạm Vĩnh Yên (mm/tháng)
Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Vĩnh Yên 65.1 57.1 61.7 72.0 102.3 97.2 94.2 77.5 78.9 81.8 76.8 74.4

Nhìn chung, khí hậu ở Tam Đảo tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,
đặc biệt vùng Tam Đảo núi có chế độ khí hậu lý tưởng cho việc phát triển các khu nghỉ
mát vui chơi và phát triển du lịch sinh thái.
1.1.4 Đặc điểm thủy văn sông ngòi
Tam Đảo có sông Phó Đáy và nhiều suối nhỏ ở ven các chân núi. Những năm
gần đây, rừng được bảo vệ tốt hơn nên nguồn sinh thuỷ được cải thiện, nguồn nước
tương đối dồi dào. Đây là điều kiện thuận lợi về tưới nước, phục vụ phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hoá.
Nước mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu là các sông suối, ao, hồ. Hiện nay, trên địa
bàn huyện có một số hồ chứa nước tương đối lớn phục vụ cho phát triển sản xuất như:
Hồ Xạ Hương 13.4 triệu m3, Hồ Vĩnh Thành với dung tích chứa 2.7 triệu m 3, Hồ Làng
Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 14

Ngành kỹ thuật tài

Hà 2,3 triệu m3. Theo đánh giá của Công ty khai thác các công trình thuỷ lợi cho thấy
chất lượng nguồn nước mặt ở tất cả các hồ chứa đều khá tốt, có thể khai thác, xử lý để
cung cấp nước cho sinh hoạt phục vụ đời sống người dân trong khu vực.
Nước ngầm: Hiện nay chưa có nghiên cứu nào về khai thác nước ngầm nhưng
qua khảo sát cho thấy, chất lượng nước ngầm ở các giếng khoan của nhân dân khá tốt.
Do vậy có thể cho phép nhận định nguồn nước ngầm ở Tam Đảo tương đối dồi dào,
đảm bảo chất lượng để khai thác nước sinh hoạt.
1.1.5 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng của khu vực
1.1.5.1. Tình hình địa chất
Trên địa bàn huyện có các nhóm đá chính như sau:
Các đá trầm tích lục nguyên màu đỏ: Phân bố ở phía đông nam Tam Đảo, vùng
Đa Phúc, bao gồm cát kết đá phiến sét màu đỏ nâu, phớt lục, phớt tím xen kẽ với bột
kết, đá phiến sét phớt đỏ hệ tầng Nà Khuất.
Các đá trầm tích lục nguyên có chứa than và phân bố thành dải hẹp ở khu vực
Đạo Trù (huyện Tam Đảo), thành phần bao gồm cuội kết, cát kết, đá phiến sét, sét than
và lớp than đá; phần trên gồm cát kết, bột kết, đá phiến sét màu xám vàng, xám sẫm
thuộc hệ tầng Văn Lãng.
Các đá phun trào phân bố ở phần đông bắc tỉnh, chiếm toàn bộ dãy núi Tam
Đảo, bao gồm: các đá ryolit đaxit, ryolit porphyr, felspat, plagioclas; tướng á phun
trào: xuyên cắt các đá phun trào, gồm ryolit porphyr có ban tinh lớn, ít felspat dạng
đai mạch nhỏ; tướng phun nổ: các thấu kính tuf chứa ít các mảnh dăm, bom núi lửa
của hệ tầng Tam Đảo. Các đá phun trào Tam Đảo chủ yếu là đá ryolit, một số là đaxit.
1.1.5.2. Tình hình thổ nhưỡng
Bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người là 0,36 ha nhưng do đã giao
cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Lâm trường Tam Đảo và các tổ chức khác trên địa
bàn nên thực tế diện tích sản xuất bình quân đầu người ở Tam Đảo khá thấp. Đây là
một sức ép rất lớn trong phát triển kinh tế-xã hội vì phần lớn dân số và lao động
trong huyện đang thu hút vào lĩnh vực nông nghiệp. Mặt khác, độ màu mỡ của đất
Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 15

