Tải bản đầy đủ

XÁC ĐỊNH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC CHẤP NHẬN SỬ DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI CHĂN NUÔI HEO Ở HUYỆN THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

XÁC ĐỊNH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VIỆC CHẤP NHẬN
SỬ DỤNG BIOGAS CỦA NGƯỜI CHĂN NUÔI HEO
Ở HUYỆN THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRẦN THỊ BÌNH MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2009


Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận luận văn “Xác định yếu tố ảnh
hưởng việc chấp nhận sử dụng biogas ở huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương” do Trần

Thị Bình Minh, sinh viên khóa 31, chuyên ngành Kinh tế tài nguyên môi trường, đã
bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày

PHAN THỊ GIÁC TÂM
Người hướng dẫn,
(Chữ ký)

Ngày

tháng

năm 2009

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo

Thư ký hội đồng chấm báo cáo

(Chữ ký

(Chữ ký

Họ tên)

Họ tên)

Ngày

tháng

năm 2009

Ngày

tháng

năm 2009


LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin chúc ba, mẹ hạnh phúc và có nhiều sức khỏe để luôn là


điểm tựa tinh thần cho con trong những quãng đường phía trước.
Tôi xin cảm ơn tất cả thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt, dạy bảo chúng tôi từ đạo đức
đến những kiến thức quý báo làm hành trang cho chúng tôi vững bước vào đời.
Em xin cám ơn cô Phan Thị Giác Tâm đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong
suốt thời gian tham gia thực tập luận văn tốt nghiệp này. Đạt được kết quả như hôm
nay em xin gửi đến cô lòng tri ân nhiệt thành của em.
Tôi xin cám ơn các anh chị ở các phòng ban huyện Thuân An cùng các hộ dân
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực tập ở
huyên Thuận An, Tỉnh Bình Dương.
Tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, thân hữu đã động viên, chia sẽ những buồn vui
trong suốt quãng đời sinh viên của tôi.
Cuối cùng, tôi xin chúc toàn thể quý thầy cô trong khoa Kinh Tế luôn dồi dào
sức khỏe và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp giáo dục và hoạt động
nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên
TRẦN THỊ BÌNH MINH


NỘI DUNG TÓM TẮT
TRẦN THỊ BÌNH MINH. Tháng 06 năm 2009. “Xác Định Yếu Tố Ảnh
Hưởng Việc Chấp Nhận Sử Dụng Biogas Của Người Chăn Nuôi Heo Ở Huyện
Thuận An, Tỉnh Bình Dương”.
TRAN THI BINH MINH. Tháng 06 năm 2009. “Determination Of The
Factors Influence On Pig Farmer’s Adoption Technology Biogas Of Thuan An
District, Binh Duong Province”
Ngành chăn nuôi là một ngành quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở
Việt Nam. Chăn nuôi heo tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. Tuy nhiên,
hiện nay chăn nuôi đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Huyện Thuận An là một huyện tập trung số lượng đàn heo tương đối lớn 20.395 con
(9/2008). Do các hộ chăn nuôi heo với số lượng ít (dưới 100con) và theo hình thức hộ
gia đình nên họ thường không quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải. Biogas là công
nghệ xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả, vừa tạo ra nguồn năng lượng chất đốt vừa
giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhưng tỷ lệ các hộ chăn nuôi sử dụng vẫn còn thấp.
Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng người chăn nuôi chấp nhận sử dụng biogas giúp các cơ
quan nhà nước đưa ra các quyết định phù hợp nhằm bảo vệ môi trường. Do đó, thông
qua phương pháp thống kê mô tả đề tài đã khái quát tình hình chăn nuôi và xử lý chất
thải chăn nuôi ở huyện Thuận An. Từ đó sử dụng mô hình logit trong kinh tế lượng để
xác định yếu tố ảnh hưởng việc chấp nhận sử dụng biogas của người chăn nuôi heo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tình hình xử lý chất thải ở huyện Thuận An phổ
biến là sử dụng biogas và làm phân hữu cơ. Nhưng phương pháp làm phân hữu cơ đều
không đúng quy cách. Chủ yếu phân để khô và hoai tự nhiên. Sau khi đo lường các
yếu tố tác động đến xác suất chấp nhận biogas. Nghiên cứu thực hiện chạy mô hình
logit, kết quả cho thấy yếu tố số lượng heo, thâm niên chăn nuôi, hổ trợ chi phí lắp đặt
biogas của nhà nước, nhận thức về tầm quan trọng của biogas, đánh giá hiệu quả hoạt
động của biogas và thu nhập có tác động đến yếu tố chấp nhận biogas. Trên cơ sở đở
đó đề tài đưa ra các kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế.


MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt

vii

Danh mục các bảng

viii

Danh mục các hình

x

Danh mục phụ lục

xi

CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề.