Ngành kỹ thuật tài

đai thấp, khả năng đầu tư thâm canh trong sản xuất nông nghiệp bị hạn chế nên năng
suất cây trồng chưa cao. Vì vậy để mang lại hiệu quả cần phải chú ý vào loại cây
trồng phù hợp để mang lại kinh tế.
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện khi thành lập là 23.589,90ha được phân bổ
cho các mục đích sử dụng như bảng 1.7.
Bảng 1.7: Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Tam Đảo
Loại đất

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Tổng diện tích tự nhiên

23589,90

100,00

1. Đất nông nghiệp

4331,40

18,36

2. Đất lâm nghiệp có rừng

12581,56

53,33

3. Đất chuyên dùng

1542,43

6,54

4. Đất ở

405,61

1,72

5. Đất chưa sử dụng

4728,90

20,05

1.1.6. Tài nguyên khoáng sản
Huyện Tam Đảo là không có nhiều tài nguyên khoáng sản. Tại xã Minh Quang
có nguồn tài nguyên quặng sắt và 2 mỏ đá nhưng trữ lượng không lớn, chỉ có thể phát
triển công nghiệp khai thác qui mô vừa và nhỏ. Tam Đảo có đá xây dựng trữ lượng
hàng tỷ m3 được phân bổ ở dãy núi Tam Ðảo; ngoài ra còn có than; ba rít; đồng; vàng
sa khoáng; thiếc ở Đạo Trù; sắt ở Đồng Bùa; cao lanh ở Yên Dương.
1.1.7. Cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
1.1.7.1. Cảnh quan thiên nhiên
Tam Đảo có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có thế mạnh trong phát triển phát
triển du lịch và xây dựng các khu nghỉ mát cuối tuần như: Vùng núi Tam Đảo quanh
năm có mây mù bao phủ tạo ra cảnh quan thiên nhiên nên thơ,trữ tình. Cột phát sóng
truyền hình Tam Đảo ở độ cao trên 1200m là một công trình kiến trúc ở độ cao độc
nhất vô nhị tại Việt Nam có thể phát triển thành khu tham quan du lịch và một số thác

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 16

Ngành kỹ thuật tài

nước và mặt nước các công trình thuỷ lợi đẹp như thác Thác Bạc. Ngoài ra, trong vùng
còn có, các khu rừng tự nhiên, có vườn quốc gia Tam Đảo rất thuận lợi cho phát triển
du lịch sinh thái.
1.1.7.2. Tài nguyên nhân văn
Khu di tích Tây Thiên đã được xếp hạng, hàng năm thu hút hàng chục vạn
người đến tham quan. Nếu được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để hình thành Tour du
lịch khép kín: Tây Thiên-Tam Đảo 2-Tam Đảo 1 sẽ là nguồn thu chính, là động lực
mạnh mẽ nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
theo hướng nâng cao tỷ trọng du lịch, dịch vụ, thương mại và công nghiệp, giảm dần
tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế chung toàn huyện.
1.2 Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội của khu vực
1.2.1 Tình hình dân sinh
1.2.1.1. Dân số
Dân số toàn huyện năm 2000 là 62790 người, năm 2004 là 67235 người. Tốc độ gia
tăng dân số giai đoạn 2000-2004 là 1,72 %/năm. Đây là tốc độ phát triển dân số khá
cao so với các địa phương khác trong tỉnh và trong vùng Đồng bằng sông Hồng.
Trên địa bàn huyện có 2 dân tộc chiếm phần lớn dân số là dân tộc Kinh và dân
tộc Sán Dìu, các dân tộc khác (dân tộc Lào, dân tộc Mường, dân tộc Hoa) có ít. Phân
theo cơ cấu dân tộc: Dân tộc Kinh chiếm 57,78%, dân tộc Sán Dìu chiếm gần 42,07%,
các dân tộc khác chỉ chiếm 0,14%.
Dân số đang tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp. Năm 2000 toàn huyện
có 13.214 hộ thì có tới 12.760 hộ nông nghiệp (96,56%), hộ phi nông nghiệp chỉ chiếm
3,44%. Năm 2004 toàn huyện có 14.384 hộ thì có 13.680 hộ nông nghiệp (chiếm
95,11%), số hộ phi nông nghiệp có 704 hộ (chiếm 4,89%). Trong cơ cấu dân số năm
2000, dân số nông nghiệp chiếm 93,25%, dân số phi nông nghiệp chiếm 6,75%, đến
năm 2004, dân số nông nghiệp chiếm 92,87% (giảm 0,38% so với năm 2000), dân số
phi nông nghiệp chiếm 7,13%.
1.2.1.2. Lao động
Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 17