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.3. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

3

1.4. Cấu trúc của khóa luận

3

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN

4

2.1. Tổng quan về các tài liệu nghiên nghiên cứu có liên quan
2.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

4
10

2.2.1. Điều kiện tự nhiên

10

2.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Thuận An

12

CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lý luận

16
16

3.1.1. Khái niệm chất chải

16

3.1.2. Sơ lược đặc điểm của chất thải

16

3.1.3. Tác động của chất thải chăn nuôi đến môi trường.

19

3.1.4. Một số biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi

21

3.1.5. Các quy định bảo vệ môi trường

24

3.1.6. Các khái niệm kinh tế

24

3.2. Phương pháp nghiên cứu

26

3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

26

3.2.2. Phương pháp xử lý số liệu

26

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

30

4.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của người được phỏng vấn

30

4.2. Tình hình chăn nuôi heo của huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

32

4.2.1. Quy mô chăn nuôi heo của các hộ
v

32


4.2.2. Thâm niên chăn nuôi heo của các hộ.

33

4.2.3. Khu vực xây dựng chuồng nuôi heo của các hộ.

33

4.2.4. Khoảng cách từ khu vực chăn nuôi đến nhà ở

35

4.2.5. Tình hình tín dụng của các hộ

35

4.2.6. Tham Gia Lớp Tập Huấn Khuyến Nông Của Các Hộ Chăn Nuôi

36

4.3.1. Hình thức xử lý chất thải heo phổ biến

37

4.3.2. Hình thức sử dụng phân heo làm phân hữu cơ

39

4.3.3. Hình thức xử lý phân heo bằng biogas

43

4.4. Nhận thức của người chăn nuôi về môi trường và lợi ích của biogas

48

4.5. Xác định các yếu tố ảnh hưởng người chăn nuôi chấp nhận sử dụng biogas.

52

4.5.1 Mô hình hồi quy

52

4.5.2. Kiểm định mô hình

54

4.5.3. Đánh giá tác động các biến trong mô hình

56

4.5.3. Đánh giá kết quả

59

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

61

5.1. Kết luận

61

5.2. Kiến nghị

62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

64

PHỤ LỤC

68

vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DT

Diện Tích

FAO

Tổ Chức Nông Lương Thế Giới

MT

Môi Trường

QT

Quan Trọng

SD

Sử Dụng

TB

Trung Bình

TP

Thành Phố

UBND

Ủy Ban Nhân Dân

vii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Lượng Khí Thải Gây Hiệu Ứng Nhà Kính Tại Việt Nam ..............................5
Bảng 3.1. Lượng Phân Và Nước Tiểu Do Gia Súc Thải Ra .........................................17
Bảng 3.2. Thành Phần Hóa Học Của Phân Heo Từ 70 – 100 Kg .................................17
Bảng 3.3. Tính Chất Nước Thải Chăn Nuôi Heo ..........................................................18
Bảng 3.4. Thành Phần Hóa Học Của Nước Tiểu Heo Từ 70 – 100 Kg ........................18
Bảng 3.5. Ảnh Hưởng Của Khí Thải Chăn Nuôi Đến Người Và Gia Súc....................19
Bảng 3.6 Hiệu Quả Xử Lý Phân Của Hệ Thống Biogas...............................................23
Bảng 3.7. Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu ............................................28
Bảng 4.1. Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội Của Người Được Phỏng Vấn............................30
Bảng 4.2. Quy Mô Chăn Nuôi Heo Của Hộ..................................................................32
Bảng 4.3. Thâm Niên Chăn Nuôi Heo Của Hộ Điều Tra..............................................33
Bảng 4.4. Khu Vực Xây Dựng Chuồng Nuôi Heo Của Các Hộ Điều Tra....................34
Bảng 4.5. Khoảng Cách Từ Khu Vực Chăn Nuôi Đến Nhà Ở......................................35
Bảng 4.6. Tình Hình Tín Dụng Của Các Hộ .................................................................35
Bảng 4.7. Tham Gia Lớp Tập Huấn Khuyến Nông Về Chăn Nuôi ..............................36
Bảng 4.8. Lý Do Các Hộ Chăn Nuôi Không Tham Lớp Tập Huấn Khuyến Nông ......37
Bảng 4.9. Hình Thức Xử Lý Phân Chuồng Của Các Hộ Chăn Nuôi............................38
Bảng 4.10. Mô Tả Cách Thức Xử Lý Phân Heo Làm Phân Hữu Cơ............................39
Bảng 4.11. Cách Thức Bảo Quản Phân........................................................................41
Bảng 4.12. Lý Do chọn Hình Thức Làm Phân Hữu Cơ Của Các Hộ Chăn Nuôi.........42
Bảng 4.13. Vị Trí Lắp Đặt Biogas.................................................................................43
Bảng 4.14. Sử Dụng Bã Thải Sau Biogas .....................................................................44
Bảng 4.15. Những Nhược Điểm Khi Sử Dụng Biogas .................................................45
Bảng 4.16. Lý Do Các Hộ Chọn Sử Dụng Biogas ........................................................46
Bảng 4.17. Lý Do Các Hộ Chăn Nuôi Không Sử Dụng Biogas ...................................47
Bảng 4.18. Hổ Trợ Của Nhà Nước Cho Các Hộ Chăn Nuôi Heo Xây Dựng Biogas...48
Bảng 4.19. Nhận Thức Của Người Chăn Nuôi Heo Về Lợi Ích Của Biogas................49
Bảng 4.20. Nhận Thức Mức Độ Quan Trọng Biogas Của Người Chăn Nuôi Heo.......50
viii


Bảng 4.21. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit 1 .......................................................52
Bảng 4.22. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit 2 .......................................................53
Bảng 4.23. Khả Năng Dự Đoán Của Mô Hình 2...........................................................56

ix


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Bản Đồ Địa Lý Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương

11

Hình 4.1. Biểu Đồ Nhận Thức Mức Độ Quan Trọng Biogas Của Hai Nhóm Hộ Chăn
51

Nuôi Heo
Hình 4.2. Đồ Thị Xác Suất Dự Báo Cho Hộ Sử Dụng Biogas Và Không Sử Dụng

57

Biogas Theo Biến NTHUC

Hình 4.3. Đồ Thị Tác Động Biên Cho Hộ Chăn Nuôi Chấp Nhận Sử Dụng Biogas Và
Không Sử Dụng Biogas Theo Biến NTHUC

x

58


DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Mô Hình Kết Xuất Kinh Tế Lượng
Phụ lục 2. Hình Ảnh Minh Họa
Phụ lục 3. Bảng câu hỏi điều tra nông hộ

xi


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề.
Theo dự báo của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), nhu cầu thịt thế giới sẽ
tăng mạnh đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Năm 2030 nhu cầu thịt toàn cầu dự
báo đạt 359 triệu tấn tăng 79% so với năm 1995. Mức tiêu dùng của các nước đang
phát triển gấp 1,7 lần so với các quốc gia phát triển. Để đáp ứng nhu cầu thị trường
Việt Nam đã đề ra chiến lược phát triển chăn nuôi là phải nâng cao tỷ trọng chăn nuôi
trong nông nghiệp đạt 32% vào năm 2010, 38% năm 2015, 42% năm 2020 (Dương
Thanh, 2008) và cung cấp những sản phẩm an toàn, chất lượng. Theo Cục Chăn nuôi
Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tính đến tháng 9 năm 2008 tổng đàn heo
trên cả nước hiện khoảng 25,58 triệu con, trong đó đàn heo nái có 3,76 triệu con và
đàn heo thịt 21,82 triệu con (L. Giang, 2008). Nhờ sự tăng trưởng kinh tế, đời sống của
người dân được cải thiện nên nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có dinh dưỡng cao như thịt,
trứng, sữa.... cũng tăng theo. Từ đó, ngành chăn nuôi được xem là một trong số ngành
sản xuất chính trong nông nghiệp Việt Nam. Nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo thậm
chí làm giàu nhờ chăn nuôi. Nhận thức được vai trò của ngành chăn nuôi trong sản
xuất nông nghiệp cũng như nhu cầu gia tăng về sản phẩm chăn nuôi, tại nhiều khu vực
trên cả nước ngành chăn nuôi đã và đang phát triển khá mạnh. Mặc dù chăn nuôi đang
là một trong những ngành được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện phát triển
nhưng đây lại là ngành gây ra ảnh hưởng lớn đến môi trường nếu không có biện pháp
xử lý chất thải đứng mức.
Huyện Thuận An là một huyện đang trên đà phát triển kinh tế, khu dân cư ngày
càng tập trung cao, số lượng đàn heo hiện có khoảng 20.395con (9/2008). Hình thức
nuôi heo chủ yếu là ở quy mô nhỏ (<100 con). Do vị trí địa hình nằm dọc theo sông
Sài Gòn, có nhiều mương nhỏ chảy quanh vườn nhà được nối trực tiếp ra sông Sài


Gòn nên phần lớn các hộ chăn nuôi ở đây đều cho nước thải của heo chảy trực tiếp ra
mương xung quanh nhà mà không thông qua hệ thống xử lý chất thải nào. Các mương
này đều có một màu đen sệt, sủi bọt. Nguồn nước sông Sài Gòn ra vô mương ngày 2
lần đem nước bẩn của chăn nuôi heo chảy ra sông làm tăng thêm tình trạng ô nhiễm
cho sông. Bên cạnh đó, do đặc thù của khu vực có nhiều vườn cây ăn trái nên nhu cầu
sử dụng phân hữu cơ từ phân heo của hộ chăn nuôi rất cao. Nhưng phương thức ủ phân
của các hộ đều không đúng quy cách, rất nhiều dòi, ruồi nhặng sinh ra trong quá trình
xử lý phân. Nếu nguồn phân không được xử lý triệt để sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
người dân sống xung quanh và cả người chăn nuôi. Để chăn nuôi có thể tiếp tục phát
triển bền vững, chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, UBND huyện đang
có hướng quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung đến năm 2020, tránh chăn nuôi nhỏ lẻ tự
phát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ ngành chăn nuôi. Nhưng từ nay đến đó đòi hỏi
người chăn nuôi phải có một hệ thống xử lý chất thải đảm bảo an toàn cho môi trường.
Trong các hệ thống xử lý chất thải thì hệ thống biogas là hệ thống xử lý phù hợp với
người chăn nuôi nhỏ vì không chỉ đem lại nguồn chất đốt phục vụ sinh hoạt, tiết kiệm
chi phí mua chất đốt mà bã thải sau biogas có thể tận dụng làm phân bón cho cây
trồng, hạn chế tình trạng cháy rễ so với sử dụng bằng phân tươi hay phân hóa học. Cải
thiện được vấn đề môi trường do phân heo gây ra. Hạn chế tối đa hàm lượng chất hữu
cơ COD, BOD. Biogas có rất nhiều lợi ích trong xử lý chất thải và được chính quyền
địa phương khuyến khích hổ trợ nhưng thực tế địa bàn huyện Thuận An còn khá nhiều
hộ chưa lắp đặt hệ thống biogas trong xử lý chất thải. Điều gì tác động người chăn
nuôi muốn sử dụng biogas để xử lý chất thải? Được sự cho phép của Khoa Kinh tế
trường Đại học Nông Lâm tôi tiến hành thực hiện đề tài “Xác định yếu tố ảnh hưởng
việc chấp nhận sử dụng biogas của người chăn nuôi heo ở huyện Thuận An, tỉnh
Bình Dương”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Xác định các yếu tố ảnh hưởng việc chấp nhận sử dụng biogas người chăn nuôi
heo ở huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