Ngành kỹ thuật tài

Trình độ lao động nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được các yêu cầu phát
triển kinh tế, xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế thế giới.
Tổng nguồn lao động của huyện năm 2001 có 40.255 người, trong đó có 30.573
trong độ tuổi và 9.682 người ngoài độ tuổi có tham gia lao động. Năm 2004 tổng
nguồn lao động có 44.023 người, trong đó có 33.586 lao động trong độ tuổi và
10.437 người ngoài tuổi có tham gia lao động. Tốc độ gia tăng nguồn lao động là
3,03%, cao hơn tốc độ gia tăng dân số.
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2001 là 37.390 người,
năm 2004 là 39.830 người. Số lao động có nhu cầu việc làm nhưng thiếu việc làm năm
2001 là 2.685 người, năm 2004 là 4.193 người.
Lao động chưa qua đào tạo tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp nên nông dân
chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm. Mặc dù nông dân có truyền thống cần cù lao động
nhưng do trình độ lao động còn thấp nên việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả thấp.
1.2.2 Tình hình kinh tế
1.2.2.1. Tình hình nông nghiệp
Tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện năm 2004 có 4.314,57 ha,
riêng thị trấn Tam Đảo có rất ít đất nông nghiệp do địa hình núi cao và dốc rất khó
khăn cho việc cung cấp nước tưới. Bình quân đất nông nghiệp tính trên đầu người
hiện nay đạt 640m2, thấp hơn nhiều so với các huyện miền núi khác trong tỉnh và các
tỉnh trong vùng Miền núi, Trung du phía Bắc.
Trong đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm có 3.287.33 ha, chủ yếu là đất
trồng lúa . Đất nương rẫy và đất trồng cây hàng năm khác chiếm phần nhỏ hơn. Mặt
nước nuôi trồng thuỷ sản toàn huyện chỉ có 49,8 ha. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
cho thấy nền nông nghiệp của huyện Tam Đảo hiện nay vẫn còn nặng về sản xuất tự
cung tự cấp, sản xuất hàng hoá chưa phát triển mạnh.
Tình hình phát triển sản xuất ngành trồng trọt:

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 18

Ngành kỹ thuật tài

Tập đoàn cây trồng của huyện hiện nay tương đối phong phú, đa dạng nhưng
quy mô sản xuất hàng hoá còn nhỏ bé, đa số mới chỉ tập trung sản xuất lúa để giải
quyết nhu cầu lương thực tại chỗ. Cây ngô, khoai lang và sắn phát triển để phục vụ
chăn nuôi là chủ yếu, diện tích gieo trồng ngô năm 2000 là 1268,76 ha, năm 2003 là
1361,12 ha. Khoai lang chủ yếu được trồng vào vụ đông với diện tích 619,5 ha năm
2000 và 568,13 ha vào năm 2003. Diện tích trồng sắn ít biến động, hàng năm toàn
huyện có khoảng 320-370 ha. Gần đây, một số hộ nông dân đã phát triển trồng khoai
sọ đạt giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần trồng lúa, ngô nhưng do thị trường tiêu thụ
không ổn định nên diện tích trồng loại sản phẩm này còn nhỏ và chưa mở rộng ra
được.
Nhóm cây rau, đậu thực phẩm chủ yếu sản xuất để phục vụ tiêu dùng gia
đình, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, diện tích gieo trồng năm 2000 có 342 ha,
năm 2003 cũng chỉ đạt 371 ha. Nhóm cây công nghiệp ngắn ngày trong huyện chủ
yếu là lạc, đậu tương và mía, trong đó đậu tương chiếm tỷ trọng diện tích cao nhất.
Nhóm cây ăn quả tương đối phong phú nhưng sản phẩm chủ lực của huyện là vải và
nhãn và dứa. Trong tổng diện tích cây ăn quả năm 2000 là 468 ha có tới 265,5 ha
vải, 155,3 ha dứa. Nhìn chung, sản phẩm cây ăn quả những năm gần đây giá rẻ nên
hiệu quả kinh tế chưa cao.
Đặc biệt các loại cây trồng tuy đã được thay thế các giống cũ bằng các giống
mới có năng suất cao hơn nhưng năng suất cây trồng ở Tam Đảo cũng chỉ thuộc loại
trung bình. Năng suất lúa đạt bình quân 39-42 tạ/ha/vụ. Năng suất rau, đậu tương, lạc
và các loại cây ăn quả năng suất còn thấp.
Về kỹ thuật sản xuất: Trình độ kỹ thuật của người lao động trong nông nghiệp
còn thấp đã hạn chế đáng kể đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương
thức thâm canh và nhanh chóng ứng dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ
vào sản xuất. Mặc dù những năm gần đây, nhiều tiến bộ khoa học-kỹ thuật được
chuyển giao vào sản xuất nhưng do khó khăn nhiều mặt (đặc biệt là vốn đầu tư) nên
hiệu quả chuyển giao tiến bộ kỹ thuật còn thấp, mới chỉ nổi rõ ở tiến bộ kỹ thuật
giống.