2


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
1. Mô tả tình hình chăn nuôi heo và hiện trạng xử lý chất thải chăn nuôi heo ở
khu vực huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
2. Đánh giá nhận thức của người chăn nuôi về lợi ích biogas.
3. Xác định yếu tố ảnh hưởng việc chấp nhận sử dụng biogas trong xử lý chất
thải heo ở huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
4. Từ đó, đề xuất một số ý kiến về việc quản lý, xử lý và sử dụng chất thải chăn
nuôi heo.
1.3. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
1.3.1. Phạm vi không gian
Phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu này được giới hạn trong địa bàn huyện
Thuận An, tỉnh Bình Dương.
1.3.2. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2009 đến tháng 6/2009.
1.4. Cấu trúc của khóa luận
Chương 1: Đặt vấn đề
Nêu lên sự cần thiết để tiến hành nghiên cứu đề tài, đồng thời đặt ra mục tiêu,
giới hạn phạm vi nghiên cứu và nêu lên ý nghĩa của việc thực hiện đề tài.
Chương 2: Tổng quan
Tổng quan các tài liệu đã nghiên cứu có liên quan đến khóa luận. Giới thiệu
tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Thuận An, Bình Dương.
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày các khái niệm về chất thải chăn nuôi và những vấn đề liên quan đến ô
nhiễm nước, đất, không khí và những ảnh hưởng của ô nhiễm chăn nuôi gây ra cho
người dân. Đồng thời nêu lên các phương pháp được thực hiện trong đề tài.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Trình bày chi tiết các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đề tài, phân
tích, thảo luận các kết quả trên
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt ngắn gọn các kết quả mà khóa luận đã thực hiện được. Đồng thời dựa
trên các kết quả đó làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp, kiến nghị liên quan.
3


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan về các tài liệu nghiên nghiên cứu có liên quan
Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) cho biết ngành chăn nuôi đã và
đang gây ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng như thoái hoá đất, biến đổi khí hậu
và ô nhiễm không khí, thiếu nước và ô nhiễm nước, mất đa dạng sinh học. Ngành chăn
nuôi phải chịu trách nhiệm về 18% trong tổng lượng phát thải khí nhà kính của toàn
cầu, cao hơn cả ngành giao thông vận tải. Lượng phát thải CO2 từ chăn nuôi chiếm 9%
toàn cầu, chủ yếu là do hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đặc biệt là phá
rừng để mở rộng các khu chăn nuôi và các vùng trồng cây thức ăn gia súc. Ngành này
còn thải ra 37% lượng khí CH4 (một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao
gấp 23 lần CO2), 65% lượng khí NOx (có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296
lần CO2) và tạo ra 2/3 tổng lượng phát thải khí NH3, nguyên nhân chính gây mưa axit
phá huỷ các các hệ sinh thái (Gia Nguyên, 2008). Ở Việt Nam chỉ tính riêng năm 2007
lượng chất thải từ chăn nuôi khoảng 61 triệu tấn nhưng chỉ có 40% trong số này được
xử lý số còn lại đều thải trực tiếp ra môi trường gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và
sức khỏe của con người, vật nuôi (Dương Thanh, 2007). Do đó cần có những biện
pháp phù hợp trong xử lý chất thải chăn nuôi nhằm hạn chế thấp nhất tác động tiêu cực
do hoạt động chăn nuôi gây ra đối với môi trường và sức khỏe con người.


Bảng 2.1: Lượng Khí Thải Gây Hiệu Ứng Nhà Kính Tại Việt Nam
Lĩnh vực
Quy đổi thành triệu tấn CO2

Tỷ lệ(%)

Tổng lượng khí thải

103,845

100,0

Trong đó năng lượng

25,637

24,7

Công nghiệp

3,807

3,7

Nông nghiệp

52,444

50,5

Lâm nghiệp

19,380

18,6

Rác thải

2,576
2,5
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường Việt Nam, 2008

Trước tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra đã có nhiều
đề tài thực hiện nghiên cứu về vấn đề này để có thể đưa ra biện pháp quản lý tốt nhất.
Nguyễn Chí Minh, 2002, khảo sát tình hình quản lý chất thải chăn nuôi tại một
số huyện thuộc tỉnh Bình Dương và Đồng Nai. Qua nghiên cứu cho thấy tỉnh Bình
Dương hầu như chưa có quy định cụ thể về việc quản lý chất thải chăn nuôi. Các trạm
khuyến nông, trạm thú y, sở khoa học công nghệ và môi trường chỉ khuyến khích các
hộ chăn nuôi nên có một hình thức xử lý chất thải chăn nuôi, đặc biệt là dùng phương
pháp túi ủ khí sinh học, với hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm. Nhà nước hổ
trợ khoảng 40-60% chi phí lắp đặt và toàn bộ kỹ thuật nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm.
Tuy nhiên số trại áp dụng hình thức xử lý này vẫn còn giới hạn (khoảng 20-30% hộ
chăn nuôi). Các hộ chăn nuôi trung bình từ 5-15 con đều cho chất thải chảy thẳng
xuống vùng trũng sau chuồng hoặc ra ao hồ, sông suối. Một số hộ thì đem bán phân
nhưng do đặc tính phân ướt, khó thu gom, khó chuyên chở, hôi thối. Các thương lái
thường không thích thu mua phân heo. Khi đo lường chất lượng nước thải và nước mặt
đều vượt qua tiêu chuẩn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam số 5944-1995 về chỉ số
BOD, COD, coliforms, E.coli.
Đề tài Trần Gia Bảo, 2001, khảo sát hệ thống nông nghiệp và việc quản lý, sử
dụng chất thải chăn nuôi heo trên địa bàn xã Bình Nhâm huyện Thuận An, tỉnh Bình
Dương. Thông qua kết quả điều tra nước thải từ chuồng nuôi được thải ra hệ thống
nguồn nước mặt trong xã không thông qua biện pháp xử lý nào. Có một số hộ sử dụng
túi ủ Biogas bằng nhựa để xử lý nước thải, đồng thời tạo gas làm chất đốt cho sinh
5


hoạt gia đình. Tuy nhiên số lượng hộ này còn rất thấp (khoảng 30 hộ/900 hộ chăn
nuôi) nguyên nhân chính là: vốn đầu tư lắp đặt, độ bền túi ủ, chăn nuôi lúc có lúc
không do biến động giá cả heo bán. Đặc biệt là người dân cảm thấy chưa cần thiết phải
xử lý nước thải. Trước tình hình quản lý nước thải chuồng nuôi cho thấy việc lây lan
dịch bệnh và ô nhiễm nguồn nước là không tránh khỏi.
Đề tài của Phạm Trung Thủy (2002) khi thực hiện nghiên cứu tình hình chăn
nuôi ở huyện Trảng Bom cho rằng để quản lý chất thải hiệu quả đòi hỏi phải có sự
tham gia của chính quyền, phải tăng cường giáo dục cộng đồng về ý thức bảo vệ môi
trường, phát hành tài liệu miễn phí phổ biến kiến thức về vệ sinh môi trường và tác hại
của ô nhiễm môi trường gây ra, hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật cho những hộ chăn nuôi
muốn xây dựng hệ thống thải phân, bể chứa hay Biogas… Chất thải nếu được xử lý
bằng hệ thống biogas có thể tận dụng làm phân bón làm giảm bớt chi phí cây trồng đối
với những gia đình trồng rau và một số cây trồng khác.

Nguyễn Hữu Kỳ, 2004, khảo sát tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi với
sự tham gia của địa phương tại phường Long Bình - Biên Hòa - Đồng Nai thực hiện
nghiên cứu tại khu phố 1, 2 phường Long Bình nơi tập trung đàn heo cả phường lên
đến 54150 con (1/2004). Qua kết quả điều tra do chuồng trại chăn nuôi được bố trí bên
hông nhà với khoảng cách rất gần (0-10 m) một số hộ còn bố trí nhà bếp, nhà ăn ở gần
ngay trong dãy chuồng nuôi. Việc này dẫn đến khả năng ô nhiễm môi trường sống và
sức khỏe con người là điều không tránh khỏi. Bên cạnh đó việc triển khai các biện
pháp xử lý chất thải rất khó do thiếu diện tích xây dựng, do ít hiểu biết kiến thức về
ảnh hưởng chăn nuôi và thiếu tính cộng đồng. Để có thể xử lý chất thải rắn trong chăn
nuôi tại khu vực này người sản xuất đã đề nghị quy trình xử lý bằng công nghệ biogas.
6


Xử lý nước thải chăn nuôi ( biogas kết hợp với ruộng rau muống).

Nguyễn Thanh Phong (2005) điều tra về tình hình xử lý chất thải chăn nuôi tại
xã Phước Long, Giồng Trôm, Bến Tre thấy rằng có đến 44% số hộ chăn nuôi không
xử lý chất thải. Trong khi điều tra thăm dò ý kiến của nông hộ chăn nuôi thì 75% cho
rằng xử lý chất thải bằng túi hay hầm biogas là cần thiết nhưng phụ thuộc vào điều
kiện chuồng trại hiện tại và khả năng tài chính, do đa số là thiếu vốn và kỹ thuật để lắp
đặt biogas. Có đến 85% số hộ điều tra nhận thức bảo vệ môi trường còn kém và chưa
có điều kiện tham gia các lớp tập huấn chăn nuôi và bảo vệ môi trường chăn nuôi.
Hoàng Thúy Nga, 2004, khảo sát tình hình chăn nuôi và xử lý chất thải của các
hộ chăn nuôi heo trên địa bàn TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Theo kết quả phân tích thì
chăn nuôi các hộ lớn từ 20 con trở lên chiếm 83,75% hộ. Chi phí lắp đặt túi biogas chỉ
khoảng từ 1-1,7 triệu đồng thời gian sử dụng khoảng 3 năm mức giá này khá phù hợp
với hộ chăn nuôi vừa và nhỏ. Chi phí xây dựng hầm ủ tương đối cao so với túi vào
khoảng 10 triệu đồng cho 1 hầm vòng đời sử dụng trên 10 năm. Hầm được xây chìm
nên tốn ít diện tích đất. Đề tài cũng đã tính toán sơ bộ được khoản chi phí tiết kiệm
được về mặt kinh tế khi sử dụng biogas so với sử dụng gas công nghiệp là 47.220
đồng/tháng. Biogas không những giảm thiểu mùi hôi chất thải, giúp hộ chăn nuôi hạn
chế ảnh hưởng bất lợi về môi trường do hoạt động chăn nuôi gây ra mà còn giúp
người chăn nuôi tiết kiệm được một khoảng chi phí mua chất đốt.
Huỳnh Ngọc Hưởng, 2002, đánh giá hiệu quả chăn nuôi heo và vấn đề xử lý
chất thải chăn nuôi tại huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Thông qua thu thập số liệu khu
vực nghiên cứu có 4 biện pháp xử lý chất thải mà người chăn nuôi sử dụng: ủ với chất
độn, ủ tươi, biogas, nuôi cá. Trong đó phương pháp xử lý theo cách túi ủ sinh học
biogas chiếm 62,79%, đây là cách được người chăn nuôi ở huyện dùng nhiều và ngày
càng quan tâm nhều hơn. Những nông hộ có nhu cầu lắp đặt sẽ được nhà nước hổ trợ
100.000 đồng/túi gánh phần nào chi phí cho người chăn nuôi. Biogas không chỉ giảm
chi phí sử dụng nhiên liệu cải thiện đời sống nông dân nông thôn mà còn hạn chế nạn
7