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 19

Ngành kỹ thuật tài

1.2.2.2 Tình hình chăn nuôi thủy sản
Tập đoàn vật nuôi của Tam Đảo cũng khá phong phú bao gồm đại gia súc, tiểu
gia súc, gia cầm nuôi cá nước ngọt. Trong cơ cấu kinh tế ngành chăn nuôi, gia súc
chiếm chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là chăn nuôi gia cầm.
Tại địa bàn huyện Tam Đảo có những thuận lợi nhất định trong phát triển chăn
nuôi do gần thị trường tiêu thụ (thị xã Vĩnh Yên, Thị trấn Tam Đảo, thị trường Hà
Nội...) và gần các trung tâm khoa học kỹ thuật và dịch vụ thức ăn chăn nuôi như: Trại
gà giống Tam Đảo, các nhà máy chế biến thức ăn gia súc.
Về quy mô: Đàn trâu có xu hướng giảm do sức kéo trong nông nghiệp đã được
thay thế dần bằng cơ giới. Năm 2000, tổng đàn trâu toàn huyện có 5450 con, đến năm
2004 giảm xuống còn 5.199 con, bình quân mỗi năm giảm 1,17%.
Đàn bò tăng 0,8%/năm, từ 10.106 con năm 2000 lên 10.460 con vào năm 2004.
Giống bò đưa vào chăn nuôi đang được cải tạo dần theo hướng sinh hoá để mang lại
hiệu quả về kinh tế cao và phục vụ cho ngành sản xuất thương phẩm.
Đàn lợn tăng khá nhanh. Năm 2000, tổng đàn lợn có 29,27 ngàn con, đến năm
2004 tăng lên 32,93 ngàn con, bình quân tăng 2,99%/năm. Hiện nay hầu hết các hộ nông
dân đều nuôi lợn lai kinh tế và đang từng bước phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc và
siêu nạc để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường.
Đàn gia cầm tăng mạnh, tổng đàn gia cầm năm 2000 là 283,74 ngàn con, năm
2004 tăng lên 352 ngàn con tăng trưởng 5,54%/năm. Cơ cấu giống gia cầm cũng
đang có những sự điều chỉnh cho phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường. Đàn gà
công nghiệp có xu hướng giảm, thay thế vào đó là các giống gà có chất lượng thịt
cao nuôi bán thâm canh hoặc nuôi thả vườn như các giống gà Trung Quốc, gà ta.
Ngược lại, các giống vịt lai, ngan lai và ngan Pháp có xu hướng tăng lên.
Tam Đảo còn có thể phát triển nuôi ong lấy mật do có nhiều rừng và nhiều cây
ăn quả. Tuy nhiên chăn nuôi ong còn diễn biến thất thường và phụ thuộc vào thời tiết.
Năm 2000 toàn huyện có 547 đàn ong, năm 2001 phát triển lên 1.764 đàn nhưng đến
năm 2004 lại giảm xuống còn 841 đàn.

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 20

Ngành kỹ thuật tài

Do hạn chế về điều kiện mặt nước nên nuôi cá nước ngọt phát triển chậm. Mặt
khác, việc chuyển đổi những chân ruộng trũng có thể phát triển mô hình Lúa + Cá
hoặc chuyển đổi sang chuyên nuôi cá thâm canh còn diễn ra châm chạp do nhiều khó
khăn như: Đất đai manh mún, nông dân vẫn còn năng tâm lý tự cung tự cấp lương thực
hoặc thiếu vốn đầu tư tạo điều kiện cho công tác sản xuất.
Về năng suất và kỹ thuật: Nhìn chung năng suất chăn nuôi ở các hộ gia đình
còn thấp. Gần đây đã xuất hiện một số trang trại, gia trại chăn nuôi lợn, chăn nuôi gà
đã mang lại hiệu quả khá cao. Tuy nhiên các mô hình chăn nuôi trang trại. gia trại chưa
được nhân rộng. Công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi chưa có. Về kỹ thuật sản
xuất: Phương thức chăn nuôi còn mang tính tận dụng là chính. Một số hộ đã áp dụng
phương thức chăn nuôi bán thâm canh và thâm canh. Đặc biệt, những năm gần đây
nhu cầu về thịt trâu, thịt bò tăng mạnh nên đã có nhiều hộ phát triển trồng cỏ voi để
chăn nuôi trâu, bò thịt cung cấp cho thị trường. Đây là một hướng đi mới có hiệu quả.
1.2.2.3 Tình hình phát triển sản xuất ngành lâm nghiệp
Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng toàn huyện năm 2004 là 12.581,56 ha.
Diện tích rừng tự nhiên có 7.176,7 ha bao gồm: Rừng sản xuất 22,9 ha; Rừng phòng
hộ 145,87 ha; Rừng đặc dụng 7.007,7 ha. Diện tích rừng trồng có 5.402,68 ha, trong
đó có 2.493,96 ha rừng sản xuất 903,1 ha rừng phòng hộ và 2005,62 ha rừng đặc dụng.
Đất ươm cây giống có 2,41 ha. Phần lớn đất rừng trong huyện do 2 đơn vị quản lý là
Vườn Quốc gia Tam Đảo và Lâm trường Tam Đảo. Trong tổng số 9 xã của huyện thì
có 7 xã nằm trong vùng đệm của vườn quốc gia Tam Đảo.
Kể từ khi Vườn quốc gia Tam Đảo được thành lập thì tài nguyên rừng đã và
đang từng bước được phục hồi phát triển, Qua các cuộc hội thảo tại các xã đã rút ra kết
luận: Tài nguyên rừng đang từng bước được phục hồi và làm giàu thêm, nguồn sinh
thuỷ cho các công trình thuỷ lợi đang từng bước được cải thiện rõ rệt.
Công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng được tăng cường đã làm cho vốn rừng được
phục hồi nhanh chóng. Đến nay, đã số nhân dân đã nhận thức được hậu quả của việc khai
thác rừng bừa bãi nên tình trạng phá rừng làm nương rẫy hoặc khai thác rừng bừa bãi đã
giảm hẳn. Nói chung, Tam Đảo có tiềm năng phát triển kinh tế rừng, nhất là các tiềm
Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 21