phá rừng, bảo vệ môi trường,…Tuy nhiên có nhiều yếu tố làm cho chủ hộ không lắp
đặt biogas. Mặc dù họ nhận ra rằng khi mà có biogas phát triển chăn nuôi mạnh dạn,
đầu tư chăn nuôi hơn mà không cần quan tâm ảnh hưởng đến người khác.
Võ Văn Phương, 2002, nghiên cứu tình hình chăn nuôi và quản lý chất thải ở
một số địa phương thuộc TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Tại địa bàn khảo sát có
khoảng 40% các hộ chăn nuôi heo hốt phân trước khi rửa chuồng. Lượng phân heo
được thải ra rất nhiều do số lượng chăn nuôi cao nhưng không được sử dụng. Vào mùa
mưa lượng nước thải nhiều cùng với phân tích tụ nhiều nên đã gây ô nhiễm và khó xử
lý cho những hộ chăn nuôi có chuồng trại và hầm chứa nước thải chật hẹp. Khoảng
65% các hộ đều có nước thải chăn nuôi chưa xử lý được thải ra môi trường (đất, sông,
rạch). Nhưng một số hộ nhận thấy được hiệu quả của biogas đem lại cho người chăn
nuôi nên khoảng 22% số hộ nuôi heo khảo sát có hầm hay túi ủ khí sinh học. Nước
thải ra không thối, có thể dùng nuôi cá, tưới hoa màu, phân bón cho cây mà không sinh
ra ruồi nhặng. Gas để sử dụng tiết kiệm chi phí mua chất đốt (tiết kiệm khoảng
100.000 đồng/hộ/tháng).
Các bài luận trên thông qua điều tra số liệu thứ cấp và sơ cấp đã khái quát được
hiện trạng chăn nuôi và xử lý chất thải hiện nay tại các địa bàn nghiên cứu. Qua thăm
dò ý kiến đề tài cũng đã xác định được một số nguyên nhân và khó khăn mà người
chăn nuôi đang gặp phải. Hầu hết các địa phương đều có các quy định về môi trường,
các tiêu chuẩn đo lường về chất thải nhưng đều không áp dụng hiệu quả do thiếu sự
hợp tác giữa người chăn nuôi và nhà quản lý. Để thay đổi một tập quán và nhận thức
bảo vệ môi trường đòi hỏi nhà nước phải có vai trò tích cực, phải hiểu được điều gì
ảnh hưởng đến người chăn nuôi trong việc đầu tư một hệ thống xử lý chất thải như
biogas. Từ đó đưa ra những chính sách phù hợp đối với từng địa bàn.
Đánh giá được hiệu quả của biogas khi sử dụng xử lý nước thải ở quy mô hộ
gia đình. Năm 2008, Trung tâm Khuyến nông Phú Yên đã tiến hành hỗ trợ cho các hộ
tham gia mô hình xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải trong nuôi heo. Hầm biogas
được thiết kế tuỳ theo diện tích đất của các hộ chăn nuôi, có thể làm dạng vòm hoặc
túi nilon treo. Trước đây nông dân thường thải phân, nước ra quanh khu vực nhà hoặc
thải xuống ruộng nên rất hôi thối, môi trường sống của người dân luôn bị ô nhiễm.
Việc sử dụng hầm biogas đã giải quyết khâu chất thải của việc nuôi heo, không còn ô
8