Ngành kỹ thuật tài

năng phát triển sản xuất lâm sản ngoài gỗ nhưng cho đến nay các tiềm năng này vẫn
chưa được khai thác tốt.
1.2.2.4 Thực trạng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Có thể nói công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở Tam Đảo còn hết sức nhỏ bé.
Từ năm 2004 công nghiệp khai thác đá ở Minh Quang đã đi vào hoạt động sản xuất và
mang lại sự tăng trưởng không hề nhỏ cho Tam Đảo.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở Tam Đảo phát triển chậm do nguồn tài
nguyên không nhiều, mặt khác, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp kém phát triển,
một số nghề truyền thống đã bị mai một chưa khôi phục được.Sản phẩm chủ yếu của
ngành công nghiệp trong huyện còn đơn điệu, Các sản phẩm chính bao gồm: Gạch
xây dựng, đá, cát xây dựng, cửa hoa cửa sắt, đồ gỗ gia dụng, đậu phụ, rượu, bún
bánh và các sản phẩm nghề mây tre phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt (thúng, rổ
rá...).Các sản phẩm ngành chủ yếu được tiêu thụ tại chỗ song vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu.
Đặc biệt nhu cầu về vật liệu xây dựng (đá, cát, gạch) là rất lớn và sẽ còn lớn
hơn rất nhiều trong giai đoạn tới song ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
vẫn chưa mở mang được.
Công nghiệp chế biến nông sản chưa phát triển nên chưa tạo được thị trường
tiêu thụ ổn định nông sản nguyên liệu tại địa bàn, đặc biệt là các sản phẩm cây ăn quả.
Nghiên cứu kết quả phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của
huyện trong những năm qua cho phép rút ra một số nhận xét sau đây:
Tam Đảo không có nhiều lợi thế trong phát triển công nghiệp-TTCN do nguồn
tài nguyên khoáng sản không nhiều. Nhìn chung, công nghiệp-TTCN ở Tam Đảo là
các ngành công nghiệp có qui mô nhỏ, phân tán, công nghệ sản xuất đơn giản, chủ yếu
là thủ công nên năng suất lao động và chất lượng sản phẩm còn thấp.
Công nghiệp chế biến nông-lâm sản kém phát triển nên chưa thu hút được
nông, lâm sản nguyên liệu tại địa bàn huyện. Công nghiệp vật liệu xây dựng có
tiềm năng lớn về thị trường nhưng ngành này còn phát triển chậm, chưa đáp ứng

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 22

Ngành kỹ thuật tài

được nhu cầu. Tiềm năng phát triển công nghiệp phục vụ du lịch như công nghiệp
chế biến nông sản (chế biến hoa, quả, chế biến quà bánh...) và các nghề thủ công
mỹ nghệ (hàng lưu niệm, sản phẩm thủ công mỹ nghệ...) còn rất lớn nhưng chưa
khai thác tốt được lợi thế này.
1.2.2.5 Thực trạng phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch
Thương mại, dịch vụ và du lịch chiếm tỷ trọng cao thứ hai, sau nông nghiệp
trong cơ cấu kinh tế chung toàn huyện và đang có chiều hướng phát triển tốt trong
những năm gần đây. Các hoạt động thương mại trong huyện còn nhỏ bé, chủ yếu do
các cá nhân thực hiện và mới chỉ tập trung vào các hoạt động như: Bán hàng ăn uống,
quà bánh, hàng nước và buôn bán vật tư phục vụ sản xuất và đời sống.
Cơ sở hạ tầng thương mại còn thấp kém và thiếu thốn. Hiện tại ở 9 xã, thị trấn
mới có 5 chợ nhưng mới có chợ Đạo Trù được quy hoạch xây dựng và đã quá tải, các
chợ khác hầu hết là chợ tạm. Ngay tại thị trấn Tam Đảo là nơi thu hút khá nhiều
khách du lịch hàng năm cũng chưa có chợ, chỉ có một số hàng quán bá hàng tạp
phẩm và một số nhà hàng phục vụ ăn uống.
Tam Đảo có khá nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử, văn hoá, tín
ngưỡng có thể khai thác để phát triển kinh tế du lịch như:
Danh thắng di tích Tây Thiên Thánh Mẫu nằm trên địa phận xã Đại Đình.
Thị trấn Tam Đảo nằm ở độ cao trên 900 m so với mặt nước biển, có khi hậu
mát mẻ trong lành, từ thời Pháp thuộc đã được xây dựng thành khu nghỉ mát của bọn
thống trị, ngày nay tiếp tục được Nhà nước đầu tư phát triển thành khu du lịch và nghỉ
dưỡng cho người lao động và khách du lịch.
Thị trấn Tam Đảo còn có nhiều di tích văn hoá lịch sử và thắng cảnh như Thác
Bạc, Nhà thờ Thiên chúa, Chùa bà Chúa Ngàn, có Đài tiếp sóng truyền hình cao nhất
cả nước (1200 m) đặt trên đỉnh núi Tam Đảo.
Các địa phương khác trong huyện Tam Đảo cũng có những địa danh và di tích
có giá trị lịch sử, những cảnh quan nếu có tác động đầu tư cải tạo của con người thì
sẽ rất đẹp, rất kỳ thú như: Thác Thập Thình trên suối Bản Long trước đây nước chảy

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 23

Ngành kỹ thuật tài

quanh năm, tung bọt trắng xoá quanh thác. Bên cạnh các khu di tích, các danh lam
thắng cảnh, Tam Đảo còn có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và dịch vụ như có vị
trí ở gần trung điểm gặp nhau của các Tour du lịch phía Bắc.
Hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, công tác quản lý hoạt động kinh doanh
du lịch ngày càng được tăng cường. Kinh tế xã hội trong nước ngày càng phát triển,
quan hệ quốc tế mở rộng đã thúc đẩy hoạt động du lịch của cả khách trong nước và
quốc tế. Huyện Tam Đảo có quyết định chính thức được thành lập từ năm 2004. Phương
hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện được xác định là: "Du lịch, dịch vụ và thương
mại".
Nhưng bên cạnh đó các hoạt động dịch vụ phát triển chậm. Cơ cấu giá trị sản
xuất ngành dịch vụ nặng về các hoạt động dịch vụ công cộng (y tế, văn hoá, giáo dục,
quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng) và dịch vụ vận tải. Các hoạt động dịch vụ
sản xuất như dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ còn
nhỏ bé.
Khách du lịch hiện nay đang được thu hút vào 2 địa điểm chính là khu nghỉ mát
Tam Đảo và khu di tích Tây Thiên. Hoạt động du lịch ở khu nghỉ mát Tam Đảo chủ
yếu là hoạt động nghỉ mát cuối tuần và còn mang tính thời vụ (chủ yếu tập trung vào
mùa hè). Hoạt động du lịch ở khu di tích Tây Thiên là hoạt động du lịch tâm linh, thu
hút khách thập phương quanh năm nhưng tập trung nhiều hơn vào mùa hè. Đối tượng
thu hút chủ yếu là học sinh, sinh viên. Theo số liệu báo cáo của UBND xã Đại Đình;
hàng năm lượng khách thu hút vào khu du lịch Tây Thiên vào khoảng 135 nghìn
người. Tuy nhiên, do cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng du lịch còn thiếu thốn nên chưa
khai thác được những tiềm năng hết sức to lớn của cụm di tích này.
1.2.3 Hiện trạng y tế văn hóa giáo dục
1.2.3.1 Y tế
Sau khi huyện Tam Đảo được thành lập, hệ thống y tế của huyện đã nhanh chóng
được hình thành bao gồm: Trung tâm y tế huyện và 9 Trạm y tế ở tuyến xã, thị trấn. Tổng
số giường bệnh năm 2004 là 51 giường, trong đó có 20 giường tại trung tâm y tế huyện,
còn lại là ở các trạm y tế tuyến xã. Về cơ sở vật chất: Trung tâm y tế huyện chưa có gì
Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 24