nhiễm như trước đây, môi trường chăn nuôi đã được cải thiện đáng kể. Ngoài việc xử
lý chất thải, việc xây dựng hầm biogas còn cung cấp cho các hộ chăn nuôi lượng khí
gas để đun nấu hàng ngày, tiết kiệm một khoản đáng kể cho người sử dụng (Thành
Nhân, 2008).
Tại tỉnh Hải Dương trong kế hoạch đến hết 2010, sẽ đưa số công trình khí sinh
học lên khoảng 10.000 - 11.000 công trình. Theo tính toán, với số công trình này sẽ cơ
bản giải quyết ô nhiễm môi trường chăn nuôi quy mô nông hộ trong nông thôn. Mặt
khác, giảm lượng khí nhà kính tương đương lượng CO2 tới 40.000- 80.000 tấn /năm.
Chính những lợi ích này đã thuyết phục được nông dân lựa chọn giải pháp khí sinh
học. Nhờ chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam với sự tài trợ của
Tổ chức phát triển Hà Lan đến cuối năm 2007 Hải Dương đã thực hiện được 8.513
công trình biogas (Nguyễn Huân, 2007).
Tại Bình Dương kỹ thuật biogas đã được ứng dụng từ năm 1998. Thông qua các
đợt tập huấn, chuyển giao kỹ thuật do Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
tổ chức, đến nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 3.000 hầm biogas (trung bình 30 40 hầm/mỗi xã, phường). Ba loại hầm phổ biến được các hộ chăn nuôi xây dựng. là:
hầm biogas bằng túi PE, hầm xây gạch hoặc bêtông xây kín có nắp cố định, hầm xây
gạch cải tiến có chụp thu gas bằng khung ống nhựa PVC, bọc 3 lớp túi PE (Ngọc
Trinh, 2008). Yêu cầu chỉ cần có từ 4 -6 con heo, 2 - 3 con bò hoặc 200 - 300 con gà,
vịt là đủ để ứng dụng hầm biogas để sinh lượng gas đủ phục vụ đun nấu sinh hoạt gia
đình cho 4 người/ngày. Gas được đưa vào sử dụng là khí sinh học được sinh ra từ quá
trình phân hủy các hợp chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí. Hợp chất hữu cơ lấy từ
các chất thải trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, chất thải hữu cơ trong sinh hoạt, phế
phẩm trong nông nghiệp... Từ nguồn chất thải chăn nuôi được ủ tạo thành gas phục vụ
sinh hoạt gia đình, đồng thời góp phần bảo vệ ô nhiễm môi trường, tạo nguồn phân
bón hữu cơ sạch cho sản xuất nông nghiệp nên đã thu hút đông đảo các hộ chăn nuôi
triển khai ứng dụng. Không chỉ dừng lại ở việc tạo gas phục vụ sinh hoạt nhỏ lẻ, hầm
biogas còn có thể chạy máy phát điện phục vụ sản xuất chăn nuôi tập trung như bơm
nước, thắp sáng, lấy nhiệt... tạo nên giá trị kinh tế to lớn trong sản xuất - kinh doanh.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu ứng dụng rộng rãi công
nghệ khí sinh học (Biogas) là một giải pháp chủ yếu để giải quyết tình trạng ô nhiễm
9


môi trường, cung cấp nguồn chất đốt tiết kiệm năng lượng rất hiệu quả ở vùng nông
thôn nước ta. Nhu cầu sử dụng công nghệ Biogas cho các hộ gia đình nông dân là rất
lớn (hàng chục triệu hầm). Tuy nhiên, từ thực tế trong thời gian qua cho thấy, việc ứng
dụng công nghệ hầm khí sinh học quy mô gia đình tại các địa phương trong cả nước
còn nhiều hạn chế. Theo số liệu thống kê đến hết 2006, hầu hết các tỉnh thành trong cả
nước đều đã phát triển công nghệ biogas, song số lượng hầm Biogas đã xây lắp được
rất nhỏ so với nhu cầu thực tế, việc lắp đặt mới chỉ dừng ở con số hơn 90.000 hầm.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó nguyên nhân chủ yếu là
người chăn nuôi nhận thức lợi ích biogas còn thấp, cảm thấy không cần thiết phải sử
dụng biogas, hạn chế về chi phí lắp đặt biogas .
2.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Huyện Thuận An nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bình Dương.
- Phía Bắc giáp Thị xã Thủ Dầu Một – huyện Tân Uyên.
- Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh.
- Phía Đông giáp huyện Dĩ An.
- Phía Tây giáp sông Sài Gòn.
Toàn huyện ranh giới hành chánh được chia làm 8 xã và thị trấn.

10


Hình 2.1. Bản Đồ Địa Lý Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương

b) Đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên: 8425,82 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 3337,96 ha.
- Đất phi nông nghiệp: 5087,86 ha.
- Đất chưa sử dụng: 0 ha

11


Bảng 2.2. Diện Tích Các Loại Đất Trong Huyện Năm 2008
Loại đất
I. Đất nông nghiệp
1. Đất sản xuất nông nghiệp
2. Đất lâm nghiệp
3. Đất nuôi trồng thủy sản
4. Đất nông nghiệp khác
II. Đất phi nông nghiệp
1. Đất ở
2. Đất chuyên dùng
3. Đất tôn giáo, tín ngưỡng
4. Đất tín ngưỡng
5. Đất sông suối
6. Đất phi nông nghiệp khác
III. Đất chưa sử dụng
Tổng diện tích đất tự nhiên

3337,96
3325,48
0
12,2
0,28
5087,86
1613,58
2920,73
36,75
121,49
395,31
0
0

Tỷ lệ (%) so với
tổng DT tự nhiên
39,61
39,46
0
0,14
0
60,38
19,15
34,66
0,43
1,44
4,69
0
0

8425,82

100

Diện tích (ha)

Nguồn: phòng kinh tế huyện Thuận An
c) Khí hậu
Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ khoảng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 – 2000 mm với số ngày có mưa là 120 ngày.
Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335 mm, năm cao nhất có khi lên đến
500mm, tháng ít mưa ít nhất là tháng 1, trung bình dưới 50 mm. Nhiệt độ trung bình
hàng năm là 26,500C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 2900C (tháng 4), tháng thấp
nhất 240C (tháng1).
2.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Thuận An
a) Dân số - nguồn nhân lực
Dân số huyện Thuận An tính đến 1/10/2008 là 332.053 người tỷ lệ tăng dân số
là 11% so với năm 2007, mật độ dân số bình quân là 3.940 người/km2, trong đó dân số
địa phương là 123.971 người, dân số tạm trú dài hạn là 208.082 người.
b) Tài chính
Tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện năm 2008 ước thực hiện là 1.737,5 tỷ
đồng đạt 103.2% so dự toán UBND tỉnh. Trong đó thu mới phát sinh là 1.638,3 tỷ
12