Ngành kỹ thuật tài

đáng kể, hiện đang sử dụng địa điểm của Trạm y tế xã Hợp Châu. Phòng khám đa khoa
khu vực Tam Quan đã được bàn giao toàn bộ cơ sở vật chất cho Trạm y tế xã, các trạm y
tế xã, thị trấn còn lại vẫn sử dụng toàn bộ cơ sở vật chất được đầu tư từ khi còn thuộc các
huyện.
Về cán bộ: Hiện mới có 3 trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ và 4 cán bộ đang đi
học đại học, mỗi trạm thiếu từ 2 đến 3 cán bộ y tế. Đội ngũ cán bộ y tế tay nghề cao
còn thiếu, bình quân mới đạt 0,14 bác sỹ/1000 dân.
Nhìn chung do mới thành lập nên hệ thống y tế của Tam Đảo còn rất thiếu thốn
cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như lực lượng cán bộ. Tuy nhiên, lãnh đạo
huyện cũng như toàn thể các cán bộ, y, bác sỹ của ngành đã có nhiều cố gắng trong
bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đồng thời tiếp tục làm tốt công tác y tế cộng
đồng. Trong thời gian tới cần tập trung đầu tư chiều sâu, giúp cho ngành y tế tiếp tục
làm tốt công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân địa phương, đồng thời phục vụ quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.
1.2.3.2 Văn hoá
Hệ thống những thiết chế văn hoá bao gồm những thiết chế văn hoá vật thể và
phi vật thể của huyện rất đa dạng, phong phú, trong thời gian qua bước đầu đã được
đầu tư trùng tu, tôn tạo, bảo tồn, một mặt nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc, đồng thời chuẩn bị cho quá trình phát triển ngành kinh tế mũi nhọn du lịch.
Hiện nay trên địa bàn các xã Minh Quang, Hợp Châu, Đại Đình, Bồ Lý, Yên
Dương, Đạo Trù còn lưu giữ được làn điệu dân ca Soọng Cô truyền thống của dân tộc
Sán Dìu.
Được sự quan tâm của lãnh đạo huyện uỷ, UBND huyện lâm thời, các hoạt
động văn nghệ, thể dục thể thao trên địa bàn diễn ra khá sôi nổi, riêng hoạt động văn
nghệ quần chúng đứng đầu tỉnh Vĩnh Phúc.
Trên địa bàn huyện có lễ hội Tây Thiên thuộc loại lễ hội lớn của miền Bắc,
hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách tham dự.
1.2.3.3 Giáo dục đào tạo

Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Đồ án tốt nghiệp kỹ sư
nguyên nước

Trang 25

Ngành kỹ thuật tài

Hệ thống giáo dục đào tạo của Tam Đảo được hình thành trên cơ sở 32 đơn vị
trường học thuộc 8 xã và 1 thị trấn (trước đây thuộc các huyện Tam Dương, Bình
Xuyên, Lập Thạch và thị xã Vĩnh Yên). Mạng lưới trường học của huyện phân bố
tương đối hợp lý ở các xã theo quy mô dân số.
Bậc học mầm non: Gồm 10 trường, riêng Đạo Trù và Yên Dương mỗi xã có 2
trường, còn lại mỗi xã có 1 trường, (thị trấn Tam Đảo không có do quy mô dân số quá
nhỏ).
Bậc tiểu học: Toàn huyện có 12 trường tiểu học, 7.762 học sinh (năm học 20042005), bình quân 11,8 học sinh tiểu học/100 dân. Trong những năm qua, các xã trong
huyện đã duy trì khá tốt kết quả phổ cập tiểu học và xóa mù chữ. Hàng năm huy động
trẻ trong độ tuổi vào lớp 1 đạt trên 99%, tỷ lệ học sinh bỏ học còn dưới 0,1%. Hiện
nay huyện đã có 01 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, có 2 lớp bán trú học 2
buổi/ngày.
Bậc Trung học cơ sở: Hiện nay huyện có 9 trường với 167 lớp và 6195 học sinh
trung học cơ sở. Trong những năm vừa qua, các trường trên địa bàn huyện đã huy
động được trên 97% số học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6, đã có 8 trên 9 xã, thị
trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh bỏ học dưới 0,3%.
Bậc học phổ thông trung học: Trên địa bàn huyện có 1 trường PTTH (tại xã
Tam Quan) với 28 lớp, 1337 học sinh trong đó học sinh ngoài công lập chiếm 26%.
Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào PTTH đạt gần 70%, tỷ lệ học
sinh bỏ học gần như không có. Ngoài học tại trường Tam Quan, rất nhiều học sinh
PTTH của huyện theo học tại các trường đóng trên địa bàn huyện khác và thị xã Vĩnh
Yên.
Loại hình giáo dục không chính quy: Hiện nay huyện chưa có Trung tâm giáo
dục thường xuyên nhưng hiện có hàng trăm học viên đang theo học các lớp Bổ túc văn
hoá ở các huyện, thị lân cận. Đối với ngành giáo dục-đào tạo hiện có rất nhiều cán bộ,
giáo viên đang theo học tại chức tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
Chất lượng đội ngũ giáo viên: Ngay khi huyện được thành lập Phòng giáo dụcđào tạo đã tham mưu đắc lực cho UBND huyện các giải pháp nhằm giải quyết dứt điểm
Sinh viên: Phạm Văn Trình
55NQH

Lớp:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×