đồng đạt 100.2% so dự toán UBND tỉnh. Các nguồn thu đạt khá như thu từ các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh, thu tiền sử dụng đất, thuế
trước bạ….
Ước tổng chi ngân sách là 365,8 tỷ đồng đạt 84,2% so dự toán UBND tỉnh gồm
ngân sách huyện 317,7 tỷ đồng đạt 84,5% so dự toán UBND tỉnh, ngân sách xã 48,1 tỷ
đồng đạt 81,8 % so dự toán UBND tỉnh.
c) Công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2008 là 35.566 tỷ đồng (giá cố
định 1994), tăng 18% so năm 2007. Sản xuất công nghiệp các doanh nghiệp trong
nước tăng 13,5%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,2%. Tình hình
sản xuất công nghiệp ở các loại hình kinh tế như sau:
Doanh nghiệp nhà nước: Tổng số đến cuối năm 2008 là 4 doanh nghiệp nhà
nước địa phương. Giá trị ản xuất năm 2008 là 658 tỷ đồng tăng 20,5% so với năm
2007.
Đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài: Giá trị sản xuất năm 2008 là 27.553 tỷ đồng
tăng 19,2% so năm 2007.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển rất nhanh, tốc độ tăng bình
năm thời kỳ 2001-2005 trên 40%. Thời kỳ 2006 -2010 tốc độ tăng bình quân chậm lại
dưới 20%.
Loại hình kinh tế : Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần giá trị sản
xuất năm 2008 là 6.620 tỷ đồng tăng 14,2% so với năm 2007. Tốc độ tăng bình quân
năm thời kỳ 2001-2005 là 30%, thời kỳ (2006 -2008) tốc độ tăng bình quân cũng chậm
lại dưới 30%.
Loại hình kinh tế xí nghiệp tư nhân: Giá trị sản xuất năm 2008 là 631 tỷ đồng
tăng 2,1 % so với năm 2007.
Loại hình kinh tế tập thể: Gồm 2 hợp tác xã là khai thác khoáng sản Thuận Lợi
và Thái Châu, ước giá trị sản xuất năm 2008 là 4,1 tỷ đồng tăng 26,7% so năm 2007,
hoạt động chủ yếu là khai thác đất và vận chuyển đất tại các mỏ ở huyện Tân Uyên.
Loại hình kinh tế cá thể: công nghiệp nhỏ năm 2008 giá trị sản xuất ước thực
hiện là 98 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2007. Giá trị sản xuất công nghiệp cá thể tăng
ở các ngành như: chế biến thực phẩm, đồ uống, may mặc, may gia công, gốm sứ…
13


Nhìn chung công nghiệp trên địa bàn huyện năm 2008 tăng là 18% so năm
2007, tăng ở hầu hết các thành phần kinh tế, nhưng tỷ lệ tăng bị giảm lại (năm 2007
tăng 21,2% so năm 2006).
d) Nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2008 ước thực hiện là 63 tỷ đồng ( giá cố
định 1994) giảm 17 % so năm 2007.
- Trồng trọt:
Cây hàng năm ước tính diện tích gieo trồng năm 2008 là 1.110 ha giảm 18% so
với năm 2007. Huyện Thuận An là huyện phát triển mạnh về công nghiệp, diện tích
đất trồng cây hàng năm ngày càng bị thu hẹp dần do xây dựng các khu công nghiệp và
các khu dân cư, ngoài ra do sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp hơn các ngành khác
nên bà con nông dân bỏ vụ nhiều, ít đầu tư cho sản xuất nông nghiệp. Diện tích cây
lương thực là 183 ha giảm 38%, trong đó diện tích lúa 163 ha giảm 38% so với năm
2007, giảm ở hầu hết ở các xã có chân ruộng trồng lúa. Năng suất lúa ước tính 33 tạ/ha
ổn định so với năm 2007. Diện tích cây chất bột có củ là 209 ha giảm 13% so với
năm 2007. Diện tích cây thực phẩm 357 ha giảm 11% so với năm 2007 .
Cây công nghiệp hàng năm 283 ha giảm 7% so cùng kỳ, chủ yếu giảm cây hoa
lài ở xã Vĩnh Phú.
Cây lâu năm tổng diện tích cây lâu năm ước năm 2008 là 1.555,2 ha giảm 1%
so năm 2007. Trong đó, cây ăn quả là 1.458,5 ha giảm 1% so năm 2007, cây công
nghiệp lâu năm là 96,7 ha tương đối ổn định so năm 2007. Diện tích cây ăn quả giảm
do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất thổ cư và đất chuyên dùng, năng suất cây ăn
quả năm 2008 đạt thấp bị thất mùa ở các loại cây như măng cụt, sầu riêng, bòn bon…
- Chăn nuôi (tính đến thời điểm 1/10/2008)
Đàn trâu 46 con ổn định so với 1/8/2007, đàn bò 2.629 con giảm 4,7% so với
thời điểm điều tra 1/8/2007, trong đó bò sữa 504 con giảm 5,5% so với 1/8/2007.
Dogiá thức ăn gia súc tăng cao, nguồn cỏ tươi cho chăn nuôi bò sữa hạn chế hơn so
các huyện phía bắc, nên người chăn nuôi bò sữa không có lời nhiều.
Đàn heo là 20.395con giảm 5% so với điều tra 1/8/2007. Đàn heo bị giảm ở các
xã như Bình Chuẩn, An Phú, Thuận Giao….theo các xã này nguyên nhân do chuồng
trại ở gần các khu dân cư đang phát triển. Trang trại chăn nuôi heo cũng giảm 2 trại ở
14


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×